HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC NÂNG CAO
HIỆN TƯỢNG TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN TRONG TRUYỀN
THỐNG VĂN HÓA VIỆT NAM
Nội, năm 2023
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................1
NỘI DUNG............................................................................................................. 3
I. Khái quát về “Tam giáo đồng nguyên”............................................................3
1.1. Khái niệm về tôn giáo................................................................................3
1.2. Khái niệm “Tam giáo đồng nguyên”.........................................................3
1.3. Sự xuất hiện của ba tôn giáo tại Việt Nam................................................3
1.3.1. Nho giáo...............................................................................................3
1.3.2. Phật giáo.............................................................................................. 5
1.3.3. Đạo giáo...............................................................................................8
II. Sự tồn tại của “Tam giáo đồng nguyên” trong hội Việt Nam.................... 9
2.1. “Tam giáo đồng nguyên” trong hội Việt Nam thời phong kiến............9
2.2. Tam giáo đồng nguyên” trong hội Việt Nam ngày nay................... 12
KÉT LUẬN........................................................................................................... 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................18
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề i
Hiện nay, trong làn sóng toàn cầu hóa, c nền văn hóa càng nhiều
hội giao lưu giao thoa văn hóa trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Nhiều yếu
tố văn hóa được du nhập vào Việt Nam tồn tại cùng với văn hóa truyền thống.
Văn hóa còn được coi như “sức mạnh mềm” của mỗi quốc gia, n tộc. Việt
Nam tự hào giữ gìn được bản sắc dân tộc với nhiều nét đẹp truyền thống vốn có,
đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trong suốt chặng đường vươn ra
thế giới, khẳng định được vị thế của nước nhà trên trường quốc tế. Việc phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam nhiệm vụ quan trọng, t những do
nêu trên, tôi đã đi sâu vào nghiên cứu, phân tích để đưa vào đề tài: Hiện tượng
tam giáo đồng nguyên trong truyền thống văn hóa Việt Nam” làm đề tài tiểu
luận của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nhìn vào chiều dài của lịch sử vị trí địa lý của các nước thì các quốc gia
thuộc Đông Á nói chung, ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của các nền văn minh lớn
của Trung Hoa Ấn Độ. Trước hết phải kể tới đó sự ảnh hưởng của văn hoá,
đặc biệt tôn giáo (chủ yếu Nho giáo, Phật giáo Đạo giáo, ….) Việt Nam
chúng ta nhiều đặc điểm mang đậm nền tảng văn hóa “Tam giáo đồng
nguyên”. Đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Hiện tượng tam giáo đồng nguyên trong
truyền thống văn hóa Việt Nam” để chúng ta nhìn nhận đúng, hiểu biết sâu sắc
những nét hay ý đẹp cần được giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
giải thích được nguồn gốc một số phong tập tục trong cuộc sống quanh ta.
3. Mục đích nghiên cứu của đề i
- Phân tích, nhận định tầm quan trọng vai t của Tam giáo đồng nguyên
trong xã hội Việt Nam.
- Phát hiện ra những mặt ch cực, hạn chế của Tam giáo đồng nguyên
2
Việt Nam.
- Một số đề xuất, kiến nghị trong việc vận dụng Tam giáo đồng nguyên vào
cuộc sống quản hội nước ta.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề i
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về “Hiện tượng tam giáo đồng nguyên trong truyền
thống văn hóa Việt Nam”.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Tại Việt Nam.
- Phạm vi về thời gian: từ khi xuất hiện và du nhập vào Việt Nam ảnh
hưởng đến hội hiện nay.
- Phạm vi về lĩnh vực: văn hóa, tín ngưỡng
5. Phương pháp nghiên cứu của đề i
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp luận biện chứng duy
vật với các phương pháp như: thống nhất logic lịch sử, phân tích, khái quát
hệ thống hóa.
Phương pháp so sánh: so sánh hiện tượng tam giáo đồng nguyên theo dòng
lịch sử (theo tiến trình lịch s tưởng dân tộc, từ Lý-Trần, đến nay)
thời đại ngày nay.
3
NỘI DUNG
I. Khái quát về “Tam giáo đồng ngun”
1.1. Khái niệm về tôn giáo
Tôn giáo
1
niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm hoạt
động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi tổ chức.
1.2. Khái niệm “Tam giáo đồng nguyên”
Tam giáo đồng nguyên ba tôn giáo gồm: Nho giáo, Phật giáo Đạo giáo
cùng hòa vào làm một. Hiện tượng này phổ biến một số nước Á Đông, điển hình
Trung Quốc Việt Nam. Đào Hoằng Cảnh (456-536)
2
người đầu tiên đ ra
thuyết này với l đơn giản rằng ba tôn giáo Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo đều
cùng một nguồn gốc đưa con người đến đỉnh cao của như ý toại nguyện.
1.3. Sự xuất hiện của ba tôn giáo tại Việt Nam
1.3.1. Nho giáo
Khái quát về Nho giáo
“Nho” danh hiệu chỉ những người học thức. Nho giáo hệ thống
giáo của các nhà Nho nhằm mục đích t chức hội hiệu quả. sở hình
thành, ra đời của Nho giáo được định hình từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự
đóng góp của Chu Đông Hán. Đến thời Xuân Thu, hội loạn ly, Khổng T
mới phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa lại tích cực truyền .
Nho giáo còn một học thuyết chính trị. Để làm được điều đó, Nho giáo đào
tạo cho những người cai trị kiểu mẫu, tưởng đó là quân tử.
Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam
Từ thế kỉ I - thế kỉ X từ năm 1407 đến 1427 khoảng thời gian nước ta
nằm trong tay đế chế phong kiến Trung Hoa nên sự du nhập của Nho giáo thời
1
Khoản 1 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016
2
Về Tam giáo đồng nguyên của Trung Quốc - Học thuật phương Đông
4
này mạnh mẽ nhất, người Việt bắt đầu tiếp xúc với Nho giáo. Quan lại
Trung Hoa dùng Nho giáo làm hệ tưởng hội chính nhằm phục vụ mục đích
cai trị và đồng hóa. Du nhập vào Việt Nam không phải Nho giáo nguyên thủy
(mang màu sắc của phong kiến nhân quyền thời Khổng Tử) Nho giáo của
thời quân chủ chuyên chế (tập quyền) n Đường, Tống, Minh. Bằng sự cưỡng
chế, Nho giáo đã trùm lên đời sống tinh thần của người Việt che lấp các yếu
tố tinh thần khác như Phật giáo văn hóa bản địa. Do đó trong con mắt của
người Việt, Nho giáo ý thức hệ đặc trưng của tầng lớp cai trị phong kiến.
Nho giáo trong hội Việt Nam
Trong thời kỳ đầu lập quốc, nho giáo chưa thịnh hành. Nhà Ngô, Đinh, Lê
trong buổi đầu của việc xây dựng nhà nước phong kiến, cùng với việc bận rộn
đánh đuổi giặc ngoài, bình giặc trong, nên việc cấp thiết hơn việc văn, nhà
vua ít lưu tâm đến việc học. Đến thời - Trần, tình hình chính trị trong nước
ổn định lâu dài mới có điều kiện mở mang học vấn. Thời kỳ đầu, tuy chọn Phật
giáo làm quốc giáo song vẫn tin dùng Nho giáo. Nho giáo vẫn tìm thấy chỗ
đứng của mình bởi tính tôn ti, trật tự xã hội những thứ Phật giáo hay Đạo
giáo không đặt trọng tâm vào bản thân Phật giáo, Đạo giáo cũng không phải
một đạo trị nước. Nho giáo trở thành một nhu cầu cấp thiết để củng cố chính
quyền, để tuyển lựa một số quan chức. vậy đến thời nhà Lý, Trần Nho giáo
phát triển hơn, chính quyền đã dùng Nho làm trị đạo. Đây là điểm bản để giới
thống trị Việt Nam tự nguyện tiếp nhận Tống Nho m công cụ thống nhất quốc
gia, xây dựng vận hành nhà nước. Nho giáo đã theo sự phát triển của việc học
vươn lên dần dần. Đến thế kỷ XV, n chọn Nho giáo làm quốc giáo,
chính thức từ đây Nho giáo trở thành hệ tưởng chính thống được tiếp nhận,
đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Nho học Việt Nam. Cụ thể, năm
1070 (Lý) dựng Văn Miếu thờ Khổng Phu Tử các danh nho Trung Hoa và
Việt Nam; năm 1075 xây Quốc Tử Giám (trường đại học đầu tiên của Việt Nam)
để dạy con cháu vua, quan; cũng trong năm 1075 mở khoa thi đầu tiên để
5
chọn nhân tài giúp nước. Nho giáo lấn chiếm thế mạnh để cuối cùng thì chiếm
ưu thế triều đình trong hàng trí thức so với Phật giáo. Giai đoạn này, các
khoa thi được mở đều đặn hơn hỗ trợ đắc lực trong cuộc chiến đấu chống
Minh, giải phóng dân tộc của vua Lợi. Năm 1428, Lê Lợi lập Quốc Tử giám
kinh thành nhiều trường học các đạo. Năm 1483, Thánh Tôn xây dựng
lại Văn Miếu lập nhà Thái học vừa giảng đường, vừa thư viện nơi bảo
quản các bản in gỗ quan trọng. Tiếp đến năm 1480, Thánh Tôn dựng bia đá
Văn Miếu, ghi lịch các vị tiến từ khóa 1442 trở đi. Như thế, Phật giáo lui
dần, ít ra trong lĩnh vực, chính trị, văn hóa, còn Nho giáo thì tiến mãi cung
cấp ngày càng đông tử cho nhà nước phong kiến. Song đến cuối thời Trần,
Nho giáo vẫn chưa được người dân Việt chấp nhận hoàn toàn, quần chúng nhân
dân vẫn theo Phật giáo, Đạo giáo. vậy tinh thần “tam giáo đồng nguyên”
biểu hiện đặc sắc của nền văn hóa Đại Việt. Đó sự hội tụ, “chung sống hòa
bình” giữa nền văn hóa bản địa của dân tộc với Phật giáo, Nho giáo Đạo giáo
tạo ra một sự thăng bằng trong đời sống tinh thần Việt Nam, đã dẫn đến đặc
trưng riêng Việt Nam “Tam giáo đồng nguyên”, đó là:
- Nho giáo chi phối con người về mặt tính nghĩa v hội.
- Phật giáo chi phối con người về mặt tình cảm, tưởng tượng và ước
nhân đạo.
