-
Thông tin
-
Quiz
Tìm hiểu và phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu nền kinh tế trong thời kỳ quá độ; sự vận dụng của Đảng Cộng sản.| Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Đại học Kinh tế Quốc dân với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp các bạn định hướng và họp tập dễ dàng hơn. Mời bạn đọc đón xem. Chúc bạn ôn luyện thật tốt và đạt điểm cao trong kì thi sắp tới
Tư tưởng Hồ Chí Minh (LLTT1101) 326 tài liệu
Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Tìm hiểu và phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu nền kinh tế trong thời kỳ quá độ; sự vận dụng của Đảng Cộng sản.| Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Đại học Kinh tế Quốc dân với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp các bạn định hướng và họp tập dễ dàng hơn. Mời bạn đọc đón xem. Chúc bạn ôn luyện thật tốt và đạt điểm cao trong kì thi sắp tới
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh (LLTT1101) 326 tài liệu
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:














Tài liệu khác của Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ 63B BÀI TẬP LỚN
MÔN HỌC: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ BÀI: Tìm hiểu và phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Sự vận dụng quan điểm nêu trên
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc phát triển cơ cấu nền kinh tế ở nước ta hiện nay?
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Văn Quý Phúc MSV: 11216900
Lớp tín chỉ: LLTT1101(122)_29
Giảng viên: TS. Nguyễn Chí Thiện HÀ NỘI – 2019 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................ 1
Chương I: Tìm hiểu và phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.................................................................................2
1. Bản chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội....................................................2
2. Nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam....................2
3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội........................................................................................................................... 3
Chương II: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt nam trong việc
phát triển cơ cấu nền kinh tế ở nước ta hiện nay..............................................................5
1. Những kết quả Đảng ta đã đạt được trong sự vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh
trong phát triển cơ cấu nền kinh tế...............................................................................6
2. Một số hạn chế trong quá trình vận dụng.................................................................9
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh trong phát triển
cơ cấu nền kinh tế ở nước ta hiện nay........................................................................10
KẾT LUẬN....................................................................................................................... 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................12 MỞ ĐẦU
C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin đều khẳng định tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội và chỉ rõ vị trí lịch sử, nhiệm vụ đặc thù của nó trong quá trình
vận động, phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Theo quan điểm
của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, thì có hai con đường quá độ tiến lên
chủ nghĩa xã hội. Con đường thứ nhất là con đường quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội
từ những nước tư bản phát triển ở trình độ cao. Con đường thứ hai là quá độ gián tiếp lên
chủ nghãi xã hội ở những nước chủ nghĩa tư bản phát triển còn thấp hoặc các nước tiền tư bản.
Trên cơ sở vận dụng lý luận về cách mạnh không ngừng, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội của chủ nghĩa Mác – Lênin và xuất phát từ đặc điểm tình hình thực tế của Việt
Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành giải
phóng dân tộc, hoàn thành cách mạnh dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã
hội. Như vậy, quan niệm Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
là quan niệm về một hình thái quá độ gián tiếp cụ thể - quá độ từ một xã hội thuộc địa,
nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội. Chính ở nội dung cụ thể
này, Hồ Chí Minh đã cụ thể hóa làm phong phú thêm lý luận Mác – Lênin về thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nước ta có đặc
điểm lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội không phải
thông qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đặc điểm này chi phối các đặc điểm
khác, thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và làm cơ sở nảy sinh nhiều
mâu thuẫn. Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá
độ, đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và
thực trạng kinh tế - xã hội quá thấp kém của nước ta. Do vậy, con đường quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta thực sự đã và đang vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức đặc biệt
là lĩnh vực kinh tế, yêu cầu những đường lối thông minh và chính xác từ Đảng lãnh đạo.
