Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc - Tư tưởng Hồ Chí Minh | Trường Đại Học Duy Tân

Hiện nay, hơn bao giờ hết phải quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng HồChí Minh về Đại đoàn kết trong tình hình mới. Qua hơn một phần tư thế k thựchiện công cuộc đổi mới, với nhiều chủ trương lớn của Đảng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

Trường:

Đại học Duy Tân 1.8 K tài liệu

Thông tin:
20 trang 6 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc - Tư tưởng Hồ Chí Minh | Trường Đại Học Duy Tân

Hiện nay, hơn bao giờ hết phải quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng HồChí Minh về Đại đoàn kết trong tình hình mới. Qua hơn một phần tư thế k thựchiện công cuộc đổi mới, với nhiều chủ trương lớn của Đảng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

73 37 lượt tải Tải xuống
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
TIỂU LUẬN
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân
tộc và việc vận dụng để củng cố, phát huy tinh thần
đoàn kết trong sinh viên hiện nay.
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Văn
Vinh
Lớp: POS 361 F
Nhóm sinh viên thực hiện:
1.Nguyễn Hồng Pháp - 5973
2.Lê Thị Như Ý - 6927
3.Phan Thị Anh Thơ - 5144
4.Võ Viết Dũng - 2530
5.Đoàn Nguyễn Nữ Sinh - 7017
6.Đặng Minh Quang - 1233
7.Tôn Nữ Ngọc Trang - 2311
8.Võ Thị Thanh Nga - 3739
9.Lê Thị Thanh Lài - 7295
10.Trương Hải Thảo - 1536
ĐÀ NẴNG, THÁNG 2 NĂM 2022
Mục Lục
Mở đầu:
Nội dung:
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết dân tộc.
1. Vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc
2. Lực lượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
3. Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
4. Hình thức, nguyên tắc tổ chức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - Mặt
trận dân tộc thổng nhất
5. Phương thức xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
II. Củng cố, phát huy tinh thần đoàn kết trong sinh viên hiện nay theo tưởng
Hồ Chí Minh
1. Đánh giá khái quát thực trạng tinh thần đoàn kết trong sinh viên hiện nay
2. Một số giải pháp nhằm củng cố, tăng cường tinh thần đoàn kết trong sinh viên
theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Kết luận: Trình bày khái quát kết quả nghiên cứu đã đạt được, khẳng định
nhiệm vụ nghiên cứu đã được hoàn thành.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHÂN CHIA CÔNG VIỆC GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM
Mở đầu:
Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc đại, nhà văn hóa kiệt
xuất của dân tộc ta và của nhân loại, đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần
giá, một hệ thống tưởng về nhiều mặt. Trong đó tưởng về đại đoàn kết
là tư tưởng nổi bật, giá trị trường tồn đối với quá trình phát triển của dân tộc
ta của toàn nhân loại. Đấy tưởng xuyên suốt nhất quán trong duy
lý luận và trong hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh và đã trở thành chiến lược
cách mạng của Đảng ta, gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của dân tộc.
tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc nguồn gốc từ nhiều yếu tố
được hình thành trên sở kế thừa phát triển chủ nghĩa yêu nước
truyền thống đoàn kết của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là đã vận
dụng và phát triển sáng tạo, chủ nghĩa Mác–Lênin phù hợp với tình hình và điều
kiện cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng.
Hiện nay, hơn bao giờ hết phải quán triệt vận dụng sáng tạo tưởng Hồ
Chí Minh về Đại đoàn kết trong tình hình mới. Qua hơn một phần thế k thực
hiện công cuộc đổi mới, với nhiều chủ trương lớn của Đảng, chính sách của Nhà
nước hợp lòng dân, khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân đội ngũ trí thức được mở rộng hơn, là nhân
tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế–xã hội, giữ vững ổn định chính trị
của đất nước. Các hình thức tập hợp nhân dân đa dạng hơn và có bước phát triển
mới, dân chủ hội được phát huy; bước đầu đã hình thành không khí dân chủ,
cởi mở trong xã hội. Có thể kh ng định chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của
Đảng đã thực sự một bộ phận của đường lối đổi mới góp phần to lớn vào
những thành quả của đất nước. Tuy nhiên, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mối
quan hệ giữa Đảng, Nhà nước Nhân dân đang đứng trước những thách thức
mới. Lòng tin vào Đảng, Nhà nước chế độ của một bộ phận nhân dân chưa
vững chắc, tâm trạng của nhân dân những diễn biến phức tạp, lo lắng về sự
phân hoá giàu nghèo, về việc làm đời sống. Nhân dân bất bình trước những
bất công xã hội, trước tệ tham nhũng, quan liêu, lãng phí, v.v…
Nội dung:
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết dân tộc
1. Vai trò của đại đoàn kết dân tộc
Đại đoàn kết dân tộc vấn đề ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công
của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trong thời đại mới, để đánh
bại các thế lực đế quốc thực dân nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và
giải phóng con người, nếu chỉ tinh thần yêu nước thì chưa đủ; cách mạng
muốn thành công và thành công đến nơi, phải tập hợp được tất cả mọi lực lượng
có thể tập hợp, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững. Chính vì vậy,
trong tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc vấn đề ý nghĩa chiến
lược, cơ bản, nhất quán và lâu dài, xuyên suốt tiến trình cách mạng.
Để quy tụ được mọi lực lượng vào khối đại đoàn kết toàn dân, cần phải
chính sách phương pháp phù hợp với từng đối tượng. Trong từng thời kỳ,
từng giai đoạn cách mạng, trước những yêu cầu nhiệm vụ khác nhau, chính
sách phương pháp tập hợp thể cần thiết phải điều chỉnh cho phù hợp
với từng đối tượng khác nhau, đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là
vấn đề sống còn, quyết định thành bại của cách mạng.
Chính sách mặt trận của Đảng ta Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra để thực
hiện đoàn kết dân tộc. Nhờ tư tưởng nhất quán và chính sách mặt trận đúng đắn.
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công khối đại đoàn kết dân
tộc, đưa cách mạng Việt Nam dành được nhiều thắng lợi to lớn. Hồ Chí Minh
viết: "Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm Cách mạng tháng
Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Đoàn kết trong Mặt
trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại hòa bình Đông
Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc; Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải
tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc".
Từ thực tiễn như vậy, Hồ Chí Minh đã khái quát thành nhiều luận điểm có tính
chân lý về vai trò của khối đại đoàn kết:
Đoàn kết làm ra sức mạnh. Hồ Chí Minh rất nhiều lần nhấn mạnh luận điểm
này. Người viết: "Đoàn kết sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ, thì
chúng ta nhất định thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi
làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao phó"; "Đoàn kết một lực lượng địch của
chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi":; "Đoàn kết sức mạnh,
đoàn kết thắng lợi", "Đoàn kết sức mạnh, then chốt của thành công”;
"Bây giờ còn một điểm rất quan trọng, cũng là điểm mẹ, điểm này mà thực hiện
tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt: Đó là đoàn kết"
"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công"...
Đại đoàn kết dân tộc mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc.
Trong tưởng Hồ Chí Minh, yêu nước nhân nghĩa - đoàn kết sức mạnh,
mạch nguồn của mọi thắng lợi. Do đó, đại đoàn kết dân tộc phải được xác định
là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, phải được quán triệt trong tất cả mọi
lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách tới hoạt động thực tiễn của Đảng.
Trong các buổi nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nêu: "Mục đích của
Đảng có thể bao gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Để
thực hiện mục tiêu này, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải
thấm nhuần quan điểm quần chúng, phải gần gũi quần chúng, lắng nghe quần
chúng; vận động, tổ chức giáo dục quần chúng, coi sức mạnh của cách mạng
là ở nơi quần chúng; phải thấm nhuần lời dạy "dễ trăm lần không dân cũng chịu,
khó vạn lần dân liệu cũng xong".
Đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, đồng thời cũng là nhiệm
vụ hàng đầu của mọi giai đoạn cách mạng. Nhấn mạnh vấn đề này là nhấn mạnh
tới vai trò của thực lực cách mạng. Bởi vì, cách mạng muốn thành công nếu chỉ
có đường lối đúng thì chưa đủ, mà trênsở của đường lối đúng, Đảng phải cụ
thể hóa thành những mục tiêu, nhiệm vụ phương pháp cách mạng phù hợp
với từng giai đoạn lịch sử để lôi kéo, tập hợp quần chúng, tạo thực lực cho cách
mạng. Thực lực đó chính khối đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh còn chỉ ra
rằng, đại đoàn kết dân tộc không phải chỉ mục tiêu của Đảng, còn
nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. Bởi cách mạng sự nghiệp của quần
chúng, phải do quần chúng,quần chúng. Từ trong phong trào đấu tranh để tự
giải phóng xây dựng hội mới tốt đẹp, quần chúng nảy sinh nhu cầu đoàn
kết và sự hợp tác. Đảng Cộng sản phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn
quần chúng, chuyển những nhu cầu, những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần
chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực tổ chức trong khối đại
đoàn kết, tạo thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh độc lập cho dân
tộc, tự do cho nhân dân và hạnh phúc cho con người.
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định cần phải tăng
cường khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân ra sức xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng
mong muốn.
2. Lực lượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Đứng trên lập trường giai cấp công nhân quan điểm quần chúng, Hồ Chí
Minh đã đề cập vấn đề DÂN NHÂN DÂN một cách ràng, toàn diện,
sức thuyết phục, tha phục lòng người. Các khái niệm này biên độ rất rộng
lớn. Hồ Chí Minh thường dùng khái niệm này để chỉ "mọi con dân nước Việt"
- Nhân dân là nguồn gốc của mọi sức mạnh.
+ Hồ Chí Minh khẳng định: “...Trong bầu trời không quý bằng nhân dân.
Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(1).
+ Đầu thế kỷ XX, nước ta đang dưới chế độ tàn bạo của thực dân Pháp, “hơn
hai mươi triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa”(2), Hồ Chí Minh chỉ ra: cách
mệnh thì sống, không cách mệnh thì chết...; “cách mệnh việc chung cả dân
chúng chứ không phải việc một hai người”(2).
- Tập hợp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là nguyên nhân chính của mọi
thắng lợi của cách mạng.
+ Khi nói về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh nói: “Nhất là
vì lực lượng của cuộc toàn dân đoàn kết. Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa
phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo cờ Việt Minh để tranh lại quyền độc
lập cho Tổ quốc.
Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực
lượng đó”(3).
+ Khi nói về công việc “Kháng chiến kiến quốc”, Người hỏi: Ai thực hiện
“Kháng chiến kiến quốc”?trả lời: “Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc,
lực lượng chính là ở dân”(4).
- Sức mạnh của dâ tộc được tập hợp trong mặt trận dân tộc thống nhất.
+ Về nguyên nhân thắng lợi của kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh viết:
“Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại
hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc”(5).
+ Năm 1955, Người viết: “.... với sự đoàn kết nhất trí của tất cả những người
xứng đáng con Lạc cháu Hồng - Mặt trận nhất định sẽ thành công trong việc
đánh tan âm mưu của Mỹ tay sai của chúng thực hiện hòa bình,
thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước Việt Nam yêu quý của chúng ta”(6).
- Trong thời đại mới, Hồ Chí Minh đặt sự đoàn kết toàn dân tộc trong mối
quan hệ với đoàn kết quốc tế.
Người đã đưa ra câu nói nổi tiếng:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công” (7)
Ba từ “đoàn kết” đó sự thể hiện: đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong dân,
đoàn kết quốc tế.
* Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của nhân dân, của khối
đại đoàn kết dân tộc.
- Truyền thống dân tộc.
+ Chủ nghĩa yêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, cố kết dân tộc, đoàn kết
dân tộc của dân tộc Việt Nam đã được hình thành củng cố qua hàng ngàn
năm lịch sử..., tạo thành một truyền thống bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình
cảm, tâm hồn mỗi con người Việt Nam.
+ Truyền thống đó đã trở thành tình cảm tự nhiên, triết nhân sinh, phép
ứng xử duy chính trị, cấu trúc hội: nhà làng - nước, thành phép đánh
giặc giữ nước: “trên dưới đồng lòng, cả nước chung sức”, “tướng một lòng
phụ tử”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”, “chở thuyền dân, lật
thuyền cũng là dân”.
+ Hấp thụ truyền thống của dân tộc Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Từ xưa đế
nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy (yêu nước) lại sôi nổi, nó kết
thành một làn sóng cùng mạnh mẽ, to lớn (đoàn kết), lướt qua mọi sự
nguy hiểu, khó khăn, nó nhất chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(8).
- Từ tổng kết những kinh nghiệm của phong trào cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh nhận thấy các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX đều thất bại do chưa có đường lối đúng, chưa tập hợp được quần chúng. Bởi
vậy, Hồ Chí Minh xác dịnh: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước
khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng
ta”(9).
- Nghiên cứu thực tiễn và kinh nghiệm của cách mạng thế giới.
+ Hồ Chí Minh nghiên cứu cách mạng tư sản, đặc biệt cách mạng Mỹ và cách
mạng Pháp; do tính chất không triệt để của gười cho rằng đó các cuộc
cách mạng “không đến nơi”.
+ Nghiên cứu thực tiễn đấu tranh của các dân tộc thuộc địa cho tới lúc đó,
Người thấy rõ sức mạnh tiềm ẩn to lớn ở họ, và cả những hạn chế ở họ: chưa có
sự lãnh đạo đúng đắn, chưa biết đoàn kết, chưa có tổ chức và chưa biết tổ chức.
+ Nghiên cứu Cách mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh rút ra nhiều bài học,
đặc biệt là bài học về huy động, tập hợp lực lượng công nông giành và giữ chính
quyền cách mạng..., xây dựng chủ nghĩa xã hội.
+ Hồ Chí Minh cũng chú ý nghiên cứu cách mạng Trung Quốc, Ấn Độ, tìm
hiểu con đường giải phóng dân tộc của Tôn Dật Tiên, Găngđi...
- Chủ nghĩa Mác - Lênin.
+ Hồ Chí Minh tiếp thu những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về
vai trò của quần chúng, nhân dân người sáng tạo ra lịch sử; giai cấp sản
lãnh đạo cách mạng thắng lợi trước hết phải trở thành dân tộc; liên minh công
nông sở to lớn để xây dựng lực lượng cách mạng; đoàn kết dân tộc phải
gắn với đoàn kết quốc tế....
+ Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin từ yêu cầu của sự nghiệp giải
phóng dân tộc, chủ yếu qua hoạt động cách mạng thực tiễn. Nhờ vậy, Người đã
nắm được linh hồn của chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn
Việt Nam và trong thời đại mới để hình thành và hoàn chỉnh tư tưởng của Người
về sức mạnh của quần chúng nhân dân và đại đoàn kết dân tộc.
3. Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải thực sự đoàn kết trong Đảng.
- Thực hiện đồng bộ đoàn kết trong Đảng - Đoàn kết toàn dân - Đoàn kết quốc
tế.
- Đoàn kết trong mọi chủ trương, chính sách của đảng nhà nước trên sở
bảo vệ và tôn trọng lợi ích của mọi thành viên cộng đồng quốc gia, dân tộc, quốc
tế.
Phải kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc.
Truyền thống này được hình thành, củng cố phát triển trong suốt quá trình
dựng nước giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc, trở thành giá trị bền vững,
thấm sâu vào tưởng, tình cảm, tâm hồn của mỗi con người Việt Nam, được
lưu truyền qua các thế hệ từ thời các Vua Hùng dựng nước tới Trưng,
Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, QuangTrung... Truyền thống đó là cội nguồn sức
mạnh vô địch để cả dân tộc chiến đấu và chiến thắng mọi thiên tai địch họa, làm
cho đất nước được trường tồn, bản sắc dân tộc được giữ vững.
Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người. Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong
mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng đều những ưu điểm, khuyết điểm, mặt
tốt, mặt xấu... Cho nên, lợi ích của cách mạng, cần phải lòng khoan dung,
độ lượng, trân trọng cái phần thiện nhỏ nhất ở mỗi con người mới thể tập
hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng. Người viết: "Sông to, biển rộng bao nhiêu
nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì
một chút nước đầy tràn, độ lượng hẹp nhỏ. Người tự kiêu, tự mãn,
cũng như cái chén, cái đĩa cạn". Người đã lấy hình tượng năm ngón tay có ngón
ngắn ngón dài, nhưng cả năm ngón cùng thuộc về một bàn tay, để nói lên sự cần
thiết phải thực hiện đại đoàn kết. Người cho rằng: "Trong mấy triệu người cũng
có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên
ta. Vậy nên phải khoan hồng, đại độ. Ta phải nhận ra rằng đã con Lạc cháu
Hồng thì ai cũng ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối
lầm đường, ta phải dùng tình nhân ái để cảm hóa họ. Có như thế mới thành đoàn
kết, có đại đoàn kết tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang".
4. Hình thức, nguyên tắc tổ chức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - Mặt
trận dân tộc thống nhất
+ Hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết dân tộc Mặt trận dân tộc thống
nhất:
- Theo Hồ Chí Minh , đại đoàn kết dân tộc không chỉ dừng lại quan niệm
những lời kêu gọi , những lời hiệu triệu phải trở thành một chiến lược cách
mạng, một khẩu hiệu hành động cho toàn Đảng , toàn dân , phải biến thành
sức mạnh vật chất,trở thành một lực lượng vật chất có tổ chức .
- Mặt trận dân tộc thống nhất một tổ chức chính trị - hội rộng lớn của
nhân dân Việt Nam phấn đấumục tiêu chung là độc lập dân tộc , thống nhất
của Tổ quốc , tự do và hạnh phúc của nhân dân
+ Một số nguyên tắc bản về xây dựng hoạt động của Mặt trận dân tộc
thống nhất:
- Mặt trận phải được xấy dựng trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí
thức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Theo Hồ Chí Minh, lực lượng , thành phần tham gia rất phong phú , đa dạng ,
rộng rãi nhưng phải xác địnhlực lượng nòng cốt , nền tảng . Lực lượng đó là
liên minh công – nông – lao động trí óc , dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản .
Trên cơ sở khối liên minh này mà mở rộng Mặt trận thực sự quy tụ được cả dân
tộc , tập hợp được toàn dân , kết thành một khối vững chắc.
Trong Mặt trận, Đảng Cộng sản một thành viên lực lượng lãnh đạo
Mặt trận .Hồ Chí Minh cho rằng , quyền lãnh đạo Mặt trận không phải do Đảng
tự phong cho mình mà phải được nhân dân thừa nhận qua năng lực thực tế và uy
tín của Đảng Đảng lãnh đạo Mặt trận bằng việc xác định chính sách Mặt trận
đúng đắn , phù hợp với từng thời kỳ , giai đoạn cách mạng. Đảng phải dùng
phương pháp vận động , giáo dục , thuyết phục , nêu gương tranh ép , quan
liêu mệnh lệnh trong lãnh đạo Mặt trận . Đặc biệt , Đảng phải thật sự tiêu biểu ,
mẫu mực cho sự đoàn kết , làm sở vững chắc để xây dựng sự đoàn kết trong
Mặt trận.
- Mặt trận dân tộc thống nhất phải hoạt động trênsở bảo đảm lợi ích tối đa
của dân tộc , quyền lợi cơ bản của các tầng lớp nhân dân .
Độc lập, tự do nguyên tắc bất di, bất dịch, ngọn cờ đoàn kết, quy tụ các
giai cấp, tầng lớp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo vào trong mặt trận
- Mặt trận thống nhất phải hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ ,
bảo đảm đoàn kết ngày càng rộng rãi và bền vững
Theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ , mọi việc của Mặt trận đều do bàn bạc
thống nhất quyết định một cách thật sự dân chủ. Khi những lợi ích riêng
không phù hợp , Mặt trận theo phương châm cầu đồng tồn dị lấy cái chung
đặt lợi ích tối đa của dân tộc lên trên hết lấy lợi ích căn bản của tầng lớp
nhân dân để hạn chế cái khác biệt thông qua bàn bạc để đi đến nhất trí.
- Mặt trận thống nhất là khối đại đoàn kết chặt chẽ, lâu dài , đoàn kết thật sự ,
chân thành , chân ái giúp đỡ cùng nhau tiến bộ.
Đoàn kết trong Mặt trận không phải trong thời gian nhất định phải lâu dài
chặt chẽ . Hồ Chí Minh đã nhiều lần giúp đỡ mặt trận phải đòn kết chặt chẽ
thành một khối vững chắc , thống nhất sự đa dạng , phong phú rộng rãi của các
lực lượng , thành phần.
Hồ Chí Minh đòi hỏi sự đoàn kết thực sự, hiệu quả , không phải đoàn kết
ngoài miệng , đoàn kết bằng việc làm , đoàn kết bằng việc làm , đoàn kết
bằng tinh thần . Người giải thích : đoàn kết thật sự nghĩa mục đích phải nhất
trí và lập trường cũng phải nhất trí , vừa đoàn kết vừa đấu tranh , học những cái
tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái
, vì nước , vì dân . Người thường xuyên căn dặn phải khắc phục tình trạng đoàn
kết xuôi chiều , không có đấu tranh trông nội bộ Mặt trận.
Liên hệ thực tiễn quan đơn vị, trách nhiệm bản thân trong xây dựng đại
đoàn kết dân tộc
Liên hệ đại đoàn kết trong cơ quan, đơn vị:
Tinh thần đoàn kết được ông ta lưu truyền lại qua lời dạy của câu ca dao
“Một cây làm chẳn nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” .Và Chủ tịch Hồ
Chí Minh từng nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công,
đại thành công”. tưởng đoàn kết xuyên suốt toàn bộ di chúc cả cuộc đời
hoạt động cách mạng của Người. Khắc ghi lời Bác Hồ dạy suốt chặng đường
xây dựng trưởng thành, Chi bộ, Ban Giám đốc cùng toàn thể cán bộ .....luôn
cố gắng xây dựng tập thể trở thành một khối đoàn kết, toàn tâm, toàn ý với công
việc, góp phần vào sự phát triển chung.
1. Trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải có lập trường tư tưởng vững vàng, xác
định phấn đấu vì một mục tiêu chung - đó là hiệu quả công việc. Có như vậy thì
thi đua sẽ không trở thành ganh đua, gây mất đoàn kết. Khi đã chung một
tưởng thì mọi người sẽ chung sức, chung lòng và thân ái với nhau hơn.
2. Tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, dìu dắt nhau cùng tiến bộ. Tuy nhiên, đoàn kết
không có nghĩa là im lặng, làm ngơ, là bao che cho những khuyết điểm của đồng
chí, đồng nghiệp mỗi nhân luôn nêu cao tinh thần phê tự phê. Dám
nhận ra những thiếu sót của chính bản thân, của đồng chí, đồng nghiệp và thẳng
thắn góp ý xây dựng, cùng chia sẻ và tiếp thu những cái hay, cái tốt để phát triển
bản thân và tổ chức. Phê và tự phê để loại bỏ dần những yếu điểm, hạn chế, giúp
nhau cùng tiến bộ. Tuy nhiên việc góp ý kiến cần phải chân thành, đúng lúc,
đúng nơi.
3. Mỗi cán bộ, đảng viên phải biết đặt lợi ích chung của tập thể, của quan
lên trên lợi ích nhân, biết mục tiêu chung phấn đấu, biết nhìn nhận cái
đúng cái sai, biết lắng nghe để tự sửa chữa, biết góp ý chân tình cho đồng
nghiệp. Đó là cơ sở để xây dựng khối đoàn kết nội bộ ngày càng vững chắc hơn.
4. Chi bộ, Ban Giám đốc, các đồng chí Trưởng phòng vai trò rất lớn trong
việc xây dựng mối đoàn kết nội bộ. Đó sự gần gũi, cảm thông, sự góp ý
chân thành, cởi mở, không mang tính áp đặt trên-dưới. Các đồng chí làm công
tác quản cần biết nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên. Khi
phân công công việc hay giải quyết những thắc mắc tránh việc gây ra ức chế đối
với cán bộ, đảng viên. Sự thoải mái trong tưởng sẽ khiến con người ta nhiệt
tình và yêu mến công việc hơn.
5. Một vấn đề hết sức quan trọng trong việc xây dựng mối đoàn kết nội bộ
phát huy tinh thần dân chủ, tạo sự công bằng, công khai trong đơn vị.
5. Phương thức xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện nhất
quán từ lý luận đến thực tiễn. Đại đoàn kết là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng
đầu của cách mạng. Nhiệm vụ ấy được quán triệt trong mọi đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, thể hiện trong lời phát biểu của Bác khi ra mắt
Đảng Lao động Việt Nam ngày 03-3-1951, Bác đã tuyên bố trước toàn thể dân
tộc: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn
kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc ”. Trong bối cảnh đất nước đang đứng trước
nhiều hội thách thức lớn của quá trình hội nhập ngày một sâu rộng, thì
việc tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng mang tính
thời sự ý nghĩa hết sức quan trọng. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc nội dung mang tính chiến lược trong tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam.
Người nhận thức sâu sắc rằng, đoàn kết không chỉ tạo nên sức mạnh mà còn là
vấn đề ý nghĩa quyết định tới việc sống còn, thành bại, được mất trong cuộc
đấu tranh chống kẻ thù. Đại đoàn kết dân tộc theo tưởng Hồ Chí Minh đại
đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất
nước, đoàn kết mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam sống
trong nước hay định cư ở nước ngoài thành một khối vững chắc trên cơ sở thống
nhất về mục tiêu chung và những lợi ích căn bản.
Với chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở thống nhất lợi ích quốc gia
dân tộc với quyền lợi bản của các giai tầng; nòng cốt khối đại đoàn kết toàn
dân tộc là liên minh công - nông - trí dưới sự lãnh đạo của Đảng, Người chỉ rõ,
cần giải quyết hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn
giáo, dân các vùng miền khác nhau. Phát huy mặt tương đồng, hóa giải
điểm khác biệt. Mẫu số chung để đại đoàn kết toàn dân tộc là: Hòa bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ, tự do, giàu mạnh: “Toàn dân đoàn kết nhất trí thì chúng
ta nhất định xây dựng được nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân
chủ, tự do, giàu mạnh”.
Để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Người cho rằng, trước hết,
cần tuyên truyền, vận động nhân dân. Thứ hai, phải chăm lo xây dựng Đảng
hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Về Nhà nước, Đảng phải làm cho Nhà
nước thật sự là của dân, do dân, vì dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính
trị - hội cầu nối gắn kết Đảng, Nhà nước với nhân dân. Coi đoàn kết lẽ
sống, đạo lý của Đảng, của dân tộc ta trong dựng nước và giữ nước, mỗi cán bộ,
đảng viên phải coi đoàn kết một đức tính bản của người cách mạng. Ai
không khả năng tập hợp, đoàn kết quần chúng các đồng chí của mình thì
không thể làm cách mạng, không thể làm cán bộ. Người căn dặn: “Các đồng chí
từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như
giữ gìn con ngươi của mắt mình”.
Nguyên tắc của đại đoàn kết toàn dân tộc, trước hết là tin vào dân, dựa vào dân
lợi ích của dân để đoàn kết toàn dân, phát động các phong trào thi đua yêu
nước trong lao động, học tập, sản xuất chiến đấu. Thứ hai, đoàn kết lâu dài,
rộng rãi, chặt chẽ, tự giác, tổ chức, lãnh đạo. Thứ ba, đoàn kết trên sở
hiệp thương, dân chủ, chân thành, thẳng thắn, thân ái; đoàn kết gắn với đấu
tranh, tự phê bìnhphê bình. Thứ tư, đoàn kết trên cơ sở kế thừa truyền thống
yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc. Phải lòng khoan dung, độ
lượng với con người, trân trọng “phần thiện”, nhỏ nhất mỗi con người để
tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng.
Song song với viê c xây những đức tính tốt để đoàn kết toàn Đảng, toàn dân,
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, phải chống những cái xấu, những căn bệnh
gây chia rẽ, mất đoàn kết. Phải chống nh hẹp hòi, phải chống chủ nghĩa
nhân. Do chủ nghĩa nhân cán bộ, đảng viên sa vào tham ô, hủ hóa, lãng
phí, xa hoa; tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành; tự cao tự đại, coi
thường tập thể, xem khinh quần chúng, xa rời thực tế, quan liêu, mệnh lệnh, độc
đoán, chuyên quyền.
Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời kiên tâm thực hiện đại đoàn kết. Bản thân
Người cũng chính là hình ảnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo Bác, để thực hiện
đại đoàn kết toàn dân tộc, thì toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên cần có
phong cách lãnh đạo: “Kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm
tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân”.
Quán triệt sâu sắc, vận dụng phát triển sáng tạo tưởng Hồ Chí Minh về
đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta khẳng định: Đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam
sự liên kết, gắn tất cả các thành viên các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng
lớp, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng người
ngoài Đảng, người đang công tác, người đã nghỉ hưu mọi thành viên trong
đại gia đình dân tộc Việt Nam sống trong nước hay nước ngoài thành một
khối vững chắc, ổn định, lâu dài nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân
tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong khối
đại đoàn kết đó, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức là lực
lượng nòng cốt, đông đảo nhất, đồng thời sở vững chắc của khối đại đoàn
kết toàn dân tộc. Thông qua khối liên minh này, Đảng, Nhà nước có thể tập hợp,
vận động các tầng lớp nhân dân lao động khác tham gia quản nhà nước, làm
chủ xã hội, làm cho lợi ích giai cấp gắn chặt với lợi ích dân tộc, tạo đồng thuận
cao trong hội. vậy, Đảng ta chỉ rõ: “Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên
nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức
dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là
nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu vànhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm
thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Hiện nay, trước
yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, Đảng ta tiếp tục khẳng
định đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng. Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội (Bổ sung, phát
triển năm 2011) đã đúc kết một trong những bài học lớn của cách mạng Việt
Nam là: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn
kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu
là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta”.
Đại hội XII của Đảng đánh giá: Khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được
mở rộng, củng cố tăng cường trong bối cảnh đất nước nhiều khó khăn,
thách thức. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân đã đổi mới cả
về nội dung phương thức hoạt động; phát huy ngày càng tốt hơn vai trò tập
hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; cùng Đảng, Nhà nước chăm lo,
bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tham gia xây dựng
Đảng, quản nhà nước, quản hội. Thường xuyên tổ chức các cuộc vận
động, phong trào thi đua yêu nước, góp phần tích cực vào những thành tựu
chung của đất nước.
Để đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng thật sự là nguồn sức
mạnh, động lực chủ yếu nhân tố ý nghĩa quyết định, bảo đảm thắng
lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc, Để tăng cường củng
cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay, cần thực hiện một số
nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như sau:
Một là, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền để các cấp, ngành, lực lượng nhận thức
sâu sắc về sự cần thiết phải tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, người đứng đầu và cả hệ
thống chính trị trong lãnh đạo, củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc
hiện nay.
Các cấp ủy đảng người đứng đầu thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp
với nhân dân, lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân. Cần thực hiện triệt để
Quy định số 101-QĐi/TW của Ban thư khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương
của cán bộ, đảng viên, nhất cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số
08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Trách nhiệm
nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên
Ban thư, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương”. Cán bộ, đảng viên phải xung
phong, gương mẫu học tập, làm theo tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh, nhất là về đoàn kết và xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững
mạnh để nhân dân học và làm theo.
Hai là, giải quyết tốt quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp hội; kết
hợp hài hòa lợi ích nhân, lợi ích tập thể toàn hội. Tăng cường bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, ở
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng căn cứ kháng chiến cũ, các vùng
chiến lược, vùng tôn giáo. Trân trọng, tôn vinh những đóng góp, cống hiến của
nhân dân; có cơ chế, chính sách đặc biệt để thu hút nhân tài của đất nước.
Ba là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức chính trị - hội đa dạng
hóa các hình thức tập hợp nhân dân tập trung hướng mạnh các hoạt động về
cơ sở. Tăng cường công tác dân vận của chính quyền các cấp. Tích cực phối hợp
giữa chính quyền các cấp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức chính
trị - xã hội làm công tác dân vận.
Bốn là, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, phá hoại,
chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp các tổ chức thành viên cần tham gia tuyên truyền sâu rộng để mọi tầng
lớp nhân dân nhận thức âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch đang lợi
dụng những khuyết điểm, hạn chế, hở của các cấp chính quyền, của Đảng,
Nhà nước vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết
toàn dân tộc. Từ đó, tạo sự chuyển biến căn bản trong nhận thức, nâng cao tinh
thần cảnh giác, sự nhạy bén trong nhận diện tích cực tham gia đấu tranh với
những quan điểm sai trái, thù địch.
Thực hiện tốt các giải pháp trên sẽ góp phần tăng cường sức mạnh khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh,
đảm bảo thế lực cho đất nước trong công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
II. Củng cố, phát huy tinh thần đoàn kết trong sinh viên hiện nay theo
tưởng Hồ Chí Minh
1. Đánh giá khái quát thực trạng tinh thần đoàn kết trong sinh viên hiện
nay
Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của cả dân tộc
và của cách mạng Việt Nam.
- Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân dựa trên nền tảng của khối liên
minh công nhân, nông dân, 2 trí thức theo tiêu chí: không phân biệt dân tộc đa
số hay thiểu số, người tín ngưỡng với người không tín ngưỡng, không phân biệt
già, trẻ , gái, trai, giàu, nghèo; cứ ai tài, có đức,sức, có lòng phụng sự Tổ
quốc phụng sự nhân dân thì ta đoàn kết với họ. - Đại đoàn kết dân tộc phải
biến thành sức mạnh vật chất tổ chức Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự
lãnh đạo của Đảng Mặt trận dân tộc thống nhất phải hoạt động theo nguyên
tắc hiệp thương, dân chủ lấy việc thống nhất lợi ích của các tầng lớp nhân dân
làm cơ sở để củng cố và không ngừng mở rộng. Thực hiện đoàn kết lâu dài, chặt
chẽ, đoàn kết thực sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ với phương
châm lấy cái chung, đề cao cái chung, để hạn chế cái riêng, cái khác biệt.