- Đạo giáo chi phối con người về mặt ý chí khắc phục khó khăn trần thế
bằng phương thuật bí ẩn.
1.3.2. Phật giáo
Khái quát về Phật giáo
Phật giáo ra đời từ thế kỉ VI trước công nguyên tại một vùng đất thuộc phía
Bắc Ấn Độ Dương (nay thuộc lãnh th Nepal). Người sáng lập ra Phật giáo
Thái tử Xidacta, pháp hiệu Thích ca Mâu ni
3
.Toàn bộ tưởng, nội dung được
3
Sự ra đời của Phật giáo - Báo Bình Phước
6
thể hiện trong ba cuốn kinh lớn Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Nói đến
Phật giáo trước hết nói đến tưởng v tha, vị nhân sinh .
Toàn bộ nội dung của Phật giáo được thể hiện ba cuốn kinh lớn:
- Kinh tạng: Bộ sách ghi lại những lời của Thích ca Mâu ni trước khi ông
còn sống.
- Luật tạng: Bộ sách ghi lại những luật lệ, quy tắc khi gia nhập cộng đồng
Phật giáo.
- Luận tạng: Bộ sách do những nhà tư tường Phật giáo đời sau biên soạn,
chứa những lời bình luận.
Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam
Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ sớm qua nhiều con đường khác
nhau. Theo i liệu lịch sử, Phật giáo du nhập vào miền bắc Việt Nam bằng
đường hải vào miền nam theo đường bộ. Luy Lâu (Bắc Ninh) thuộc Giao Chỉ
trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng. Trong thời kỳ Bắc thuộc, Phật
giáo được truyền vào Việt Nam dưới sự cai trị của phong kiến Trung Hoa. Phật
giáo bị biến đổi bản, trở nên thực dụng ít mang tính chất siêu hình hơn,
gần gũi rộng mở hơn với đời sống trần tục. Trong thời dựng nước mở
mang bờ cõi về phía nam, Phật giáo hội được củng cố bởi đại dân
khu vực này đã tín đồ của dòng Tiểu Thừa trước đó.
Phật giáo trong hội Việt Nam
Phật giáo vào thời hậu mất thế đứng so với Nho giáo thế kỷ X-XIV
một thời kỳ cùng rạng rỡ, Lợi muốn xây dựng một thể chế quân chủ
phong kiến, do vậy cần dùng học thuyết Nho gia để phát triển. Phật giáo bị hạn
chế từ kiến thiết, nghi lễ hoạt động hội. Tuy không còn được coi trọng n
xưa, Phật giáo vẫn lan tỏa trong nhân gian qua tín ngưỡng t bi, nhân quả, luân
hồi... Đến khi Nam-Bắc phân tranh, tình hình hội biến đổi, Phật giáo cơ
may phát triển nhờ triết thuyết nhân quả đ đ an ủi nhân tâm giữa lúc phân ly
7
loạn lạc nhiều thống khổ. Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà nên xảy ra tranh
chấp giữa nhà Mạc n suốt 60 năm, nhân dân đồ thán; nhà Lê nhờ họ
Trịnh đánh dẹp nhà Mạc, sau đó giữa Trịnh và Nguyễn lại tiếp tục xảy ra tranh
chấp suốt 2 thế kỷ làm hội rối ren, nhân dân chịu khổ. Tuy vậy, thời kỳ này
Phật giáo lại phát triển khá tốt. Phật giáo thời này không chỉ Phật giáo của
giới thượng lưu quan quyền như thời Lê Trần phật giáo hội hóa, lan
tỏa khắp trong nhân gian làng xã.
Lợi chiến thắng giặc ngoại xâm lên ngôi vua, đã đánh dấu bước
chuyển quan trọng trong đời sống hội Việt Nam. Trên lĩnh vực tôn giáo Phật
giáo đã nhường bước cho Nho giáo, điều này chủ yếu do đời sống chính trị
hội Việt Nam quy định, đó phải xây dựng củng cố nhà nước phong kiến, kỷ
cương hội, Nho giáo khả năng đáp ứng được. Tuy nhiên Nho giáo chỉ
phổ biến chủ yếu tầng lớp trên của hội, còn đại bộ phận dân t tác
động của Phật giáo khá lớn. Thời kỳ này Phật giáo dung nạp 3 yếu tố: Tịnh,
Thiền, Mật kết hợp cả tự độ, tự giác giác tha. Bên cạnh đó nhà hạn chế t
chức thi cử, một số lễ giáo, xây dựng chùa chiền…Nhìn chung vai trò Phật giáo
thời hậu Lê đã b giảm sút so với trước. Phật giáo không trực tiếp tham gia vào
việc triều chính như trước chủ yếu ảnh hưởng trong đời sống dân chúng.
Đến thời triều đình Nguyễn, không được dân ủng hộ nên luôn gặp sự phản
kháng của người dân, vậy triều đình Nguyễn muốn lặp lại cấu tổ chức
nhà nước, đi đôi với các chính sách khắc, hạn chế đạo Phật, sãi….
Với đạo Phật, triều Nguyễn đã phê phán c giáo và hành đạo của Phật giáo.
Song Phật giáo vẫn chỗ đứng ngay trong cung đình, trong gia đình triều thần,
trong các nho quan lại. Do vậy việc tu sửa chùa chiền thời này vẫn được diễn
ra. Phật giáo đã thấm sâu vào tư tưởng nhân dân, được quan hệ làng lưu
giữ, duy trì. Trong quan niệm của nhân dân, trong văn học đều mang dấu ấn
tưởng của Phật giáo.
Sang thời Tây Sơn, Nho giáo tiếp tục được tôn trọng. Quang Trung h
8
chiếu yêu cầu Nguyễn Thiếp phải hướng việc học tập thi cử theo phép của Chu
Tử, đồng thời kế hoạch biên soạn ch Nôm.
Như vậy, suốt các thời Ngô, Đinh, sơ, Lý, Trần, Hậu Lê, Việt Nam
tam giáo đều lưu hành, lúc suy thịnh, đấu tranh nhưng chưa hề chiến tranh
tôn giáo xảy ra n một số nước châu Á châu Âu. Trái lại, tôn giáo đoàn
kết với nhau chống giặc ngoại xâm.
1.3.3. Đạo giáo
Khái quát về Đạo giáo
Đạo giáo còn gọi Đạo Lão, Đạo gia hay thuyết Lão - Trang, được hình
thành trong phong trào nông dân khởi nghĩa vùng Nam Trung Hoa vào thế kỉ II
sau công nguyên, sở luận của Đạo Gia– triết thuyết do Lão Tử đề
xướng Trang tử hoàn thiện (học thuyết Lão-Trang). Đây học thuyết chủ
trương sống hòa hợp với thiên nhiên, phù hợp với Đạo (quy luật của trời đất) để
bảo tồn “cái tôi” của con người.
Đạo giáo một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song
với Nho giáo Phật giáo. Ba truyền thống tư tưởng này đã ảnh hưởng rất lớn đến
nền tảng văn h Trung Quốc. Mặc rất nhiều quan điểm khác biệt nhưng cả
ba giáo này đã hoà hợp thành một truyền thống. Ảnh hưởng của Tam giáo trong
lĩnh vực tôn giáo văn hoá vượt khỏi biên giới Trung Quốc, được truyền đến các
nước lân cận như Việt Nam, Triều Tiên, Đài Loan Nhật Bản.
Sự du nhập của Đạo giáo o Việt Nam
Cuối thế kỉ thứ II, khi Trung Hoa đại lục trải qua nhiều cuộc bạo loạn,
chiến tranh khiến rất đông người phương Bắc chạy xuống phương Nam lánh nạn.
Trong số đó nhiều đạo Trung Hoa. Các tín ngưỡng bản địa môi trường
để Đạo giáo thâm nhập vào đời sống của dân Giao Chỉ. Chính sự du nhập
đó nên Đạo giáo một triết sống ít được người Việt Nam biết đến chủ
yếu được quan niệm như Đạo phù thủy hoặc bùa chú pháp thuật.
9
Đạo giáo trong hội Việt Nam
Thời kỳ Trần giai đoạn cực thịnh của Đạo giáo Việt nam. Khi đó,
Đạo giáo thâm nhập vào cả chốn cung đình, đạo chức quan, tham gia vào
việc triều chính. Từ thời n Lý, các vua bắt đầu tổ chức các cuộc thi tam giáo.
Điều này cũng khiến cho Đạo giáo trở nên phổ biến hơn so với lúc trước. Tuy đã
xâm nhập vào Đại Việt cũng được sự trọng thị của triều đình, tuy nhiên Đạo
giáo không đội ngũ đông đảo truyền giảng đạo như Phật giáo Nho giáo.
Do đó Đạo giáo thời Trần không những n đồ thực sự, chỉ một số người tu
tiên các thầy cúng cầu phúc trừ trong dân gian vẫn được duy trì. Mặc
một mặt cấm đoán như vậy, nhưng chính bản thân các vua triều Nguyễn cũng ra
lệnh xây dựng một số đền, đạo quán mới của Đạo giáo.
II. Sự tồn tại của “Tam giáo đồng nguyên” trong hội Việt Nam
2.1. “Tam giáo đồng nguyên” trong hội Việt Nam thời phong kiến
Yêu cầu củng cố xây dựng một quốc gia Đại Việt độc lập, thống nhất,
hùng mạnh cả về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa để chống lại các cuộc xâm
lăng của quân Tống thời Lý, giặc Mông - Nguyên thời Trần đã thể hiện mạnh
mẽ ý thức dân tộc, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết cùng với các yếu tố triết
học, tôn giáo, đạo đức, chính trị - hội của Phật giáo, Nho giáo Đạo giáo đã
trở thành những nhân tố tinh thần tiêu biểu ảnh hưởng đến đời sống tinh thần
hội thời kỳ này nói chung, đến tưởng chính trị nói riêng. Chính vậy
hình thành nên quan niệm Tam giáo đồng nguyên”. Sự dung hòa “Tam giáo”
một thực thể hình thành một cách tự nhiên trong tình cảm việc làm của người
dân đến thời kỳ - Trần thì được chính quyền công nhận rộng rãi. Dung
hòa “Tam giáo” không chỉ trong đời sống hội của người dân tồn tại trên
cả bộ phận bên trên tức bộ phận quý tộc phong kiến.
