lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ CON
NGƯỜI
lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
MỞ ĐẦU
Theo quan điểm Triết học Mác - Lê nin, con người là một sinh vật có tính hội ở
trình độ cao nhất của giới tự nhiên và lịch sử xã hội, chủ thể của lịch sử, sáng tạo nên
tất cả thành tựu của văn minh và văn hóa. Bản chất của con người là thực thể sinh học
- hội. Mặt sinh vật bao gồm thể cùng những nhu cầu thể những quy luật
sinh học chi phối đời sống của cơ thể con người. Mặt xã hội bao gồm "tổng hòa những
quan hệ xã hội", những hoạt động hội, đời sống tinh thần của con người. Hai mặt này
quan hệ khắng khít không thể tách rời nhau, trong đó mặt sinh học nền tảng vật
chất tự nhiên của con người, mặt xã hội giữ vai trò quyết định bản chất của con người.
Trong thời đại ngày nay, nguồn tài nguyên, của cải đích thực và quý giá nhất của
mỗi quốc gia chính con người. Vì vậy, mục đích phát triển kinh tế - hội của mỗi
quốc gia, xét đến cùng, phải con người, cho con người, tạo môi trường thuận lợi để
con người cuộc sống hạnh phúc, sức khoẻ hội phát huy mọi năng lực
sáng tạo. Nhận thức được điều đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân
tộc xây dựng chnghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định vai tđặc biệt
của nhân tố con người với tính cách là động lực của sự phát triển xã hội, của sự nghiệp
xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.
Xuất phát từ quan điểm triết học Mác - Lênin vcon người cho thấy, khi con người
một thực thể tự nhiên - hội, con người nói chung biểu hiện ra trên nhiều phương
diện. Chẳng hạn, con người tồn tại với cách một nguồn tài nguyên đặc biệt - tài
nguyên con người; con người tồn tại với cách một nguồn lực đặc biệt hay nguồn
lực con người, hoặc tồn tại với cách là một nhân tố thúc đẩy đời sống kinh tế - hội
gọi nhân tố con người… Bởi vậy, khái niệm nhân tcon người sự tiếp tục triển
khai quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người.
lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin trong tiến trình xây dựng hội
mới, Đảng ta đã khẳng định: nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là con
người Việt Nam; nhân tố con người chính là nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt
Nam. Đối với một nước chủ động lựa chọn kiên trì con đường phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, sự phát triển, tăng trưởng kinh tế, xét đến cùng
cũng là vì con người, hướng đến con người.
Để con người phát triển toàn diện cần tạo ra một hthống chính sách, biện pháp
chế vận hành đảm bảo sphối hợp đúng đắn lợi ích nhân và lợi ích hội.
Nâng cao chất lượng cuộc sống con người, nâng cao trình độ và năng lực lao động, nâng
cao tay nghề. Tạo ra môi trường công bằng, dân chủ, quan tâm đến lợi ích của từng
người và lợi ích của cộng đồng.
do em chọn đề tài “Quan điểm của triết học Mác-Lênin vcon người vấn
đề xây dựng nguồn lực con người nước ta hiện nay” để nghiên cứu, nhằm nâng cao
nhận thức, hiểu biết sâu sắc hơn về quan điểm triết học Mác - Lênin về con người, đồng
thời đóng góp một số giải pháp đphát triển và sử dụng nguồn nhân lực nước ta hiện
nay.
NỘI DUNG
I. QUAN ĐIỂM CỦA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI
1/ Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội.
Triết học Mác-Lênin đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học,
đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu
tố xã hội. Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm của giới tự
nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài. Yếu tố
lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
sinh học trong con người điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người.
vậy, giới tự nhiên là “thân thể vôcủa con người”. Con người là một bộ phận của tự
nhiên.
Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người sản phẩm của quá
trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng,
mặt tự nhiên không phải yếu tố duy nhất quyết định bản chất con người. Đặc trưng quy
định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là mặt xã hội. Trong lịch sử đã có
những quan niệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, ncon người là động
vật sử dụng công cụ lao động, là “một động vật có tính xã hội”, hay con người là động
vật có tư duy… Những quan niệm này đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnh
nào đó trong bản chất con người mà chưa nêu lên được nguồn gốc bản chất xã hội ấy.
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con người
một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực hội của nó, trước hết là
vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất. C.Mác Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò
của lao động sản xuất con người: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý
thức, bằngtôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái cũng được. Bản thân con người bắt đầu
bằng việc tự phân biệt với súc vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những
liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức thể của con người quy định.
Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như vậy, con người đã gián tiếp sản xuất
ra đời sống vật chất của mình”.
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải biến toàn
bộ giới tự nhiên: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất
ra toàn bộ giới tự nhiên”.
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động
sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính hội của con người. Thông qua hoạt
lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
động sản xuất, con người tạo ra của cải vật chất tinh thần, phục vụ đời sống của mình;
hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động
yếu tố quyết định hình thành bản chất hội của con người, đồng thời hình thành
nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con
người luôn luôn bị quyết định bởi ba hthống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất
với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sphù hợp thể với môi
trường, quy luật vsự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hóa…quy định phương
diện sinh học của con người. Hệ thống các quy luật tâm ý thức hình thành vận
động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm
tin, ý chí. Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người.
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động tạo nên thể thống nhất trong đời sống con
người bao gồm cả mặt sinh học mặt xã hội. Mối quan hệ giữa sinh học hội
sở đhình thành hệ thống các nhu cầu sinh học nhu cầu xã hội trong đời sống con
người như nhu cầu ăn,mặc, ở; nhu cầu tái sản xuất hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu
thẩm mỹ và hưởng các giá trị tinh thần.
Với phương pháp duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh
học với mặt hội cũng như nhu cầu sinh học nhu cầu hội trong mỗi con người
thống nhất. Mặt sinh học sở tất yếu tnhiên của con người, còn mặt hội
đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật. Nhu cầu sinh học phải được
nhân hóa để mang giá trị văn minh con người, đến lượt nó, nhu cầu hội không thể
thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện
vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên – xã hội.
2/ Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ
hội.
lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
Từ những quan niệm đã trình bày trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lên
thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với
xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối quan hệ đó, suy đến cùng,
đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ hội giữa người với người quan hệ bản chất,
bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến
con người.
Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất hội của con người, C.Mác đã nêu lên một mệnh
đề nổi tiếng “Luận cương về Phơbách” “Bản chất con người không phải một cái trừu
tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người
tổng hòa những mối quan hệ xã hội”.
Không thế giới tự nhiên, không lịch sử hội thì không tồn tại con người.
Bởi vậy con người sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh.
Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luônluôn là chủ thể của lịch sử – xã hội.
C.Mác đã khẳng định: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người sản
phẩm của những hoàn cảnh của giáo dục… cái học thuyết ấy quên rằng chính bản
thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục”. Trong tác phẩm “Biện chứng của tự
nhiên” Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “Tvật cũng có một lịch sử phát triển dần dần của
chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm
ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra
chúng không hề biết cũng không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người
càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng
tự mình làm ra lịch sử một cách có ý thức bấy nhiêu”.
Như vậy, với tư cách một thực thể hội, con người hoạt động thực tiễn, tác
động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của
lịch sử hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện sẵn của tự nhiên. Con người
lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thế giới tự
nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình.
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình. Con
người sản phẩm của lịch sử, đồng thời chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản
thân con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt hội. Trên cơ
sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinh
thần, thúc đẩy hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu nhu cầu do
con người đặt ra. Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật
hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn phát
triển nhất định của lịch sử hội. Do vậy, bản chất con người, trong mối quan hệ với
điều kiện lịch shội luôn luôn vận độngbiến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp.
Bản chất con người không phải một hệ thống đóng kín, một hệ thống mở, tương
ứng với điều kiện tồn tại của con người. Mặc dù là “tổng hòa các quan hệ xã hội”, con
người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo. Thông
qua đó, bản chất con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp. thể nói rằng mỗi
sự vận động tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trùng khớp)
với sự vận động và biến đổi của bản chất con người.
vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho
hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính toàn bộ môi
trường tự nhiên hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằm
đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông qua
đó con người tiếp cận hoàn cảnh một cách tích cực tác động trở lại hoàn cảnh trên
nhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử , hành vi con người,
lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
sự phát triển của phẩm chất ttuệ và năng lực duy, các quy luật nhận thức hướng
con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người.
Từ quan niệm khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin về con người có thể thấy:
Một là, để lý giải một cách khoa học những vấn đề về con người thì không thể chỉ
đơn thuần từ phương diện bản tính tự nhiên của nó mà điều căn bản hơn, có tính quyết
định phải tphương diện bản tính hội của nó, tnhững quan hệ kinh tế hội
của nó.
Hai là, động lực bản của sự tiến bộ và sphát triển của xã hội chính năng lực
sáng tạo lịch sử của con người, vậy phát huy năng lực sáng tạo của mỗi con người,
con người chính phát huy nguồn động lực quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ và phát
triển của xã hội.
Ba là, snghiệp giải phóng con người, nhằm phát huy khả năng sáng tạo lịch sử
của nó phải là hướng vào sự nghiệp giải phóng những quan hệ kinh tế xã hội. Trên ý
nghĩa phương pháp luận đó có thể thấy: Một trong những giá trị căn bản nhất của cuộc
cách mạng hội chủ nghĩa chính mục tiêu xóa bỏ triệt để các quan hệ kinh tế – xã
hội áp bức và bóc lột ràng buộc khả năng sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân
những chủ thể sáng tạo đích thực ra lịch sử tiến bộ của nhân loại; thông qua cuộc cách
mạng đó cũng thực hiện snghiệp giải phóng toàn nhân loại bằng phương thức
xây dựng mối quan hệ kinh tế hội hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa nhằm
xác lập phát triển một hội tự do, sáng tạo của người này trở thành điều kiện
cho tự do và sáng tạo của người khác. Đó cũng chính là thưc hiện triết lý đạo đức nhân
sinh cao đẹp nhất của chủ nghĩa cộng sản: “mình vì mọi người; mọi người vì mình”.
II. VIỆC PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA VIỆT
NAM HIỆN NAY.
lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
1/ Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đất nước.
a. Công nghiệp hóa - hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm suốt thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Theo quan điểm của Đảng ta xác định công nghiệp hóa quá trình chuyển đổi căn
bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụvà quản kinh tế hội từ sử
dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng
khoa học công nghệ tiên tiến hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Công nghiệp hóa ở nước ta có đặc điểm phải gắn liền với hiện đại hóa bởi vì cuộc
cách mạng khoa học hiện đại đã đang diễn ra một số nước phát triển bắt đầu nền kinh
tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Do đó chúng ta cần phải tranh thủ ứng dụng
các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, tiếp cận với nền kinh tế tri thức để hiện đại
hóa những ngành, những khâu những lĩnh vực có điều kiện nhảy vọt.
b. Vai trò của nguồn nhân lực đối với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đất nước.
Người ta đã tổng kết và kra rất nhiều con đường công nghiệp hóa khác nhau:
Công nghiệp hóa cổ điển và phi cổ điển.
- Công nghiệp hóa cổ điển đây kiểu công nghiệp hóa các nước Tây Âu vàMỹ
đã thực hiện ở thế kỷ 18, 19.
- Công nghiệp phi cổ điển của các nước đi sau tiến hành công nghiệp hóa
mộtcách chủ động theo định hướng của Chính phủ. Nước ta đi theo con đường này, và
con đường này có xu hướng rút ngắn thời gian hoàn thành.
lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
Nói tới công nghiệp hóa - hiện đại hóa người ta đến vốn công nghệ hiện đại.
Nhưng điều đó chỉ hoàn toàn đúng với con đường công nghiệp hóa cổ điển, kinh nghiệm
của các nước công nghiệp hóa con đường thứ hai cho thấy hoàn toàn không phải như
vậy mà nhân tố quan trọng nhất chính là con người.
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa là con đường duy nhất để phát triển nền kinh tế -
xã hội đối với bất cứ quốc gia nào nhất là các nước chậm phát triển và đang phát triển.
Trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa, con người - nguồn nhân lực với
cách là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội, yếu tố quyết định nhất, động lực cơ
bản nhất.
Đảng ta xác định nhân tố con người chính xác là vốn con người, vốn nhân lực bao
gồm cả sức lao động, trí tuệ tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc vốn quý
nhất, quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kđẩy mạnh công nghiệp hóa -
hiện đại hóa đất nước đxây dựng chnghĩa xã hội. thế giải phóng tiềm năng con
người, để phát huy tối đa nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại
hóa một trong những quan điểm đổi mới tính đột phá trong đường lối phát triển
kinh tế - xã hội của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới.
