1
M U Đ
1. Lý do ch tài n đ
Thăng Long Tứ n là c thường dùng đ n ngôi đ tr m t gi tt b n
thiêng tr n gi b n phương ca kinh thành Thăng Long xưa. Phía Đông là
đ n B ch Mã, th th n Voi Phn Long Đ. Phía y là đ c, th th n Linh
Lang. Phía Nam là đ n Cao Sơn. Phía Bắc là đn Kim Liên, th th n Quan
Quan ni m có T tr i ng u nhiên t n t i. n Thăng Long không ph
Nhưng Thăng Long có bn ngôi đ i đn bo v ngay t bu u quy hoch
kinh đô vào thời như thu Thăng Long Tứ n tt ng tr o ra? Hay T
trn l c hình thành qua th o dn lượt đư ời gian và được t ng thêm ý
nghĩa tr n đ trên đang còn b . Đây là vn đn gi? Nhng v ng ch yếu
mà Lu tìm hi u, nghiên c u v s hình thành và bi n n án đt ra trên cơ s ế
đ i Tc th T tr Hà Nn Thăng Long i.
2. M u c đích nghiên c
2.1. Phác th o m t cái nhìn t ng th v t c th tr T n Thăng Long
Hà N i t n ngày nay. khi hình thành cho đế
2.2. ớc đ ng u lý gii s to dng truyn th tc th T trn
Thăng Long.
2.3. Ki m ch ng m phù h p c a lý thuy o d ng truy n c đ ết t
thng ( u trư ợp TụThe invention of traditional) vi nghiên c ng h c th
T tr Hà N n Thăng Long i.
3. Đi tưng và phm vi nghiên cu
3.1. Đi tượng c tài là t c th T tr Hà N i. a đ n Thăng Long
3.2. Ph m vi
- V th i gian: nghiên c u t c th t khi t o d n nay. ng cho đế
- Ph m vi không gian: t p trung ch y a gi i hành chính ba ếu vào đ
qun Hoàn Ki ếm, Ba Đình, Đng Đa.
4. Hư n, phương pháp nghiên cng tiếp c u
4.1. Hướng tiếp cn: - Hư ếng ti p cn Lch s c th .
2
4.2. Phương pháp nghiên cu: Phương pháp nghiên cu tài liu th
cp; Phương pháp đi c; Phương pháp phân tích, tn dã dân tc h ng hp
liên ngành.
5. K t qu nghiên c a lu n án ế u và đóng góp c
- Cung c p m t h th v T c th T tr n ng tư liu tương đi đy đ
Thăng Long Hà Ni;
- Phác th o nên di n m o t c th tr Hà N i t T n Thăng Long
khi t o d n ngày nay; ng cho đế
- Góp ph n ki m ch ng m phù h p c a lý thuy o d ng truy n c đ ết t
thng trong vic t ng o d tc th T tr Hà N i. n Thăng Long
6. B c c c a Lu n án
Ngoài ph n M u, K t lu n, Tài li u tham kh o và Ph l c, ph n đ ế
chính văn c n án đư c thành 4 chương như sau:a lu c b c
Chương 1:
TNG QUAN V NHNG V LIÊN QUAN N Đ
Đ ĐN TÀI
Chương 2:
T TC TH T TRN THĂNG LONG T O D NG
ĐẾN TẠ NG TRƯỚC NĂM O DNG TRUYN TH
1945
Chương 3:
S BI I T C TH T TRẾN Đ N THĂNG LONG
T N NAY SAU NĂM 1945 Đ
Chương 4:
MT S BÀN LUN V T C TH T TR N
THĂNG LONG TRONG CUC SNG HIN NAY
3
CHƯƠNG 1
TNG QUAN V NH NG V TÀI N Đ LIÊN QUAN ĐN Đ
1.1. T ng quan v ngu u và tình nh nghiên c u n tư li
1.1.1. Tứ n Thăng Long” qua các ngun tư li tr u
1.1.1.1. Ngu c n t ng tr n. n tư liu đ p riêng đế
*. Thư tch c: Phn ln các ngu cn tư liu giai đon này đ p đến T
trn m t cách riêng bi t như Vit đi Lĩnh Nam chích quái n u linh và biên
son vào thi Tr n (th ế k XIV). Ph n cu i thi đế ế k XIX, T trn mi
thy xut hin trong m t s b p sách ; T sách như: Tậ Hà Ni đa dư p
sách ; T p sách biên Đi Nam nh t th ng chí Hà Ni sơn xuyên phong vc
son vào khong cu Trong i năm 1887; Tuy i.n tp văn bia Hà N
Ghi chép v t c l nh th cúng t i t ng Tr n có các t p tài li u , quy đ
ch Hán sau đây: Hà khu phường hương l, Bch Mã t Tam giáp hương
l, Đi Nam th n l kh o l Hoàn Long Th L tr i th n tích c, B c; ; Hoàn
Long Kim Liên phưng khoán ướ n Quán l n quán mc; Tr c, Tr c
tích, Tr n thn mng hin ng ký.
*. Ngu u c c ngoài, n tư li a người nướ bao g m ghi chép c a nh ng
tác gi i châu Âu vào kho ng th i gian t th k ngư ế XVII đến năm 1945,
đư c gi i thi u trong cun . Hà N i qua tài li u và tư liu lưu tr
1.1.1.2. Ngu c n h th ng T tr n tư liu đ p đế n Thăng Long
Ngun tư li u thư tu này ch bao gm nhng tài li ch.
th i HTp Bn đ ng Đc ph n ánh v v trí nh n, quán ng ngôi đ
to thành T tr n b o v n là t p sách ch Hán thành Thăng Long. Tiếp đế
Hà Thành Linh tích c l tích kh o t nh h i c, và t p sách Thăng Long c
đ c a tác gi Đ ng Xuân Khanh (1956).