Trước hết ta gặp sự dung hợp giữa từng hiện tượng văn hoá ngoại sinh với
văn hoá bản địa: Phật giáo với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên sinh. Việc phụng
thờ những hiện tượng tự nhiên đã từ rất sớm trong đời sống tâm linh của
10
người Việt cổ được tôn xưng thành các vị thần như: thần Mây, thần Mưa, thần
Sấm, thần Sét, thần Gió, thần biển… Trong quá trình tồn tại phát triển, do
được Việt hóa khá mạnh nên chùa, ngoài việc thờ phụng những nhân vật của
Phật giáo, còn thờ thêm cả những nhân vật của riêng người Việt như các vị
Thần, Thánh… tiêu biểu như: T Pháp (gồm: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi,
Pháp Điện); lối cấu trúc chùa chiền theo kiểu “tiền Phật hậu thần”...Nho giáo
vào Việt Nam cũng bị truyền thống coi trọng làng nước, tinh thần dân chủ...
làm biến đổi. Còn Đạo giáo vốn gần i với tín ngưỡng cổ truyền nên khi vào
Việt Nam, lại bị hoà lẫn đến mức nhiều khi không nhận ra sự tồn tại của nó.
Truyền thống h hợp với tự nhiên, thờ các vị thần tự nhiên được phản ánh qua
các tôn giáo rất rõ. mức đ cao hơn là sự dung hợp giữa c hiện tượng văn
hoá ngoại sinh đã được địa phương hoá với nhau. Sự dung hợp giữa Phật giáo
với Đạo giáo mối quan hệ lâu đời bền chặt nhất. Ngay từ thời kỳ chống
Bắc thuộc, hai tôn giáo này đã hoà quyện với nhau trong cuộc sống của người
bình dân. những nơi như đền Ngọc Sơn Nội, lúc chùa ( Phật giáo),
lúc lại Đền (Đạo giáo). Khá nhiều chùa ( Phật giáo) lại thờ các vị thần của
Đạo giáo như Nam Tào, Ngọc Hoàng, Bắc Đẩu, Quan Công... Thời Đinh- Lê-
Lý- Trần, nhiều nhà đồng thời là đạo sĩ. Triều đình thì trọng dụng cả đạo
lẫn nhà sư. Thiền phái Trúc Lâm dung hợp tưởng Phật với triết sống tìm về
thiên nhiên của Lão-Trang.
Phật giáo Nho giáo cũng quan hệ lâu đời. Do ảnh hưởng Phật giáo từ
Trung Hoa đã dần thay thế cho việc truyền đạo trực tiếp t Ấn Độ, cho nên các
nhà muốn đọc kinh Phật phải biết đọc chữ Hán do vậy dễ hiểu không ít
nhà khá tinh thông Nho học. Thời Đinh- Lê- –Trần nhiều trường hợp
tài đối đáp cùng vốn tri thức uyên thâm của các nhà Việt Nam khiến các sứ
thần Trung Hoa nể trọng. Dưới thời Nhà sự dung hợp triết Phật giáo với
tưởng Nho giáo, không phải ngẫu nhiên phái này nhiều vua quan
đương nhiệm quy y hơn cả.
11
Sự dung hợp tam giáo một thực thể hình thành một cách tự nhiên trong
tình cảm việc làm của nời dân, đến thời Lý- Trần t được chính quyền
công nhận rộng rãi. Triều đình tổ chức những kỳ thi tam giáo để tìm ra những
người thông thạo cả ba giáo ra giúp nước (vào các năm 1195 1247). Người
Việt Nam nhận ra rằng Tam giáo mới trông thì khác nhau nhưng nhìn kỹ thì thấy
nhiều khi chỉ những cách diễn đạt khác nhau về cùng một khái niệm. khi
những phạm trù khác nhau, những biện pháp khác nhau nhằm đến ng một
mục đích, những cái dụng khác nhau của cùng một thể. Cái khác nhau ấy không
mâu thuẫn đối chọi nhau bổ sung hỗ trợ cho nhau: Nho giáo lo tổ chức
hội sao cho quy củ; Đạo giáo lo thể xác con người sao cho mạnh khoẻ; Phật giáo
lo cho tâm tính con người sao cho thoát khổ. Bởi vậy người dân cầu đến cả ba
tôn giáo, họ sử dụng kết hợp chúng theo giới tính, theo các giai đoạn theo cuộc
đời. Phụ nữ âm tính hơn thiên về Phật, đàn ông dương tính hơn thiên về Nho.
Cùng một người Việt Nam, khi trai trẻ thì ra sức học Nho để giúp nước, khi khổ
ải trầm luân thì cầu khấn Phật trời phù hộ, khi ốm đau già yếu thì mời đạo trị
bệnh trừ hoặc tập luyện dưỡng khí an thần. Không chỉ trong một đời, ngay
trong một ngày cũng thể gặp biểu hiện của ba tôn giáo nơi một con người.
Hơn thế nữa, người bình dân cũng chẳng cần biết đến Nho giáo, gần gũi đối với
họ trước hết tín ngưỡng bản địa quen thuộc của dân nông nghiệp với
truyền thống trọng phụ nữ, đạo Thánh Mẫu, sau nữa Phật giáo Đạo giáo.
Thế hình thành một thứ “Tam giáo” bình dân, hoà quyện Đạo Phật, Đạo Lão
Đạo Thánh Mẫu. Như vậy, sự dung hợp diễn ra không chỉ giữa từng tôn giáo
ngoại sinh với tín ngưỡng bản địa, giữa các tôn giáo ngoại sinh đã được địa
phương h với nhau.
“Tam giáo đồng nguyên” Việt Nam thời kỳ - Trần đã tạo nên được sự
ổn định, một sự nhất trí trong hội Việt Nam đương thời. Đây một thời kỳ
văn h Việt Nam được bồi bổ xây dựng thêm những nhân tố mới khiến
cho nền văn hoá dân tộc càng phong phú đặc sắc hơn. Cả ba tôn giáo Nho
giáo, Đạo giáo, Phật giáo đều những tôn giáo tôn trọng tín ngưỡng truyền
12
thống thờ cúng tổ tiên, phù hợp với hội nông nghiệp với tín ngưỡng phồn
thực rất đậm, cho nên nó dễ dàng hoà nhập cùng tồn tại với nhau.
2.2. “Tam giáo đồng nguyên” trong hội Việt Nam ngày nay
Việt Nam tuy lấy chủ nghĩa Mác- Lênin tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng để Đảng Cộng sản lãnh đạo đất nước, song không loại trừ các học thuyết
triết học chính trị hội khác trong đó Nho học, miễn chúng lợi cho
sự ổn định phát triển đất nước. Còn các nước bản chủ nghĩa thì từ trước
đến nay vẫn chủ trương đa nguyên luận đa nguyên văn hoá tưởng. Do đó
Nho học vẫn do để tiếp tục tác động đến hội con người. Sự tồn tại
của Nho học ngày nay không phải chỉ do điều kiện khách quan tạo nên
còn do ý thức chủ quan, do sự tự giác bên trong con người. Hiện nay, tuy mức
sống vật chất cao hơn, đời sống tinh thần phong phú đa dạng hơn, song đối mặt
với hội hiện đại, vẫn còn một bộ phận đông đảo nhớ tới tưởng, đạo đức, lối
sống của Nho học.
Nho giáo
Đã để lại cho các nước Đông Á - trong đó Việt Nam một di sản tinh thần
đồ sộ, bao gồm thơ văn, kinh dịch, sử liệu, tưởng, nghi thức, tập tục, thói
quen v.v… thể hiện lên trình đ văn h phát triển các dân tộc ấy phải tích
luỹ trong mấy nghìn năm.
Phật giáo
Tuy không tác động trực tiếp việc định hướng phát triển kinh tế hội
mỗi địa phương chỉ những yếu t góp phần khai sáng mặt nhận thức của
người dân. mục đích của Phật giáo xây dựng đời sống an lạc giải thoát,
nhưng muốn an lạc t đời sống kinh tế phải vững mạnh, phát triển, hài hòa.
Hiểu được lời dạy của phật thì đồng bào một số nơi sẽ tránh được những h
tục lạc hậu, tốn kém nhưng giết trâu, mổ đ cưới xin, ma chay hay cúng
giàng, cúng thần linh, ma quỷ. Khi tiền rồi thì cần biết tiết kiệm (tích cốc
13
phòng cơ) để đề phòng những tình huống khẩn cấp. Phật giáo chứa đựng
nhiều giá trị văn hóa, đạo đức. Những giá trị này đã ảnh hưởng không nhỏ tới
nền văn hóa mỗi quốc gia dừng chân. Với văn hóa Việt Nam cũng vậy.
Nhờ Phật giáo, nền văn hóa Việt Nam càng thể hiện rõ hơn sự đa dạng, đặc
sắc của mình.
Đạo giáo
Ngày nay, người ta nói về Đạo giáo với cách một tôn giáo không còn
tồn tại nữa, tuy nhiên, những phong tục mang tưởng của tôn giáo này vẫn còn
tồn tại cùng với con người Việt Nam đến tận bây giờ. dụ điển hình việc
xem phong thủy, n đối với một số người, việc này cùng quan trọng, khi
làm chuyện lớn n mua một căn nhà, cho đến việc nhỏ nhặt n đặt một thứ đ
nội thất đâu, họ đều mời thầy phong thủy đến xem vấn, bởi họ tin, những
chuyện đó thể làm ảnh hưởng đến những chuyện lớn hơn n sức khỏe, tiền
tài, danh vọng… Hoặc những người tin rằng nhân tướng thể quyết định
được số phận cuộc đời sau này, nên họ học xem tướng, chọn tin rằng s phận
cuộc đời của họ đã được định đoạt sẵn không thể thay đổi h cũng không
muốn thay đổi.
Tuy nhiên hầu hết những thứ thần tiên, phù thủy Đạo giáo hướng đến
không còn tồn tại nhiều trong đời sống hiện đại nữa. Người Việt Nam, nhất
những người trẻ, chỉ coi những điều đó như một phần của đời sống văn hóa tinh
thần, chứ không tìm thấy sự liên hệ nhiều giữa những tưởng của Đạo giáo với
hiện thực. “Tam giáo đồng nguyên” trong hội Việt Nam ngày nay đóng vai
trò không thể thiếu trong quá trình đất nước ta hội nhập toàn cầu vươn lên
phát triển. Tam giáo đồng nguyên” còn đưa Việt Nam tiếp cận gần gũi hơn với
bạn quốc tế. Đồng điệu trong văn hóa cũng điều kiện thuận lợi để chính
phủ nhân dân hai nước giao lưu thuận lợi, với nhiều điểm tương đồng trong
văn hóa, hệ tưởng, tôn giáo. Điều này tương tự với các quốc gia phần đông
dân số theo Phật giáo n các nước cùng khu vực Đông Nam Á hay Nam Á. Đối
14
với các quốc gia còn lại, dù nền văn hóa không nhiều nét tương đồng, song
“Tam giáo đồng nguyên” đã tạo cho mỗi người Việt Nam nền tảng phẩm chất,
đạo đức và hệ tưởng tiến bộ, tốt đẹp, truyền thống, giàu bản sắc dân tộc trên
mỗi bước đi hội nhập, giao lưu cùng thế giới.