- Đại đoàn kết dân tộc được hình thành một cách tự giác, trên tinh thần vừa
chân thành, thân ái, vừa thẳng thắn đấu tranh tự phê bình, phê bình. Dựa vào
những ý trên ta thể thấy việc sinh viên có trách nhiệm trong việc củng cố
góp phần khối đại đoàn kết dân tộc việc ý nghĩa hết sức to lớn trong công
cuộc xây dựng đất nước. Đây cũng được coi làtưởng cơ bản trong việc chiến
đấu, chống giặc ngoại xâm, hình thành sức mạnh vững chắc, là một vấn đề sống
của cách mạng.
Hiện nay nhiều trường Đại học đã đang áp dụng tưởng Đoàn kết trong
công tác giảng dạy để góp phần thúc đẩy sinh viên đoàn kết góp phần xây
dựng đất nước lớn mạnh. Đoàn kết vấn đề có tính chiến lược, quyết định mọi
thành công. Đây cũng chính bài học sâu sắc thực tiễn của nhiều trường
Đại học trong nước. Đa phần sinh viên hiện nay đểu phát huy được tinh thần
đoàn kết dân tộc qua nhiều mặt trận, góp phần đóng góp giúp đỡ đất nước.
Gần đây nhất nhiều sinh viên đã tham gia các công tác tình nguyện giúp đỡ
nhân dân và đặc biệt không thể không nói đến sự giúp đỡ của các sinh viên trong
công tác phòng chống dịch COVID-19 năm vừa qua. Sinh viên cả nước đã thể
hiện được tinh thần đoàn kết đại đoàn kết dân tộc trong năm vừa rồi cũng
như thời điểm hiện tại. Không ngại gian khổ ra sức góp phần giúp đỡ dân tộc đất
nước khi gặp khó khan thể hiện được tinh thần đoàn kết cao cả của dân tộc.
Ngoài những việc nêu trên, sinh viên còn ra sức tham gia các công tác tình
nguyện ở trường như giúp đỡ các em nhỏ vùng sâu vùng xa các em nhỏ có hoàn
cảnh khó khan trong sinh hoạt cũng như học tập, những lần hiến máu nhân đạo
và tình nguyện giúp đỡ thành phố v.v... Những lần tham gia tình nguyện này góp
phần giúp cho các sinh viên tinh thần đoàn kết gắn với nhau hơn, thúc
đẩy tinh thần đoàn kết trong sinh viên ngày càng vững mạnh hơn. Tuy nhiên
cũng còn những mặt hạn chế trong tinh thần đoàn kết của sinh viên hiện nay.
Các sinh viên tham gia tình nguyện cũng như các hoạt động do trường tổ chức
chỉ chiếm số ít, việc không tham gia những hoạt động sinh hoạt tập thúc đầy tinh
thần đoàn kết do trường tổ chức cũng nguyên nhân dẫn đến các sinh viên gặp
khó khan trong việc giao tiếp kết làm cho tính đoàn kết yếu đi. Bên cạnh đó còn
một số ít sinh viên trì trệ trong việc học còn chưa xác định được định
hướng tương lai nghề nghiệp. Không có tinh thần góp sức cống hiến cho tổ chức
cững như nơi làm việc học tập hiện tại của minh, thiếu tinh thần tự phê bình
phê bình bản than. Tuy những điều trên chỉ số ít trong các môi trường đại
học nhưng nó cũng đã góp phần làm cho tinh thần dân tộc suy giảm, càng để lâu
càng gây ra them nhiều thiệt hại và làm ảnh hưởng đến bản sắc dân tộc.
Để khắc phục những điều trên nhà trường cũng như sinh viên cần phải đưa ra
giải pháp phù hợp nêu ra trách nhiệm của sinh viên cũng như bản than để
góp phần thúc đẩy và nâng cao tinh thần đoàn kết đại đoàn kết.
2. Một số giải pháp nhằm củng cố, tăng cường tinh thần đoàn kết trong sinh
viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Ngày xưa Bác Hồ đã nêu lên tầm quan trọng của khẩu hiệu đoàn kết- đoàn
kết- đại đoàn kết” , đã trở thành một đức tinh quý báo của dân tộc.
người con của dân tộc nói chung một người sinh viên nói riêng , để nâng
cao tinh thần đoàn kết trong sinh viên, ta phải:
+ Thường xuyên tổ chức các sự kiện để sinh viên tham gia nhầm giúp sinh
viên có thể liên kết với nhau hơn.
+ Xây dựng tính đoàn kết ngay chính trong lớp học của mỗi sinh viên.
+ Tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền về vai trò của đoàn kết trong cuộc sống.
+ Tích cực tham gia các câu lạc bộ để thể gắn chặt tình đoàn kết giữa sinh
viên chung ngành hoặc chung trường.
+ Tăng cường sự lãnh đạo của cán sự , quản của Nhà trường tiếp tục
thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc.
+ Giải quyết tốt quan hệ lợi ích giữa sinh viên các ngành , các khóa, cũng như
các trường với nhau ; kết hợp hài hòa lợi ích nhân, lợi ích tập thể toàn
hội.
+ Kiên quyết lên án đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, phá hoại,
chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Kết luận:
Như vậy, trong tư tưởng của Người, để không ngừng củng cố tăng cường
khối đại đoàn kết dân tộc thì công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động quần
chúng có một vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng. Điều cần lưu ý phải luôn có một
nội dung hình thức tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng, từng giai đoạn
cách mạng cụ thể đặc biệt coi trọng giáo dục tinh thần đoàn kết giữa các dân
tộc, các tôn giáo trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Xóa bỏ mặc cảm, định kiến và bệnh hẹp hòi trên tinh thần độ lượng, khoan dung
là phương thức quan trọng để xây dựng đại đoàn kết dân tộc. Bởi vậy, những tàn
tích của những định kiến quá khứ do đế quốc, phong kiến để lại còn đè nặng lên
tưởng tình cảm của quần chúng nhân dân. Muốn xây dựng khối đại đoàn
kết, muốn tập hợp, động viên phát huy sức mạnh của tất cả các lực lượng,
theo Hồ Chí Minh tất yếu phải san bằng những hố sâu ngăn cách đó: “Cần phải
xóa bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ lẫn nhau
cùng tiến bộ, để cùng phục vụ nhân dân”
Muốn xóa bỏ được những thành kiến, theo Người, phải một lòng bao dung,
biết nâng niu, trân trọng và khuyến khích mặt tốt, mặt thiện trong mỗi con người
để khơi dậy phần tốt được nảy nở như hoa mùa xuân, và phần xấu bị héo mòn đi
để họ trở về với cộng đồng dân tộc.Trong nhận thức của Người, tấm lòng độ
lượng sẽ được sự cảm hóa sâu sắc: “Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước
cũng chứa được, độ lượng rộng sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một
chút nước cũng đầy tràn, độ lượng của hẹp nhỏ...” Như vậy, thể khẳng
định, mọi tư tưởng, mọi sự sáng tạo của Hồ Chí Minh đều xuất phát từ lòng yêu
thương, kính trọng tin tưởng con người, tin tưởng nhân dân. Người từng
nói rằng đã người Việt Nam thì ai cũng ít nhiều lòng yêu nước. Với tấm
lòng nhân ái bao la, lòng tin hạn đối với nhân dân, dân tộc, Người đã giành
trọn tình yêu thương sự tin tưởng vào khả năng tiến bộ của con người, biết
khơi dậy trong họ những khả năng tiềm tàng, thức tỉnh giáo dục họ đứng lên
đấu tranh cho sự nghiệp chính nghĩa của quốc gia dân tộc.
Trên thực tế, quan điểm khoan dung, độ lượng niềm tin vào nhân tính con
người đã giúp Hồ Chí Minh: “Đoàn kết tất cả những người thật sự yêu Tổ quốc,
yêu hòa bình, không phân biệt họ thuộc đảng phái nào, tôn giáo nào, tầng lớp
nào và quá khứ họ đã hợp tác với phe nào. Quán triệt sâu sắc, vận dụng phát
triển sáng tạo tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta khẳng
định: Đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam sự liên kết, gắn tất cả các
thành viên các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi
vùng của đất nước, người trong Đảng người ngoài Đảng, người đang công
tác, người đã nghỉ hưu và mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam
sống trong nước hay nước ngoài thành một khối vững chắc, ổn định, lâu dài
nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa hội bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hội chủ nghĩa do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong khối đại đoàn kết đó, giai cấp công
nhân, giai cấp nông dân tầng lớp trí thức lực lượng nòng cốt, đông đảo
nhất, đồng thời sở vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. vậy,
Đảng ta chỉ rõ: “Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng,
đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; nguồn sức mạnh, động lực
chủ yếunhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự
nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc” Hiện nay, trước yêu cầu của sự nghiệp
cách mạng trong giai đoạn mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định đại đoàn kết toàn
dân tộc vấn đề chiến lược của cách mạng . Từ đó ta đúc kết được bài học lớn
của cách mạng Việt Nam là: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn
kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó
truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta”
Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay việc phát huy tinh thần
đại đoàn kết dân tộc càng cần được phát huy. Do đó mỗi cá nhân cần quán triệt
tư tưởng sâu sắc trong việc đấu tranh với bản thân để noi theo tấm gương vĩ đại
của Hồ Chí Minh.
Chúng ta phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác, chống những luận điệu xuyên
tạc về Đảng, về Chủ tịc Hồ Chí Minh, không ngừng nâng cao trình độ để thích
ứng với điều kiện hội mới, áp dụng triệt để linh hoạt các nguyên tắc của
Người tùy theo vị trí của mình như tập trung dân chủ, kỷ luật nghiêm minh, tự
giác trong công việc cũng như trong cuộc sống cộng đồng.
Đẩy mạnh việc tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao chuyên môn của bản thân,
tuyên truyền về đường lối chính sách của Đảng pháp luật của nhà nước. Chống
các biểu hiện suy thoái về phẩm chất đạo đức, luôn tu dưỡng phẩm chất đạo đức.
Mỗi nhân cần ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức: Cần gương mẫu rèn
luyện phẩm chất cách, làm tròn những nhiệm vụ được Đảng chính quyền
giao phó. lối sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công tư, hòa nhã với mọi
người. Luôn tự rèn luyện và trau dồi phẩm chất đạo đức, lối sống.
Thẳng thắn, trung thực bảo vệ công lý, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng,
bảo vệ người tốt, chân thành, khiêm tốn, không bao che khuyết điểm, Luôn có ý
thức giữ gìn đoàn kết trong tập thể, trong cơ quan đơn vị.
Bản thân cần tự đặt mình trong tổ chức, trong tập thể, phải tôn trọng nguyên tắc,
pháp luật, không chia bè kéo cánh để làm rối loạn gây mất đoàn kết nội bộ.
Cần có ý thức coi trọng việc tự phê bìnhphê bình; phê phán những biểu hiện
xuất phát từ những động cơ cá nhân; động viên người thân trong gia đình giữ gìn
đạo đức lối sống, thực hiện xây dựng gia đình văn hóa.
Để phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc hiện nay mỗi nhân không chỉ cần rèn
luyện, tu dưỡng đạo đức còn cần phải không ngừng học hỏi nâng cao trình
độ chuyên môn.
