

















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
KHOA SƯ PHẠM KHOA HỌC XÃ HỘI TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
MÃ HỌC PHẦN: GE4056
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA SINH
VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Họ và tên học viên: Mã số học viên: Lớp: Nhóm HP: Giảng viên hướng dẫn: Đồng Tháp, 2023 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
1. Lý do lựa chọn dề tài .......................................................................................................... 1
2. Mục đích và đối tượng nghiên cứu của đề tài ..................................................................... 1
3. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................................ 2
4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................................... 2
5. Ý nghĩa của đề tài ............................................................................................................... 2
NỘI DUNG ..................................................................................................................... 2
CHƯƠNG I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC ............................................. 2
1.1 QUAN ĐIỂM VỀ VAI TRÒ VÀ SỨC MẠNH CỦA DÂN TỘC ............................... 2
1.1.1 Đạo đức là gốc, là nền tảng tinh thần của xã hội, của người cách mạng ............... 2
1.1.2 Đạo đức là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của chủ nghia xã hội ............................... 4
1.2 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NHỮNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁC
MẠNG ................................................................................................................................ 4
1.2.1 Trung với nước, hiếu với dân ................................................................................. 4
1.2.2 Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư .................................................................. 5
1.2.3 Thương yêu con người, sống có tình có nghĩa ....................................................... 6
1.2.4 Tinh thần quốc tế trong sáng .................................................................................. 7
1.3 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NHỮNG NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG
ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG ................................................................................................. 8
1.3.1 Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức ............................................................. 8
1.3.2 Xây đi đôi với chống.............................................................................................. 9
1.3.3 Tu dưỡng đạo đức suốt đời .................................................................................. 10
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐƯC CHO SINH
VIÊN TRONG GIAI DOẠN HIỆN NAY ......................................................................... 10
2.1 VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN, HỌC SINH, SINH VIÊN ....................................... 10
2.2 THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG TRONG SINH VIÊN HIỆN NAY ........... 11
2.2.1 Tích cực ............................................................................................................... 11
2.2.2 Tiêu cực ............................................................................................................... 12
2.2.3 Nguyên nhân của những biểu hiện tiêu cực ......................................................... 12
2.3 BIỆN PHÁP XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG MỚI CỦA HỌC SINH, SINH
VIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .................................................................................... 13
2.3.1 Đối với xã hội, các ban ngành, đoàn thể, nhà trường .......................................... 13
2.3.2 Đối với chính bản thân học sinh, sinh viên .......................................................... 14
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 15 LỜI CẢM ƠN
Nếu để bản thân em tự xoay sở, chắc chắn em sẽ không thể hoàn thành bài tiểu luận
với đề tài mới mẻ như vậy. Vì vậy, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến tất cả
những người âm thầm hỗ trợ để em có thể hoàn thành nhiệm vụ:
Ban giám hiệu trường Đại học Đồng Tháp đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất với hệ
thống thư viện hiện đại, đa dạng các loại sách, tài liệu thuận lợi cho việc tìm kiếm, nghiên cứu thông tin.
Xin cảm ơn giảng viên bộ môn – Cô ... đã giảng dạy tận tình, chi tiết để em có đủ kiến
thức và vận dụng một cách linh hoạt vào bài tiểu luận. Trong quá trình học tập mặc dù
lúc đầu chúng em và cô học trực tiếp và lúc sau phải học trực tuyến nhưng cô vẫn
không ngần ngại chỉ dẫn, trau dồi kinh nghiệm, giúp chúng em có kiên thức để phục
vụ cho việc học tập và có một hành trang vững chắc để vững bước trong con đường học tập.
Do chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế nên rất khó tránh khỏi các sai sót trong quá
trình thực hiện tiểu luận. Rất mong nhận được sự đánh giá, góp ý từ các thầy cô để em
hoàn thiện tiểu luận và nâng cao vốn kiến thức.
Lời cuối cùng, em xin kính chúc quý Thầy (Cô) nhiều sức khỏe, đạt nhiều thành công và hạnh phúc MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn dề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta một tài sản tinh thần rất vô giá đó là
tư tưởng của Người. Trong đó, nổi bật nhất chính là tư tưởng đạo đức. Trong cuộc
sống hoạt động cách mạng của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề
xây dựng đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc, là nền tảng tinh thần của xã hội,
của người cách mạng . Bác nói rất nhiều về đạo đức cúng như xây dựng con người
trong thời chiến tranh và cũng như trong thời bình theo nhiều cách khác nhau. Hồ Chí
Minh là người Việt Nam đẹp nhất là tiêu biểu cho phẩm chất đạo đức, khí phách của
dân tộc ta và Đảng ta. Những hành động, cử chỉ của Người, những lời nói đã để lại rất
nhiều bài học quý báu để chúng ta có thể học hỏi từ Người.