Bên cạnh những yếu t trên, “Tam giáo đồng nguyên” hướng tâm con
người Việt Nam đến những điều thiện lành, với những h tưởng tốt đẹp trong
đời sống, hội. Chính điều này đã đưa Việt Nam trở thành một trong những
quốc gia thân thiện nhất, chỉ s hạnh phúc cao nhất. Những nụ cười nời
Việt Nam trao cho bạn quốc tế đã làm cảm mến họ biết bao, đồng thời hình
ảnh Việt Nam hạnh phúc, thân thiện với nụ cười đã trở thành đề tài ý nghĩa nóng
hổi trên nhiều diễn đàn quốc tế.
Quá trình hội nhập sâu rộng với thế giới đặt ra nhiều thách thức, không chỉ
về gìn giữ bản sắc riêng còn giữ vững nền độc lập, tự chủ, bảo vệ chủ
quyền Tổ quốc, đảm bảo hòa bình khu vực mối quan hệ tốt đẹp, thân thiện
với các quốc gia khác. Chính những tưởng trong “Tam giáo đồng nguyên”
của riêng Việt Nam trở thành sở vững chắc để xây dựng và củng cố “tinh
thần Đại Việt” độc lập tự chủ, “phi Hoa, phi Ấn”, khác biệt với Đông Nam Á về
văn hóa, truyền thống nhưng vẫn hài hòa với c quốc gia khác
13
. Thực tế lịch
sử đã minh chứng nét, t thế kỷ XV khi nhân dân Đại Việt lấy c nhân, đại
nghĩa để tha thứ đưa giặc Minh về nước khiến chúng cay đắng thất bại
cũng phải cảm kích. Trong suốt thế kỷ XX, Việt Nam ta cũng đã đánh tan những
kẻ thù sừng s tiếng toàn cầu như thực dân Pháp, đế quốc Mỹ quân Trung
Quốc gây chiến tranh xâm lược đất nước ta, ấy vậy chỉ đến cuối những năm 90
của thế kỷ XX, Việt Nam đã thiết lập lại quan hệ ngoại giao với các quốc gia
này. Cũng nhờ ảnh hưởng t “Tam giáo đồng nguyên”, đường lối đối ngoại của
Việt Nam luôn xoay quanh những yếu t như “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, chủ
quyền đất liền và biển đảo, luôn đặt lợi ích dân tộc trên hết, trước hết, độc lập,
tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa
15
hội nhập quốc tế toàn diện sâu rộng. Ngày nay, nước ta, Cộng hòa hội
Chủ nghĩa Việt Nam, đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia
vùng lãnh thổ, trong đó thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với ba
nước lớn, quan hệ Đối tác Chiến lược quan hệ Đối tác Toàn diện với gần 30
quốc gia. Năm 2019, Việt Nam cũng trúng cử vị t Ủy viên không thường trực
của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với số phiếu bầu kỷ lục chưa từng
192/193, chứng tỏ vị thế nước nhà mối quan hệ của nước ta với các quốc gia
khác. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng được giữ nhiều vị t quan trọng trong các tổ
chức khu vực, thế giới, được chọn địa điểm tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh
Mỹ - Triều lần 2,...
Nền tảng văn hóa “Tam giáo đồng nguyên” đã tạo điều kiện cho nước ta
hội nhập sâu rộng với quốc tế. Điều y dẫn tới nhiều hội to lớn, tác động
mạnh mẽ đến động lực công nghiệp hóa-hiện đại hóa của nước ta. Trước hết,
Việt Nam hội tiếp cận, giao lưu học hỏi khoa học công nghệ, từ đó ứng
dụng trong đời sống, sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, đáp ứng nhu cầu
yêu cầu về nhân lực, tài lực vật lực phụng sự cho sự nghiệp phát triển của
Tổ quốc. Không chỉ vậy, Việt Nam còn ngày càng tr nên hấp dẫn hơn với c
nhà đầu tư quốc tế. FDI của Việt Nam năm 2019 (trước đại dịch Covid-19) đạt
trên 38 tỷ USD, gấp đôi năm 2012, trong đại dịch, nguồn FDI xu
hướng giảm nhẹ theo tình hình chung nhưng các chuyên gia vẫn đánh giá rất cao
tiềm năng Việt Nam. Quan hệ thương mại của nước ta đối với c quốc gia trên
thế giới cũng phát triển nhanh chóng, trở thành đối tác tin cậy của thế giới
đối tác lớn, quan trọng trong chính sách của nhiều quốc gia như Mỹ, Trung
Quốc,...
Cốt lõi hơn nữa, “Tam giáo đồng nguyên” tạo cho người Việt Nam những
mục tiêu phẩm chất đạo đức, lối sống tốt đẹp, trong đó tinh thần n tộc, chủ
nghĩa ái quốc, đức tính siêng năng cần cù, chịu khó, dũng cảm, sáng tạo, đoàn
kết, tương thân tương ái. Đảng Nhà nước cũng vận dụng nhiều yếu tố trong
16
“Tam giáo đồng nguyên” khi thực thi các chính sách kinh tế, xã hội; đồng thời
các lãnh đạo, cán bộ Đảng, Nhà nước, quân đội, công an luôn đề cao tưởng
trung với Đảng, hiếu với dân, từ đó được một hội ổn định, phát triển, nhân
dân đặt niềm tin tưởng, yên tâm lớn lao vào đường lối chính sách.
Chính vậy, người Việt Nam thích nghi tốt với thời kỳ đổi mới, sáng tạo,
học hỏi vận dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, thúc đẩy thành công tiến
trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước sau 35 năm Đổi Mới, đi lên theo
con đường chủ nghĩa hội. Trong giai đoạn phát triển tiếp theo, Việt Nam cần
tiếp tục giáo dục vận dụng linh hoạt “Tam giáo đồng nguyên” đ đạt được
mục tiêu chiến lược đề ra trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: Năm 2025
vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập
Đảng, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, công nghiệp hiện đại, thu
nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao
14
.
17
KẾT LUẬN
Qua quá trình tìm hiểu luận phân tích, đánh g tình hình thực tiễn thì
hiện tượng “Tam giáo đồng nguyên” trong truyền thống văn hóa Việt Nam vẫn
luôn luôn tồn tại qua các thời kỳ, đi cùng nhau hỗ trợ hòa hợp trong đời sống
dân tộc ta. Tôn giáo một sản phẩm tinh thần tâm linh của con người. Sự dung
hòa “Tam giáo” hình thành một cách tự nhiên trong tình cảm việc làm của
người dân. “Tam giáo đồng nguyên” đóng vai trò không thể thiếu trong quá
trình đất nước ta hội nhập toàn cầu vươn lên phát triển, tiếp thu tinh hoa văn
hóa.“Tam giáo đồng nguyên” n đưa Việt Nam tiếp cận gần gũi hơn với bạn
quốc tế. Việt Nam cần bảo tồn những nền văn hóa tôn giáo vốn có. Tập trung
nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm, trách nhiệm của toàn hội về vấn
đề tôn giáo, tăng cường sự đồng thuận giữa các tôn giáo khác nhau. Đồng thời,
tạo sở để đấu tranh chống những đạo, những hoạt động tín, dị đoan, lợi
dụng tôn giáo làm hại đến lợi ích của Tổ quốc dân tộc nhân dân., cần phân
biệt đâu hủ tục, đâu điểm mạnh cần phát huy của những tôn giáo để từ
đó tạo tiền đề phát triển hội, đất nước.
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Di sản văn hóa trong thời đại của chúng ta - Tạp c điện tử Thế giới di sản
http://thegioidisan.vn/vi/di-san-van-hoa-phat-giao-trong-thoi-dai-chung
-ta.html
Khoản 1 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
https://pbgdpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Lists/ToGap/Attachments/355/To% 20gap
%2011%20-%20Tin%20nguong%20-%20Tieng%20Viet.pdf
Sự ra đời của Phật giáo - Báo nh Phước
https://baobinhphuoc.com.vn/news/24/70321/su-ra-doi-cua-phat-giao
Lịch sử Phật giáo dân tộc Việt Nam https://sonoivu.namdinh.gov.vn/qlnn-ve-
ton-giao/truyen-thong-gan-bo- dong-hanh-cung-dan-toc-cua-phat-giao-viet-
nam-duoc-the-hien-va-phat-huy-trong-moi-giai-doan-lich-1935
Về vai trò của đạo đức tôn giáo trong đời sống hội - Viện Triết học - Viện
hàn lâm khoa học hội Việt Nam. http://philosophy.vass.gov.vn/dao-duc-hoc-
my-hoc/Ve-vai-tro-cua-dao- duc-ton-giao-trong-doi-song-xa-hoi-41.0.html
Về Tam giáo đồng nguyên của Trung Quốc - Học thuật phương Đông
http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=4708.0;wap2
Tam giáo đồng nguyên Việt Nam
https://truongchinhtri.kontum.gov.vn/vi/news/nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-
hien-tuong-tam-giao-dong-nguyen-o-viet-nam-thoi-ly-tran-200.html#:~:text=C
%E1%BA%A3%20ba%20t%C3%B4n%20gi%C3%A1o%20Nho,b%C3%ACnh
%20t%E1%BB%93n%20t%E1%BA%A1i%20v%E1%BB%9Bi%20nhau.

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC NÂNG CAO
HIỆN TƯỢNG TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN TRONG TRUYỀN
THỐNG VĂN HÓA VIỆT NAM Hà Nội, năm 2023 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .1
NỘI DUNG. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
I. Khái quát về “Tam giáo đồng nguyên”. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1.1. Khái niệm về tôn giáo. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1.2. Khái niệm “Tam giáo đồng nguyên”. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .3
1.3. Sự xuất hiện của ba tôn giáo tại Việt Nam. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1.3.1. Nho giáo. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .3
1.3.2. Phật giáo. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.3.3. Đạo giáo. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .8
II. Sự tồn tại của “Tam giáo đồng nguyên” trong xã hội Việt Nam. . . . . . . . . . 9
2.1. “Tam giáo đồng nguyên” trong xã hội Việt Nam thời phong kiến. . . . . . 9
2.2. “Tam giáo đồng nguyên” trong xã hội Việt Nam ngày nay. . . . . . . . . . 12
KÉT LUẬN. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .18 1 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, trong làn sóng toàn cầu hóa, các nền văn hóa càng có nhiều cơ
hội giao lưu và giao thoa văn hóa trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Nhiều yếu
tố văn hóa được du nhập vào Việt Nam và tồn tại cùng với văn hóa truyền thống.