1.1.2. Tình hình nghiên c u
*. Nh ng nghiên c u, nh nh v t ng tr n n đ
Nghiên c u v tr n B c có Khóa lu n t t nghi p Kho sát H th ng
văn b c Hán Nôm đn kh n Quán Thánh; hay Lun văn: Đn Voi Phc
Th L di tích và l h i.
4
Bên c i tr c n nh ng khía c nh khác nh đó m n cũng được đ p đế
nhau như:
- V th n tích và truy n thuy t v các v th n c a t ng tr n có T p sách ế
Văn hc dân gian ngư Đa chí văn i Vit Góc nhìn th loi. T p sách
hóa dân gian Thăng Long Đông Đô - - Hà Ni. T p sách S tích các v
thn Thăng Long Hà Ni; Tp sách Truyn k dân gian Hà Ni.
- V ng và l h i: T p sách tín ngư L Hi Thăng Long; Tín ngưng
dân gian Hà N i s hi n nayi trong đ ng văn hóa đô th
*. Nh ng nghiên c u, nh nh v T tr n n đ
Năm 1975, khi Hà Ni đã tr đô ca nư thành th c Vit Nam thng
nht, thut ng Thăng Long T n mới được đ ởi đ tr cp tr li, kh u là
tác gi Tr n Qu ng nêu lên trong sách c Vư Hà Ni nghìn xưa. Năm
2001, trong bài Đôi đi ch thành Thăng Long”, tác giu v quy ho Trn
Quc Vượng đ n đ cp li v T trn. Tác gi Hoàng Giáp (Vin Nghiên
cu Hán Nôm) v i bài vi Hà N ết Thuyết ngũ hành và Thành c i đã
phân tích v v th n tr n c a B c.
Nhân d p k ni m 1000 năm Thăng Long Hà Ni vào năm 2010, trên
cơ s quan đi c Vư đc đi m ca tác gi Trn Qu ng v m , đt thiêng
không gian thiêng trong tính cách tôn giáo trong vi ng đô thành c xây d
ca kinh thành Thăng Long xưa, m ết liên quan đến Thăng t lot bài vi
Long T tr n gi a T c th T tr n đã phân tích, kiế i ý nghĩa c n như sách
Tín ngưỡ i trong đ g văn hóa đô thng dân gian Hà N i sn hin nay. Bài
viết Không gian thiêng ca Thăng Long i c Hà N a tác gi Đ Quang
Hưng, trong hi tho khoa hc quc tế Phát tri n b n v ng Th i đô Hà Nộ
văn hiến, anh hùng, vì hoà bình. tr bài Thăng Long T n cũng là tiêu đ
viết c a tác gi Văn Lan in trong sách Du xưa chuyn cũ Thăng Long
Hà Ni. T nhng ngu n tài li u trình bày ph n trên, chúng tôi cho
rng quan ni m T tr c t o d ng mu n nh t là vào th i n Thăng Long đư
Nguyn và các tác gi ngày nay kế th a.
5
1.1.3. Nh n nh v ngu u, tình nh nghiên c u và v đ n tư li n đ
đt ra cho đ tài
*. Nhng nh vn đnh sơ b ngu u và tình hình nghiên c u: n tư li
a) N n ch Hán cho ta m t t p h u v các v ếu như các văn b ợp tư li
thn, thì nhng tài liu ghi chép c i châu Âu va ngư Thăng Long - K
Ch đã th n đư m, suy nghĩ và cách qu a ngư hi c quan ni n lý c i
phương y...Đây là ngun tư liu quan trng giúp chúng ta tìm hiu v
Tc th T trn trong quá kh.
b) T ngu ch c có th nh m t cách i th i n tư liu thư t xác đ tương đ
gian hình thành cũng như thi gian xut hin thut ng T trn.
c) Nh n l n là nh ng tài li c n ng tư liu sau năm 1954 ph u đ p đế
tng tr nghiên cn dưới góc đ u chuyên ngành như Hán Nôm, Văn hóa
hc Vic bin gii tc th t ng tr n tr c ph n ánh cũng như T n đư
ri rác trong m t s công trình c a các tác gi khác nhau. Ngoài ra, s thay
đ i ca Tc th T tr c nghiên cn cũng ít nhiu đư u kh o sát.
*. Nhng v i vn đ đt ra đ i vi m nghiên c u T c thc sưu t T
trn Thăng Long Hà Ni hin nay:
a) Chưa có công trình bài viết nào đt Tứ n Thăng Long là s tr to
dng truy n th lý thuy t nghiên c u cùng tên. ng, trên cơ s ế
b) Cho đế u liên quan đến nay vn còn khá nhiu tài li n T trn bng
ch i Pháp c khai thác. Hán cũng như tư liu ngư chưa đư
c) T th c t kh o sát các ngu y còn r t nhi u ế n tư liu cũng cho th
vn đ cn phi tho lun thêm v các v thn T trn
d) Làm rõ s hình thành và bi i c a t c th T tr ến đ n Thăng Long
trong quá kh nhìn nh n v trí và vai trò c a t c th cũng là mt cách đ
này trong b i c nh cu c s i. ng đương đ
e) M t khác, t th c t ph c h i, tôn t o di tích và l h ế i cũng đã và
đang đ n đ n quan tâm đt ra nhng v c i vi Tc th T trn trong cuc
sng hi n nay.
6
Trên đây là nh n đng v đt ra cho vic nghiên cu v Tc th T
trn Thăng Long n nay, đ ời cũng là vn đ chính đ- Hà Ni hi ng th t ra
cho lu n án.
1.2. Gi i thuy t khái ni lý lu n nghiên c u ế m và cơ s
1.2.1. Gi i thuy t m t s ế khái nim.
Luận án đã gii thuy t m t s khái ni m công cế như: Khái ni m
Tc th, T n hay k ệm Trn, T c th T tr hái ni trn t
Thăng Long T trn
1.2.2. Cơ s thuy t nghiên cế u.
Lun án vn dng thuyết v To d ng truy n thng (ng
khi đưc dch hosáng to c sáng ch truy n th ng) ế ca hai c gi
Eric Hobsbawm và Terence Ranger.