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm
đến giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, sinh viên và người dân. Thời
gian gần đây, Đảng ta đang đẩy mạnh cuộc vận động: “Học và làm theo lời Bác” và đã
có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có học sinh, sinh viên.
Vận dụng những tư tưởng của Người về đạo đức để xây dựng một nền đạo đức, lối
sống mới là một quan điểm hết sức đúng đắn. Việc chọn đề tài và nghiên cứu về vấn
đề: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức. Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo
đức của sinh viên trong giai đoạn hiện nay” là một việc hết sức cần thiết và quan trọng.
Đó chính là lý do em chọn đề tài này. Qua đề tài này ta có thể hiểu rõ hơn về quan
điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và tận dụng được tư tưởng Hồ Chí Minh về
đạo đức của sinh viên trong giai đoạn hiện nay, từ đó ta có thể học hỏi, tiếp thu, vận
dụng những bài học, những kinh nghiệm đáng giá.
2. Mục đích và đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Mục đích nghiên cứu: Hiểu rõ được tầm quan trọng của vị trí và đặc biệt là tư
tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức. Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của
sinh viên trong giai đoạn hiện nay. Sự hoàn thiện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng
viên có ảnh hưởng sâu sắc đến giá trị đạo đức của sinh viên, người dân và toàn xã hội.
Thông qua đó, chúng ta là sinh viên và các thế hệ trẻ sau này có thể liên hệ bản thân 1
học tập, làm theo tấm gượng đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rèn luyện và tu
dưỡng đạo đức, nâng cao tinh thần, phấn đầu trở thành một công dân tốt để có thể
cống hiến hết mình cho đất nước.
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức. Sự tận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh của sinh viên trong giai doạn hiện nay
3. Phạm vi nghiên cứu
Toàn bộ những nội dung cơ bản và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.
Tận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của sinh viên.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dựng các phương pháp: so sánh, phân tích –
tổng hợp, logic – lịch sử, khai quát hóa và các phương pháp khác.
5. Ý nghĩa của đề tài
Làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá
trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển
biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh
niên, học sinh… nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;
đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội và tận
dụng được tư tưởng Hồ Chí Minh đối vơi những thế hệ trẻ, những học sinh, sinh viên
trong giai đoạn hiện nay. NỘI DUNG
CHƯƠNG I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
1.1 QUAN ĐIỂM VỀ VAI TRÒ VÀ SỨC MẠNH CỦA DÂN TỘC
1.1.1 Đạo đức là gốc, là nền tảng tinh thần của xã hội, của người cách mạng
Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng, lãnh tụ cách mạng thế giới bàn
nhiều về vấn đề đạo đức và giáo dục, thực hành đạo đức. Khi đánh giá vai trò của đạo
đức trong đời sống, từ rấ sớm, Hố Chí Minh đã nêu rõ: đạo đức là nguồn nuôi dưỡng
và phát triển của con người. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định đạo đức là gốc, là nền 2
tảng, là sức mạnh, là tiêu chuẩn hàng đầu của người cách mạng. Người coi đạo đức rất
quan trọng như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông, suối. Trong tác phẩm Sửa đổi
lối làm việc (1947), Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có
nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải
có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.
Vì muốn giải phóng dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự
mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi
việc gì?”. Trong tác phẩm Đạo đức cách mạng (1958), Hồ Chí Minh viết: “Làm cách
mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó
cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ.
Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức
cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang”.
Người chỉ rõ cán bộ, đảng viên muốn cho dân tin, dân phục, thì cần nhớ rằng:
“Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên tráng chữ “cộng sản” mà ta được họ
yêu mến nhứng người có tư cách đạo đức. Người viết: “Vì muốn giải phóng cho dân
tộc, cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có
căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là chỗ dựa giúp con người vững vàng trong
mọi thử thách. “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khắn, gian khổ, thất bại, cũng
không sợ sệt, rụt rè, lùi bước,..., khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh
thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn”.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Người lại trăn trở vói nguy cơ xa rời cuộc sống,
xa rời quần chúng, rơi vào thái hóa biến chất của Đảng. Thế nên, Hồ Chí Minh thường
nhắc lại tinh thần của V.I. Lênin: Đảng Cộng sản phát tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự,
lương tâm của dân tộc và thời đại. Trong Di chúc, Người viết: “Đảng ta là một Đảng
cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật
sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải
xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. 3
Hồ Chí minh thường khuyên: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức.
Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất quan trọng. Nếu không có đạo đức cách
mạng thì có tài cũng vô dụng”.
Vai trò của đạo đức còn thể hiện là thước đo lòng cao thượng của con người. Thực
hành tốt đạo đức cá nhân không chỉ có tác dụng tôn vinh nnaang cao giá trị của mình
mà còn tạo ra sức mạnh nội sinh giúp ta vượt qua mọi thử thách.
Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến việc giáo dục toàn diện cho các em học sinh,
sinh viên cả “Đức, Trí, Thể, Mỹ”. Trong đó, đức là gốc, là trước hết; tài là cực kỳ quan
trọng, không có tài thì không xây dựng, phát triển được đất nước.
1.1.2 Đạo đức là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của chủ nghia xã hội
Theo Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội chưa phải là ở một lý tưởng
cao xa, ở mức sống vật chất dồi dào, ở tư tưởng được tự do giải phóng mà trước hết ở
những giá trị đạo đức cao đẹp, ở phẩm chất của những người cộng sản ưu tú, bằng tấm
gương sống và hành động văn minh, chiến đấu cho lý tưởng đó để trở thành hiện thực.
Tấm gương đạo đức, trong sáng của một người có nhân cách vĩ đại, cuộc sống đời
thường như Chủ tịch Hồ Chí Minh không những có sự hấp dẫn to lớn đến với toàn bộ
người dân Việt Nam mà còn cả đến với tất cả mọi người trên toàn Thế giới. Tấm
gương của người từ lâu luôn là nguồn cổ vũ, dộng viên tinh thần cho nhân dân ta để
dân ta có thể đoàn kết đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã
hội. Đồng thời, tấm gương của Người đã soi sáng cho biết bao thế hệ trẻ tương lai là
những họ sinh, sinh viên, những mầm non đang cố gắng học tập và làm theo tấm
gương của Người và sau này được cống hiến sức lực, trí tuệ,... cho đất nước, giúp cho
đất nước ngày càng phát triển nhiều hơn nữa.
1.2 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NHỮNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁC MẠNG
1.2.1 Trung với nước, hiếu với dân
Trung với hiếu là những khái niệm đạo đức cũ đã có từ lâu trong tư tưởng đạo
đức truyền thống Việt Nam và phương Đông, phản ánh mối quan hệ lớn nhất và cũng
là phẩm chất bao trùm nhất: “Trung với vua, hiếu với cha mẹ”. Đây là một nguyên tắc
cơ bản trong chế độ phong kiến Việt Nam . Thái độ ứng xử văn hóa trong xã hội 4
phong kiến phải tuân theo cái trục cơ bản đó, nếu không sẽ bị vi phạm tư cách, đạo
đức làm người. Người nói: “Đạo đức cũ như đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời.
Đạo đức mới như người hai chân đứng ngửng lên trời”.
Trong Thư gửi thanh niên (1965), Người viết: “Phải luôn luôn nâng cao chí khí
cách mạng “trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn
nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Luận điểm đó cả Hồ Chí Minh vừa là
lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị - đạo đức cho mỗi người Việt Nam
không chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước đây, hôm nay, mà còn lâu dài về sau nữa.
Hồ Chí Minh cho rằng, trung với nước phải gắn liền hiếu với dân. Với sự
nghiệp xây dựng bảo vệ đất nước với Tổ quốc, suốt dời phấn đấu cho Đảng cách
mạng, phải làm cho “dân giàu, nước mạnh”. Hiếu với dân là phải thương dân, tin dân,
thân dân, học hỏi dân, lấy trí tuệ ở dân, kính trọng dân, lấy dân làm gốc, “hết lòng hết
sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ
của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai”. Đây là
điểm làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức hoàn toàn khác về bản chất so với đạo
đức cũ. Ngày nay, hiếu với dân chính là yêu dân, kính trọng dân, lấy dân làm gốc, đề
cao tinh thần phục vụ nhân dân, có trách nhiệm với nhân dân. Đối với cán bộ lãnh đạo,
Hồ Chí Minh yêu cầu phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dan tâm, thường xuyên quan
tâm, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí.
1.2.2 Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Cần, kiệm, liêm, liêm, chính, chí công vô tư là nội dung cốt lõi của đạo đức
cách mạng, đó là phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hàng ngày của mọi người.