Văn hóa còn được coi như là “sức mạnh mềm” của mỗi quốc gia, dân tộc. Việt
Nam tự hào giữ gìn được bản sắc dân tộc với nhiều nét đẹp truyền thống vốn có,
đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trong suốt chặng đường vươn ra
thế giới, khẳng định được vị thế của nước nhà trên trường quốc tế. Việc phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng, từ những lý do
nêu trên, tôi đã đi sâu vào nghiên cứu, phân tích để đưa vào đề tài: “Hiện tượng
tam giáo đồng nguyên trong truyền thống văn hóa Việt Nam” làm đề tài tiểu luận của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nhìn vào chiều dài của lịch sử và vị trí địa lý của các nước thì các quốc gia
thuộc Đông Á nói chung, ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của các nền văn minh lớn
của Trung Hoa và Ấn Độ. Trước hết phải kể tới đó là sự ảnh hưởng của văn hoá,
đặc biệt là tôn giáo (chủ yếu là Nho giáo, Phật giáo Đạo giáo, ….) Và Việt Nam
chúng ta có nhiều đặc điểm mang đậm nền tảng văn hóa “Tam giáo đồng
nguyên”. Đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Hiện tượng tam giáo đồng nguyên trong
truyền thống văn hóa Việt Nam” để chúng ta nhìn nhận đúng, hiểu biết sâu sắc
những nét hay ý đẹp cần được giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và
giải thích được nguồn gốc một số phong và tập tục trong cuộc sống quanh ta.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Phân tích, nhận định tầm quan trọng và vai trò của Tam giáo đồng nguyên trong xã hội Việt Nam.
- Phát hiện ra những mặt tích cực, hạn chế của Tam giáo đồng nguyên ở 2 Việt Nam.
- Một số đề xuất, kiến nghị trong việc vận dụng Tam giáo đồng nguyên vào
cuộc sống và quản lý xã hội ở nước ta.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về “Hiện tượng tam giáo đồng nguyên trong truyền
thống văn hóa Việt Nam”.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Tại Việt Nam.
- Phạm vi về thời gian: từ khi xuất hiện và du nhập vào Việt Nam ảnh
hưởng đến xã hội hiện nay.
- Phạm vi về lĩnh vực: văn hóa, tín ngưỡng
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp luận biện chứng duy
vật với các phương pháp như: thống nhất logic và lịch sử, phân tích, khái quát và hệ thống hóa.
Phương pháp so sánh: so sánh hiện tượng tam giáo đồng nguyên theo dòng
lịch sử (theo tiến trình lịch sử tư tưởng dân tộc, từ Lý-Trần, Lê Sơ đến nay) và thời đại ngày nay. 3 NỘI DUNG
I. Khái quát về “Tam giáo đồng nguyên”
1.1. Khái niệm về tôn giáo
Tôn giáo1 là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt
động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức.
1.2. Khái niệm “Tam giáo đồng nguyên”
Tam giáo đồng nguyên là ba tôn giáo gồm: Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo
cùng hòa vào làm một. Hiện tượng này phổ biến ở một số nước Á Đông, điển hình
là Trung Quốc và Việt Nam. Đào Hoằng Cảnh (456-536) 2là người đầu tiên đề ra
thuyết này với lý lẽ đơn giản rằng ba tôn giáo Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo đều
cùng một nguồn gốc là đưa con người đến đỉnh cao của như ý toại nguyện.
1.3. Sự xuất hiện của ba tôn giáo tại Việt Nam 1.3.1. Nho giáo ❖ Khái quát về Nho giáo
“Nho” là danh hiệu chỉ những người có học thức. Nho giáo là hệ thống
giáo lý của các nhà Nho nhằm mục đích tổ chức xã hội có hiệu quả. Cơ sở hình
thành, ra đời của Nho giáo được định hình từ thời Tây Chu, đặc biệt là với sự
đóng góp của Chu Đông Hán. Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn ly, Khổng Tử
mới phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa lại và tích cực truyền bá.
Nho giáo còn là một học thuyết chính trị. Để làm được điều đó, Nho giáo đào
tạo cho những người cai trị kiểu mẫu, lý tưởng đó là quân tử.
❖ Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam
Từ thế kỉ I - thế kỉ X và từ năm 1407 đến 1427 là khoảng thời gian nước ta
nằm trong tay đế chế phong kiến Trung Hoa nên sự du nhập của Nho giáo thời
1 Khoản 1 và 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016
2 Về Tam giáo đồng nguyên của Trung Quốc - Học thuật phương Đông 4
kì này là mạnh mẽ nhất, người Việt bắt đầu tiếp xúc với Nho giáo. Quan lại
Trung Hoa dùng Nho giáo làm hệ tư tưởng xã hội chính nhằm phục vụ mục đích
cai trị và đồng hóa
. Du nhập vào Việt Nam không phải Nho giáo nguyên thủy
(mang màu sắc của phong kiến nhân quyền thời Khổng Tử) mà là Nho giáo của
thời quân chủ chuyên chế (tập quyền) như Đường, Tống, Minh. Bằng sự cưỡng
chế, Nho giáo đã trùm lên đời sống tinh thần của người Việt và che lấp các yếu
tố tinh thần khác như Phật giáo và văn hóa bản địa. Do đó trong con mắt của
người Việt, Nho giáo là ý thức hệ đặc trưng của tầng lớp cai trị phong kiến.
❖ Nho giáo trong xã hội Việt Nam
Trong thời kỳ đầu lập quốc, nho giáo chưa thịnh hành. Nhà Ngô, Đinh, Lê
trong buổi đầu của việc xây dựng nhà nước phong kiến, cùng với việc bận rộn
đánh đuổi giặc ngoài, bình giặc trong, nên việc võ cấp thiết hơn việc văn, nhà
vua ít lưu tâm đến việc học. Đến thời Lý - Trần, tình hình chính trị trong nước
ổn định lâu dài mới có điều kiện mở mang học vấn. Thời kỳ đầu, tuy chọn Phật
giáo làm quốc giáo song vẫn tin dùng Nho giáo. Nho giáo vẫn tìm thấy chỗ
đứng của mình bởi tính tôn ti, trật tự xã hội – những thứ mà Phật giáo hay Đạo
giáo không đặt trọng tâm vào và bản thân Phật giáo, Đạo giáo cũng không phải
là một đạo trị nước. Nho giáo trở thành một nhu cầu cấp thiết để củng cố chính
quyền, để tuyển lựa một số quan chức. Vì vậy đến thời nhà Lý, Trần Nho giáo
phát triển hơn, chính quyền đã dùng Nho làm trị đạo. Đây là điểm cơ bản để giới
thống trị Việt Nam tự nguyện tiếp nhận Tống Nho làm công cụ thống nhất quốc
gia, xây dựng và vận hành nhà nước. Nho giáo đã theo sự phát triển của việc học
mà vươn lên dần dần. Đến thế kỷ XV, nhà Lý chọn Nho giáo làm quốc giáo,
chính thức từ đây Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống được tiếp nhận,
đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Nho học Việt Nam. Cụ thể, năm
1070 (Lý) dựng Văn Miếu thờ Khổng Phu Tử và các danh nho Trung Hoa và
Việt Nam; năm 1075 xây Quốc Tử Giám (trường đại học đầu tiên của Việt Nam)
để dạy con cháu vua, quan; cũng trong năm 1075 mở khoa thi đầu tiên để 5
chọn nhân tài giúp nước. Nho giáo lấn chiếm thế mạnh để cuối cùng thì chiếm
ưu thế ở triều đình và trong hàng trí thức so với Phật giáo. Giai đoạn này, các
khoa thi được mở đều đặn hơn và hỗ trợ đắc lực trong cuộc chiến đấu chống
Minh, giải phóng dân tộc của vua Lê Lợi. Năm 1428, Lê Lợi lập Quốc Tử giám
ở kinh thành và nhiều trường học ở các đạo. Năm 1483, Lê Thánh Tôn xây dựng
lại Văn Miếu và lập nhà Thái học vừa là giảng đường, vừa là thư viện và nơi bảo
quản các bản in gỗ quan trọng. Tiếp đến năm 1480, Lê Thánh Tôn dựng bia đá ở
Văn Miếu, ghi lý lịch các vị tiến sĩ từ khóa 1442 trở đi. Như thế, Phật giáo lui
dần, ít ra trong lĩnh vực, chính trị, văn hóa, còn Nho giáo thì tiến mãi và cung
cấp ngày càng đông sĩ tử cho nhà nước phong kiến. Song đến cuối thời Trần,
Nho giáo vẫn chưa được người dân Việt chấp nhận hoàn toàn, quần chúng nhân
dân vẫn theo Phật giáo, Đạo giáo. Vì vậy tinh thần “tam giáo đồng nguyên” là
biểu hiện đặc sắc của nền văn hóa Đại Việt. Đó là sự hội tụ, “chung sống hòa
bình” giữa nền văn hóa bản địa của dân tộc với Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo
tạo ra một sự thăng bằng trong đời sống tinh thần Việt Nam, đã dẫn đến đặc
trưng riêng có ở Việt Nam là “Tam giáo đồng nguyên”, đó là:
- Nho giáo chi phối con người về mặt lý tính và nghĩa vụ xã hội.
- Phật giáo chi phối con người về mặt tình cảm, tưởng tượng và ước mơ nhân đạo.
- Đạo giáo chi phối con người về mặt ý chí khắc phục khó khăn trần thế
bằng phương thuật bí ẩn.
1.3.2. Phật giáo
❖ Khái quát về Phật giáo
Phật giáo ra đời từ thế kỉ VI trước công nguyên tại một vùng đất thuộc phía
Bắc Ấn Độ Dương (nay thuộc lãnh thổ Nepal). Người sáng lập ra Phật giáo là
Thái tử Xidacta, pháp hiệu là Thích ca Mâu ni3.Toàn bộ tư tưởng, nội dung được
3 Sự ra đời của Phật giáo - Báo Bình Phước 6
thể hiện trong ba cuốn kinh lớn là Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Nói đến
Phật giáo trước hết là nói đến tư tưởng vị tha, vị nhân sinh .