Tài liệu tham khảo:
Giáo trình tưởng Hồ Chí Minh, do Bộ giáo dục đào tạo chỉ đạo biên
soạn , tái bản năm 2017
Tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự Thật, Nội,
2011,
ST
T
HỌ VÀ TÊN Mã SV NỘI DUNG PHÂN TÍCH %
1 Nguyễn Hồng Pháp 5973 Làm Word-chỉnh sửa 100 %
2 Võ Viết Dũng 2530 Mở Đầu 100 %
3 Tôn Nữ Ngọc Trang 2311 Phần 1 ( mục 1) 100 %
4 Thị Thanh Lài 7295 Phần 1 ( mục 2) 100 %
5 Võ Thị Thanh Nga 3739 Phần 1 ( mục 3 ) 100 %
6 Phan Thị Anh Thơ 5144 Phần 1 ( mục 4 ) 100 %
7 Đoàn Nguyễn Nữ
Sinh
7017 Phần 1 ( mục 5) 100%
8 Đặng Minh Quang 1233 Phần 2 ( mục 1) 100%
9 Thị Như Ý 6927 Phần 2 ( mục 2 ) 100%
10 Trương Hải Thảo 1536 Kết Luận 100%
| 1/20

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN TIỂU LUẬN
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân
tộc và việc vận dụng để củng cố, phát huy tinh thần
đoàn kết trong sinh viên hiện nay.

Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Văn Vinh Lớp: POS 361 F
Nhóm sinh viên thực hiện: 1.Nguyễn Hồng Pháp - 5973 2.Lê Thị Như Ý - 6927 3.Phan Thị Anh Thơ - 5144 4.Võ Viết Dũng - 2530
5.Đoàn Nguyễn Nữ Sinh - 7017 6.Đặng Minh Quang - 1233
7.Tôn Nữ Ngọc Trang - 2311 8.Võ Thị Thanh Nga - 3739 9.Lê Thị Thanh Lài - 7295
10.Trương Hải Thảo - 1536

ĐÀ NẴNG, THÁNG 2 NĂM 2022 Mục Lục Mở đầu: Nội dung:
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết dân tộc.
1. Vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc
2. Lực lượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
3. Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
4. Hình thức, nguyên tắc tổ chức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - Mặt
trận dân tộc thổng nhất
5. Phương thức xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
II. Củng cố, phát huy tinh thần đoàn kết trong sinh viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
1. Đánh giá khái quát thực trạng tinh thần đoàn kết trong sinh viên hiện nay
2. Một số giải pháp nhằm củng cố, tăng cường tinh thần đoàn kết trong sinh viên
theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Kết luận: Trình bày khái quát kết quả nghiên cứu đã đạt được, khẳng định
nhiệm vụ nghiên cứu đã được hoàn thành. TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHÂN CHIA CÔNG VIỆC GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM Mở đầu:
Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, nhà văn hóa kiệt
xuất của dân tộc ta và của nhân loại, đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần
vô giá, một hệ thống tư tưởng về nhiều mặt. Trong đó tư tưởng về đại đoàn kết
là tư tưởng nổi bật, có giá trị trường tồn đối với quá trình phát triển của dân tộc
ta và của toàn nhân loại. Đấy là tư tưởng xuyên suốt và nhất quán trong tư duy
lý luận và trong hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh và đã trở thành chiến lược
cách mạng của Đảng ta, gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có nguồn gốc từ nhiều yếu tố
và được hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển chủ nghĩa yêu nước và
truyền thống đoàn kết của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là đã vận
dụng và phát triển sáng tạo, chủ nghĩa Mác–Lênin phù hợp với tình hình và điều
kiện cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng.
Hiện nay, hơn bao giờ hết phải quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ
Chí Minh về Đại đoàn kết trong tình hình mới. Qua hơn một phần tư thế k thực
hiện công cuộc đổi mới, với nhiều chủ trương lớn của Đảng, chính sách của Nhà
nước hợp lòng dân, khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được mở rộng hơn, là nhân
tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế–xã hội, giữ vững ổn định chính trị
của đất nước. Các hình thức tập hợp nhân dân đa dạng hơn và có bước phát triển
mới, dân chủ xã hội được phát huy; bước đầu đã hình thành không khí dân chủ,
cởi mở trong xã hội. Có thể kh ng định chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của
Đảng đã thực sự là một bộ phận của đường lối đổi mới và góp phần to lớn vào
những thành quả của đất nước. Tuy nhiên, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mối
quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân đang đứng trước những thách thức
mới. Lòng tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ của một bộ phận nhân dân chưa
vững chắc, tâm trạng của nhân dân có những diễn biến phức tạp, lo lắng về sự
phân hoá giàu nghèo, về việc làm và đời sống. Nhân dân bất bình trước những
bất công xã hội, trước tệ tham nhũng, quan liêu, lãng phí, v.v… Nội dung:
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết dân tộc
1. Vai trò của đại đoàn kết dân tộc
Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công
của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trong thời đại mới, để đánh
bại các thế lực đế quốc thực dân nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và
giải phóng con người, nếu chỉ có tinh thần yêu nước thì chưa đủ; cách mạng
muốn thành công và thành công đến nơi, phải tập hợp được tất cả mọi lực lượng
có thể tập hợp, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững. Chính vì vậy,
trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến
lược, cơ bản, nhất quán và lâu dài, xuyên suốt tiến trình cách mạng.
Để quy tụ được mọi lực lượng vào khối đại đoàn kết toàn dân, cần phải có
chính sách và phương pháp phù hợp với từng đối tượng. Trong từng thời kỳ,
từng giai đoạn cách mạng, trước những yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau, chính
sách và phương pháp tập hợp có thể và cần thiết phải điều chỉnh cho phù hợp
với từng đối tượng khác nhau, đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là
vấn đề sống còn, quyết định thành bại của cách mạng.
Chính sách mặt trận của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra là để thực
hiện đoàn kết dân tộc. Nhờ tư tưởng nhất quán và chính sách mặt trận đúng đắn.
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công khối đại đoàn kết dân
tộc, đưa cách mạng Việt Nam dành được nhiều thắng lợi to lớn. Hồ Chí Minh
viết: "Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm Cách mạng tháng
Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Đoàn kết trong Mặt
trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại hòa bình ở Đông
Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc; Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải
tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc".
Từ thực tiễn như vậy, Hồ Chí Minh đã khái quát thành nhiều luận điểm có tính
chân lý về vai trò của khối đại đoàn kết:
Đoàn kết làm ra sức mạnh. Hồ Chí Minh rất nhiều lần nhấn mạnh luận điểm
này. Người viết: "Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ, thì
chúng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và
làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao phó"; "Đoàn kết là một lực lượng vô địch của
chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi":; "Đoàn kết là sức mạnh,
đoàn kết là thắng lợi", "Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”;
"Bây giờ còn một điểm rất quan trọng, cũng là điểm mẹ, điểm này mà thực hiện
tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt: Đó là đoàn kết"
"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công"...
Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, yêu nước nhân nghĩa - đoàn kết là sức mạnh, là
mạch nguồn của mọi thắng lợi. Do đó, đại đoàn kết dân tộc phải được xác định
là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, phải được quán triệt trong tất cả mọi
lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách tới hoạt động thực tiễn của Đảng.
Trong các buổi nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nêu: "Mục đích của
Đảng có thể bao gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Để
thực hiện mục tiêu này, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải
thấm nhuần quan điểm quần chúng, phải gần gũi quần chúng, lắng nghe quần
chúng; vận động, tổ chức và giáo dục quần chúng, coi sức mạnh của cách mạng
là ở nơi quần chúng; phải thấm nhuần lời dạy "dễ trăm lần không dân cũng chịu,
khó vạn lần dân liệu cũng xong".
Đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, đồng thời cũng là nhiệm
vụ hàng đầu của mọi giai đoạn cách mạng. Nhấn mạnh vấn đề này là nhấn mạnh
tới vai trò của thực lực cách mạng. Bởi vì, cách mạng muốn thành công nếu chỉ
có đường lối đúng thì chưa đủ, mà trên cơ sở của đường lối đúng, Đảng phải cụ
thể hóa thành những mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp cách mạng phù hợp
với từng giai đoạn lịch sử để lôi kéo, tập hợp quần chúng, tạo thực lực cho cách
mạng. Thực lực đó chính là khối đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh còn chỉ ra
rằng, đại đoàn kết dân tộc không phải chỉ là mục tiêu của Đảng, mà còn là
nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. Bởi vì cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng, phải do quần chúng, vì quần chúng. Từ trong phong trào đấu tranh để tự
giải phóng và xây dựng xã hội mới tốt đẹp, quần chúng nảy sinh nhu cầu đoàn
kết và sự hợp tác. Đảng Cộng sản phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn
quần chúng, chuyển những nhu cầu, những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần
chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức trong khối đại
đoàn kết, tạo thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân
tộc, tự do cho nhân dân và hạnh phúc cho con người.
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định cần phải tăng
cường khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân và ra sức xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.
2. Lực lượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Đứng trên lập trường giai cấp công nhân và quan điểm quần chúng, Hồ Chí
Minh đã đề cập vấn đề DÂN và NHÂN DÂN một cách rõ ràng, toàn diện, có
sức thuyết phục, tha phục lòng người. Các khái niệm này có biên độ rất rộng
lớn. Hồ Chí Minh thường dùng khái niệm này để chỉ "mọi con dân nước Việt"
- Nhân dân là nguồn gốc của mọi sức mạnh.
+ Hồ Chí Minh khẳng định: “...Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân.
Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(1).
+ Đầu thế kỷ XX, nước ta đang dưới chế độ tàn bạo của thực dân Pháp, “hơn
hai mươi triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa”(2), Hồ Chí Minh chỉ ra: cách
mệnh thì sống, không cách mệnh thì chết...; “cách mệnh là việc chung cả dân
chúng chứ không phải việc một hai người”(2).
- Tập hợp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là nguyên nhân chính của mọi
thắng lợi của cách mạng.
+ Khi nói về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh nói: “Nhất là
vì lực lượng của cuộc toàn dân đoàn kết. Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa
phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo lá cờ Việt Minh để tranh lại quyền độc lập cho Tổ quốc.
Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó”(3).
+ Khi nói về công việc “Kháng chiến kiến quốc”, Người hỏi: Ai thực hiện
“Kháng chiến kiến quốc”? Và trả lời: “Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc,
lực lượng chính là ở dân”(4).
- Sức mạnh của dâ tộc được tập hợp trong mặt trận dân tộc thống nhất.
+ Về nguyên nhân thắng lợi của kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh viết:
“Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại
hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc”(5).
+ Năm 1955, Người viết: “.... với sự đoàn kết nhất trí của tất cả những người
xứng đáng là con Lạc cháu Hồng - Mặt trận nhất định sẽ thành công trong việc
đánh tan âm mưu của Mỹ và bè lũ tay sai của chúng và thực hiện hòa bình,
thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước Việt Nam yêu quý của chúng ta”(6).
- Trong thời đại mới, Hồ Chí Minh đặt sự đoàn kết toàn dân tộc trong mối
quan hệ với đoàn kết quốc tế.
Người đã đưa ra câu nói nổi tiếng:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công” (7)
Ba từ “đoàn kết” đó là sự thể hiện: đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong dân, đoàn kết quốc tế.
* Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của nhân dân, của khối
đại đoàn kết dân tộc.
- Truyền thống dân tộc.