Vì vậy, Hồ Chí Minh đã đề cập phẩm chất này nhiều nhất, thường xuyên nhất, phản
ánh ngay từ cuốn sách Đường cách mệnh cho bản Di chúc cuối đời của Người. Đây
cũng chính là phẩm chất đạo đức mà mỗi người phải coi mình là đối tượng rèn luyện.
“Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai. Muốn cho chữ Cần có nhiều
kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc”. Cần tức là lao động cần cù,
siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự
ực cánh sinh, không lười biếng. 5
“Kiệm trước tiên phải là hoàn toàn tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí,
không bừa bãi. Cần với kiệm phải đi dôi với nhau, như hai chân của con người”. Kiệm
tức là tiết kiệm sức alo động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân, của nước, của
bản thân mình; không phô trương hình thức, không liên hoan chè chán lu bù.
“Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng.
Không tham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ
hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”.
“Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng
đắn, thẳng thăn tức là tà”. Chính được thể hiện rõ trong ba mối quan hệ: “Đối với mình
– chớ tự kiêu, tự đại... “Đối với người... Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem thường
người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn... Phải thực hành chữ Bác – Ái .... Đối
với việc phaie để cong việc trước lên trên, trước việc tư việc nhà ... việc thiện thì dù có
nhỏ đến mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh”.
Chí công vô tư về thực chất là sự tiếp nối cần, kiệm, liêm, chính. Là hoàn toàn
vì lợi ích chung, không vì tu lợi; là hết sức công bằng, không chút thiên tư, thiên vị,
công tâm, luôn đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân, của dân tộc trên hết, trước hết; chỉ
biết vì Đảng, vì dân tộc, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Chí công vô tư là chống chủ nghĩa cá nhân.
1.2.3 Thương yêu con người, sống có tình có nghĩa
Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chu nghĩa nhân đạo
cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều thập niên, cùng với việc
thể nghiệm chính bản thân mình qua hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xác định
tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Người
đã khái quát về triết lý cuộ sống: nghĩ cho cùng mọi vấn đề là vấn đề ở đời và làm
người là pahir yêu nước, thương dân, thương dân loại khổ đau bị áp bức.
Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm,
khuyết điểm. Với tâm lòng bao dung của một người cha. Người căn dặn chúng ta:
“Mỗi con người đều có cái thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở
trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ
của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản lại 6
Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho các phần thiện
trong người nảy nở để lùi phần ác, chứ không phải dập cho tời bời
Tình yêu thương con người theo Hồ Chí minh phải được xây dựng trên lập
trường của giai cấp công nhân, thể hiện trong mối quan hệ hằng ngày với bạn bè, đồng
chí, anh em, phải được hành động cụ thể thiết thực. Nó đòi hỏi mỗi người phải được
chặt chẽ và nghiêm khắc với mình; rộng rãi, độ lượng và giù lòng vị tha đối cới người
khác; phải có thái độ tôn trọng những quyền của con người, tạo điều kiện cho co người
phát huy tài năng; nâng con người lên, kể cả những người nhất thời lắm lạc; chứ không
phải là thái độ “dĩ hòa vi quý”, không phải hạ thấp, càng không phải vùi dập con
người. Bằng hành động và ứng xử của mình, Hồ Chí Minh truyền lại cho chúng ta đạo
ý làm người là pahir biết yêu thương và sống với nhau có tình nghĩa. Theo Hồ Chí
Minh, “hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống không có tình nghĩa thì sao gọi là
hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin được”. Trong Di chúc, Người viết: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.
1.2.4 Tinh thần quốc tế trong sáng
Chủ nghĩa quốc tế là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của đạo đức
cộng sản chur nghĩa. Điều này được bắt nguồn từ bản chất của giai cấp công nhân,
nhằm vào mối quan hệ rộng lớn vượt ra khỏi giới hạn quốc gia – dân tộc.
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế vô sản gắn liền với chủ nghĩa yêu nước,
hơn nữa pahir là chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong
sáng. Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng lớn và sâu sắc.
Đó là sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và đoàn kết với giai cấp vô sản toàn thế giới,
với các dân tộc bị áp bức, với tất cả các dân tộc và nhân dân các nước, với những
người tiến bộ trên toàn cầu, chóng lại mọi sự chia sẽ, hận thù, bất bình đẳng và phân
biệt chủng tộc, chống lại chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, sôvanh, biệt lập và chủ nghĩa bành
trướng bá quyền. Hồ Chí minh nêu cao tinh thần đọc lâoj, tự chủ, tự lực, tự cường,
nhưng luôn luôn kêu gọi phải tăng cường đoàn kết và hợp tác quốc tế, dồng thời phải
ra sức ủng hộ và giúp đỡ các cuộc đấu tranh của nhân dân các nước hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. 7
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí minh đã dày công xây đắp
tinh thần đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới, đã tạo ra
một kiểu quan hệ quốc tế mới: đối thoại thay đổi cho đối đầu, nhằm kiến tạo một nền
văn hóa hòa bình cho nhân loại; đó là di sản thời đại vô giá của Người về hòa bình,
hữu nghị, hợp tác phát triể giữa các dân tộc.