Bài tiểu luận sẽ bao gồm hai vấn đề chính: NỘI DUNG
Chương I: Tìm hiểu và phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
1. Bản chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải tạo cách mạng xã hội tư bản chủ nghĩa
thành xã hội chủ nghĩa, bắt đầu từ khi giai cấp công nhân giành được chính quyền và kết
thúc khi xây dựng xong các cơ sở của chủ nghĩa xã hội. Đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội là cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Nhiệm vụ cơ bản của nhà
nước trong thời kỳ quá độ, một mặt là phát huy đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân lao
động, chuyên chính với mọi hoạt động chống chủ nghĩa xã hội, mặt khác từng bước cải
tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
2. Nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Theo Hồ Chí Minh, thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá
trình cải biến nền sản xuất lạc hậu thành nền sản xuất hiện đại. Thực chất phát triển và cải
tạo nền kinh tế quốc dân cũng là cuộc đầu tranh giai cấp gay go, phức tạp trong điều kiện
mới, khi mà nhân dân ta hoàn thành cơ bản cách mạng dân tộc dân chủ, so sánh lực lượng
trong nước và quốc tế đã có những biến đổi. Điều này đòi hỏi phải áp dụng toàn diện các
hình thức đấu tranh cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm chống lại các thế lực đi
ngược lại con đường xã hội chủ nghĩa.
Theo Hồ Chí Minh, do những đặc điểm và tính chất quy định, quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam là một quá trình dần dần, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Nhiệm vụ lịch sử của
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bao gồm hai nội dung lớn:
, xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, xây dựng các tiền đề
về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng cho chủ nghĩa xã hội.
, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo và xây dựng, trong đó lấy
xây dựng làm trọng tâm, làm nội dung cốt yếu nhất, chủ chốt, lâu dài.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến tính chất tuần tự, dần dần của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội. Tính chất phức tạp và khó khăn của nó được Hồ Chí Minh lý giải trên các điểm sau:
, đây thực sự là một cuộc cách mạng làm đảo lộn mọi mặt đời sống xã hội, cả lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Nó đặt ra
và đòi hỏi đồng thời giải quyết hàng loạt mâu thuẫn khác nhau.
trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chưa
có kinh nghiệm, nhất là trên lĩnh vực kinh tế. Đây là công việc hết sức mới mẻ đối với
Đảng ta, nên phải vừa làm, vừa học và có thể có vấp váp và thiếu sót. Xây dựng xã hội
mới bao giờ cũng khó khăn, phức tạp hơn đánh đổ xã hội cũ đã lỗi thời.
sự ngiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta luôn luôn bị các thế lực phản động
trong và ngoài nước tìm cách chống phá.
Từ việc chỉ rõ tính chất của thời kỳ quá độ, Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở cán bộ, đảng
viên trong xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thận trọng, tránh nôn nóng, chủ quan, đốt cháy
giai đoạn. Vấn đề cơ bản là phải xác định đúng từng bước đi và hình thức phù hợp với
trình độ của lực lượng sản xuất, biết kết hợp các khâu trung gian, quá độ, tuần tự từng
bước, từ thấp đến cao. Vì vậy, xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một năng lực lãnh đạo
mang tính khoa học, vừa hiểu biết các quy luật vận động xã hội, lại phải có nghệ thuật
khôn khéo cho thật sát với tình hình thực tế.
3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
được Hồ Chí Minh đề cập trên các mặt: lực lượng sản xuất, quan hệ sản
xuất, cơ chế quản lý kinh tế. Người nhấn mạnh đến việc tăng năng suất lao động trên cơ
sở tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Đối với cơ cấu kinh tế, Hồ Chí Minh đề
cập cơ cấu ngành và cơ cấu các thành phần kinh tế, cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ…
Người quan niệm hết sức độc đáo về cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp – thương nghiệp,
lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, củng cố hệ thống thương nghiệp làm cầu nối tốt
nhất giữa các ngành sản xuất xã hội, thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của nhân dân. Bên cạnh
đó, với sự gia tăng ngày càng cao trong nhu cầu về đời sống của nhân dân từ
sẽ dần dần phát triển lên nhu cầu
sẽ đi cùng với những yêu cầu
ngày càng cao trong trình độ phát triển các ngành kinh tế, một nền nông nghiệp – công
nghiệp hiện đại gắn liền với sự áp dụng khoa học – kĩ thuật tiên tiến. Đặc biệt quan trọng
hơn cả, phải xóa bỏ dần sự bóc lột tư bản chủ nghĩa đã dần sinh mầm mống hình thành
trong 100 năm đô hộ thực dân – nhân tố chính gây nên những mâu thuẫn trong quan hệ
sản xuất đồng thời làm nhân tố gây nên sự suy giảm năng suất của người lao động, triệt
tiêu động lực và sự sáng tạo trong lực lượng lao động, hiện hữu nên những rào cản trong
việc chuẩn bị những yếu tố kinh tế cần thiết để đi lên chủ nghĩa cộng sản ở nước ta.