2/ Tính tất yếu khách quan phải phát triển và sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả
ở nước ta hiện nay.
a. Yêu cầu ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng quan hệ
sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ điều kiện một nền kinh tế thấp kém, chủ yếu là
sản xuất nông nghiệp, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Dù miền Bắc đã có gần 60 năm
và cả nước đã có trên 30 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng một phần lớn thời gian
vẫn là tình trạng "một chủ nghĩa xã hội thời chiến". Bên cạnh thành tựu to lớn phục vụ
lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
cho công cuộc kháng chiến và bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tchúng ta
cũng mắc phải những khuyết điểm nghiêm trọng trong tổ chức quản lý, những năm 80
lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - hội. Sau hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế
đã có những thay đổi quan trọng, đã tương đối ổn định và phát triển tạo nên thế và lực
mới của cách mạng nước ta, nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế. Tuy nhiên,
trình độ lực lượng sản xuất kém phát triển đang còn cản trở chủ yếu của việc xây
dựng quan hệ sản xuất hội chủ nghĩa quan hệ sản xuất này vốn mang bản chất
xây dựng hoá nền sản xuất hội. Người lao động yếu tố động nhất, quyết định nhất
của lực lượng sản xuất vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng được công cuộc đổi mới đất nước
hiện nay.
Dân số nước ta thuộc loại dân số trẻ, tốc độ gia tăng dân số cao, số người trong độ
tuổi lao động lớn tạo nên sức ép trên thị trường lao động thể hiện tỉ lệ thất nghiệp năm
2009 5,1%. Đáng chú ý, tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn lên tới 6,1%, còn khu vực
thành thị là 2,3%. Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, đến cuối năm 2009, cả nước
đã có 133.262 lao động bị mất việc làm, chiếm 18% lao động làm việc trong các doanh
nghiệp báo cáo. Ngoài ra trên cả nước còn 40.348 lao động các làng nghề bị mất
việc và khoảng 100.000 người khác phải giảm giờ làm, nghỉ luân phiên.
Tỷ llao động qua đào tạo của ta còn thấp chủ yếu vẫn lao động giản đơn. Thiếu
công nhân kỹ thuật lành nghề lành nghề cao; chưa có tác phong công nghiệp, cơ cấu
cấp trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động qua đào tạo còn bất hợp lý. Chất lượng
đào tạo nguồn nhân lực còn nhiều yếu kém, chương trình học không phù hợp với thực
tế của thị trường lao động. Sinh viên học thụ động, thiếu tính sáng tạo. Các trường đào
tạo nghề sử dụng các máy móc đã lỗi thời, lạc hậu mà thực tế đã không còn sử dụng….
Thêm vào đó, việc phân bổ, sử dụng nguồn nhân lực bất cập, thiếu đồng bộ càng
tăng thêm mâu thuẫn về cung cầu nguồn nhân lực cả về số lượng chất lượng các
lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa thừa lao động giản đơn nhưng lại thiếu nghiêm trọng
lao động trình độ, gây rất nhiều khó khăn cho việc phát triển về nhiều mặt vùng
này. Những nơi cần thì không có, còn những nơi đã nhiều rồi như các thành phố
lớn thì lại càng nhiều thêm gây ra một sự lãng phí rất lớn cho xã hội.
Trước thực trạng đó việc phát triển và sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả cao là
một vấn đề bức thiết. Nguồn nhân lực chính là yếu tố quyết định thành công của công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, nhất là trong thời đại của khoa học công nghệ hiện
nay. Người lao động nước ta có động lực học tập tốt, thông minh, tự tin cao, khéo léo,
có thể thànhgiỏi nếu được giáo dục, tự tin và cần có một môi trường thuận lợi để phát
huy.
b. Phát triển sử dụng nguồn nhân lực cũng yêu cầu xu thế chung của thế
giới.
Ngày nay khi loài người đã bước vào cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ
3 thì nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế đóng vai trò đặc biệt quan
trọng. Xu thế phát huy yếu tố, nguồn nhân lực xu thế chung toàn cầu. Nguồn nhân
lực có chất lượng cao về trí tuệ và tay nghề ngày càng trở thành một lợi thế cạnh tranh
cho mỗi quốc gia. Nếu nguồn nhân lực chỉ hàm chứa lao động giản đơn thì sẽ một
sức ép đối với quá trình tăng trưởng và phát triển ở các nước chậm phát triển.
Nguồn nhân lực có dồi dào hay không là do chính sách đào tạo. Đào tạo phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng đòi hỏi trở thành quốc sách hàng đầu với các quốc gia. Các
nước phát triển lợi dụng ưu thế vvốn, kỹ thuật, đẩy nhanh đào tạo nhân tài, tranh giành
người tài với các nước khác. Các nước đang phát triển tăng cường đầu tư kinh phí cho
khoa học công nghệ giáo dục đào tạo nhân tài, đồng thời ngăn ngừa chảy máu chất xám
bằng những chính sách ưu đãi thích hợp.
lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
Trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa phát triển kinh tế đất nước chúng
ta cần hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Nước ta tham gia vào rất nhiều các tổ chức
kinh tế nASEAN, APEC và đặc biệt khi gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới
WTO thì tính cạnh tranh của nền kinh tế phải được nâng cao. Do đó việc nắm được
khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại để chủ động trong quá trình sản xuất, kinh tế đối
ngoại… rất quan trọng, chúng ta phải xác định ràng những chính sách thích hợp để
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
3/ Những giải pháp để phát triển và sử dụng nguồn nhân lực nước ta hiện nay.
Phải xác định cho nguồn nhân lực tài nguyên quý giá nhất của Việt
Namtrong công cuộc đổi mới phát triển đất nước. Một đất nước rất ít tài nguyên thiên
nhiên như ở Việt Nam, cần phải lấy nguồn nhân lực làm tài nguyên thay thế, gọi tài
nguyên nguồn nhân lực, hoặc tài nguyên con người.