Toàn bộ nội dung của Phật giáo được thể hiện ở ba cuốn kinh lớn:
- Kinh tạng: Bộ sách ghi lại những lời của Thích ca Mâu ni trước khi ông còn sống.
- Luật tạng: Bộ sách ghi lại những luật lệ, quy tắc khi gia nhập cộng đồng Phật giáo.
- Luận tạng: Bộ sách do những nhà tư tường Phật giáo đời sau biên soạn,
chứa những lời bình luận.
❖ Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam
Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ sớm và qua nhiều con đường khác
nhau. Theo tài liệu lịch sử, Phật giáo du nhập vào miền bắc Việt Nam bằng
đường hải và vào miền nam theo đường bộ. Luy Lâu (Bắc Ninh) thuộc Giao Chỉ
trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng. Trong thời kỳ Bắc thuộc, Phật
giáo được truyền vào Việt Nam dưới sự cai trị của phong kiến Trung Hoa. Phật
giáo bị biến đổi cơ bản, trở nên thực dụng và ít mang tính chất siêu hình hơn,
gần gũi và rộng mở hơn với đời sống trần tục. Trong thời kì dựng nước và mở
mang bờ cõi về phía nam, Phật giáo có cơ hội được củng cố bởi đại cư dân ở
khu vực này đã là tín đồ của dòng Tiểu Thừa trước đó.
❖ Phật giáo trong xã hội Việt Nam
Phật giáo vào thời hậu Lê mất thế đứng so với Nho giáo mà thế kỷ X-XIV
là một thời kỳ vô cùng rạng rỡ, Lê Lợi muốn xây dựng một thể chế quân chủ
phong kiến, do vậy cần dùng học thuyết Nho gia để phát triển. Phật giáo bị hạn
chế từ kiến thiết, nghi lễ và hoạt động xã hội. Tuy không còn được coi trọng như
xưa, Phật giáo vẫn lan tỏa trong nhân gian qua tín ngưỡng từ bi, nhân quả, luân
hồi. . Đến khi Nam-Bắc phân tranh, tình hình xã hội biến đổi, Phật giáo có cơ
may phát triển nhờ triết thuyết nhân quả đủ để an ủi nhân tâm giữa lúc phân ly 7
loạn lạc nhiều thống khổ. Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Lê nên xảy ra tranh
chấp giữa nhà Mạc và nhà Lê suốt 60 năm, nhân dân đồ thán; nhà Lê nhờ họ
Trịnh đánh dẹp nhà Mạc, sau đó giữa Trịnh và Nguyễn lại tiếp tục xảy ra tranh
chấp suốt 2 thế kỷ làm xã hội rối ren, nhân dân chịu khổ. Tuy vậy, thời kỳ này
Phật giáo lại phát triển khá tốt. Phật giáo thời này không chỉ là Phật giáo của
giới thượng lưu quan quyền như thời Lê Lý Trần mà là phật giáo xã hội hóa, lan
tỏa khắp trong nhân gian làng xã.
Lê Lợi chiến thắng giặc ngoại xâm và lên ngôi vua, đã đánh dấu bước
chuyển quan trọng trong đời sống xã hội Việt Nam. Trên lĩnh vực tôn giáo Phật
giáo đã nhường bước cho Nho giáo, điều này chủ yếu do đời sống chính trị xã
hội Việt Nam quy định, đó là phải xây dựng củng cố nhà nước phong kiến, kỷ
cương xã hội, mà Nho giáo có khả năng đáp ứng được. Tuy nhiên Nho giáo chỉ
phổ biến chủ yếu ở tầng lớp trên của xã hội, còn ở đại bộ phận dân cư thì tác
động của Phật giáo khá lớn. Thời kỳ này Phật giáo dung nạp 3 yếu tố: Tịnh,
Thiền, Mật kết hợp cả tự độ, tự giác và giác tha. Bên cạnh đó nhà Lê hạn chế tổ
chức thi cử, một số lễ giáo, xây dựng chùa chiền…Nhìn chung vai trò Phật giáo
thời hậu Lê đã bị giảm sút so với trước. Phật giáo không trực tiếp tham gia vào
việc triều chính như trước mà chủ yếu ảnh hưởng trong đời sống dân chúng.
Đến thời triều đình Nguyễn, không được dân ủng hộ nên luôn gặp sự phản
kháng của người dân, vì vậy mà triều đình Nguyễn muốn lặp lại cơ cấu tổ chức
nhà nước, đi đôi với nó là các chính sách hà khắc, hạn chế đạo Phật, sư sãi….
Với đạo Phật, triều Nguyễn đã phê phán cả giáo lý và hành đạo của Phật giáo.
Song Phật giáo vẫn có chỗ đứng ngay trong cung đình, trong gia đình triều thần,
trong các nho sĩ quan lại. Do vậy việc tu sửa chùa chiền thời này vẫn được diễn
ra. Phật giáo đã thấm sâu vào tư tưởng nhân dân, nó được quan hệ làng xã lưu
giữ, duy trì. Trong quan niệm của nhân dân, trong văn học đều mang dấu ấn tư tưởng của Phật giáo.
Sang thời Tây Sơn, Nho giáo tiếp tục được tôn trọng. Quang Trung hạ 8
chiếu yêu cầu Nguyễn Thiếp phải hướng việc học tập thi cử theo phép của Chu
Tử, đồng thời có kế hoạch biên soạn chữ Nôm.
Như vậy, suốt các thời Ngô, Đinh, Lê sơ, Lý, Trần, Hậu Lê, ở Việt Nam
tam giáo đều lưu hành, có lúc suy thịnh, đấu tranh nhưng chưa hề có chiến tranh
tôn giáo xảy ra như ở một số nước châu Á và châu Âu. Trái lại, tôn giáo đoàn
kết với nhau chống giặc ngoại xâm.
1.3.3. Đạo giáo
❖ Khái quát về Đạo giáo
Đạo giáo còn gọi là Đạo Lão, Đạo gia hay thuyết Lão - Trang, được hình
thành trong phong trào nông dân khởi nghĩa vùng Nam Trung Hoa vào thế kỉ II
sau công nguyên, cơ sở lý luận của nó là Đạo Gia– triết thuyết do Lão Tử đề
xướng và Trang tử hoàn thiện (học thuyết Lão-Trang). Đây là học thuyết chủ
trương sống hòa hợp với thiên nhiên, phù hợp với Đạo (quy luật của trời đất) để
bảo tồn “cái tôi” của con người.
Đạo giáo là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song
với Nho giáo và Phật giáo. Ba truyền thống tư tưởng này đã ảnh hưởng rất lớn đến
nền tảng văn hoá Trung Quốc. Mặc dù có rất nhiều quan điểm khác biệt nhưng cả
ba giáo lý này đã hoà hợp thành một truyền thống. Ảnh hưởng của Tam giáo trong
lĩnh vực tôn giáo và văn hoá vượt khỏi biên giới Trung Quốc, được truyền đến các
nước lân cận như Việt Nam, Triều Tiên, Đài Loan và Nhật Bản.
❖ Sự du nhập của Đạo giáo vào Việt Nam
Cuối thế kỉ thứ II, khi Trung Hoa đại lục trải qua nhiều cuộc bạo loạn,
chiến tranh khiến rất đông người phương Bắc chạy xuống phương Nam lánh nạn.
Trong số đó có nhiều đạo sĩ Trung Hoa. Các tín ngưỡng bản địa là môi trường
để Đạo giáo thâm nhập vào đời sống của cư dân Giao Chỉ. Chính vì sự du nhập
đó nên Đạo giáo là một triết lý sống ít được người Việt Nam biết đến mà chủ
yếu được quan niệm như Đạo phù thủy hoặc bùa chú và pháp thuật. 9
❖ Đạo giáo trong xã hội Việt Nam
Thời kỳ Lý – Trần là giai đoạn cực thịnh của Đạo giáo ở Việt nam. Khi đó,
Đạo giáo thâm nhập vào cả chốn cung đình, đạo sĩ có chức quan, tham gia vào
việc triều chính. Từ thời nhà Lý, các vua bắt đầu tổ chức các cuộc thi tam giáo.
Điều này cũng khiến cho Đạo giáo trở nên phổ biến hơn so với lúc trước. Tuy đã
xâm nhập vào Đại Việt và cũng được sự trọng thị của triều đình, tuy nhiên Đạo
giáo không có đội ngũ đông đảo truyền giảng đạo như Phật giáo và Nho giáo.
Do đó Đạo giáo thời Trần không có những tín đồ thực sự, chỉ có một số người tu
tiên và các thầy cúng cầu phúc trừ tà trong dân gian vẫn được duy trì. Mặc dù
một mặt cấm đoán như vậy, nhưng chính bản thân các vua triều Nguyễn cũng ra
lệnh xây dựng một số đền, đạo quán mới của Đạo giáo.
II. Sự tồn tại của “Tam giáo đồng nguyên” trong xã hội Việt Nam
2.1. “Tam giáo đồng nguyên” trong xã hội Việt Nam thời phong kiến
Yêu cầu củng cố và xây dựng một quốc gia Đại Việt độc lập, thống nhất,
hùng mạnh cả về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa để chống lại các cuộc xâm
lăng của quân Tống thời Lý, giặc Mông - Nguyên thời Trần đã thể hiện mạnh
mẽ ý thức dân tộc, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết cùng với các yếu tố triết
học, tôn giáo, đạo đức, chính trị - xã hội của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo đã
trở thành những nhân tố tinh thần tiêu biểu ảnh hưởng đến đời sống tinh thần xã
hội thời kỳ này nói chung, đến tư tưởng chính trị nói riêng. Chính vì vậy mà
hình thành nên quan niệm “Tam giáo đồng nguyên”. Sự dung hòa “Tam giáo” là
một thực thể hình thành một cách tự nhiên trong tình cảm và việc làm của người
dân và đến thời kỳ Lý - Trần thì được chính quyền công nhận rộng rãi. Dung
hòa “Tam giáo” không chỉ trong đời sống xã hội của người dân mà tồn tại trên
cả bộ phận bên trên tức bộ phận quý tộc phong kiến.