Đối với kinh tế vùng, lãnh thổ, Hồ Chí Minh lưu ý phải phát triển đồng đều giữa kinh tế
đô thị và kinh tế nông thôn. Người đặc biệt chú trọng chỉ đạo phát triển kinh tế vùng núi,
hải đảo, vừa tạo điều kiện không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của đồng bào, vừa
bảo đảm an ninh, quốc phòng cho đất nước. Đi đôi với việc phát triển kinh tế những vũng
lãnh thổ các tầm quan trọng về an ninh biên giới, việc đẩy mạnh đầu tư phát triển những
vùng kinh tế trọng điểm cũng như các ngành nông nghiệp – công nghiệp mũi nhọn của đất
nước là vô cùng thiết yếu, góp phần tạo nền tảng vững chắc trong công cuộc công nghiệp
hóa – hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế toàn diện và theo chiều sâu, tránh bị bão
hòa và lệ thuộc vào các nền kinh tế bên ngoài. Điều này vô cùng có giá trị trong công
cuộc cải tạo cơ cấu nền kinh tế cũ, xây dựng nền cơ cấu mới.
Ở nước ta, Hồ Chí Minh là người đầu tiên chủ trương phát triển cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Người yêu cầu phải xây dựng
cơ cấu các thành phần kinh tế nhiều thành phần một cách hợp lý. Hồ Chí Minh đã xác
định cơ cấu các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm 5 thành phần:
kinh tế quốc doanh; các hợp tác xã; kinh tế của các các nhân, nông dân và thủ công nghệ;
tư bản của tư nhân và cuối cùng là tư bản của nhà nước. Người xác định rõ vị trí và xu
hướng vận động của từng thành phần kinh tế. Nước ta cần ưu tiên phát triển kinh tế quốc
doanh để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ
nghĩa. Kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, Nhà nước
cần đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ nó phát triển. Về tổ chức hợp tác xã, Hồ
Chí Minh nhấn mạnh nguyên tắc dần dần, từ thấp đến cao, tự nguyện, cùng có lợi, chống
chủ quan, gò ép, hình thức. Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác,
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, ra sức hướng dẫn và giúp họ cải tiến
cách làm ăn, khuyến khích họ đi vào con đường hợp tác. Đối với những nhà tư sản công
thương, vì họ đã tham gia ủng hộ cách mạng dân tộc dân chủ, có đóng góp nhất định
trong khôi phục kinh tế và sẵn sàng tiếp thu, cải tạo để góp phần xây dựng nước nhà, xây
dựng chủ nghĩa xã hội, nên Nhà nước không xóa bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và
của cải khác của họ, mà hướng dẫn họ hoạt động làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp
với kinh tế nhà nước, khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức tư bản nhà nước.
Hồ Chí Minh đã kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm của Các Mác - Ăngghen, Lênin
về những vấn đề kinh tế - chính trị trong thời kỳ quá độ lê CNXH, trong đó Hồ Chí Minh
rất quan tâm đến việc phát triển kinh tế của nước nhà trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Từ
quan điểm của Lênin về kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH, phải phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần, Hồ Chí Minh đã vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam,
Người đã chỉ ra những thành phần kinh tế trong vùng tự do trước năm 1954 ở nước ta bao
gồm: Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô; kinh tế quốc doanh; các hợp tác xã; kinh
tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản quốc
gia. Khi miền bắc hoàn toàn giải phóng đi lên CNXH, Hồ Chí minh đã chỉ ra những hình
thức sở hữu và các thành phần kinh tế cụ thể tương ứng. Sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể
và sở hữu tư nhân; tương ứng với ba loại hình sử hữu đó là năm thành phần kinh tế: Kinh
tế quốc doanh; các hợp tác xã; kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ; tư bản tư
nhân; tư bản nhà nước. Trong các thành phần kinh tế nêu trên thì thành phần kinh tế quốc
doanh là thành phần kinh tế lãnh đạo, phát triển mau hơn cả.