Nâng cao hơn nữa đến chất lượng con người chất lượng cuộc sống. Chấtlượng
con người, trước hết, phải tính đến vấn đề chất lượng sinh nở. Ngành y tế phải những
quy định cụ thể về chất lượng sinh nở như kiểm tra sức khỏe, bệnh tật, tính di truyền,…
trước khi đăng giá thú vợ chồng quan hệ để sinh con. Hiện nay, tại Việt Nam,
đang có tình trạng đẻ vô tội vạ, đẻ không tính toán, cân nhắc, nhất là ở nông thôn, làm
cho những đứa con sinh ra bị còi cọc, không phát triển được trí tuệ. Thậm chí có những
người bnhiễm chất độc da cam mà vẫn đẻ ra những đứa con dị tật. Có người tính rằng,
tại Việt Nam, cứ 10 đứa trẻ sinh ra, có 1 đứa bị dị tật bẩm sinh. vậy, phải tăng cường
chất lượng hoạt động của các cơ quan chức năng.
Khi chất lượng con người, phải tính đến chất lượng cuộc sống, nghĩa làphải
nuôi dưỡng về vật chất tinh thần của con người sinh ra, bảo đảm cho họ thể lực
dồi dào, có trí tuệ minh mẫn. Về vấn đề này, Việt Nam còn kém xa so với nhiều nước.
lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
Nhà nước xây dựng chiến lược nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triểnkinh
tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; xác định
thật rõ xây dựng nguồn nhân lực làtrách nhiệm của các nhà hoạch định và tổ chức thực
hiện chính sách, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Chính phủ và các cơ quan chức năng của Chính phủ có biện pháp giải quyếthiệu
quả những vấn đề vừa cấp bách, vừa lâu dài của nguồn nhân lực, trong đó vấn đề
khai thác, đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực, tạo một chuyển biến thật smạnh mẽ trong
việc khai thác, đào tạo, sử dụng từ nguồn nhân lực trong công nhân, nông dân, trí thức,
doanh nhân, dịch vụ,…
Nhà nước phải có kế hoạch phối hợp tạo nguồn nhân lực từ nông dân, côngnhân,
trí thức; kế hoạch khai thác, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng các nguồn nhân lực cho
đúng.
Không ngừng nâng cao trình độ học vấn. Hiện nay, nhìn chung, trình độ họcvấn
bình quân của cả nước mới khoảng lớp 6/ đầu người (có người tính là lớp 7). T lệ biết
chữ mới đạt khoảng 93% (có người tính 94 - 95%). vậy, vấn đề đặt ra một cách
gay gắt là phải bằng mọi biện pháp và đầu để nâng cao trình độ học vấn của cả nước
lên, bằng không, sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến phát triển kinh tế, văn hóa, hội. Thực
hiện toàn xã hội học tập và làm việc.
Đảng Nhà nước cần chính sách ràng, minh bạch, đúng đắn đối với
việcviệc sử dụng, trọng dụng nhân tài, nhất trọng dụng các nhà khoa học chuyên
gia thật stài năng cống hiến. Phải sự phân biệt rành mạch giữa tài thật tài giả,
giữa những người hội những người chân chính trong các quan công quyền.
Không giải quyết được vấn đề này một cách ràng, thì nhân tài của đất nước sẽ lại "rơi
lả tả như mùa thu", "vàng thau lẫn lộn", làm cho những người thật sự tài năng
lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
không phát triển được, trong khi đó, những người cơ hội, “ăn theo nói leo”, xu nịnh, bợ
đỡ lại tồn tại trong các cơ quan công quyền.
•Chính phủ cần những quyết định đúng đắn về việc được phép đầu vào cái
trong nguồn nhân lực; cải thiện chính sách tiền tệ và tài chính, phát triển cơ sở hạ tầng,
hiện đại hóa giáo dục là những vấn đề quan trọng vào thời điểm hiện nay.
Cải thiện thông tin về nguồn nhân lực theo hướng rộng rãi và dân chủ, làm
chomọi người thấy được tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực của nước ta
trên thế giới. Mở những đợt tuyên truyền rộng rãi, thấm sâu vào lòng người về nguồn
nhân lực, chất lượng sinh, sống, thông tin về học tập, giáo dục ngành nghề trong các
tầng lớp nhân dân, nhất là trong thanh niên, học sinh.
Hằng năm, Nhà nước cần tổng kết về luận thực tiễn về nguồn nhân lực ởViệt
Nam, đánh giá đúng mặt được, mặt chưa được, kịp thời rút ra những kinh nghiệm, trên
sở đó xây dựng chính sách mới điều chỉnh chính sách đã vnguồn nhân
lực Việt Nam, như chính sách hướng nghiệp, chính sách dạy nghề, học nghề, chính
sách quản lý nhà nước về dạy nghề, học nghề; chính sách dự báo nhu cầu lao động
cân đối lao động theo ngành nghề, cấp trình độ; chính sách thu hút các thành phần kinh
tế tích cực tham gia vào lĩnh vực tạo nguồn nhân lực cho đất nước; chính sách chi ngân
sách để đào tạo nguồn nhân lực; chính sách đối với các tổ chức NGO có liên quan đến
vấn đề nhân tài, nhân lực; chính sách đối với lao động đi làm việc ở nước ngoài và thu
hút các thành phần kinh tế tham gia đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài; chính sách
bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nông dân, công nhân, trí thức, chăm
lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.
KẾT LUẬN
lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
Thực tế cho thấy, sự phát triển kinh tế - hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều
điều kiện nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào con người. Điều khẳng định trên lại
càng đúng với hoàn cảnh nước ta trong giai đoạn cách mạng đẩy mạnh công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước. So sánh các nguồn lực với tư cách điều kiện, tiền đề để phát
triển đất nước và tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá thì nguồn nhân lực có vai trò
quyết định. Do vậy, hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn nhân lực phải chiếm một vị
trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta.
Để bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người Việt Nam với tư cách đó, chúng ta
cần phải tạo ra mối quan hệ hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế nhanh với tiến bộ hội,
đảm bảo công vụ quyền lợi công dân, cải thiện và nâng chất lẫn tinh thần; giải quyết
hợp lý mối quan hệ giữa lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt, lợi ích quốc gia, dân tộc và
lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân; không ngừng nâng cao trình độ học vấn, văn hoá cho h
trên sở xây dựng phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sc dân
tộc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình triết học (dùng cho học viên Cao học Nghiên cứu sinh
khôngchuyên ngành Triết học).
2. Ngô Xuân Tùng, Kinh Tế Tri Thức Xu Thế Mới Của Hội Thế Kỷ
XXI,NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2000.