Trước hết ta gặp sự dung hợp giữa từng hiện tượng văn hoá ngoại sinh với
văn hoá bản địa: Phật giáo với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên sinh. Việc phụng
thờ những hiện tượng tự nhiên đã có từ rất sớm trong đời sống tâm linh của 10
người Việt cổ và được tôn xưng thành các vị thần như: thần Mây, thần Mưa, thần
Sấm, thần Sét, thần Gió, thần biển… Trong quá trình tồn tại và phát triển, do
được Việt hóa khá mạnh nên ở chùa, ngoài việc thờ phụng những nhân vật của
Phật giáo, còn thờ thêm cả những nhân vật của riêng người Việt như các vị
Thần, Thánh… tiêu biểu như: Tứ Pháp (gồm: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi,
Pháp Điện); lối cấu trúc chùa chiền theo kiểu “tiền Phật hậu thần”. .Nho giáo
vào Việt Nam cũng bị truyền thống coi trọng làng và nước, tinh thần dân chủ. .
làm biến đổi. Còn Đạo giáo vốn gần gũi với tín ngưỡng cổ truyền nên khi vào
Việt Nam, nó lại bị hoà lẫn đến mức nhiều khi không nhận ra sự tồn tại của nó.
Truyền thống hoà hợp với tự nhiên, thờ các vị thần tự nhiên được phản ánh qua
các tôn giáo rất rõ. Ở mức độ cao hơn là sự dung hợp giữa các hiện tượng văn
hoá ngoại sinh đã được địa phương hoá với nhau. Sự dung hợp giữa Phật giáo
với Đạo giáo là mối quan hệ lâu đời và bền chặt nhất. Ngay từ thời kỳ chống
Bắc thuộc, hai tôn giáo này đã hoà quyện với nhau trong cuộc sống của người
bình dân. Có những nơi như đền Ngọc Sơn ở Hà Nội, lúc là chùa ( Phật giáo),
lúc lại là Đền (Đạo giáo). Khá nhiều chùa ( Phật giáo) lại thờ các vị thần của
Đạo giáo như Nam Tào, Ngọc Hoàng, Bắc Đẩu, Quan Công. . Thời Đinh- Lê-
Lý- Trần, nhiều nhà sư đồng thời là đạo sĩ. Triều đình thì trọng dụng cả đạo sĩ
lẫn nhà sư. Thiền phái Trúc Lâm dung hợp tư tưởng Phật với triết lý sống tìm về
thiên nhiên của Lão-Trang.
Phật giáo và Nho giáo cũng có quan hệ lâu đời. Do ảnh hưởng Phật giáo từ
Trung Hoa đã dần thay thế cho việc truyền đạo trực tiếp từ Ấn Độ, cho nên các
nhà sư muốn đọc kinh Phật phải biết đọc chữ Hán do vậy dễ hiểu là có không ít
nhà sư khá tinh thông Nho học. Thời Đinh- Lê- Lý –Trần có nhiều trường hợp
tài đối đáp cùng vốn tri thức uyên thâm của các nhà sư Việt Nam khiến các sứ
thần Trung Hoa nể trọng. Dưới thời Nhà Lý là sự dung hợp triết lý Phật giáo với
tư tưởng Nho giáo, không phải ngẫu nhiên mà phái này có nhiều vua quan
đương nhiệm quy y hơn cả. 11
Sự dung hợp tam giáo là một thực thể hình thành một cách tự nhiên trong
tình cảm và việc làm của người dân, đến thời Lý- Trần thì được chính quyền
công nhận rộng rãi. Triều đình tổ chức những kỳ thi tam giáo để tìm ra những
người thông thạo cả ba giáo lý ra giúp nước (vào các năm 1195 và 1247). Người
Việt Nam nhận ra rằng Tam giáo mới trông thì khác nhau nhưng nhìn kỹ thì thấy
nhiều khi chỉ là những cách diễn đạt khác nhau về cùng một khái niệm. Có khi
là những phạm trù khác nhau, những biện pháp khác nhau nhằm đến cùng một
mục đích, những cái dụng khác nhau của cùng một thể. Cái khác nhau ấy không
mâu thuẫn đối chọi nhau mà bổ sung hỗ trợ cho nhau: Nho giáo lo tổ chức xã
hội sao cho quy củ; Đạo giáo lo thể xác con người sao cho mạnh khoẻ; Phật giáo
lo cho tâm tính con người sao cho thoát khổ. Bởi vậy người dân cầu đến cả ba
tôn giáo, họ sử dụng kết hợp chúng theo giới tính, theo các giai đoạn theo cuộc
đời. Phụ nữ âm tính hơn thiên về Phật, đàn ông dương tính hơn thiên về Nho.
Cùng một người Việt Nam, khi trai trẻ thì ra sức học Nho để giúp nước, khi khổ
ải trầm luân thì cầu khấn Phật trời phù hộ, khi ốm đau già yếu thì mời đạo sĩ trị
bệnh trừ tà hoặc tập luyện dưỡng khí an thần. Không chỉ trong một đời, mà ngay
trong một ngày cũng có thể gặp biểu hiện của ba tôn giáo nơi một con người.
Hơn thế nữa, người bình dân cũng chẳng cần biết đến Nho giáo, gần gũi đối với
họ trước hết là tín ngưỡng bản địa quen thuộc của cư dân nông nghiệp với
truyền thống trọng phụ nữ, đạo Thánh Mẫu, sau nữa là Phật giáo và Đạo giáo.
Thế là hình thành một thứ “Tam giáo” bình dân, hoà quyện Đạo Phật, Đạo Lão
và Đạo Thánh Mẫu. Như vậy, sự dung hợp diễn ra không chỉ giữa từng tôn giáo
ngoại sinh với tín ngưỡng bản địa, giữa các tôn giáo ngoại sinh đã được địa phương hoá với nhau.
“Tam giáo đồng nguyên” ở Việt Nam thời kỳ Lý - Trần đã tạo nên được sự
ổn định, một sự nhất trí trong xã hội Việt Nam đương thời. Đây là một thời kỳ
mà văn hoá Việt Nam được bồi bổ và xây dựng thêm những nhân tố mới khiến
cho nền văn hoá dân tộc càng phong phú và đặc sắc hơn. Cả ba tôn giáo Nho
giáo, Đạo giáo, Phật giáo đều là những tôn giáo tôn trọng tín ngưỡng truyền 12
thống thờ cúng tổ tiên, phù hợp với xã hội nông nghiệp với tín ngưỡng phồn
thực rất đậm, cho nên nó dễ dàng hoà nhập cùng tồn tại với nhau.
2.2. “Tam giáo đồng nguyên” trong xã hội Việt Nam ngày nay
Việt Nam tuy lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng để Đảng Cộng sản lãnh đạo đất nước, song không loại trừ các học thuyết
triết học và chính trị xã hội khác trong đó có Nho học, miễn là chúng có lợi cho
sự ổn định và phát triển đất nước. Còn các nước tư bản chủ nghĩa thì từ trước
đến nay vẫn chủ trương đa nguyên lý luận đa nguyên văn hoá tư tưởng. Do đó
Nho học vẫn có lý do để tiếp tục tác động đến xã hội và con người. Sự tồn tại
của Nho học ngày nay không phải chỉ là do điều kiện khách quan tạo nên mà
còn do ý thức chủ quan, do sự tự giác ở bên trong con người. Hiện nay, tuy mức
sống vật chất cao hơn, đời sống tinh thần phong phú đa dạng hơn, song đối mặt
với xã hội hiện đại, vẫn còn một bộ phận đông đảo nhớ tới tư tưởng, đạo đức, lối sống của Nho học. ❖ Nho giáo
Đã để lại cho các nước Đông Á - trong đó có Việt Nam một di sản tinh thần
đồ sộ, bao gồm thơ văn, kinh dịch, sử liệu, tư tưởng, nghi thức, tập tục, thói
quen v.v… thể hiện lên trình độ văn hoá phát triển mà các dân tộc ấy phải tích luỹ trong mấy nghìn năm. ❖ Phật giáo
Tuy không tác động trực tiếp và việc định hướng phát triển kinh tế xã hội ở
mỗi địa phương mà chỉ là những yếu tố góp phần khai sáng mặt nhận thức của
người dân. Vì mục đích của Phật giáo là xây dựng đời sống an lạc và giải thoát,
nhưng muốn an lạc thì đời sống kinh tế phải vững mạnh, phát triển, hài hòa.
Hiểu được lời dạy của phật thì đồng bào ở một số nơi sẽ tránh được những hủ
tục lạc hậu, tốn kém nhưng giết trâu, mổ bò để cưới xin, ma chay hay cúng
giàng, cúng thần linh, ma quỷ. Khi có tiền rồi thì cần biết tiết kiệm (tích cốc 13
phòng cơ) để đề phòng những tình huống khẩn cấp. Phật giáo có chứa đựng
nhiều giá trị văn hóa, đạo đức. Những giá trị này đã ảnh hưởng không nhỏ tới
nền văn hóa ở mỗi quốc gia mà nó dừng chân. Với văn hóa Việt Nam cũng vậy.
Nhờ có Phật giáo, nền văn hóa Việt Nam càng thể hiện rõ hơn sự đa dạng, đặc sắc của mình. ❖ Đạo giáo
Ngày nay, người ta nói về Đạo giáo với tư cách là một tôn giáo không còn
tồn tại nữa, tuy nhiên, những phong tục mang tư tưởng của tôn giáo này vẫn còn
tồn tại cùng với con người Việt Nam đến tận bây giờ. Ví dụ điển hình là việc
xem phong thủy, như đối với một số người, việc này vô cùng quan trọng, khi
làm chuyện lớn như mua một căn nhà, cho đến việc nhỏ nhặt như đặt một thứ đồ
nội thất ở đâu, họ đều mời thầy phong thủy đến xem và tư vấn, bởi họ tin, những
chuyện đó có thể làm ảnh hưởng đến những chuyện lớn hơn như sức khỏe, tiền
tài, danh vọng… Hoặc có những người tin rằng nhân tướng có thể quyết định
được số phận cuộc đời sau này, nên họ học xem tướng, và chọn tin rằng số phận
cuộc đời của họ đã được định đoạt sẵn và không thể thay đổi mà họ cũng không muốn thay đổi.