Tuy nhiên, trước đổi mới tháng 12 năm 1986 ở nước ta thực chất chỉ phát triển hai thành
phần kinh tế, kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể dựa trên hai hình thức sử hữu Nhà nước
và tập thể. Chính vì vậy, trong một thời gian dài nền kinh tế của chúng ta gặp rất nhiều
khó khăn, không giải phóng được nguồn lực phát triển kinh tế của đất nước. Thực tiễn cho
thấy nguyên nhân sâu xa của mối quan hệ giữa LLSX và QHSX ở nước ta vào thời kỳ này
không phù hợp, trong khi lực lượng sản xuất còn ở trình độ lạc hậu, còn quan hệ sản xuất
chúng ta lại xậy dựng chủ yếu là quan hệ sở hữu nhưng phải chỉ là điều kiện của sản xuất,
sở hữu không phải là mục tiêu, mục đích của xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh chế độ và quan hệ sở hữu, Hồ Chí Minh rất coi trọng quan hệ phân phối và quản
lý kinh tế. Quản lý kinh tế phải dựa trên cơ sở hạch toán, đem lại hiệu quả cao, sử dụng
tốt các đòn bẩy trong phát triển sản xuất. Người chủ trương và chỉ rõ các điều kiện thực
hiện nguyên tắc phân phối theo lao động: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không
làm không hưởng. Gắn liền với nguyên tắc phân phối theo lao động, Hồ Chí Minh đề cập
đến vấn đề khoán trong sản xuất, "Chế độ làm khoán là một điều kiện của chủ nghĩa xã
hội, nó khuyến khích người công nhân luôn luôn tiến bộ, cho nhà máy tiến bộ. Làm khoán
là ích chung và lại lợi riêng... làm khoán tốt thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay".
Chương II: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt nam trong
việc phát triển cơ cấu nền kinh tế ở nước ta hiện nay
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam bao quát những vấn đề cốt lõi, cơ bản nhất, trên cơ sở vận dụng và phát triển
sáng tạo học thuyết Mác - Lênin. Đó là các luận điểm về bản chất, mục tiêu và động lực
của chủ nghĩa xã hội; về tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ; về đặc điểm, nhiệm
vụ lịch sử, nội dung, các hình thức, bước đi và biện pháp tiến hành công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tư tưởng đó trở thành tài sản vô giá, cơ sở lý luận và kim chỉ
nam cho việc kiên trì, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng ta, đồng thời gợi
mở nhiều vấn đề về xác định hình thức, biện pháp và bước đi lên chủ nghĩa xã hội phù
hợp với những đặc điểm dân tộc và xu thế vận động của thời đại ngày nay.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đạt được những thành tựu quan
trọng, tạo ra thế và lực mới cho con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cùng
với tổng kết thực tiễn, quan niệm của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ngày càng sát thực, cụ thể hóa. Nhưng, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa
xã hội, bên cạnh những thời cơ, vận hội, nước ta đang phải đối đầu với hàng loạt thách
thức, khó khăn cả trên bình diện quốc tế, cũng như từ các điều kiện thực tế trong nước tạo
nên. Trong bối cảnh đó, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con
đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta cần tập trung giải quyết những vấn đề quan trọng nhất.
1. Những kết quả Đảng ta đã đạt được trong sự vận dụng quan điểm của Hồ Chí
Minh trong phát triển cơ cấu nền kinh tế
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển cơ cấu nền kinh tế trong thời kỳ quá độ
lên CNXH được trình bày một cách giản dị, dễ hiểu nhưng mang giá trị to lớn trong công
cuộc xây dựng và kiến thiết nước nhà. Nhìn lại chặng đường vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, có thể thấy như sau:
vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế. Giai
đoạn đầu sau cuộc kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam tiến hành quản lý kinh tế theo cơ chế
kế hoạch hóa tập trung dẫn đến khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Đến Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII của Đảng (Tháng 6/1991), vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng
đã xác định “bước đầu hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước”. Việt Nam đã từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý kế
hoạch hóa, chuyển sang cơ chế thị trường thông qua: xác định các hình thức sở hữu chủ
yếu (toàn dân, tập thể, tư nhân), thừa nhận sự tồn tại tất yếu của nhiều thành phần kinh tế;
xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế. Các thành phần kinh
tế kinh doanh theo pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.
vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế.