3. http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=1&ID=2104
4. http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=4&news_ID=
26951821
5. http://dantri.com.vn/c133/s133-376889/nam-2010-ty-le-thatnghiep-
vancao.htm
lOMoARcPSD| 44879730
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
6. http://vneconomy.vn/20100119123834655P0C9920/ty-le-thatnghiep-
nam2009-la-466.htm
7. http://www.chinhphu.vn/cttdtcp/vi/chinhsachkinhte/kehoach5nam/i
ndex.html
8.http://nhantainhanluc.com/Themes/nhantainhanluccom/Common/contents.aspx
?lang=vn&tid=644&iid=1790&AspxAutoDetectCooki eSupport=1

Preview text:

lOMoAR cPSD| 44879730
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ CON NGƯỜI
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com lOMoAR cPSD| 44879730 MỞ ĐẦU
Theo quan điểm Triết học Mác - Lê nin, con người là một sinh vật có tính xã hội ở
trình độ cao nhất của giới tự nhiên và lịch sử xã hội, là chủ thể của lịch sử, sáng tạo nên
tất cả thành tựu của văn minh và văn hóa. Bản chất của con người là thực thể sinh học
- xã hội. Mặt sinh vật bao gồm cơ thể cùng những nhu cầu cơ thể và những quy luật
sinh học chi phối đời sống của cơ thể con người. Mặt xã hội bao gồm "tổng hòa những
quan hệ xã hội", những hoạt động xã hội, đời sống tinh thần của con người. Hai mặt này
có quan hệ khắng khít không thể tách rời nhau, trong đó mặt sinh học là nền tảng vật
chất tự nhiên của con người, mặt xã hội giữ vai trò quyết định bản chất của con người.
Trong thời đại ngày nay, nguồn tài nguyên, của cải đích thực và quý giá nhất của
mỗi quốc gia chính là con người. Vì vậy, mục đích phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
quốc gia, xét đến cùng, phải vì con người, cho con người, tạo môi trường thuận lợi để
con người có cuộc sống hạnh phúc, có sức khoẻ và có cơ hội phát huy mọi năng lực
sáng tạo. Nhận thức được điều đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân
tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định vai trò đặc biệt
của nhân tố con người với tính cách là động lực của sự phát triển xã hội, của sự nghiệp
xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.
Xuất phát từ quan điểm triết học Mác - Lênin về con người cho thấy, khi con người
là một thực thể tự nhiên - xã hội, con người nói chung biểu hiện ra trên nhiều phương
diện. Chẳng hạn, con người tồn tại với tư cách là một nguồn tài nguyên đặc biệt - tài
nguyên con người; con người tồn tại với tư cách là một nguồn lực đặc biệt hay nguồn
lực con người, hoặc tồn tại với tư cách là một nhân tố thúc đẩy đời sống kinh tế - xã hội
gọi là nhân tố con người… Bởi vậy, khái niệm nhân tố con người là sự tiếp tục triển
khai quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người.
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com lOMoAR cPSD| 44879730
Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin trong tiến trình xây dựng xã hội
mới, Đảng ta đã khẳng định: nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là con
người Việt Nam; nhân tố con người chính là nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt
Nam. Đối với một nước chủ động lựa chọn và kiên trì con đường phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, sự phát triển, tăng trưởng kinh tế, xét đến cùng
cũng là vì con người, hướng đến con người.
Để con người phát triển toàn diện cần tạo ra một hệ thống chính sách, biện pháp
và cơ chế vận hành đảm bảo sự phối hợp đúng đắn lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội.
Nâng cao chất lượng cuộc sống con người, nâng cao trình độ và năng lực lao động, nâng
cao tay nghề. Tạo ra môi trường công bằng, dân chủ, quan tâm đến lợi ích của từng
người và lợi ích của cộng đồng.
Lý do em chọn đề tài “Quan điểm của triết học Mác-Lênin về con người và vấn
đề xây dựng nguồn lực con người ở nước ta hiện nay” để nghiên cứu, nhằm nâng cao
nhận thức, hiểu biết sâu sắc hơn về quan điểm triết học Mác - Lênin về con người, đồng
thời đóng góp một số giải pháp để phát triển và sử dụng nguồn nhân lực nước ta hiện nay. NỘI DUNG
I. QUAN ĐIỂM CỦA MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI
1/ Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội.
Triết học Mác-Lênin đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học,
đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu
tố xã hội. Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm của giới tự
nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài. Yếu tố
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com lOMoAR cPSD| 44879730
sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì
vậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người”. Con người là một bộ phận của tự nhiên.
Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩm của quá
trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng,
mặt tự nhiên không phải yếu tố duy nhất quyết định bản chất con người. Đặc trưng quy
định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là mặt xã hội. Trong lịch sử đã có
những quan niệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động
vật sử dụng công cụ lao động, là “một động vật có tính xã hội”, hay con người là động
vật có tư duy… Những quan niệm này đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnh
nào đó trong bản chất con người mà chưa nêu lên được nguồn gốc bản chất xã hội ấy.
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con người
một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là
vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất. C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò
của lao động sản xuất ở con người: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý
thức, bằngtôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu
bằng việc tự phân biệt với súc vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư
liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định.
Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như vậy, con người đã gián tiếp sản xuất
ra đời sống vật chất của mình”.
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải biến toàn
bộ giới tự nhiên: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất
ra toàn bộ giới tự nhiên”.
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động
sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người. Thông qua hoạt
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com lOMoAR cPSD| 44879730
động sản xuất, con người tạo ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình;
hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động
là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành
nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con
người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất
với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môi
trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hóa…quy định phương
diện sinh học của con người. Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận
động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm
tin, ý chí. Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người.
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động tạo nên thể thống nhất trong đời sống con
người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối quan hệ giữa sinh học và xã hội là
cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con
người như nhu cầu ăn,mặc, ở; nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu
thẩm mỹ và hưởng các giá trị tinh thần.
Với phương pháp duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh
học với mặt xã hội cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người
là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là
đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật. Nhu cầu sinh học phải được
nhân hóa để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể
thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện
vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên – xã hội.
2/ Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội.
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com lOMoAR cPSD| 44879730
Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lên
thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với
xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối quan hệ đó, suy đến cùng,
đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất,
bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người.
Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên một mệnh
đề nổi tiếng “Luận cương về Phơbách” “Bản chất con người không phải một cái trừu
tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là
tổng hòa những mối quan hệ xã hội”.
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người.