1.3. T n Thăng Long trong không gian l , văn hóa, xã tr ch s
hi Thăng Long Hà N i
Bn di tích to thành T trn t a l a vùng ạc trong “không gian lõic
đất Thăng Long xưa Hà Ni ngày nay.
1.3.1. T ng quan v không gian l ch s, n hóa, xã hi Thăng
Long- Hà N i.
Không gian văn hóa xã h Thăng Long i đưi và lch s - Hà N c
phn ánh khái quát qua phân tích c a vua Lý Thái T trong bài Chiếu
di đô, ng như trong các b ắc thái văn hóa chung s triu Nguyn. S
và s đa d ắc thái văn hóa của Thăng Long chính là văn ng s - K Ch
hóa ng B c B . S - - ắc thái văn hóa riêng của Thăng Long Đông Đô
Hà N c t ng c p trung nh ng t ng i đư ạo ra do môi trư a kinh đô, nơi t
lp trí th i a sc, nơi qua l và giao lưu củ thn, ca thương nhân các
nưc.
1.3.2. T c th T tr n trong b i c nh tôn giáo tín ngưng ca
Thăng Long - Hà Ni.
7
Thăng Long - Hà Ni dung cha nhiu loi hình n go, tín
ngưng. Đặc điểm tôn giáo tín ngưng này đã đưc hình thành t bu i
đầu đ a nưc Đ XI cho đếc lp t ch c i Vit thế k IX - n tn ngày
nay.
Tiu kết
“Không gian thiêng Thăng Long đã đưc vương triu Lý to dng
t bu trí b n tri đầu đnh đô. V n ta lc gii hn b cn phương v a
kinh thành Thăng Long xưa. B ảnh hưn di tích mang và chu ng nhng
đc tính ca không gian văn hóa xã h tôn giáo tín ngưi lch s ng ca
không gian Thăng Long ệm Thăng Long T- Hà Ni. Quan ni trn
bo v hay tc th b n t o thành T tr n có th c t o n ngôi đ đư
dng t s m, nh t ngưng thu T tr n t t hi n mu n trong m t xu
văn bn thi Nguy n. Trong chng mc nh nh chính sất đ t o dng
truyn th m t nguyên g c Eric Hobsbawm và Terence ngmà cụ c đư
Ranger s d ng trong thuy t c ế a mình là The invention of tradition.
8
Chương 2
TC TH T TR - T T O D NG N THĂNG LONG
ĐẾN TẠO DNG TRUYN THNG
TRƯC NĂM 1945
Trong chương này chúng tôi chia thành hai giai đon đ kho sát,
nghiên c u v T c th T tr n g m: 1. n t o d ng t c th Giai đo
T trn (Tm l y m c t th u thi đến đ i Nguyn); 2. Giai đon
to dng truyn th i thng(tương đương v i Nguyn).
Thut ng o d c s d ng hàm t ng trong giai đon đu (2.1) đư
nghĩa bao g n tích, niên đ ng, ý nghĩa bim truyn thuyết, th i to d u
tưng... liên quan đế n đ n ngôi đn đã đưn b c thn b c các ngun
s li c n t o d ng u, thư tch đ p đến. Theo chúng tôi đây là giai đo
cơ b ng ý nghĩa v u tưng dưn, hình thành nên hn ct vi nh bi ng
như bt biến ca tc th T trn.
Thut ng o d ng truy n th n th hai (2.2) t ng trong giai đo
đưc s d trng hàm nghĩa: quan nim Thăng Long có t n b o v
đư c to dng vào khong th i Nguy c hin, nhưng li đư u là truy n
thng v n v i th i k mn đã có t xa xưa và g i đnh đô dưi vương
triu Lý.
2.1. Giai đo n (1010n to dng tc th T tr -1802)
2.1.1. Niên đ nh Ti to dng và nhng ln tu ch trn
Bn ngôi đn đư ng không đc to d ng thi. Nhng ln tu chnh
bn ngôi đn cũng đư c đc s liu phn ánh m khác nhau, cho thy
bn ngôi đn chưa n a thành Thăng Long và cùng m trong quy hoch c
mang ý nghĩa tr m cho kinh đô Thăng Long trưn y ng tn t thi Lý
(1010-1225).
2.1.2. Lai l ch công tr ng c a b c th n. n Đ Bn đ n đc th u có
công b o v cho qu c gia dân t ng t n, c ng c ngai vàng. c trư
2.1.3. Bi c th b n c th n. u tưng và ý nghĩa t Đ Có th nh n
thy, l a t c th n t o d ng là ch ng gi c p ý nghĩa chính c giai đo
ngoi xâm, b o v và c ng c n c a các tri vương quy u đi phong
kiến t th i Lý, th i Tr n th i h u Lê. n đế
9
2.1.4. Vi c ph ng th b n c th Đ n. Trong ph n Th l và L nghi
ca Kiến văn tiu lc nh n duy nh n B ch Mã, là m t c đế t ngôi đ
trong tám ngôi đ thưng đ n.... Ba ngôi đn th ng th n Voi Phc,
Quan Thánh và Kim Liên không c c p. Bên c nh nh ng đư sách đ
quy đ phương như trong nh có tính quan Kiến văn tiu lc phn ánh,
nhng ngu u tr c ti p vi t n tư li ế ế đến b n góp ph n cung c p n ngôi đ
thêm vi c ph ng th b c th n đ n.
2.1.5. T ng k t và nh n xét: ế T tr c t o d ng vào th i gian n đư
khác nhau. M c th n có bi ng và ý u i Đ u tư nghĩa riêng nhưng t
chung đ vương quyu có công trong vic bo v quc gia, cng c n.