Từ công nghiệp hóa theo kiểu cũ, khép kín, hướng nội, thiên về phát triển công nghiệp
nặng, chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên, đất đai và nguồn viện trợ của các
nước xã hội chủ nghĩa đi trước đã chuyển dần sang công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại
hóa trong nền kinh tế mở; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển mạnh công
nghiệp, dịch vụ, gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với từng bước phát triển nền kinh tế tri
thức, các ngành, lĩnh vực kinh tế đòi hỏi hàm lượng trí tuệ, chất xám cao. Theo Tổng cục
Thống kê, năm 1986, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất với 38,1%. Tỷ trọng ngành
dịch vụ là 33%, còn công nghiệp chiếm tỷ trọng thấp nhất với 28,9%. Đến năm 2019, khu
vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 13,96% GDP; khu vực công nghiệp và
xây dựng chiếm 34,49%; khu vực dịch vụ chiếm 41,64%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,91%.
Từ chỗ xác định lực lượng chủ yếu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa là Nhà nước
và doanh nghiệp Nhà nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa là sự nghiệp của toàn dân, của toàn xã hội. Nhà nước phải có chính sách để khơi dậy,
phát huy các nguồn lực của nhân dân, của mọi thành phần kinh tế, đồng thời huy động và
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Về cơ chế phân bổ nguồn lực để công nghiệp hóa, từ chỗ chủ yếu bằng cơ chế kế hoạch
hóa tập trung của Nhà nước và giao cho doanh nghiệp nhà nước làm, đã dần dần chuyển
sang phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường, lấy tiêu chuẩn trước hết là hiệu quả kinh
tế để đầu tư; Nhà nước có chính sách khuyến khích và ưu đãi cho một số ngành, lĩnh vực,
địa bàn, doanh nghiệp vừa và nhỏ và một số mục tiêu như xuất khẩu, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo.
vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời
đại. Với phương châm “Nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng”, Việt Nam đã thực
hiện đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại; gắn kết kinh tế nước ta với
khu vực và thế giới thông qua các hoạt động thương mại, đầu tư và chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế. Sau khi xóa bỏ thành công chính sách bao vây cấm vận của Mỹ và các lực
lượng thù địch nước ngoài, Việt Nam đã tham gia hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế trên các
cấp độ và trong các lĩnh vực kinh tế then chốt, không ngừng mở rộng các quan hệ kinh tế
song phương, tiểu vùng, vùng, liên vùng và tiến tới tham gia liên kết kinh tế toàn cầu.
Thực tiễn hơn 30 năm Việt Nam phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng
sản Việt Nam, chúng ta đã có sự lựa chọn sáng suốt, đúng đắn khi quyết định chuyển đổi
cơ chế quản lý kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, tháng 12
năm 1986. Đã tạo ra bước đột phá về tư duy đổi mới thể chế, cơ chế trong quản lý kinh tế
và đã vận dụng một cách sáng tạo nhất quan điểm của Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về
các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tùy vào từng giai đoạn
phát triển kinh tế của đất nước mà Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn từng thành phần kinh
tế cho phù hợp, nhưng quan điểm nhất quán trong suốt thời kỳ đổi mới cho đến nay, Đảng
ta khẳng định phải phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, dựa trên nhiều hình thức sở hữu.
Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, tháng 12 năm 1986 - Đại hội đổi mới,
Kinh tế XHCN (Quốc doanh, tập thể,
gia đình), Kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ, Kinh tế tự túc, tự cấp, Kinh tế tư bản nhà nước
và kinh tế tư bản tư nhân Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) Đảng
ta tiếp tục định 5 thành phần kinh tế: Kinh tế quốc doanh, Kinh tế tập thể, Kinh tế cá thể,
Kinh tế tư nhân, và Kinh tế tư bản nhà nước; do vậy NQ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VII chỉ rõ Từ các hình thức sở hữu cơ bản sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư
nhân hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa
dạng, đan xen, hỗn hợp . Đại hội VIII (năm 1996) có 5 thành phần kinh tế: Kinh tế nhà
nước, Kinh tế hợp tác xã, Kinh tế cá thể, tiểu chủ, Kinh tế tư bản tư nhân và Kinh tế tư
bản nhà nước, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nêu ra 6 thành phần kinh tế cơ bản. Tại
Đại hội IX (năm 2001), gồm có 6 thành phần kinh tế: Thành phần kinh tế nhà nước,
Thành phần kinh tế hợp tác xã, Thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ, Thành phần kinh tế tư
bản tư nhân, Thành phần kinh tế tư bản nhà nước, và Thành phần kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài; Kinh tế hỗn hợp (thuộc sở hữu cổ phần). Tại Đại hội X (năm 2006), gồm có
5 thành phần kinh tế: Thành phần kinh tế nhà nước, Thành phần kinh tế tập thể, Thành
phần kinh tế tư nhân (bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư bản tư nhân ), Thành
phần kinh tế tư bản nhà nước, và Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.Như vậy
Đại hội X chỉ khác Đại hội IX ở chỗ đã sát nhập hai thành phần kinh tế kinh tế cá thể, tiểu
chủ và kinh tế tư bản tư bản tư nhân thành một thành phần đó là kinh tế tư nhân, là vì hai
thành phần này có điểm chung giống nhau là đều dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về
TLSX; mặt khác chúng ta xóa đi sự mặc cảm đối với kinh tế tư bản tư nhân và nó sẽ thuận
hơn khi nói đến đảng viên được làm kinh tế tư nhân. Tại Đại hội XI (năm 2011), gồm có 4
thành phần kinh tế: Thành phần kinh tế nhà nước; Thành phần kinh tế tập thể; Thành phần
kinh tế tư nhân (gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) và Thành phần kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài. Tại Đại hội XII (năm 2016), Đảng ta chủ yếu nhấn mạnh đến 4
thành phần kinh tế sau: Thành phần kinh tế nhà nước; Thành phần kinh tế tập thể; Thành
phần kinh tế tư nhân (gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) và Thành phần kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài. Nếu chúng ta so sánh với các thành phần kinh tế mà Lênin và
Hồ Chí Minh đề cập, thì không thấy thành phần kinh tế tư bản nhà nước, đây là thành
phần kinh tế mà Lênin cho rằng có vai trò rất quan trọng trong việc liên kết giữa tử bản tư
nhân và chủ nghĩa xã hội.
Mỗi thành phần kinh tế có vị trí, vai trò nhất định trong cơ cấu thành phần kinh tế, trước
hết là thành phần kinh tế Nhà nước. Đây là thành phần kinh tế mà Hồ Chí Minh cho rằng
là thành phần kinh tế lãnh đạo, phát triển mau hơn cả. Tư tưởng này của Bác được Đảng
ta vận dụng đưa vào trong các Nghị quyết Đại hội của đảng. Trong Đại hội XII, Đảng ta
tiếp tục khẳng định: “Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế
kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các
nguồn lực của Nhà nước và công cụ, chính sách để định hướng và điều tiết nền kinh tế,
thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội
trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong
phát triển kinh tế - xã hội”. Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước thể hiện
qua: Đi đầu về nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả, nhờ đó mà thúc đẩy
sự tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế quốc dân; Bằng nhiều hình thức hỗ trợ
các thành phần kinh tế khác cùng phát triển theo định hướng XHCN; Tăng cường sức
mạnh vật chất làm chỗ dựa để Nhà nước thực hiện có hiệu lực chức năng điều tiết, quản lý
vĩ mô nền kinh tế định hướng XHCN.
Chính vì vậy, trong suốt chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, Đảng
và Nhà nước đã cho thành lập các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước, nắm giữ
những ngành, lĩnh vực kinh tế then chốt của đất nước - được xem là xương sống, mạch
máu của nền kinh tế nước nhà, và đây là công cụ kinh tế thực hiện chức năng quản lý kinh
tế của Nhà nước, nhằm điều tiết kinh tế, hỗ trợ, định hướng các thành phần kinh tế khác đi
đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, thành phần kinh tế tập thể, Đảng ta xác định
đây là thành phần kinh tế cùng với thành phần kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền
tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; thứ ba, thành phần kinh tế tư nhân là một trong
những động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; thứ tư, về thành phần kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài, trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta khẳng
định “Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài, chú trọng chuyển giao
công nghệ, trình độ quản lý và thị trường tiêu thụ sản phẩm; chủ động lựa chọn và ưu đãi
đối với các dự án đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý và công nghệ hiện đại, có vị trí
hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu, có liên kết với doanh nghiệp trong nước”.