Tuy nhiên hầu hết những thứ thần tiên, phù thủy mà Đạo giáo hướng đến
không còn tồn tại nhiều trong đời sống hiện đại nữa. Người Việt Nam, nhất là
những người trẻ, chỉ coi những điều đó như một phần của đời sống văn hóa tinh
thần, chứ không tìm thấy sự liên hệ nhiều giữa những tư tưởng của Đạo giáo với
hiện thực. “Tam giáo đồng nguyên” trong xã hội Việt Nam ngày nay đóng vai
trò không thể thiếu trong quá trình đất nước ta hội nhập toàn cầu và vươn lên
phát triển. “Tam giáo đồng nguyên” còn đưa Việt Nam tiếp cận gần gũi hơn với
bạn bè quốc tế. Đồng điệu trong văn hóa cũng là điều kiện thuận lợi để chính
phủ và nhân dân hai nước giao lưu thuận lợi, với nhiều điểm tương đồng trong
văn hóa, hệ tư tưởng, tôn giáo. Điều này tương tự với các quốc gia có phần đông
dân số theo Phật giáo như các nước cùng khu vực Đông Nam Á hay Nam Á. Đối 14
với các quốc gia còn lại, dù nền văn hóa không có nhiều nét tương đồng, song
“Tam giáo đồng nguyên” đã tạo cho mỗi người Việt Nam nền tảng phẩm chất,
đạo đức và hệ tư tưởng tiến bộ, tốt đẹp, truyền thống, giàu bản sắc dân tộc trên
mỗi bước đi hội nhập, giao lưu cùng thế giới.
Bên cạnh những yếu tố trên, “Tam giáo đồng nguyên” hướng tâm con
người Việt Nam đến những điều thiện lành, với những hệ tư tưởng tốt đẹp trong
đời sống, xã hội. Chính điều này đã đưa Việt Nam trở thành một trong những
quốc gia thân thiện nhất, có chỉ số hạnh phúc cao nhất. Những nụ cười người
Việt Nam trao cho bạn bè quốc tế đã làm cảm mến họ biết bao, đồng thời hình
ảnh Việt Nam hạnh phúc, thân thiện với nụ cười đã trở thành đề tài ý nghĩa nóng
hổi trên nhiều diễn đàn quốc tế.
Quá trình hội nhập sâu rộng với thế giới đặt ra nhiều thách thức, không chỉ
về gìn giữ bản sắc riêng mà còn là giữ vững nền độc lập, tự chủ, bảo vệ chủ
quyền Tổ quốc, đảm bảo hòa bình khu vực và mối quan hệ tốt đẹp, thân thiện
với các quốc gia khác. Chính những tư tưởng trong “Tam giáo đồng nguyên”
của riêng Việt Nam trở thành cơ sở vững chắc để xây dựng và củng cố “tinh
thần Đại Việt” độc lập tự chủ, “phi Hoa, phi Ấn”, khác biệt với Đông Nam Á về
văn hóa, truyền thống nhưng vẫn hài hòa với các quốc gia khác13. Thực tế lịch
sử đã minh chứng rõ nét, từ thế kỷ XV khi nhân dân Đại Việt lấy chí nhân, đại
nghĩa để tha thứ và đưa giặc Minh về nước khiến chúng dù cay đắng thất bại
cũng phải cảm kích. Trong suốt thế kỷ XX, Việt Nam ta cũng đã đánh tan những
kẻ thù sừng sỏ có tiếng toàn cầu như thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và quân Trung
Quốc gây chiến tranh xâm lược đất nước ta, ấy vậy chỉ đến cuối những năm 90
của thế kỷ XX, Việt Nam đã thiết lập lại quan hệ ngoại giao với các quốc gia
này. Cũng nhờ ảnh hưởng từ “Tam giáo đồng nguyên”, đường lối đối ngoại của
Việt Nam luôn xoay quanh những yếu tố như “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, chủ
quyền đất liền và biển đảo, luôn đặt lợi ích dân tộc là trên hết, trước hết, độc lập,
tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa 15
và hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng. Ngày nay, nước ta, Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam, đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia và
vùng lãnh thổ, trong đó thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với ba
nước lớn, quan hệ Đối tác Chiến lược và quan hệ Đối tác Toàn diện với gần 30
quốc gia. Năm 2019, Việt Nam cũng trúng cử vị trí Ủy viên không thường trực
của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với số phiếu bầu kỷ lục chưa từng có
192/193, chứng tỏ vị thế nước nhà và mối quan hệ của nước ta với các quốc gia
khác. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng được giữ nhiều vị trí quan trọng trong các tổ
chức khu vực, thế giới, được chọn là địa điểm tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều lần 2,. .
Nền tảng văn hóa “Tam giáo đồng nguyên” đã tạo điều kiện cho nước ta
hội nhập sâu rộng với quốc tế. Điều này dẫn tới nhiều cơ hội to lớn, tác động
mạnh mẽ đến động lực công nghiệp hóa-hiện đại hóa của nước ta. Trước hết,
Việt Nam có cơ hội tiếp cận, giao lưu và học hỏi khoa học công nghệ, từ đó ứng
dụng trong đời sống, sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, đáp ứng nhu cầu
và yêu cầu về nhân lực, tài lực và vật lực phụng sự cho sự nghiệp phát triển của
Tổ quốc. Không chỉ vậy, Việt Nam còn ngày càng trở nên hấp dẫn hơn với các
nhà đầu tư quốc tế. FDI của Việt Nam năm 2019 (trước đại dịch Covid-19) đạt
trên 38 tỷ USD, gấp đôi năm 2012, và dù trong đại dịch, nguồn FDI có xu
hướng giảm nhẹ theo tình hình chung nhưng các chuyên gia vẫn đánh giá rất cao
tiềm năng Việt Nam. Quan hệ thương mại của nước ta đối với các quốc gia trên
thế giới cũng phát triển nhanh chóng, trở thành đối tác tin cậy của thế giới và là
đối tác lớn, quan trọng trong chính sách của nhiều quốc gia như Mỹ, Trung Quốc,. .
Cốt lõi hơn nữa, “Tam giáo đồng nguyên” tạo cho người Việt Nam những
mục tiêu phẩm chất đạo đức, lối sống tốt đẹp, trong đó có tinh thần dân tộc, chủ
nghĩa ái quốc, đức tính siêng năng cần cù, chịu khó, dũng cảm, sáng tạo, đoàn
kết, tương thân tương ái. Đảng và Nhà nước cũng vận dụng nhiều yếu tố trong 16
“Tam giáo đồng nguyên” khi thực thi các chính sách kinh tế, xã hội; đồng thời
các lãnh đạo, cán bộ Đảng, Nhà nước, quân đội, công an luôn đề cao tư tưởng
trung với Đảng, hiếu với dân, từ đó có được một xã hội ổn định, phát triển, nhân
dân đặt niềm tin tưởng, yên tâm lớn lao vào đường lối chính sách.
Chính vì vậy, người Việt Nam thích nghi tốt với thời kỳ đổi mới, sáng tạo,
học hỏi và vận dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, thúc đẩy thành công tiến
trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước sau 35 năm Đổi Mới, đi lên theo
con đường chủ nghĩa xã hội. Trong giai đoạn phát triển tiếp theo, Việt Nam cần
tiếp tục giáo dục và vận dụng linh hoạt “Tam giáo đồng nguyên” để đạt được
mục tiêu chiến lược đề ra trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: Năm 2025
vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập
Đảng, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu
nhập trung bình cao; và đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao14. 17 KẾT LUẬN
Qua quá trình tìm hiểu lý luận và phân tích, đánh giá tình hình thực tiễn thì
hiện tượng “Tam giáo đồng nguyên” trong truyền thống văn hóa Việt Nam vẫn
luôn luôn tồn tại qua các thời kỳ, đi cùng nhau hỗ trợ và hòa hợp trong đời sống
dân tộc ta. Tôn giáo là một sản phẩm tinh thần tâm linh của con người. Sự dung
hòa “Tam giáo” hình thành một cách tự nhiên trong tình cảm và việc làm của
người dân. “Tam giáo đồng nguyên” đóng vai trò không thể thiếu trong quá
trình đất nước ta hội nhập toàn cầu và vươn lên phát triển, tiếp thu tinh hoa văn
hóa.“Tam giáo đồng nguyên” còn đưa Việt Nam tiếp cận gần gũi hơn với bạn bè
quốc tế. Việt Nam cần bảo tồn những nền văn hóa tôn giáo vốn có. Tập trung
nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm, trách nhiệm của toàn xã hội về vấn
đề tôn giáo, tăng cường sự đồng thuận giữa các tôn giáo khác nhau. Đồng thời,
tạo cơ sở để đấu tranh chống những tà đạo, những hoạt động mê tín, dị đoan, lợi
dụng tôn giáo làm hại đến lợi ích của Tổ quốc dân tộc và nhân dân., cần phân
biệt rõ đâu là hủ tục, đâu là điểm mạnh cần phát huy của những tôn giáo để từ
đó tạo tiền đề phát triển xã hội, đất nước. 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Di sản văn hóa trong thời đại của chúng ta - Tạp chí điện tử Thế giới di sản
http://thegioidisan.vn/vi/di-san-van-hoa-phat-giao-trong-thoi-dai-chung -ta.html
Khoản 1 và 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
https://pbgdpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Lists/ToGap/Attachments/355/To% 20gap
%2011%20-%20Tin%20nguong%20-%20Tieng%20Viet.pdf
Sự ra đời của Phật giáo - Báo Bình Phước
https:/ baobinhphuoc.com.vn/news/24/70321/su-ra-doi-cua-phat-giao
Lịch sử Phật giáo và dân tộc Việt Nam https://sonoivu.namdinh.gov.vn/qlnn-ve-
ton-giao/truyen-thong-gan-bo- dong-hanh-cung-dan-toc-cua-phat-giao-viet-
nam-duoc-the-hien-va-phat-huy-trong-moi-giai-doan-lich-1935
Về vai trò của đạo đức tôn giáo trong đời sống xã hội - Viện Triết học - Viện
hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. http://philosophy.vass.gov.vn/dao-duc-hoc-
my-hoc/Ve-vai-tro-cua-dao- duc-ton-giao-trong-doi-song-xa-hoi-41.0.html
Về Tam giáo đồng nguyên của Trung Quốc - Học thuật phương Đông
http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=4708.0;wap2
̃Tam giáo đồng nguyên ở Việt Nam
https:/ truongchinhtri.kontum.gov.vn/vi/news/nghien-cuu-trao-doi/tim-hieu-
hien-tuong-tam-giao-dong-nguyen-o-viet-nam-thoi-ly-tran-200.html#:~:text=C
%E1%BA%A3%20ba%20t%C3%B4n%20gi%C3%A1o%20Nho,b%C3%ACnh
%20t%E1%BB%93n%20t%E1%BA%A1i%20v%E1%BB%9Bi%20nhau.