Bởi vậy con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh.
Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luônluôn là chủ thể của lịch sử – xã hội.
C.Mác đã khẳng định: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản
phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục… cái học thuyết ấy quên rằng chính bản
thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục”. Trong tác phẩm “Biện chứng của tự
nhiên” Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “Thú vật cũng có một lịch sử phát triển dần dần của
chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm
ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra
mà chúng không hề biết và cũng không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người
càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng
tự mình làm ra lịch sử một cách có ý thức bấy nhiêu”.
Như vậy, với tư cách là một thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác
động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của
lịch sử xã hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên. Con người
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com lOMoAR cPSD| 44879730
thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thế giới tự
nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình.
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình. Con
người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản
thân con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội. Trên cơ
sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinh
thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do
con người đặt ra. Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã
hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn phát
triển nhất định của lịch sử xã hội. Do vậy, bản chất con người, trong mối quan hệ với
điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận độngbiến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp.
Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là một hệ thống mở, tương
ứng với điều kiện tồn tại của con người. Mặc dù là “tổng hòa các quan hệ xã hội”, con
người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo. Thông
qua đó, bản chất con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng mỗi
sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trùng khớp)
với sự vận động và biến đổi của bản chất con người.
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho
hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môi
trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằm
đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông qua
đó con người tiếp cận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên
nhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử , hành vi con người,
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com lOMoAR cPSD| 44879730
sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng
con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người.
Từ quan niệm khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin về con người có thể thấy:
Một là, để lý giải một cách khoa học những vấn đề về con người thì không thể chỉ
đơn thuần từ phương diện bản tính tự nhiên của nó mà điều căn bản hơn, có tính quyết
định phải là từ phương diện bản tính xã hội của nó, từ những quan hệ kinh tế – xã hội của nó.
Hai là, động lực cơ bản của sự tiến bộ và sự phát triển của xã hội chính là năng lực
sáng tạo lịch sử của con người, vì vậy phát huy năng lực sáng tạo của mỗi con người,
vì con người chính là phát huy nguồn động lực quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của xã hội.
Ba là, sự nghiệp giải phóng con người, nhằm phát huy khả năng sáng tạo lịch sử
của nó phải là hướng vào sự nghiệp giải phóng những quan hệ kinh tế – xã hội. Trên ý
nghĩa phương pháp luận đó có thể thấy: Một trong những giá trị căn bản nhất của cuộc
cách mạng xã hội chủ nghĩa chính là ở mục tiêu xóa bỏ triệt để các quan hệ kinh tế – xã
hội áp bức và bóc lột ràng buộc khả năng sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân –
những chủ thể sáng tạo đích thực ra lịch sử tiến bộ của nhân loại; thông qua cuộc cách
mạng đó nó cũng có thực hiện sự nghiệp giải phóng toàn nhân loại bằng phương thức
xây dựng mối quan hệ kinh tế – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa nhằm
xác lập và phát triển một xã hội mà tự do, sáng tạo của người này trở thành điều kiện
cho tự do và sáng tạo của người khác. Đó cũng chính là thưc hiện triết lý đạo đức nhân
sinh cao đẹp nhất của chủ nghĩa cộng sản: “mình vì mọi người; mọi người vì mình”.
II. VIỆC PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY.
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com lOMoAR cPSD| 44879730
1/ Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. a.
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm suốt thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Theo quan điểm của Đảng ta xác định công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi căn
bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụvà quản lý kinh tế xã hội từ sử
dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng
khoa học công nghệ tiên tiến hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Công nghiệp hóa ở nước ta có đặc điểm phải gắn liền với hiện đại hóa bởi vì cuộc
cách mạng khoa học hiện đại đã và đang diễn ra một số nước phát triển bắt đầu nền kinh
tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Do đó chúng ta cần phải tranh thủ ứng dụng
các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, tiếp cận với nền kinh tế tri thức để hiện đại
hóa những ngành, những khâu những lĩnh vực có điều kiện nhảy vọt. b.
Vai trò của nguồn nhân lực đối với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Người ta đã tổng kết và kể ra rất nhiều con đường công nghiệp hóa khác nhau:
Công nghiệp hóa cổ điển và phi cổ điển.
- Công nghiệp hóa cổ điển đây là kiểu công nghiệp hóa mà các nước Tây Âu vàMỹ
đã thực hiện ở thế kỷ 18, 19.
- Công nghiệp phi cổ điển là của các nước đi sau tiến hành công nghiệp hóa
mộtcách chủ động theo định hướng của Chính phủ. Nước ta đi theo con đường này, và
con đường này có xu hướng rút ngắn thời gian hoàn thành.
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com lOMoAR cPSD| 44879730
Nói tới công nghiệp hóa - hiện đại hóa người ta đến vốn và công nghệ hiện đại.
Nhưng điều đó chỉ hoàn toàn đúng với con đường công nghiệp hóa cổ điển, kinh nghiệm
của các nước công nghiệp hóa con đường thứ hai cho thấy hoàn toàn không phải như
vậy mà nhân tố quan trọng nhất chính là con người.
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa là con đường duy nhất để phát triển nền kinh tế -
xã hội đối với bất cứ quốc gia nào nhất là các nước chậm phát triển và đang phát triển.
Trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa, con người - nguồn nhân lực với tư
cách là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội, là yếu tố quyết định nhất, động lực cơ bản nhất.
Đảng ta xác định nhân tố con người chính xác là vốn con người, vốn nhân lực bao
gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc là vốn quý
nhất, quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa -
hiện đại hóa đất nước để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì thế giải phóng tiềm năng con
người, để phát huy tối đa nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại
hóa là một trong những quan điểm đổi mới có tính đột phá trong đường lối phát triển
kinh tế - xã hội của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới.
2/ Tính tất yếu khách quan phải phát triển và sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả ở nước ta hiện nay. a.