Tuy nhiên, trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, XII, Đảng ta hầu như
không hoặc có đề cập nhưng không rõ ràng về thành phần kinh tế tư bản nhà nước, đây là
thành phần kinh tế mà theo Lênin là nó có vai trò rất quan trọng, là thành phần kinh tế
trung gian trong việc liên kết thành phần kinh tế tư bản tư nhân với thành phần kinh tế xã
hội chủ nghĩa, là “chiếc cầu nhỏ vững chắc đi xuyên qua” chủ nghĩa tư bản, để đi vào chủ
nghĩa xã hội, là thành phần kinh tế có vai trò cầu nối giữa TBTN và XHCN, để thành
phần kinh tế XHCN định hướng thành phần kinh tế tư bản tư nhân đi đúng định hướng xã
hội chủ nghĩa. Ở nước ta, đây là thành phần kinh tế đóng vai trò trung gian giữa Thành
phần kinh tế tư nhân với Thành phần kinh tế nhà nước, đó là sự kiên kết giữa tư nhân
trong nước, nước ngoài với tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước. Thông qua đó chúng
ta có thể học hỏi kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp, công ty, tổng công ty, tập đoàn kinh
tế kinh tế tư nhân trong thời kỳ đẩy mạnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta.Trong văn kiện XII Đảng ta không đề cập một cách rõ ràng nhất về thành phần
kinh tế này, chỉ đề cập đến một nội dung nhỏ về thành phần kinh tế tư bản nhà nước “tạo
điều kiện hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn
kinh tế nhà nước”, nếu chúng ta đi phân tích nội dung này với khái niệm thành phần kinh
tế tư bản nhà nước thì nội hàm của nó gần như giống nhau, bởi vì, thành phần kinh tế tư
bản tư nhân là thành phần kinh tế liên kết giữa tư nhân trong nước và nước ngoài với Nhà
nước xã hội chủ nghĩa.
2. Một số hạn chế trong quá trình vận dụng
Bên cạnh những kết quả đạt được, thực trạng phát triển kinh tế và việc vận dụng tư tưởng
kinh tế của Hồ Chí Minh vẫn còn một số hạn chế, tồn tại, thể hiện như:
Chất lượng tăng trưởng kinh tế của nước ta còn thấp; chủ yếu dựa vào các nhân tố tăng
trưởng theo chiều rộng, với những ngành/sản phẩm truyền thống, công nghệ thấp, tiêu hao
vật tư cao, chưa đi mạnh vào chất lượng, còn phụ thuộc quá nhiều vào đầu tư và bảo hộ,
bao cấp dưới nhiều hình thức của Nhà nước. Công nghiệp phụ trợ và các dịch vụ khác
chưa phát triển dẫn đến giá trị quốc gia trong sản phẩm còn thấp. Hầu hết các ngành công
nghiệp đều có hệ suất tiêu hao năng lượng và nguyên liệu cao hơn so với các nước trong
khu vực. Năng lực cạnh tranh tuy có tiến bộ nhưng còn thấp so với yêu cầu phát triển và
hội nhập kinh tế quốc tế.
Các thành phần kinh tế chưa phát triển đúng tiềm năng: Kinh tế nhà nước chưa làm thật
tốt vai trò chủ đạo; chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp. Kinh tế tập thể phát
triển chậm và còn nhỏ bé. Kinh tế tư nhân chưa đáp ứng vai trò động lực của nền kinh tế,
chưa được quan tâm tạo điều kiện thỏa đáng. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn khó
khăn về môi trường đầu tư và một số vướng mắc về cơ chế, chính sách...
Những tồn tại trên xuất phát từ những nguyên nhân khách quan (như sự chống phá của
lực lượng thù địch, bối cảnh kinh tế thị trường biến động phức tạp) và cả nguyên nhân
chủ quan. Trong đó, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế chưa thật sự đúng
đắn cũng dẫn đến những hạn chế trên. Hạn chế trong quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh có thể kể đến như sau:
Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa ngang tầm với nhu cầu phát triển.