+ Chủ nghĩa yêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, cố kết dân tộc, đoàn kết
dân tộc của dân tộc Việt Nam đã được hình thành và củng cố qua hàng ngàn
năm lịch sử..., tạo thành một truyền thống bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình
cảm, tâm hồn mỗi con người Việt Nam.
+ Truyền thống đó đã trở thành tình cảm tự nhiên, là triết lý nhân sinh, phép
ứng xử và tư duy chính trị, cấu trúc xã hội: nhà – làng - nước, thành phép đánh
giặc giữ nước: “trên dưới đồng lòng, cả nước chung sức”, “tướng sĩ một lòng
phụ tử”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”, “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”.
+ Hấp thụ truyền thống của dân tộc Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Từ xưa đế
nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy (yêu nước) lại sôi nổi, nó kết
thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn (đoàn kết), nó lướt qua mọi sự
nguy hiểu, khó khăn, nó nhất chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(8).
- Từ tổng kết những kinh nghiệm của phong trào cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh nhận thấy các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX đều thất bại do chưa có đường lối đúng, chưa tập hợp được quần chúng. Bởi
vậy, Hồ Chí Minh xác dịnh: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước
khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”(9).
- Nghiên cứu thực tiễn và kinh nghiệm của cách mạng thế giới.
+ Hồ Chí Minh nghiên cứu cách mạng tư sản, đặc biệt cách mạng Mỹ và cách
mạng Pháp; do tính chất không triệt để của nó mà gười cho rằng đó là các cuộc
cách mạng “không đến nơi”.
+ Nghiên cứu thực tiễn đấu tranh của các dân tộc thuộc địa cho tới lúc đó,
Người thấy rõ sức mạnh tiềm ẩn to lớn ở họ, và cả những hạn chế ở họ: chưa có
sự lãnh đạo đúng đắn, chưa biết đoàn kết, chưa có tổ chức và chưa biết tổ chức.
+ Nghiên cứu Cách mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh rút ra nhiều bài học,
đặc biệt là bài học về huy động, tập hợp lực lượng công nông giành và giữ chính
quyền cách mạng..., xây dựng chủ nghĩa xã hội.
+ Hồ Chí Minh cũng chú ý nghiên cứu cách mạng Trung Quốc, Ấn Độ, tìm
hiểu con đường giải phóng dân tộc của Tôn Dật Tiên, Găngđi... - Chủ nghĩa Mác - Lênin.
+ Hồ Chí Minh tiếp thu những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về
vai trò của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử; giai cấp vô sản
lãnh đạo cách mạng thắng lợi trước hết phải trở thành dân tộc; liên minh công
nông là cơ sở to lớn để xây dựng lực lượng cách mạng; đoàn kết dân tộc phải
gắn với đoàn kết quốc tế....
+ Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin từ yêu cầu của sự nghiệp giải
phóng dân tộc, chủ yếu qua hoạt động cách mạng thực tiễn. Nhờ vậy, Người đã
nắm được linh hồn của chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn
Việt Nam và trong thời đại mới để hình thành và hoàn chỉnh tư tưởng của Người
về sức mạnh của quần chúng nhân dân và đại đoàn kết dân tộc.
3. Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải thực sự đoàn kết trong Đảng.
- Thực hiện đồng bộ đoàn kết trong Đảng - Đoàn kết toàn dân - Đoàn kết quốc tế.
- Đoàn kết trong mọi chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước trên cơ sở
bảo vệ và tôn trọng lợi ích của mọi thành viên cộng đồng quốc gia, dân tộc, quốc tế.
Phải kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc.
Truyền thống này được hình thành, củng cố và phát triển trong suốt quá trình
dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc, trở thành giá trị bền vững,
thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của mỗi con người Việt Nam, được
lưu truyền qua các thế hệ từ thời các Vua Hùng dựng nước tới Bà Trưng, Bà
Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, QuangTrung... Truyền thống đó là cội nguồn sức
mạnh vô địch để cả dân tộc chiến đấu và chiến thắng mọi thiên tai địch họa, làm
cho đất nước được trường tồn, bản sắc dân tộc được giữ vững.
Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người. Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong
mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng đều có những ưu điểm, khuyết điểm, mặt
tốt, mặt xấu... Cho nên, vì lợi ích của cách mạng, cần phải có lòng khoan dung,
độ lượng, trân trọng cái phần thiện dù nhỏ nhất ở mỗi con người mới có thể tập
hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng. Người viết: "Sông to, biển rộng bao nhiêu
nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì
một chút nước đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ. Người mà tự kiêu, tự mãn,
cũng như cái chén, cái đĩa cạn". Người đã lấy hình tượng năm ngón tay có ngón
ngắn ngón dài, nhưng cả năm ngón cùng thuộc về một bàn tay, để nói lên sự cần
thiết phải thực hiện đại đoàn kết. Người cho rằng: "Trong mấy triệu người cũng
có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên
ta. Vậy nên phải khoan hồng, đại độ. Ta phải nhận ra rằng đã là con Lạc cháu
Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối
lầm đường, ta phải dùng tình nhân ái để cảm hóa họ. Có như thế mới thành đoàn
kết, có đại đoàn kết tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang".
4. Hình thức, nguyên tắc tổ chức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - Mặt
trận dân tộc thống nhất

+ Hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết dân tộc là Mặt trận dân tộc thống nhất:
- Theo Hồ Chí Minh , đại đoàn kết dân tộc không chỉ dừng lại ở quan niệm
những lời kêu gọi , những lời hiệu triệu mà phải trở thành một chiến lược cách
mạng, một khẩu hiệu hành động cho toàn Đảng , toàn dân , nó phải biến thành
sức mạnh vật chất,trở thành một lực lượng vật chất có tổ chức .
- Mặt trận dân tộc thống nhất là một tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của
nhân dân Việt Nam phấn đấu vì mục tiêu chung là độc lập dân tộc , thống nhất
của Tổ quốc , tự do và hạnh phúc của nhân dân
+ Một số nguyên tắc cơ bản về xây dựng và hoạt động của Mặt trận dân tộc thống nhất:
- Mặt trận phải được xấy dựng trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí
thức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Theo Hồ Chí Minh, lực lượng , thành phần tham gia rất phong phú , đa dạng ,
rộng rãi nhưng phải xác định rõ lực lượng nòng cốt , nền tảng . Lực lượng đó là
liên minh công – nông – lao động trí óc , dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản .
Trên cơ sở khối liên minh này mà mở rộng Mặt trận thực sự quy tụ được cả dân
tộc , tập hợp được toàn dân , kết thành một khối vững chắc.
Trong Mặt trận, Đảng Cộng sản là một thành viên và là lực lượng lãnh đạo
Mặt trận .Hồ Chí Minh cho rằng , quyền lãnh đạo Mặt trận không phải do Đảng
tự phong cho mình mà phải được nhân dân thừa nhận qua năng lực thực tế và uy
tín của Đảng Đảng lãnh đạo Mặt trận bằng việc xác định chính sách Mặt trận
đúng đắn , phù hợp với từng thời kỳ , giai đoạn cách mạng. Đảng phải dùng
phương pháp vận động , giáo dục , thuyết phục , nêu gương tranh gò ép , quan
liêu mệnh lệnh trong lãnh đạo Mặt trận . Đặc biệt , Đảng phải thật sự tiêu biểu ,
mẫu mực cho sự đoàn kết , làm cơ sở vững chắc để xây dựng sự đoàn kết trong Mặt trận.
- Mặt trận dân tộc thống nhất phải hoạt động trên cơ sở bảo đảm lợi ích tối đa
của dân tộc , quyền lợi cơ bản của các tầng lớp nhân dân .
Độc lập, tự do là nguyên tắc bất di, bất dịch, là ngọn cờ đoàn kết, quy tụ các
giai cấp, tầng lớp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo vào trong mặt trận
- Mặt trận thống nhất phải hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ ,
bảo đảm đoàn kết ngày càng rộng rãi và bền vững
Theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ , mọi việc của Mặt trận đều do bàn bạc
thống nhất quyết định một cách thật sự dân chủ. Khi có những lợi ích riêng
không phù hợp , Mặt trận theo phương châm ” cầu đồng tồn dị “ lấy cái chung
và đặt lợi ích tối đa của dân tộc lên trên hết và lấy lợi ích căn bản của tầng lớp
nhân dân để hạn chế cái khác biệt thông qua bàn bạc để đi đến nhất trí.
- Mặt trận thống nhất là khối đại đoàn kết chặt chẽ, lâu dài , đoàn kết thật sự ,
chân thành , chân ái giúp đỡ cùng nhau tiến bộ.
Đoàn kết trong Mặt trận không phải trong thời gian nhất định mà phải lâu dài
và chặt chẽ . Hồ Chí Minh đã nhiều lần giúp đỡ mặt trận phải đòn kết chặt chẽ
thành một khối vững chắc , thống nhất sự đa dạng , phong phú rộng rãi của các
lực lượng , thành phần.
Hồ Chí Minh đòi hỏi sự đoàn kết thực sự, có hiệu quả , không phải đoàn kết
ngoài miệng , mà đoàn kết bằng việc làm , đoàn kết bằng việc làm , đoàn kết
bằng tinh thần . Người giải thích : đoàn kết thật sự nghĩa là mục đích phải nhất
trí và lập trường cũng phải nhất trí , vừa đoàn kết vừa đấu tranh , học những cái
tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái
, vì nước , vì dân . Người thường xuyên căn dặn phải khắc phục tình trạng đoàn
kết xuôi chiều , không có đấu tranh trông nội bộ Mặt trận.
Liên hệ thực tiễn cơ quan đơn vị, trách nhiệm bản thân trong xây dựng đại đoàn kết dân tộc
Liên hệ đại đoàn kết trong cơ quan, đơn vị:
Tinh thần đoàn kết được ông bà ta lưu truyền lại qua lời dạy của câu ca dao
“Một cây làm chẳn nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” .Và Chủ tịch Hồ
Chí Minh từng nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công,
đại thành công”. Tư tưởng đoàn kết xuyên suốt toàn bộ di chúc và cả cuộc đời
hoạt động cách mạng của Người. Khắc ghi lời Bác Hồ dạy suốt chặng đường
xây dựng và trưởng thành, Chi bộ, Ban Giám đốc cùng toàn thể cán bộ .....luôn
cố gắng xây dựng tập thể trở thành một khối đoàn kết, toàn tâm, toàn ý với công
việc, góp phần vào sự phát triển chung.
1. Trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải có lập trường tư tưởng vững vàng, xác
định phấn đấu vì một mục tiêu chung - đó là hiệu quả công việc. Có như vậy thì
thi đua sẽ không trở thành ganh đua, gây mất đoàn kết. Khi đã có chung một lý
tưởng thì mọi người sẽ chung sức, chung lòng và thân ái với nhau hơn.
2. Tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, dìu dắt nhau cùng tiến bộ. Tuy nhiên, đoàn kết
không có nghĩa là im lặng, làm ngơ, là bao che cho những khuyết điểm của đồng
chí, đồng nghiệp mà mỗi cá nhân luôn nêu cao tinh thần phê và tự phê. Dám
nhận ra những thiếu sót của chính bản thân, của đồng chí, đồng nghiệp và thẳng
thắn góp ý xây dựng, cùng chia sẻ và tiếp thu những cái hay, cái tốt để phát triển
bản thân và tổ chức. Phê và tự phê để loại bỏ dần những yếu điểm, hạn chế, giúp
nhau cùng tiến bộ. Tuy nhiên việc góp ý kiến cần phải chân thành, đúng lúc, đúng nơi.