Yêu cầu ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng quan hệ
sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ điều kiện một nền kinh tế thấp kém, chủ yếu là
sản xuất nông nghiệp, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Dù miền Bắc đã có gần 60 năm
và cả nước đã có trên 30 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng một phần lớn thời gian
vẫn là tình trạng "một chủ nghĩa xã hội thời chiến". Bên cạnh thành tựu to lớn phục vụ
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com lOMoAR cPSD| 44879730
cho công cuộc kháng chiến và bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật thì chúng ta
cũng mắc phải những khuyết điểm nghiêm trọng trong tổ chức quản lý, những năm 80
lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội. Sau hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế
đã có những thay đổi quan trọng, đã tương đối ổn định và phát triển tạo nên thế và lực
mới của cách mạng nước ta, nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế. Tuy nhiên,
trình độ lực lượng sản xuất kém phát triển đang còn là cản trở chủ yếu của việc xây
dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mà quan hệ sản xuất này vốn mang bản chất
xây dựng hoá nền sản xuất xã hội. Người lao động yếu tố động nhất, quyết định nhất
của lực lượng sản xuất vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng được công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.
Dân số nước ta thuộc loại dân số trẻ, tốc độ gia tăng dân số cao, số người trong độ
tuổi lao động lớn tạo nên sức ép trên thị trường lao động thể hiện tỉ lệ thất nghiệp năm
2009 là 5,1%. Đáng chú ý, tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn lên tới 6,1%, còn khu vực
thành thị là 2,3%. Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, đến cuối năm 2009, cả nước
đã có 133.262 lao động bị mất việc làm, chiếm 18% lao động làm việc trong các doanh
nghiệp có báo cáo. Ngoài ra trên cả nước còn có 40.348 lao động ở các làng nghề bị mất
việc và khoảng 100.000 người khác phải giảm giờ làm, nghỉ luân phiên.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo của ta còn thấp chủ yếu vẫn là lao động giản đơn. Thiếu
công nhân kỹ thuật lành nghề và lành nghề cao; chưa có tác phong công nghiệp, cơ cấu
cấp trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động qua đào tạo còn bất hợp lý. Chất lượng
đào tạo nguồn nhân lực còn nhiều yếu kém, chương trình học không phù hợp với thực
tế của thị trường lao động. Sinh viên học thụ động, thiếu tính sáng tạo. Các trường đào
tạo nghề sử dụng các máy móc đã lỗi thời, lạc hậu mà thực tế đã không còn sử dụng….
Thêm vào đó, việc phân bổ, sử dụng nguồn nhân lực bất cập, thiếu đồng bộ càng
tăng thêm mâu thuẫn về cung cầu nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng ở các
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com lOMoAR cPSD| 44879730
vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa thừa lao động giản đơn nhưng lại thiếu nghiêm trọng
lao động có trình độ, gây rất nhiều khó khăn cho việc phát triển về nhiều mặt ở vùng
này. Những nơi cần thì không có, còn những nơi đã có nhiều rồi như ở các thành phố
lớn thì lại càng nhiều thêm gây ra một sự lãng phí rất lớn cho xã hội.
Trước thực trạng đó việc phát triển và sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả cao là
một vấn đề bức thiết. Nguồn nhân lực chính là yếu tố quyết định thành công của công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, nhất là trong thời đại của khoa học công nghệ hiện
nay. Người lao động nước ta có động lực học tập tốt, thông minh, tự tin cao, khéo léo,
có thể thànhgiỏi nếu được giáo dục, tự tin và cần có một môi trường thuận lợi để phát huy.
b. Phát triển và sử dụng nguồn nhân lực cũng là yêu cầu và xu thế chung của thế giới.
Ngày nay khi loài người đã bước vào cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ
3 thì nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế đóng vai trò đặc biệt quan
trọng. Xu thế phát huy yếu tố, nguồn nhân lực là xu thế chung toàn cầu. Nguồn nhân
lực có chất lượng cao về trí tuệ và tay nghề ngày càng trở thành một lợi thế cạnh tranh
cho mỗi quốc gia. Nếu nguồn nhân lực chỉ hàm chứa lao động giản đơn thì sẽ là một
sức ép đối với quá trình tăng trưởng và phát triển ở các nước chậm phát triển.
Nguồn nhân lực có dồi dào hay không là do chính sách đào tạo. Đào tạo phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng đòi hỏi trở thành quốc sách hàng đầu với các quốc gia. Các
nước phát triển lợi dụng ưu thế về vốn, kỹ thuật, đẩy nhanh đào tạo nhân tài, tranh giành
người tài với các nước khác. Các nước đang phát triển tăng cường đầu tư kinh phí cho
khoa học công nghệ giáo dục đào tạo nhân tài, đồng thời ngăn ngừa chảy máu chất xám
bằng những chính sách ưu đãi thích hợp.
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com lOMoAR cPSD| 44879730
Trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa phát triển kinh tế đất nước chúng
ta cần hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Nước ta tham gia vào rất nhiều các tổ chức
kinh tế như ASEAN, APEC và đặc biệt khi gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới
WTO thì tính cạnh tranh của nền kinh tế phải được nâng cao. Do đó việc nắm được
khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại để chủ động trong quá trình sản xuất, kinh tế đối
ngoại… rất quan trọng, chúng ta phải xác định rõ ràng những chính sách thích hợp để
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
3/ Những giải pháp để phát triển và sử dụng nguồn nhân lực nước ta hiện nay.
• Phải xác định cho rõ nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá nhất của Việt
Namtrong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Một đất nước rất ít tài nguyên thiên
nhiên như ở Việt Nam, cần phải lấy nguồn nhân lực làm tài nguyên thay thế, gọi là tài
nguyên nguồn nhân lực, hoặc tài nguyên con người.
• Nâng cao hơn nữa đến chất lượng con người và chất lượng cuộc sống. Chấtlượng
con người, trước hết, phải tính đến vấn đề chất lượng sinh nở. Ngành y tế phải có những
quy định cụ thể về chất lượng sinh nở như kiểm tra sức khỏe, bệnh tật, tính di truyền,…
trước khi đăng ký giá thú và vợ chồng quan hệ để sinh con. Hiện nay, tại Việt Nam,
đang có tình trạng đẻ vô tội vạ, đẻ không tính toán, cân nhắc, nhất là ở nông thôn, làm
cho những đứa con sinh ra bị còi cọc, không phát triển được trí tuệ. Thậm chí có những
người bị nhiễm chất độc da cam mà vẫn đẻ ra những đứa con dị tật. Có người tính rằng,
tại Việt Nam, cứ 10 đứa trẻ sinh ra, có 1 đứa bị dị tật bẩm sinh. Vì vậy, phải tăng cường
chất lượng hoạt động của các cơ quan chức năng.