Tinh thần quốc tế đòi hỏi phải chống lại thói vị kì dân quốc, hẹp hòi, biệt lập,...
hướng tới mục tiêu hòa vình, hữu nghị, dân chủ, tiến bộ, xã hội. Tinh thần quốc tế
trong sáng làm cho con người trở nên cao thượng, đẹp đẽ, là một phẩm chất đạo đức
không thể thiếu của con người đặt biệt là ở một thời đại văn minh.
1.3 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NHỮNG NGUYÊN TẮC XÂY
DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
1.3.1 Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức
Nói đi đôi với làm là nét đẹp trong đạo đức tuyền thống của dân tộc được Hồ
Chí Minh nâng lên một tầm cao mới. Người coi đây là nguyên tắc quan trọng bâc nhất
trong xây dựng nền đạo đức mới. Nguyên tắc cơ bản này là sự thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn, đã trở thành phương pháp luận trong cuộc sống và trong nền tảng triết lý
sống hết sức bình dị mà vô cùng sâu sắc của Người. Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí
Minh đã giáo dục mọi người và chính người đã thực hiện điều đó một cách nghiêm túc và đầy đủ nhất.
“Nói đi đôi với làm” là đặc trưng bản chất của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Nói đi đôi với làm đối lập hoàn toàn với thói đạo đức giả, nói một đằng làm một nẻo,
nói nhiều làm ít, thậm chí nói mà không làm.
Lời nói đi đôi với việc làm phải gắn liền với nêu gương đạo đức. Hồ Chí Minh
đã viết: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một
tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Với ý nghĩa
đó, Hồ Chí Minh đã đào tạo các thế hệ cán bộ cách mạng Việt Nam không chỉ bằng lý
luận cách mạng tiền phong mà còn bằng chính tấm gương đạo đức cao cả của mình.
Hồ Chí Minh, hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, trong việc xây dựng một nền
đạo đức mới, đạo đức cách mạng phải dặc biệt chú trọng “đạo làm gương”. Người nói:
“Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những 8
cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người
mới, cuộc sống mới”. Muốn làm được như vậy, phải chú ý phát hiện, xây dựng những
điển hình “người tốt, việc tốt” rất gần gũi trong đời thường, trong các lĩnh vực lao
động, sả xuất, chiến đấu, học tập, nghiên cứu... bởi vì, theo Người: “Từng giọt mước
nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng thành suối, thành công. Biết bao nhiêu giọt
nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả... Người tốt, việc tốt nhiều lắm. ở đâu cũng có.
Ngành, giới nào, địa phương, lứa tuổi nào cũng có”.
Như vậy, một nền đạo đức mới chỉ thấy được xây dựng trên một cái nền rộng
lớn, vững chắc, khi những chuẩn mực đạo đức trở thành hành vi đạo đức hằng ngày
của mỗi người và của toàn xã hội.
1.3.2 Xây đi đôi với chống
Hồ Chí Minh cho rằng, nguyên tắc xây đi đôi với chống là đòi hỏi nền đạo đức
mới, thể hiện tính nhân đạo chiến đấu vì mục tiêu của sự nghiệp cách mạng; xây tức là
xây dựng các giá trị, các chuẩn mực đạo đức mới; chống là chống các biểu hiện, các
hành vi vo đạo đức, suy thoai dạo đức.
Để xây dựng một nền dạo đức mới, cần phải kết hợp chặt chẽ giữa xây và
chống. Trong đời sống hằng ngày, những hiện tượng tốt – xấu, đúng – sai, cái đạo đức
và cái vô đạo đức thường đan xen với nhau, đối chọi nhau thông qua các hành vi của
những con người khác nhau, thậm chí trong những con người. Chính vì vậy, việc xây
và chống trong lĩnh vực đạo đức rõ ràng không đơn giản. Xây phải đi đôi với chống,
muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây, lấy xây làm chính.
Xây dựng đạo đức mới, đạo đức cách mạng phải được tiến hành bằng việc giáo
dục những phẩm chất, những chuẩn mực đạo đức mới từ gia đình đến nhà trường và
ngoài xã hội. Việc giáo dục đạo đức mới phải được tiến hành phù hợp với từng lứa
tuổi, ngành nghề, giai cấp, tầng lớp và trong từng môi trường khác nhau; phải khơi dậy
được ý thức đạo đức lành mạnh ở mỗi người.