3. Mỗi cán bộ, đảng viên phải biết đặt lợi ích chung của tập thể, của cơ quan
lên trên lợi ích cá nhân, biết vì mục tiêu chung mà phấn đấu, biết nhìn nhận cái
đúng cái sai, biết lắng nghe để tự sửa chữa, biết góp ý chân tình cho đồng
nghiệp. Đó là cơ sở để xây dựng khối đoàn kết nội bộ ngày càng vững chắc hơn.
4. Chi bộ, Ban Giám đốc, các đồng chí Trưởng phòng có vai trò rất lớn trong
việc xây dựng mối đoàn kết nội bộ. Đó là sự gần gũi, cảm thông, là sự góp ý
chân thành, cởi mở, không mang tính áp đặt trên-dưới. Các đồng chí làm công
tác quản lý cần biết nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên. Khi
phân công công việc hay giải quyết những thắc mắc tránh việc gây ra ức chế đối
với cán bộ, đảng viên. Sự thoải mái trong tư tưởng sẽ khiến con người ta nhiệt
tình và yêu mến công việc hơn.
5. Một vấn đề hết sức quan trọng trong việc xây dựng mối đoàn kết nội bộ là
phát huy tinh thần dân chủ, tạo sự công bằng, công khai trong đơn vị.
5. Phương thức xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện nhất
quán từ lý luận đến thực tiễn. Đại đoàn kết là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng
đầu của cách mạng. Nhiệm vụ ấy được quán triệt trong mọi đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, thể hiện trong lời phát biểu của Bác khi ra mắt
Đảng Lao động Việt Nam ngày 03-3-1951, Bác đã tuyên bố trước toàn thể dân
tộc: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn
kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc ”. Trong bối cảnh đất nước đang đứng trước
nhiều cơ hội và thách thức lớn của quá trình hội nhập ngày một sâu rộng, thì
việc tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng mang tính
thời sự và có ý nghĩa hết sức quan trọng. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc là nội dung mang tính chiến lược trong tư tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam.
Người nhận thức sâu sắc rằng, đoàn kết không chỉ tạo nên sức mạnh mà còn là
vấn đề có ý nghĩa quyết định tới việc sống còn, thành bại, được mất trong cuộc
đấu tranh chống kẻ thù. Đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đại
đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất
nước, đoàn kết mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống
trong nước hay định cư ở nước ngoài thành một khối vững chắc trên cơ sở thống
nhất về mục tiêu chung và những lợi ích căn bản.
Với chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở thống nhất lợi ích quốc gia
dân tộc với quyền lợi cơ bản của các giai tầng; nòng cốt khối đại đoàn kết toàn
dân tộc là liên minh công - nông - trí dưới sự lãnh đạo của Đảng, Người chỉ rõ,
cần giải quyết hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn
giáo, dân cư ở các vùng miền khác nhau. Phát huy mặt tương đồng, hóa giải
điểm khác biệt. Mẫu số chung để đại đoàn kết toàn dân tộc là: Hòa bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ, tự do, giàu mạnh: “Toàn dân đoàn kết nhất trí thì chúng
ta nhất định xây dựng được nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân
chủ, tự do, giàu mạnh”.
Để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Người cho rằng, trước hết,
cần tuyên truyền, vận động nhân dân. Thứ hai, phải chăm lo xây dựng Đảng và
hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Về Nhà nước, Đảng phải làm cho Nhà
nước thật sự là của dân, do dân, vì dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính
trị - xã hội là cầu nối gắn kết Đảng, Nhà nước với nhân dân. Coi đoàn kết là lẽ
sống, đạo lý của Đảng, của dân tộc ta trong dựng nước và giữ nước, mỗi cán bộ,
đảng viên phải coi đoàn kết là một đức tính cơ bản của người cách mạng. Ai
không có khả năng tập hợp, đoàn kết quần chúng và các đồng chí của mình thì
không thể làm cách mạng, không thể làm cán bộ. Người căn dặn: “Các đồng chí
từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như
giữ gìn con ngươi của mắt mình”.
Nguyên tắc của đại đoàn kết toàn dân tộc, trước hết là tin vào dân, dựa vào dân
vì lợi ích của dân để đoàn kết toàn dân, phát động các phong trào thi đua yêu
nước trong lao động, học tập, sản xuất và chiến đấu. Thứ hai, đoàn kết lâu dài,
rộng rãi, chặt chẽ, tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo. Thứ ba, đoàn kết trên cơ sở
hiệp thương, dân chủ, chân thành, thẳng thắn, thân ái; đoàn kết gắn với đấu
tranh, tự phê bình và phê bình. Thứ tư, đoàn kết trên cơ sở kế thừa truyền thống
yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc. Phải có lòng khoan dung, độ
lượng với con người, trân trọng “phần thiện”, dù nhỏ nhất ở mỗi con người để
tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng.
Song song với viê †c xây những đức tính tốt để đoàn kết toàn Đảng, toàn dân,
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, phải chống những cái xấu, những căn bệnh
gây chia rẽ, mất đoàn kết. Phải chống bê †nh hẹp hòi, phải chống chủ nghĩa cá
nhân. Do chủ nghĩa cá nhân mà cán bộ, đảng viên sa vào tham ô, hủ hóa, lãng
phí, xa hoa; tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành; tự cao tự đại, coi
thường tập thể, xem khinh quần chúng, xa rời thực tế, quan liêu, mệnh lệnh, độc đoán, chuyên quyền.
Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời kiên tâm thực hiện đại đoàn kết. Bản thân
Người cũng chính là hình ảnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo Bác, để thực hiện
đại đoàn kết toàn dân tộc, thì toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên cần có
phong cách lãnh đạo: “Kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm
tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân”.
Quán triệt sâu sắc, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về
đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta khẳng định: Đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam
là sự liên kết, gắn bó tất cả các thành viên các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng
lớp, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và người
ngoài Đảng, người đang công tác, người đã nghỉ hưu và mọi thành viên trong
đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài thành một
khối vững chắc, ổn định, lâu dài nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân
tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong khối
đại đoàn kết đó, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức là lực
lượng nòng cốt, đông đảo nhất, đồng thời là cơ sở vững chắc của khối đại đoàn
kết toàn dân tộc. Thông qua khối liên minh này, Đảng, Nhà nước có thể tập hợp,
vận động các tầng lớp nhân dân lao động khác tham gia quản lý nhà nước, làm
chủ xã hội, làm cho lợi ích giai cấp gắn chặt với lợi ích dân tộc, tạo đồng thuận
cao trong xã hội. Vì vậy, Đảng ta chỉ rõ: “Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên
nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức
dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là
nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm
thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Hiện nay, trước
yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, Đảng ta tiếp tục khẳng
định đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng. Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát
triển năm 2011) đã đúc kết một trong những bài học lớn của cách mạng Việt
Nam là: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn
kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và
là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta”.
Đại hội XII của Đảng đánh giá: Khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được
mở rộng, củng cố và tăng cường trong bối cảnh đất nước có nhiều khó khăn,
thách thức. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân đã đổi mới cả
về nội dung và phương thức hoạt động; phát huy ngày càng tốt hơn vai trò tập
hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; cùng Đảng, Nhà nước chăm lo,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tham gia xây dựng
Đảng, quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Thường xuyên tổ chức các cuộc vận
động, phong trào thi đua yêu nước, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước.
Để đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng thật sự là nguồn sức
mạnh, là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm thắng
lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Để tăng cường củng
cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay, cần thực hiện một số
nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như sau:
Một là, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền để các cấp, ngành, lực lượng nhận thức
sâu sắc về sự cần thiết phải tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, người đứng đầu và cả hệ
thống chính trị trong lãnh đạo, củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.
Các cấp ủy đảng và người đứng đầu thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp
với nhân dân, lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân. Cần thực hiện triệt để
Quy định số 101-QĐi/TW của Ban Bí thư khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương
của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số
08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Trách nhiệm
nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên
Ban Bí thư, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương”. Cán bộ, đảng viên phải xung
phong, gương mẫu học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh, nhất là về đoàn kết và xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững
mạnh để nhân dân học và làm theo.
Hai là, giải quyết tốt quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội; kết
hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và toàn xã hội. Tăng cường bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, ở
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng căn cứ kháng chiến cũ, các vùng
chiến lược, vùng tôn giáo. Trân trọng, tôn vinh những đóng góp, cống hiến của
nhân dân; có cơ chế, chính sách đặc biệt để thu hút nhân tài của đất nước.
Ba là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đa dạng
hóa các hình thức tập hợp nhân dân và tập trung hướng mạnh các hoạt động về
cơ sở. Tăng cường công tác dân vận của chính quyền các cấp. Tích cực phối hợp
giữa chính quyền các cấp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính
trị - xã hội làm công tác dân vận.
Bốn là, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, phá hoại,
chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp và các tổ chức thành viên cần tham gia tuyên truyền sâu rộng để mọi tầng
lớp nhân dân nhận thức rõ âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch đang lợi
dụng những khuyết điểm, hạn chế, sơ hở của các cấp chính quyền, của Đảng,
Nhà nước và vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết
toàn dân tộc. Từ đó, tạo sự chuyển biến căn bản trong nhận thức, nâng cao tinh
thần cảnh giác, sự nhạy bén trong nhận diện và tích cực tham gia đấu tranh với
những quan điểm sai trái, thù địch.
Thực hiện tốt các giải pháp trên sẽ góp phần tăng cường sức mạnh khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh,
đảm bảo thế và lực cho đất nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
II. Củng cố, phát huy tinh thần đoàn kết trong sinh viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
1. Đánh giá khái quát thực trạng tinh thần đoàn kết trong sinh viên hiện nay
Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của cả dân tộc
và của cách mạng Việt Nam.
- Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân dựa trên nền tảng của khối liên
minh công nhân, nông dân, 2 trí thức theo tiêu chí: không phân biệt dân tộc đa
số hay thiểu số, người tín ngưỡng với người không tín ngưỡng, không phân biệt
già, trẻ , gái, trai, giàu, nghèo; cứ ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ
quốc và phụng sự nhân dân thì ta đoàn kết với họ. - Đại đoàn kết dân tộc phải
biến thành sức mạnh vật chất có tổ chức là Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự
lãnh đạo của Đảng và Mặt trận dân tộc thống nhất phải hoạt động theo nguyên
tắc hiệp thương, dân chủ lấy việc thống nhất lợi ích của các tầng lớp nhân dân
làm cơ sở để củng cố và không ngừng mở rộng. Thực hiện đoàn kết lâu dài, chặt
chẽ, đoàn kết thực sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ với phương
châm lấy cái chung, đề cao cái chung, để hạn chế cái riêng, cái khác biệt.
- Đại đoàn kết dân tộc được hình thành một cách tự giác, trên tinh thần vừa
chân thành, thân ái, vừa thẳng thắn đấu tranh tự phê bình, phê bình. Dựa vào
những ý trên ta có thể thấy việc sinh viên có trách nhiệm trong việc củng cố và
góp phần khối đại đoàn kết dân tộc là việc ý nghĩa hết sức to lớn trong công
cuộc xây dựng đất nước. Đây cũng được coi là tư tưởng cơ bản trong việc chiến
đấu, chống giặc ngoại xâm, hình thành sức mạnh vững chắc, là một vấn đề sống của cách mạng.