• Khi có chất lượng con người, phải tính đến chất lượng cuộc sống, có nghĩa làphải
nuôi dưỡng về vật chất và tinh thần của con người sinh ra, bảo đảm cho họ có thể lực
dồi dào, có trí tuệ minh mẫn. Về vấn đề này, Việt Nam còn kém xa so với nhiều nước.
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com lOMoAR cPSD| 44879730
• Nhà nước xây dựng chiến lược nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triểnkinh
tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; xác định
thật rõ xây dựng nguồn nhân lực làtrách nhiệm của các nhà hoạch định và tổ chức thực
hiện chính sách, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
• Chính phủ và các cơ quan chức năng của Chính phủ có biện pháp giải quyếthiệu
quả những vấn đề vừa cấp bách, vừa lâu dài của nguồn nhân lực, trong đó có vấn đề
khai thác, đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực, tạo một chuyển biến thật sự mạnh mẽ trong
việc khai thác, đào tạo, sử dụng từ nguồn nhân lực trong công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ,…
• Nhà nước phải có kế hoạch phối hợp tạo nguồn nhân lực từ nông dân, côngnhân,
trí thức; có kế hoạch khai thác, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng các nguồn nhân lực cho đúng.
• Không ngừng nâng cao trình độ học vấn. Hiện nay, nhìn chung, trình độ họcvấn
bình quân của cả nước mới khoảng lớp 6/ đầu người (có người tính là lớp 7). Tỷ lệ biết
chữ mới đạt khoảng 93% (có người tính là 94 - 95%). Vì vậy, vấn đề đặt ra một cách
gay gắt là phải bằng mọi biện pháp và đầu tư để nâng cao trình độ học vấn của cả nước
lên, bằng không, sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Thực
hiện toàn xã hội học tập và làm việc.
• Đảng và Nhà nước cần có chính sách rõ ràng, minh bạch, đúng đắn đối với
việcviệc sử dụng, trọng dụng nhân tài, nhất là trọng dụng các nhà khoa học và chuyên
gia thật sự có tài năng cống hiến. Phải có sự phân biệt rành mạch giữa tài thật và tài giả,
giữa những người cơ hội và những người chân chính trong các cơ quan công quyền.
Không giải quyết được vấn đề này một cách rõ ràng, thì nhân tài của đất nước sẽ lại "rơi
lả tả như lá mùa thu", "vàng thau lẫn lộn", làm cho những người thật sự có tài năng
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com lOMoAR cPSD| 44879730
không phát triển được, trong khi đó, những người cơ hội, “ăn theo nói leo”, xu nịnh, bợ
đỡ lại tồn tại trong các cơ quan công quyền.
•Chính phủ cần có những quyết định đúng đắn về việc được phép đầu tư vào cái gì
trong nguồn nhân lực; cải thiện chính sách tiền tệ và tài chính, phát triển cơ sở hạ tầng,
hiện đại hóa giáo dục là những vấn đề quan trọng vào thời điểm hiện nay.
• Cải thiện thông tin về nguồn nhân lực theo hướng rộng rãi và dân chủ, làm
chomọi người thấy được tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực của nước ta và
trên thế giới. Mở những đợt tuyên truyền rộng rãi, thấm sâu vào lòng người về nguồn
nhân lực, chất lượng sinh, sống, thông tin về học tập, giáo dục ngành nghề trong các
tầng lớp nhân dân, nhất là trong thanh niên, học sinh.
• Hằng năm, Nhà nước cần tổng kết về lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực ởViệt
Nam, đánh giá đúng mặt được, mặt chưa được, kịp thời rút ra những kinh nghiệm, trên
cơ sở đó mà xây dựng chính sách mới và điều chỉnh chính sách đã có về nguồn nhân
lực ở Việt Nam, như chính sách hướng nghiệp, chính sách dạy nghề, học nghề, chính
sách quản lý nhà nước về dạy nghề, học nghề; chính sách dự báo nhu cầu lao động và
cân đối lao động theo ngành nghề, cấp trình độ; chính sách thu hút các thành phần kinh
tế tích cực tham gia vào lĩnh vực tạo nguồn nhân lực cho đất nước; chính sách chi ngân
sách để đào tạo nguồn nhân lực; chính sách đối với các tổ chức NGO có liên quan đến
vấn đề nhân tài, nhân lực; chính sách đối với lao động đi làm việc ở nước ngoài và thu
hút các thành phần kinh tế tham gia đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài; chính sách
bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nông dân, công nhân, trí thức, chăm
lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động. KẾT LUẬN
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com lOMoAR cPSD| 44879730
Thực tế cho thấy, sự phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều
điều kiện nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào con người. Điều khẳng định trên lại
càng đúng với hoàn cảnh nước ta trong giai đoạn cách mạng đẩy mạnh công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước. So sánh các nguồn lực với tư cách là điều kiện, tiền đề để phát
triển đất nước và tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá thì nguồn nhân lực có vai trò
quyết định. Do vậy, hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn nhân lực phải chiếm một vị
trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta.
Để bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người Việt Nam với tư cách đó, chúng ta
cần phải tạo ra mối quan hệ hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế nhanh với tiến bộ xã hội,
đảm bảo công vụ và quyền lợi công dân, cải thiện và nâng chất lẫn tinh thần; giải quyết
hợp lý mối quan hệ giữa lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt, lợi ích quốc gia, dân tộc và
lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân; không ngừng nâng cao trình độ học vấn, văn hoá cho họ
trên cơ sở xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.
Giáo trình triết học (dùng cho học viên Cao học và Nghiên cứu sinh
khôngchuyên ngành Triết học). 2.
Ngô Xuân Tùng, Kinh Tế Tri Thức Xu Thế Mới Của Xã Hội Thế Kỷ
XXI,NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2000. 3.
http://203.162.0.19:8080/show_content.pl?topic=1&ID=2104 4.
http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=4&news_ID= 26951821 5.
http://dantri.com.vn/c133/s133-376889/nam-2010-ty-le-thatnghiep- vancao.htm
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com lOMoAR cPSD| 44879730 6.
http://vneconomy.vn/20100119123834655P0C9920/ty-le-thatnghiep- nam2009-la-466.htm 7.
http://www.chinhphu.vn/cttdtcp/vi/chinhsachkinhte/kehoach5nam/i ndex.html
8.http://nhantainhanluc.com/Themes/nhantainhanluccom/Common/contents.aspx
?lang=vn&tid=644&iid=1790&AspxAutoDetectCooki eSupport=1
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com