Tc th b c th c ph n ánh m khác nhau. n đ n đư c đ
2.2. Giai đon t ng T a Thăng o dng truyn th trn t c
Long (1820-1945). Đây là giai đon khoác thêm cho bn ngôi đn
vai trò b o v tr n gi khi hình thành vào cho kinh đô Thăng Long t
thi Lý.
2.2.1. B i c nh l ch s xã h i Hà N o d ng truy n i giai đon t
thng. Năm 1802, kinh đô đt nư ế. Kinh đô Thăng c chuyn vào Hu
Long v n là trung tâm chính tr , kinh t a c c lúc này ế, văn hóa c nư
ch còn vang bóng, tr thành tr n thành mi n B c.
2.2.2. Cơ s ng T cho Thăng ca to dng truyn th trn t
Long. Chúng tôi cho r ng quan ni tr c hình thành t m T n đư
nhng cơ s i đây: dư
*. Th nh c t o l p t: không gian thiêng Thăng Long đã đư
khong 800 năm trưc
*. Th c th n b u có công giúp các tri u hai: Các đ n ngôi đn đ
đi đương th vương triu như đã đi dp gic, tr tà, cng c cp
phn 2.1.2.
*. Th c li n s m 3: Các cơ s u liên quan đế hình thành quan ni
T trn
*. Th m tin vào y u t phong th y c tư: Ni ế a kinh thành Thăng
Long
2.2.3. T c th T tr o d ng truy n th n giai đon T ng.
10
Chính b i truy n th c t o d ng mang tính chính tr nên khi ng đư
nghiên c u t c th tr n ki n T n Thăng Long qua hai phương di ế
trúc v t ch ph ng th tinh th n t cũng như s n thì dưng như truy
th u.ng đư n đưc to dng không biu hi c gì nhi
2.2.3.1. Không gian c nh quan ki n trúc T tr ế n. Nh ng t m nh
ca ngư i gian năm i đây phi Pháp chp vào khong th 1883 tr l n
ánh nh n thu c T tr n khá g i di n m o v i không ng ngôi đ n gũi v
gian c nh quan ki n trúc hi n nay. ế
2.2.3.2. Vi c th ph ng. i Nam h n s l Sách Khâm đnh Đ i đi
(triu Nguy ng nghi th c t t t n mi u t i kinh n) quy đnh nh ế i các đ ế
đô, cũng như các trc tnh (Hà Ni thi gian này là trc tnh).
Tiu k t ế
Theo th i gian b n di tích t o thành T tr n l c hình n lưt đư
thành, công tr ng c a b c th n ít nhi c ph n ánh g n li n v i n đ u đư
vic b o v qu c gia c ng c n c a các tri i t th i Lý vương quy u đ
đến đ n ngôi đu thi Nguyn. Mt khác, b n cùng ta lc v bn
hư ớng Đông, Tây, Nam, B n đic, có th coi là b m m c gii v
phương v cho không gian thiêng ca kinh đô Thăng Long. Trên
nhng cơ s đó các Nho sĩ th n đã i Nguy to dng thêm thut ng
T trn t m thiêng hóa cho t nh ng trn cũng như không gian
thiêng kinh đô Thăng Long. S n hay kế ph t qu to dng truyn
thng T ca Thăng Long dường như không như mong đ trn t i
ca các Nho sĩ thi Nguyn. Tuy vy, nn móng t s to d ng truy n
thng đó s thành đi tr m ta cho s phc hi tr li tc th T trn
Thăng Long vào giai đon nư t Nam đc Vi c lp, t ch.
11
Chương 3
S BI N I T C TH C A T TR N Đ
THĂNG LONG T SAU NĂM 1945 Đ N NAY
3.1. T c th T tr n t phát (1945-1986) n Thăng Long giai đo
T phát là khái nim tương đi, th hi n qun trên hai phương di n
lý di tích và vi c ph ng th . M c dù b n v n ch u s nh n ngôi đ quy đ
cũng như chính sách v tôn giáo tín ngư a nhà nưc, nhưng ph ng c n ánh
v c ng t i bnh quan di tích cũng như nhng hot đng tín ngư n ngôi
đn dường như mang tính t phát.
3.1.1. B i c nh l ch s Th i. đô Hà N Lun án đ p đế c n bi cnh
xã h i vào nh n c th ng giai đo như: Giai đo 1954; Giai đon 1945- n
1954-1975; Giai đon 1975 -1986. Trong m u nh n m nh i giai đon đ
vào nh ng s ki n l ch s tr ng y tôn giáo, tín ếu cũng như chính sách v
ngư ng c c. Ta Đng và Nhà nư cu n này i giai đo các nghi th c và l
hi truy n th ng b c ph c h t đu đư i.
3.1.2. Tc th T trn Thăng Long giai đon t pt (1945-1986)
3.1.2.1. C nh quan di tích T tr n. Sau khi hòa bình l p l i (năm 1954)
nư c ta chia thành hai mi i dân di tn. Ngư n quay tr l i Th đô sinh
sng. Nhi u di tích b bi ng h c, nhà ... Cùng chung ến thành nhà kho, trư
tình tr nh quan ki n trúc T tr n ít nhi u b ng, thay ng như trên, c ế tác đ
đi.
3.1.2.2. Vic phng th T trn. Kiến trúc cnh quan T trn đu ít nhiu
b ln chiếm, xung cp. Công tác qun lý bn ngôi đn đu do hi ngưi cao
tui trong làng c ngưi đm nhim. Kinh phí cho vic duy trì hương khói, tế l
đu t ngun công đc ca khách thp phương.