Trong khi xây dựng, bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức mới, phải đồng thời
chống lại cái xấu, cái sai vẫn đang diễn ra. Phải kiên quyết chống lại những tệ nạn
như: tham ô, lãng phí,... vừa bằng giáo dục, vừa bằng xử phạt với những mức độ nặng,
nhẹ khác nhau. Để xây và chống có hiệu quả, phải tạo thành phong trào quần chúng 9
rộng rãi. Hồ Chí Minh đã phát động rất nhiều phong trào nhằm mục đích xây dựng đạo đức mới.
1.3.3 Tu dưỡng đạo đức suốt đời
Theo Hồ Chí minh, tu dưỡng đạo đức như một cuộc cách mạng trường kỳ, gian
khổ. Một nền đạo đức mới chỉ có thể xây dựng trên cơ sở tự giác tu dưỡng đạo đức của
mỗi người. Tu dưỡng đạo đức hằng ngày, suốt đời, gắn liền với thực tiễn và thể hiện
bản chất khoa học, cách mạng của đạo đức mới, đạo đức cách mạng.
Từ thực tiễn, Người tổng kết sấu sắc: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời
sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngàymaf phát triển và củng cố. Cũng
như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng ngày càng trong”. Do vậy, Hồ Chí Minh đòi
hỏi mọi người phải thường xuyên được giáo dục và tự giáo dục về mặt đạo đức.
Nâng cao đạo đức trong tình hình mới, Đảng và nhân dân ta quán triệt tư tưởng
đạo đức Hồ Chí Minh, ra sức bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức, vận dụng các nguyên
tắc xây dựng đạo đức mà Người đã nêu ra.
Học tập tư tưởng trong đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước tiếp tục cổ
động phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ đổi mới, biểu dương các tập thể, các
nhân có thành tích xuất sắc, đẩy lên phong trào “người tốt, việc tốt”, nêu gương sáng
đạo đức cách mạng để mọi người học hỏi và noi theo.
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐƯC CHO
SINH VIÊN TRONG GIAI DOẠN HIỆN NAY
Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh
niên giai đoạn hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cho thanh niên, học sinh, sinh
viên học tập tự giác, trau dồi, tu dưỡng, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh, trỏ thành lực lượng kế tục sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam.
Trong bản Di chúc, Người đã căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục
đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây
dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách
mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.
2.1 VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN, HỌC SINH, SINH VIÊN 10
Theo như Hồ Chí Minh đã viết:“Thanh niên là người chủ tương lai của nước
nhà. Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do thanh niên”. “Thanh
niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ già, đồng thời là người phụ trách, dìu dắt
thệ hệ thanh niên tương lai”. Trong đó các học sinh, sinh viên là những người đang
nắm trong tay những tri thức tri thức cùng với đó là những hiểu biết về tiến bộ xã hội
và sự phát triển đất nước. Về mặt số lượng, học sinh, sinh viên là một số lượng không
nhỏ. Họ là lớp người đang được đào tạo, giáo dục, học tập, rèn luyện, bao gồm các
chuyên ngành học trên khắp các lĩnh vực. Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước không thể thiếu thế hệ học sinh, sinh viên. Họ chính là những chủ nhân tương lai
của đất nước, những người mang sức trẻ, lòng quyết tâm, nhiệt huyết và tài năng của
mình dựng xây đất nước. Trong Thư gửi các học sinh, Hồ Chí Minh đã viết: “Non
sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh
quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một
phần lớn ở công học tập của các em”. Vì vậy, chúng ta những học sinh, sinh viên cần
phải chú trọng đến việc học tập, giáo dục bản thân, đạo đức, lối sống để hình thành
một thế hệ thanh niên có phẩm chất đẹp và cống hiên hết mình vì đất nước.
2.2 THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG TRONG SINH VIÊN HIỆN NAY 2.2.1 Tích cực
Sinh viên là những con người năng động và có nhiều sự sáng tạo. Đã có nhiều sinh
viên nhận được bằng phát minh, sáng chế; và không ít trong số những phát minh đó đã
được áp dụng, trong thực tiễn. Sự năng động của sinh viên còn được thể hiện ở việc
tích cực tham gia các hoạt động xã hội như y tế, từ thiện. Và đây được coi là những ưu
điểm nổi bật của sinh viên Việt Nam thời đại mới.
Sinh viên dám nghĩ , dám làm, dám chịu thử thách, dám nhìn thẳng vào thất bại và vượt qua nó.