Hiện nay nhiều trường Đại học đã và đang áp dụng tư tưởng Đoàn kết trong
công tác giảng dạy để góp phần thúc đẩy sinh viên đoàn kết và góp phần xây
dựng đất nước lớn mạnh. Đoàn kết là vấn đề có tính chiến lược, quyết định mọi
thành công. Đây cũng chính là bài học sâu sắc mà thực tiễn của nhiều trường
Đại học trong nước. Đa phần sinh viên hiện nay đểu phát huy được tinh thần
đoàn kết dân tộc qua nhiều mặt trận, góp phần đóng góp và giúp đỡ đất nước.
Gần đây nhất là nhiều sinh viên đã tham gia các công tác tình nguyện giúp đỡ
nhân dân và đặc biệt không thể không nói đến sự giúp đỡ của các sinh viên trong
công tác phòng chống dịch COVID-19 năm vừa qua. Sinh viên cả nước đã thể
hiện được tinh thần đoàn kết và đại đoàn kết dân tộc trong năm vừa rồi cũng
như thời điểm hiện tại. Không ngại gian khổ ra sức góp phần giúp đỡ dân tộc đất
nước khi gặp khó khan thể hiện được tinh thần đoàn kết cao cả của dân tộc.
Ngoài những việc nêu trên, sinh viên còn ra sức tham gia các công tác tình
nguyện ở trường như giúp đỡ các em nhỏ vùng sâu vùng xa các em nhỏ có hoàn
cảnh khó khan trong sinh hoạt cũng như học tập, những lần hiến máu nhân đạo
và tình nguyện giúp đỡ thành phố v.v... Những lần tham gia tình nguyện này góp
phần giúp cho các sinh viên có tinh thần đoàn kết và gắn bó với nhau hơn, thúc
đẩy tinh thần đoàn kết trong sinh viên ngày càng vững mạnh hơn. Tuy nhiên
cũng còn những mặt hạn chế trong tinh thần đoàn kết của sinh viên hiện nay.
Các sinh viên tham gia tình nguyện cũng như các hoạt động do trường tổ chức
chỉ chiếm số ít, việc không tham gia những hoạt động sinh hoạt tập thúc đầy tinh
thần đoàn kết do trường tổ chức cũng là nguyên nhân dẫn đến các sinh viên gặp
khó khan trong việc giao tiếp kết làm cho tính đoàn kết yếu đi. Bên cạnh đó còn
có một số ít sinh viên trì trệ trong việc học và còn chưa xác định được định
hướng tương lai nghề nghiệp. Không có tinh thần góp sức cống hiến cho tổ chức
cững như nơi làm việc và học tập hiện tại của minh, thiếu tinh thần tự phê bình
và phê bình bản than. Tuy những điều trên chỉ là số ít trong các môi trường đại
học nhưng nó cũng đã góp phần làm cho tinh thần dân tộc suy giảm, càng để lâu
càng gây ra them nhiều thiệt hại và làm ảnh hưởng đến bản sắc dân tộc.
Để khắc phục những điều trên nhà trường cũng như sinh viên cần phải đưa ra
giải pháp phù hợp và nêu ra rõ trách nhiệm của sinh viên cũng như bản than để
góp phần thúc đẩy và nâng cao tinh thần đoàn kết đại đoàn kết.
2. Một số giải pháp nhằm củng cố, tăng cường tinh thần đoàn kết trong sinh
viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Ngày xưa Bác Hồ đã nêu lên tầm quan trọng của khẩu hiệu “ đoàn kết- đoàn
kết- đại đoàn kết” , và nó đã trở thành một đức tinh quý báo của dân tộc. Là
người con của dân tộc nói chung và là một người sinh viên nói riêng , để nâng
cao tinh thần đoàn kết trong sinh viên, ta phải:
+ Thường xuyên tổ chức các sự kiện để sinh viên tham gia nhầm giúp sinh
viên có thể liên kết với nhau hơn.
+ Xây dựng tính đoàn kết ngay chính trong lớp học của mỗi sinh viên.
+ Tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền về vai trò của đoàn kết trong cuộc sống.
+ Tích cực tham gia các câu lạc bộ để có thể gắn chặt tình đoàn kết giữa sinh
viên chung ngành hoặc chung trường.
+ Tăng cường sự lãnh đạo của cán sự , quản lý của Nhà trường và tiếp tục
thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc.
+ Giải quyết tốt quan hệ lợi ích giữa sinh viên các ngành , các khóa, cũng như
các trường với nhau ; kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và toàn xã hội.
+ Kiên quyết lên án đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, phá hoại,
chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Kết luận:
Như vậy, trong tư tưởng của Người, để không ngừng củng cố và tăng cường
khối đại đoàn kết dân tộc thì công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động quần
chúng có một vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng. Điều cần lưu ý phải luôn có một
nội dung và hình thức tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng, từng giai đoạn
cách mạng cụ thể và đặc biệt coi trọng giáo dục tinh thần đoàn kết giữa các dân
tộc, các tôn giáo trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Xóa bỏ mặc cảm, định kiến và bệnh hẹp hòi trên tinh thần độ lượng, khoan dung
là phương thức quan trọng để xây dựng đại đoàn kết dân tộc. Bởi vậy, những tàn
tích của những định kiến quá khứ do đế quốc, phong kiến để lại còn đè nặng lên
tư tưởng và tình cảm của quần chúng nhân dân. Muốn xây dựng khối đại đoàn
kết, muốn tập hợp, động viên và phát huy sức mạnh của tất cả các lực lượng,
theo Hồ Chí Minh tất yếu phải san bằng những hố sâu ngăn cách đó: “Cần phải
xóa bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ lẫn nhau
cùng tiến bộ, để cùng phục vụ nhân dân”
Muốn xóa bỏ được những thành kiến, theo Người, phải có một lòng bao dung,
biết nâng niu, trân trọng và khuyến khích mặt tốt, mặt thiện trong mỗi con người
để khơi dậy phần tốt được nảy nở như hoa mùa xuân, và phần xấu bị héo mòn đi
để họ trở về với cộng đồng dân tộc.Trong nhận thức của Người, có tấm lòng độ
lượng sẽ có được sự cảm hóa sâu sắc: “Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước
cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một
chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng của nó hẹp nhỏ...” Như vậy, có thể khẳng
định, mọi tư tưởng, mọi sự sáng tạo của Hồ Chí Minh đều xuất phát từ lòng yêu
thương, kính trọng và tin tưởng ở con người, tin tưởng ở nhân dân. Người từng
nói rằng đã là người Việt Nam thì ai cũng có ít nhiều lòng yêu nước. Với tấm
lòng nhân ái bao la, lòng tin vô hạn đối với nhân dân, dân tộc, Người đã giành
trọn tình yêu thương và sự tin tưởng vào khả năng tiến bộ của con người, biết
khơi dậy trong họ những khả năng tiềm tàng, thức tỉnh và giáo dục họ đứng lên
đấu tranh cho sự nghiệp chính nghĩa của quốc gia dân tộc.
Trên thực tế, quan điểm khoan dung, độ lượng và niềm tin vào nhân tính con
người đã giúp Hồ Chí Minh: “Đoàn kết tất cả những người thật sự yêu Tổ quốc,
yêu hòa bình, không phân biệt họ thuộc đảng phái nào, tôn giáo nào, tầng lớp
nào và quá khứ họ đã hợp tác với phe nào. Quán triệt sâu sắc, vận dụng và phát
triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta khẳng
định: Đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam là sự liên kết, gắn bó tất cả các
thành viên các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi
vùng của đất nước, người trong Đảng và người ngoài Đảng, người đang công
tác, người đã nghỉ hưu và mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù
sống trong nước hay ở nước ngoài thành một khối vững chắc, ổn định, lâu dài
nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong khối đại đoàn kết đó, giai cấp công
nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức là lực lượng nòng cốt, đông đảo
nhất, đồng thời là cơ sở vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy,
Đảng ta chỉ rõ: “Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng,
là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực
chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Hiện nay, trước yêu cầu của sự nghiệp
cách mạng trong giai đoạn mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định đại đoàn kết toàn
dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng . Từ đó ta đúc kết được bài học lớn
của cách mạng Việt Nam là: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn
kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là
truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta”
Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay việc phát huy tinh thần
đại đoàn kết dân tộc càng cần được phát huy. Do đó mỗi cá nhân cần quán triệt
tư tưởng sâu sắc trong việc đấu tranh với bản thân để noi theo tấm gương vĩ đại của Hồ Chí Minh.
Chúng ta phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác, chống những luận điệu xuyên
tạc về Đảng, về Chủ tịc Hồ Chí Minh, không ngừng nâng cao trình độ để thích
ứng với điều kiện xã hội mới, áp dụng triệt để và linh hoạt các nguyên tắc của
Người tùy theo vị trí của mình như tập trung dân chủ, kỷ luật nghiêm minh, tự
giác trong công việc cũng như trong cuộc sống cộng đồng.
Đẩy mạnh việc tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao chuyên môn của bản thân,
tuyên truyền về đường lối chính sách của Đảng pháp luật của nhà nước. Chống
các biểu hiện suy thoái về phẩm chất đạo đức, luôn tu dưỡng phẩm chất đạo đức.
Mỗi cá nhân cần có ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức: Cần gương mẫu rèn
luyện phẩm chất tư cách, làm tròn những nhiệm vụ được Đảng và chính quyền
giao phó. Có lối sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hòa nhã với mọi
người. Luôn tự rèn luyện và trau dồi phẩm chất đạo đức, lối sống.
Thẳng thắn, trung thực bảo vệ công lý, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng,
bảo vệ người tốt, chân thành, khiêm tốn, không bao che khuyết điểm, Luôn có ý
thức giữ gìn đoàn kết trong tập thể, trong cơ quan đơn vị.
Bản thân cần tự đặt mình trong tổ chức, trong tập thể, phải tôn trọng nguyên tắc,
pháp luật, không chia bè kéo cánh để làm rối loạn gây mất đoàn kết nội bộ.
Cần có ý thức coi trọng việc tự phê bình và phê bình; phê phán những biểu hiện
xuất phát từ những động cơ cá nhân; động viên người thân trong gia đình giữ gìn
đạo đức lối sống, thực hiện xây dựng gia đình văn hóa.
Để phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc hiện nay mỗi cá nhân không chỉ cần rèn
luyện, tu dưỡng đạo đức mà còn cần phải không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn.
Tài liệu tham khảo:
Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, do Bộ giáo dục và đào tạo chỉ đạo biên soạn , tái bản năm 2017
Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, ST HỌ VÀ TÊN Mã SV NỘI DUNG PHÂN TÍCH % T 1 Nguyễn Hồng Pháp 5973 Làm Word-chỉnh sửa 100 % 2 Võ Viết Dũng 2530 Mở Đầu 100 % 3 Tôn Nữ Ngọc Trang 2311 Phần 1 ( mục 1) 100 % 4 Lê Thị Thanh Lài 7295 Phần 1 ( mục 2) 100 % 5 Võ Thị Thanh Nga 3739 Phần 1 ( mục 3 ) 100 % 6 Phan Thị Anh Thơ 5144 Phần 1 ( mục 4 ) 100 % 7 Đoàn Nguyễn Nữ 7017 Phần 1 ( mục 5) 100% Sinh 8 Đặng Minh Quang 1233 Phần 2 ( mục 1) 100% 9 Lê Thị Như Ý 6927 Phần 2 ( mục 2 ) 100% 10 Trương Hải Thảo 1536 Kết Luận 100%