3.2. T c th tr n ph c h i và k t c s T n Thăng Long giai đo ế
to d ng truy n th ng t n nay sau 1986 đế
3.2.1. B i c nh l ch s . Giai đon này tiếp tc phc hi và phát trin
mnh m hơn. Trong khong 15 năm tr i đây, nhân d l p k nim 990
năm, 995 năm và 1000 năm Thăng Long u di tích được đ- Hà Ni, nhi u
tư tu b o. Đ ng đim đ tôn t c bit là nhng công trình có tính cht tr k
12
nim, tro tr ng đó có 4 di tích thuc Tứ n Thăng Long. Ngôn thuyết Tứ
trn Thăng Long tiế , đưp tc thu hút s quan tâm ca các hc gi c phân
tích dư u góc đ n thúc đ i ti nhi , góp ph y vic phc h o dng truyn
th n.ng Tứ n Thăng Long” t tr thi Nguy
3.2.2. Tc th T trn Thăng Long. Có th nhn thy s ch đ o t
Chương trình 05 Ctr/TU ngày 30 tháng 5 năm 2001 c- a Thành y Hà N i:
... Hoàn thành tôn to T trn..cùng quan nim không gian thiêng Thăng
Long T trn chính là cơ s cho s phc hi tc th các ngôi đn to thành
T trn trên c hai phương din vt th và phi vt th . Bên c nh s phc hi là
s tích hp thêm nhng tín ngưng th t mới vào không gian tín ngưng
vn có ca bn ngôi đn.
* 3.2.1.1. nh hình qu n lý di tích và ngu n kinh phí T tr n
Tình hình qu n lý di tích và ngu n kinh phí c a T tr n hi n nay cơ
bn mang nhng đim chung như:
- V qu n lý di tích: C b c x p h ng di tích c p n ngôi đn đu đã đư ế
Quc gia, nên đt dư a nhà nưi s qun lý c c. Vic tu b tôn to, hot
đ ng di tích ph i tuân theo Lu t Di s i trn văn hóa. n cnh đó, (ngo
trn Bc) Ban qu n lý di tích T tr n là s k ết hp gia chính quyn và h i
ngư i cao tui nh ng xuyên vim duy trì thư c phng th t n. i ngôi đ
- Ngu n kinh phí: B u có ngu n kinh phí t ti c n ngôi đn đ n công đ
ca khách th c tu b , tôn t c cp phương. Vi o di tích đu đư p t ngân
sách c c. a Nhà nư
3.2.1.2. Vi c ph c h i, m r ng quy mô, m t b ng và c nh quan ki n ế
trúc c a T tr n. Trước năm 2000, quy mô, mt bng kiến trúc ca T trn
phn ln là vết tích, du n t th lời Trung Hưng tr i đây. Tuy nhiên,
t nh p t ch i l k ning năm 2000 đến năm 2010, vào d c đ m Thăng
Long tròn 1000 năm tu n ti, du hiu ca s phc hi tinh th o dng
truyn th trng Thăng Long T n n vkhá đm nét trên phương di t cht
và tinh thn.
3.2.1.3. Vi c ph ng th , t l T tr n ế trong năm
3.2.1.4. Vi c ph c h i l h i T tr n
13
Song song v i vi tôn t o T tr n m c đu tư kinh phí tu b t cách quy
mô vào d i l k ni ong - Hà N i, l h i T p đ m 1000 năm Thăng L
trn cũng đư n, quy mô nhưng vc nghiên cu phc hi và t chc bài b n
mang nh ng nét riêng trong ph m vi c a làng - n phường nơi bn ngôi đ
ta l c.
Tiu kết
Bi c nh xã h i t u bi ng, năm 1945 đến trước năm 1986, có nhi ến đ
ít nhi n t c th T tr n. Ph n nh u đã làm gián đo i đế ng năm 1990 thế
k XX v i nh ng chính sách v ng c c tôn giáo, tín ngư a nhà nước, đ
bit là ch đo c a Thành y Hà N i thông qua Chương trình 05 hưng ti
l k ni Hà N i, cùng v i quan m 990 năm và 1000 năm Thăng Long
nim v Thăng Long có Tứ trn bo v, tc th t trn có s phc hi khá
mnh m . Bên c n này t c th nh đó, giai đo T trn Thăng Long” đã
tích h p thêm nh ng th t m ng tín ngư i vào không gian th n vn đi n
có.
T khi hình thành cho đến nay, Tc th T trn Thăng Long Hà Ni mc
dù đã có nhng lp văn hóa cũng như lớp ý nghĩa biu tưng chng xếp nhưng
có th khng đnh: Vai trò trn gi bo v vương quyn, quc gia ca các Đc
thn là si ch đ xuyên sut trong quan nim, nim t hào ca cư dân Vit t
Thăng Long xưa đến Hà Ni ngày nay.
14
CHƯƠNG 4
MT S BÀN LU N V T C TH T TR N THĂNG LONG
TRONG CU C S NG HI N NAY
4.1. T tr so sánh v tr n Thăng Long qua s i các T n khác
4.1.1. Thăng Long Tứ ới Tứ ca kinh đô Hoa trn qua so sánh v trn
Lư
4.1.2. Thăng Long T ới Tứ n c trn qua so sánh v tr a thành c
Lng Sơn
Nếu tín ngư tương ng dân gian và quan nim phong thy to nên s
đ ng v quan ni m có T tr n b o v cho kinh đô, cho thành, thì v trí đ a
chính tr i m i thành t a l c t o nên s khác bi t. , văn hóa nơ
4.2. So sánh t c th c a các tr n trong T tr n Thăng Long
Đim tương đ n được đ p đếng và khác bit trong tc th T tr c n
bao g m: Ki n th ng th tài trang trí; Vi c ến trúc, đi n, tư ờ; Hoa văn và đ
phng th.
4.3. Các xu hư n đng chuy i ca Tc th T trn hin nay
4.3.1. Xu hư n đng chuy i ni dung tc th. T ghi chép ca nh ng
tài li u th k n nay, t c th c th n trong T tru đ ế XX cho đế các Đ n đã
có nh i. Hi n nay, s duy trì T c th T tr n, m c dù v n d a ng thay đ
trên nh ng ghi chép, nh ng h i c nhưng tính cht quan phương và vai trò
công năng ca các Đ n đã b t đi nhic th phai nh u. L phm trong dp l
T tr n ngày nay r t phong phú, bên c nh nh ng l v i nh ng v t ph m
có tính truy n th ng, còn có nh ng l ph c a cu c s ng m mang hơi th
đương đi.