Phần lớn sinh viên, thanh niên trí thức vẫn giữ được lối sống tình nghĩa, trong sạch,
khiêm tốn, luôn cần cù và sáng tạo trong học tập, có ý chí lập nghiệp dám đương đầu
với mọi khó khăn thử thách, dám chịu trách nhiệm của mình và không ỷ lại vào người khác. 11
Trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, hiện nay đã xuất hiện những nhà doanh nhân,
nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà hoạt động nghệ thuật vừa có đức, vừa có tài ở độ
tuổi thanh niên. Và nét nổi bật của thanh niên nước ta là ý chí vươn lên, tinh thần cần
cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, đam mê nghiên cứu, sống có bản lĩnh , có ý chí
lập nghiệp, phấn đấu cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 2.2.2 Tiêu cực
Hiện nay còn một số bộ phận sinh viên có ý nghĩa lệch lạc. Dưới sự tác động của
kinh tế ngày càng phát triển, hầu như giới trẻ ngày nay luôn nhìn sự vật bằng một cách
nhìn khác. Nhiều sinh viên đã đánh mất niềm tin và có suy nghĩ sai lệch về chủ nghĩa xã hội.
Họ còn nhìn nhận sai lầm về giá trị của cuộc sống. Hiện tượng đưa giá trị vật chất
lên cao. Nhiều thanh niên lấy đồng tiền để làm thước đo giá trị trong cuộc sống. Trong
xã hội này, kẻ có tiền là kẻ mạnh, kẻ không tiền sẽ yếu thế và không làm được gì. Vì
thế, không ít sinh viên đã sử dụng đồng tiền gây ra nhiều chuyện sai trái như mua
điểm, chèn ép bạn bè,...
Một bộ phận sinh viên đã bị phai nhạt về niềm tin, lý tưởng, mất đi cả phương
hướng, không có ý chí lập nghiệp, sa vào lối sống hưởng thụ, thiếu trách nhiệm,thờ ơ
với chính gia đình của mình và xã hội. Dẫn đến nhiều vấn đề tiêu cực trong sinh viên,
và đi vào những tệ nạn xã hội tệ nạn xã hội như trộm cắp, nghiện hút ma túy,... và thái
độ không đúng đắn đối với lao động xảy ra nhiều trong sinh viên.
Nhiều người chỉ quan tâm tới những lợi ích cá nhân trước mắt mà quên mất lợi ích
tập thể, không màng lên lợi ích của ngưới khác. Vì đồng tiền, vì lợi ích cá nhân, một
số thanh niên còn bất chấp tất cả còn một số khác sống không động chạm đến ai,
không quan tâm đến ai, chỉ cần biết đến mình
2.2.3 Nguyên nhân của những biểu hiện tiêu cực
- Ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường nhiều học sinh, sinh viên không giữ
vững được lập trường, bị cuốn theo lối sống thực dụng. Có lối sống buông thả, thờ ơ,
với bản thân, gia đình và xã hội thiếu tu dưỡng phấn đấu rèn luyện, học tập. 12
- Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và tệ nạn quan
liêu, tham nhũng trong một bộ phận cán bộ công chức diễn ra nghiêm trọng.
- Các ban ngành, đoàn thể chưa thật sự quan tâm đến việc giáo dục đạo đức, lối
sống cho thế hệ trẻ trước sự biến đổi to lớn của đất nước.
- Nội dung giáo dục đạo đức, lối sống còn chưa thiết thực về hình thức, chưa
chú trọng đến nội dung, đi sâu vào những vấn đề đặt ra cần giáo dục cho học sinh, sinh
viên như: ý chí, khát vọng vươn lên trong công việc, cuộc sống, tình yêu thương với
quê hương, đất nước, kỹ năng sống,khả năng chịu đựng những khó khăn, không dám
đương đầu,... Hình thức giáo dục đạo đức, lối sống còn sơ sài, chưa có sức hấp dẫn, lôi cuốn thanh niên.
- Sự phối kết hợp giữa các cơ quan, giữa nhà trường, gia đình và xã hội còn nhiều hạn chế.
- Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải có những biện pháp xây dựng lối
sống, đạo đức mới trong học sinh, sinh viên trí thức.