Nhận thức một số vấn đề còn chưa có nghiên cứu sâu sắc dẫn đến sự không thống nhất
trong hoạch định các chủ trương, chính sách.
Việc tổ chức tuyên truyền, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh còn hình thức, giáo điều, hiệu
quả chưa cao. Công tác tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến, mô
hình hay, cách làm hiệu quả trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ
Chí Minh chưa thực sự tạo sức lan tỏa trong xã hội.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh trong phát
triển cơ cấu nền kinh tế ở nước ta hiện nay
Nhằm quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh một cách hiệu quả,tôi đề xuất một số giải pháp sau:
tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt trong hoạch
định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở mỗi giai đoạn xây dựng
và phát triển nền kinh tế.
nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trên cơ sở nguyên tắc
lịch sử cụ thể. Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh có nghĩa là trên cơ sở nắm
vững bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng đó
phù hợp, gắn bó sống động trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Ngoài ra, công cuộc xây dựng
và phát triển kinh tế Việt Nam có diễn biến phức tạp, xuất hiện các vấn đề, sự kiện mới
mà bối cảnh hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh chưa có. Sự trung thành với tư tưởng Hồ
Chí Minh đòi hỏi trên cơ sở đổi mới có nguyên tắc, vận dụng sáng tạo, không rập khuôn,
để phát triển tư tưởng của Người cho phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay.
tăng cường tuyên truyền, vận động nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh, khắc phục những biểu hiện của bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, giáo điều, nhất là
bệnh coi nhẹ lý luận, ngại học lý luận chính trị và các chủ trương, đường lối của Đảng.
Các hoạt động tuyên truyền, nghiên cứu và vận dụng cần được thực hiện nghiêm túc, định
kỳ kiểm tra, giám sát, khen thưởng... KẾT LUẬN
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề
cơ bản của Cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ
nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta trong từng giai đoạn cách mạng nhằm
đảm bảo kháng chiến thắng lợi và kiến quốc thành công. Ngày nay, điều kiện trong nước
và thế giới đã có những biến đổi sâu sắc nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư
tưởng về kinh tế của Hồ Chí Minh nói riêng vẫn có ý nghĩa lớn lao . Thấm nhuần được
những nguyên lý trong quan điểm và tư tưởng của Người, sau mỗi các kỳ Đại hội Đảng
cơ cấu nền kinh tế ở nước ta đã có những sự đổi mới tiến bộ về cơ cấu kinh tế nhằm phù
hợp với thực tiễn Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng hơn. Với
những thành tựu trước mắt đi cùng với sự phát triển kinh tế đất nước theo chiều sâu: thay
đổi tỷ trọng cơ cấu các ngành kinh tế - đi lên từ một quốc gia trọng nông nay dần hình
thành các ngành công nghiệp trọng điểm và dịch vụ phát triển vững chắc; nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự tổ chức, định hướng cao về mặt xã hội cho thấy
con đường vận dụng quan điểm của Người là vô cùng cần thiết và chính xác. Đảng và
Nhà nước đã phân tích và vận dụng sâu sắc và có hiệu quả gắn với thực tiễn, cần phải tiếp
tục phát huy và có những quyết định quyết đoán, sáng tạo giúp đất nước hoàn thành thời
kỳ quá độ, vững chắc đi lên chủ nghĩa cộng sản. Là một sinh viên tôi vô cùng ngưỡng mộ
và biết ơn những di sản vô giá Người đã để lại cho dân tộc cũng như biết ơn những nỗ lực
mà Đảng Cộng sản ta đã thực hiện suốt con đường gần 50 năm. Thực sự những giá trị mà
Bác để lại là quá lớn, dân tộc ta chắc chắn sẽ luôn văn minh, tiến bộ, sẽ chiến thắng được
nghèo nàn, ngày càng giàu có về vật chất và cao đẹp về tinh thần.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Bộ giáo dục và đào tạo,
(2016), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; 2. 2011; 3. Hồ Chí Minh (1953),
, được đăng trên báo Cứu quốc dưới bút
danh Đ.X từ ngày 16-1 đến 23-9-1953;
4. Hồ Chí Minh, Báo cáo dự thảo Hiến pháp sửa đổi năm 1959;
5. Ths. Lê Minh Đồng (19/12/2018),
6. Ths. Vũ Thị Thu Hà (30/04/2020),