4.3.2. Xu hư gia tăng s p đng quan tâm ca cnh quyn các c i
vi t c th .
Có th nh n th y s quan tâm c a chính quy n các c i v i t c th p đ
T trn phn nào mang tính chính tr i . Kinh đô Thăng Long 1000 năm tu
xng đáng có đi l k nim. Hin nhiên T trn bo v, trn ym cho
kinh đô Thăng Long trư ợc trang hoàng vng tn phi đư i mt b mt
mi cho xng t m v i v th ế, vai trò v c tn đã đư o dng.
4.3.3. Xu hư tôn giáo, tín ngưng tích hp các yếu t ng mi
15
S tích h p và h n dung nh ng khác vào không gian th t ng tín ngư
ca b n ng Tam ph , th ôi đn như th Bác H m anh hùng li, tưng ni t
sĩ góp phn làm tăng đi tượng đế bái, cũng như thời đin l m thiêng khác.
n ngưng th Tam ph, T ph đưc tích hp vào không gian T trn
phn ánh s tác đ a tín ngưng mnh m c ng th Mu trong bi cnh
đang đư c hưng phát tric ph n.
4.3.4. Xu hư thương m c đích kinh tếng i hóa di tích phc v m .
S ph n m nh m c ng thc hưng và phát tri a tín ngư Tam ph
T ph o nên m ng như đã trình bày trên đã t t th trường” cùng nh
dch v ch y theo r ng. t sôi đ
4.4. Vai trò, ý nghĩa c n Thăng longa tc th T tr
4.4.1. T c th tr n ánh l ch s nh thành T n Thăng Long” ph
và bi i c ến đ a kinh thành Thăng Long
T vi c nghiên c u t c th T tr t: Nn Thăng Long cho biế ếu như ba
v Đc th n , Linh Lang, Huy xu t hi n vào Long Đ n Thiên Thượng đế
giai đo kinh thành Thăng Long với tư cách là kinh n xây dng và bo v
đô nước Đ t đ sau hơn 1000 năm Bắ c, thì Đi Vi c lp, t ch c thu c
thn Cao Sơn xu n vào giai đo vương trit hi n cng c u, ngai vàng trong
cuc dp lon hoàng t c nhà h u Lê.
4.4.2. T c th T tr ng n Thăng Long phn ánh tôn giáo tín ngư
ca kinh đô Thăng Long trong din trình lch s
*. Ph hình thành và bi ng dân gian Hà Nn ánh s ến đi tín ngư i.
Tc th T trn - Hà N i góp ph Thăng Long n phn ánh s hình thành
tiếp biến c a t c th T tr n c ng th m a cư dân Thăng Long vào nh ời đi
khác nhau. Ban đ p tín ngưu là s du nh ng th Thành Hoàng t thi
thuc Đường (năm 823). Tiế a tín ngưp theo là s kế th ng th Thành
Hoàng t i Vi c l p t ch . Trên khi cư dân Đ t bước vào giai đon đ đây,
hình thành nên các v th n v i vai trò tr n gi , b o v cho kinh đô Thăng
Long.
Bên c n g c th u ít nhi n tín ch đó, ngu c các đ n đ u có liên quan đế
ngư ng th th n c p. Ta cư dân nông nghi th i Nguy c n cho đến trư
năm 1986, giai đo n dưn mà vai trò trn gi ca bn v thn T tr ng
như đã mt hn. Vic duy trì tc th tng trn mang tính cht khép kín
16
trong đơn v a phư phe giáp c ng hàng Bum, c a làng Th L , làng Kim
Liên, làng An Hoa. Ngày nay, v i nh ng chính sách v m văn hóa bao g
c tín ngưng tôn giáo, nhng thun li v điu kin v t ch t, kinh tế, góp
phn thúc đy nhu cu tìm hiu phc dng li nhng giá tr lch s truyn
thng.
* Ph tích h p các y u t tôn gián ánh s ế o tín ngưng. Ngu n g c b n
đ c th n T tr u tn đ t nhiên và g n v ng sinh tới môi trư ca cư dân
Thăng Long n đ đa d- Hà Ni. Vic th b c thn phn ánh s ng trong
quan ni m th th n c a cư dân Thăng Long. Ngày nay, trong không gian
th c a t ng trn còn tích hp thêm các lo ng khác vi hình tín ngư a
phn ánh s đa dng phong phú, li va cho thy s, dung hòa gia các
loi hình tôn giáo ng . tín ngư
* Ph i s ng sinh ho t l h i cn ánh đ a kinh đô Thăng Long xưa và
Hà N i nay . L h i T tr n là d p k ni ng nh v c th c m đ tư Đ n đư
tôn th , th hi n s tri ân c a th h i v c th n. Bên ế ngày nay đ ới các Đ
cnh đó, l i như là mt kênh gii trí đáp ng đư văn h c nhu cu v
hóa tín ngư thư giãn ca đa s ời dân, đng tâm linh, s ngư ng thi góp
phn c k ết c a bàn. ng đng cư dân sinh sng trên đ
Quyn năng, công lao ca các Đc thn khi mi hình thành mang ý
nghĩa ln tm qu c gia, c sau, quy c khoác a kinh đô. V n năng đó đư
thêm nh ng vai trò có tính ch t c th t. Ngày nay, T tr n , thưng nh
được đu tư nghiên cu cũng như tu b m tôn đ ln nh y vai trò, quyn
năng ca các Đ như khi mc thn lên và tr v i hình thành. S phc hi
di tích và l h i T tr n vì v y đã góp phn làm nên nét đc trưng riêng
cho văn hóa Thủ đô Hà N i làng trong ph i, bi s có mt ca các l h
mang đm du n truyn thng.
4.4.3. T c th tr n b T n Thăng Long” góp ph o lưu văn hóa
ngh thu t c truy n.