2.3 BIỆN PHÁP XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG MỚI CỦA HỌC SINH,
SINH VIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
2.3.1 Đối với xã hội, các ban ngành, đoàn thể, nhà trường
- Một là: thường xuyên chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch, lành
mạnh cho thanh niên, đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục cho sinh viên
- Hai là: phải kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục,
rèn luyện đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan
trọng nhằm phát huy sức mạnh cùng chăm lo giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho
học sinh, sinh viên, hình thành phẩm chất cao đẹp của con người mới
- Ba là: phát huy vai trò tự học tập, tự du dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của thanh
niên. Biện pháp này giúp họ nhanh chóng tiến bộ, trưởng thành, là điều kiện quyết
định kết quả rèn luyện của mỗi cá nhân
- Bốn là: nâng cao nhận thức, trách nhiệm về tầm quan trọng của việc giáo dục đạo
đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là biện pháp để họ nhận thấy rõ vị
trí, vai trò của mình, từ đó giúp bản thân rèn luyện trong quá trình phấn đấu, tu dưỡng
và đạo đức cách mạng. 13
- Năm là: đa dạng các nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục đạo đức cách mạng cho
thanh niên. Với lứa tuổi này, tâm lý của thanh niên hiện nay giáo dục, đưa thanh niên
vào hoạt động thực tiễn, mạnh dạn, tin tưởng giao nhiệm vụ cho thanh niên…
Những biện pháp trên cần được triển khai thông qua sinh hoạt ở nơi thanh niên đang
sinh sống và làm việc; thông qua thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội,
xây dựng nông thôn mới, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; thông qua các phong trào thi
đua yêu nước; nêu gương người tốt, việc tốt
2.3.2 Đối với chính bản thân học sinh, sinh viên
- Một là, học trung với nước, hiếu với dân, suốt đời đấu tranh và cống hiến hết mình
cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
- Hai là, cần có Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư, để hình thành nếp sống giản
dị và có lòng nhân hậu, nhân ái và khoan dung.
-Ba là, tuyệt đối tin vào sức mạnh của nhân dân, kính trọng nhân dân và hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân.
-Bốn là, học tấm và làm theo tấm gương về ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, quyết
tâm vượt qua mọi thử thách, gian nguy để đạt được mục đích cuộc sống.
- Năm là, tích cực phát huy tính chủ động trong rèn luyện, tu dưỡng đạo đức KẾT LUẬN
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế, xây dựng công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất
nước, những yêu cầu về đạo đức đối với cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên đòi hỏi
phải được tăng cường rèn luyện, tu dưỡng đạo đức. Có đạo đức cách mạng thì gặp khó
khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước.
Để xây dựng được một nền đạo đức mới, lối sống mới trong học sinh, sinh
viên cần phải có sự kết hợp của nhiều nhân tố: về sự giáo dục từ phía nhà trường,
các ban ngành, đoàn thể; sự nêu gương của tất cả mọi người trong xã hội, trong gia
đình, và việc tự tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi kinh nghiệm của sinh viên. Để từ đó, xây
dựng một thế hệ trẻ vừa có đức, vừa có tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, những chủ
nhân, những mầm non tương lai của đất nước, đưa đất nước ta “sánh vai với các cường
quốc năm châu” như Người hằng mong đợi đối với học sinh, sinh viên chúng ta. 14
Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh
niên vẫn còn nguyên giá trị. Trong bối cảnh đất nước đang ngày càng hội nhập quốc tế
sâu rộng với nền khoa học và kỹ thuật đang dần phát triển, thanh niên Việt Nam càng
cần phải trau dồi cho mình đạo đức cách mạng, học hỏi kinh nghiệm, có khả năng
thích ứng với sự phát triển của xã hội, có tư duy đột phá, có sức sáng tạo, vững bước
vượt qua mọi khó khăn, thử thách để xứng đáng với niềm tin và sự kỳ vọng của Đảng
và Nhân dân đối với mình. Với sự nhiệt huyết, đầy nghị lực, ý chí vươn lên mạnh mẽ
và hiện tại đang được sống trong môi trường hoà bình không có chiến tranh, đổi mới,
phát triển của đất nước ngày một tốt hơn, thanh niên Việt Nam nhất định sẽ nêu cao
tinh thần tiên phong, bản lĩnh, đoàn kết, sáng tạo góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân,
toàn dân giữ vững và phát huy các thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam ngày càng phát triển, phồn vinh, hạnh phúc. Sinh viên Việt Nam quyết tâm
học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh, thi đua học tập,
rèn luyện, vì ngày mai lập nghiệp, xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục & Đào tạo, 2021, Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc dân lần
thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc Gia
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XII, Nxb Chinh trị quốc gia
4. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2009, Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng, Nxb Chính trị - Hành chính
5. Hồ Chí Minh, 2011, toàn tập, 15 tập, Nxb Chính trị quốc gia 6. https://tcnn.vn 7. https://hochiminh.vn 15