Có th nh n th y nh ng lo i hình ngh thu t c truy n luôn g n ch t
vi không gian l h i. T tr n nói chung, tr n B c nói riêng n Đông và tr
là hai bo tàng ngoài tr lưu gi n ánh sinh đi thu nh và ph ng nhng
giá tr th m m v ngh thu t bài trí, s t, ch m kh p đ c, trang trí hoa văn
trên ki ng th c a ch ến trúc, tư nhân đương thi.
17
4.4.4. T c th T tr n giáo d c truy n th ng n Thăng Long góp ph
và liên k t cế ng đng.
Nhng v th i di n đ n cho ý chí qu ng c a m t dân t c b áp bt cư c;
đ i di t cn cho tình đoàn kế a c i Ving đng ngư t cùng chung s c
ch n.ng l ch h a, ch ng li thiên tai, đ t, phòng h
4.4.5. T c th T tr n vào ho ng tham n Thăng Long góp ph t đ
quan du l ch c a Hà N i.
Nếu ki c cùng v trí t a lến trúc, điêu kh c c a b n t n ngôi đ o nên s
thng đ n đan xen gia, thì nhng câu chuy a lch s và huyn thoi v
bn nhân v c th tr thành h n c ng cho bt đư t nuôi dư n di tích trưng
tn v i th i gian. Chính nh ng giá tr đó đã góp phn làm h p d n m i i đ
tượng đến tham quan du lch.
4.4.6. T c th T tr n cân b i s ng tâm n Thăng Long góp ph ng đ
linh.
Khi Thăng Long là kinh đô, đô h ời cho đến đi ca c nưc t th u
triu Nguyn, T tr c d n Thăng Long đư ng lên theo quan ni m dân gian
với ý nghĩa bo v cho các vương triu phong kiến v ng m nh và trưng
tn. Khi Thăng Long không còn là kinh đô cho đến tn ngày nay, bn ngôi
đn thiêng mang tm qu thành không gian thiêng cho c gia trước đây tr
đi đa s i đi tượng đế ng ngư m n chiêm bái. Nhng chia s ca nh i
đế n T tr n... cho th y ph n nào vai trò ca không gian thiêng T tr n
đ i v i h.
4.4.7. Ý nghĩa c c t ng ta vi o dng truyn th c th T trn
Thăng Long
Nhng to dng t c th T tr nh hình g n đ n lin vi các tri i u đ
phong ki n Vi t Nam t th n b u tri u Nguy ng t o ế ời đế t đ n, đó là nh
dng cơ bn, nòng ct đư nh đó theo đc hiu là truyn thng. Bên c nh
nghĩa v Sáng toca tác gi Phan Dũng trong bài viết Phương pháp
lun sáng t i mo và đ i thì Sáng t t đo là ho ng to ra bt c cái
gì có đng thi tính mi và tính ích li (trong ph m vi áp d ng c th )
thì nh ng n trong m t ch ng m c nh nh chính là s i dung dưới đây t đ
t o d ng/ sáng to truy n th m phù hng nh p v i bi c nh lch s c
th m: bao g
18
Th Th Th nht, v công tác qu n lý; hai, ngu n kinh phí; ba, vic
phng th; Th tư, l h i; Th năm, nghi thc và các trò din trong l h i.
Khi b i c nh l ch s u có th c duy trì thay đi, năm ni dung trên đ đư
hoc s mai m t, t p. đó có nhng sáng to cho phù h
Tuy nhiên, m t truy n th c t o d u ki n c n v m t hình ng đư ng đi
thc là t c m t liên ko đư ết vi quá kh hay ng ý mt dòng chy tiếp
ni t quá kh t ng T tr n t tr n [20,tr.86] thì thu hay Thăng Long Tứ
đã làm được. Nhưng đi n đu ki v mt ni dung bao gm mt t p h p
nhng th ng n i s chi ph i c a nh ng lu t lực hành, thườ m dướ thành
văn hay bt thành văn, có b c hình tưn cht nng tính nghi thc ho ng
nhm kh c sâu các giá tr và tiêu chu n hành vi nh nh vào tâm th c t đ
cng đ n ng qua hình thc tái di [20,tr.86] thì t c th T trn Thăng
Long chưa th n đưc hi c. Nhng thc hành nghi l, phng th, l hi áp
dng chung cho b n th c t o ra bi u n di tích thì dường như truy ng đư
hin rt nht nhòa, ngoài vic ti tr t hin Đông xu n thêm hoành phi
Đông Trấ , trn Nam là Trn Nam Phương. Giai đon Chính T n phc
hi tinh th n t c th T tr Hà N i vào d p k ni m n Thăng Long
1000 năm Thăng Long n y có thêm hoành phi y Tr- Hà Ni, tr n
t cũng như nghi môn tr n Nam đưn Tây và tr c thiết kế tương t nhau
đã được chúng tôi đ c, giai đo i t cp trên. V mt hình th n phc h o
d hng truy n th ng có p n rõ nét hơn. Nhưng v ni dung biu hi n qua
s ph ng th b c th n t i b n tr n, nh t là vào d p l h i v n mang n đ
tính đ Trên cơ s quan đi ết Tạ ng, c lp. m ca lý thuy o dng truyn th
chúng tôi cho r ng: s o d ng truy n th tr a t ng Tứ n Thăng Long c
các Nho sĩ dư tương thích và bi n rõ nét hơn khi đi thi Nguyn s u hi t
trong b i c nh mô hình xã h i mà ch th i Vi là ngư t Nam. Và Thăng
Long v a c c. n là kinh đô c nư
Không gian thiêng c i a kinh thành Thăng Long xưa, Th đô Hà N
ngày nay v n gi nguyên v trí. Vì v y, s ph c h i tr l i T c th T
trn Thăng Long hin nay là s tiếp tc ca vic to dng truyn thng
tc th trong b i c nh m i khi mà v th Vi t Nam nói chung và Th ế đô
Hà N i nói riêng ngày m c t . T tr t lên cao trên trưng qu ế n Thăng
Long v i tính chính tr c a nó, m t m t kh nh uy linh các v ng đ th n
19
sông núi, m t m t ph n ánh s c m t tinh th n t hào v n nh đoàn kế h
thiêng sông núi ca Thăng Long Hà N ngàn xưai t
Truyề n th trng T n t ng T hay Thăng Lo tr c các Nho n đư
sĩ dư i dư u đi thi Nguyn to dng trong bi cnh lch s Hà N i tri i
phong ki n cu i cùng c a Viế t Nam đang trong giai đon thoái trào, đi vào
con đư t nước và dư nghĩa thng m i s áp bc bóc lt sâu sc ca ch c
dân Pháp xâ c. Song song v i b i c nh chính tr u tranh, m lư đó là s đ
mâu thu n, gi ng co gi a hai lu i, gi ng văn hóa cũ và m a đông và tây,
gia bo th o d và duy tân. Cho nên t ng truyn th trng Tứ n Thăng
Long” theo chúng tôi có ý nghĩa to dng nên mt không gian thiêng riêng
có c a Hà N i và ch y u mang tính chính tr ế .
4.5 nh. Tứ n Thăng Long” qua tr n th c c ng khác a các đi tư
nhau trong xã h i.
Mc dù khái ni tr c hình thành tm Tứ n Thăng Long” đư lâu nhưng
s nh n hi u v t c th này l i có s khác bi t gi ng khác a các đi tư
nhau trong xã hi.
*. Quan ni m T tr n v o v , tr n gi không gian thiêng ới ý nghĩa b .
Điu này đư n trưc xác nh c tiên qua ngôn thuyết ca các nhà khoa hc,
t đó đã đnh hướng cho cơ quan ch m Thăng Lon qun v quan ni g T
trn. Ngoài ra, tuy không ph bi tr ến nhưng Tứ n Thăng Long cũng
đư c gi i trí th c tr nhìn nh phong thn dưới góc đ y, tâm linh. V i các
nhà qu nghiên c a các nhà nghiên n lý văn hóa, thì trên cơ s u đánh giá c
cu, các cán b quan qu n th a chuyên môn các cơ n lý văn hóa đã đi đế
nhn: Thăng Long xưa t n ngôi đ ới ý nghĩa n ti b n to thành T trn v
bo v , tr n gi . N c vi trong h i dung đó đư ết và lưu gi sơ xếp hng
ca tng trn và ph bi ến trong li gii thiu treo t n. ng ngôi đ
*. Quan ni n l bái, c u cúng m Nghe đn đn thiêng thì đế
Đây là quan ni a các đi tưm chung c ng đến l bái, cu cúng, h có
th ng có, là viên ch là quan ch c. là dân thư c cũng có th
*. T n Thăng Long vớ tr i khách tham quan du lch.
Đi tư ch (khách trong và ngoài nưng khách tham quan du l c), ch
yếu bi n qua tìm hiết đến ngôi đ u sách báo, qua m n lạng. Khi đế n
đ u, h không có thi gian đ dài đ tri nghim v không gian linh
20
thng c y, y t ng mà cách hi u v a ngôi đền... Như v ng đi tư
Thăng Long T tr ấn ng s khác nhau.
*. Quan ni có ba v th n ệm Ch m m tht đi ch không có T
trn
Ngôi đền Tân Khai đư ng năm 1804 phc xây d ng th Đc thn
Bạch Mã đại vương, bên trái th Đc thn Tô Lch giang thn, bên phi
th Đc thn Thi t Lâm c th ng L c (Quy n Y m) th ế ần; Ngôi đình Đ ế ế
ba v đại vương: Cao Sơn, Bch , Linh Lang. Vi c k t t p ba v th n ế
thiêng hàng đ a kinh đô Thăng Long tu c thi k khi dng vào cùng
mt th n m t hi ng l r t c n có nh ng kh o cần đi ện tư u rng.
Tiu kết
Thăng Long T ấn, Hoa Lư T tr trn và T trn ca thành c Lng
Sơn ng đư tín ngưc to nên t ng dân gian, quan nim phong thy
và đưc đt trong b i c nh l ch s c th . Th y th n hay v th n có
ngun g c t t c th nưc c i Via ngư ệt xưa ng đưc th T tr n
ca ba a thành trên. Bên c a chính tr m i ạnh đó, v trí đ , văn hóa
vùng Thăng Long, Hoa Lư và thành cổ ạng Sơn khác nhau đã t L o dng
nên các v th n th trong T tr n ba a thành mang nh m khác ng đi
nhau.
Khi so sánh t c th gi a các tr Hà N i v i nhau, ấn Thăng Long
nếu s tương đng thưng th hin trong vic qun , hay hình thc
kiến trúc thì s khác bi t l i n ằm trong ý nghĩa biểu tư a đng c c thn
đư c th t n; Ving ngôi đ c nh n hi u v T trấn Thăng Long
ng đa dạng như s ều đi tư tn ti ca nhi ng khác nhau trong xã h i.
Th đô Hà Ni cùng vi c nưc đang trong quá trình ng nghip hóa,
hiện đại hóa đất nưc. Quá trình đô th tác đ hóa din ra mnh m ng
sâu s n di n m i s ng kinh t ắc đế ạo đ ế, văn hóa. Nhưng, quá trình đô th
hóa đó ng đã đang góp ph ển đn m chuy i tc th T trn Thăng
Long Hà N i.

Preview text:

1
M ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Thăng Long Tứ trấn” là cụm từ thường dùng để gọi tắt bốn ngôi đền
thiêng trấn giữ bốn phương của kinh thành Thăng Long xưa. Phía Đông là
đền Bạch Mã, thờ thần Long Đỗ. Phía Tây là đền Voi Phục, thờ thần Linh
Lang. Phía Nam là đền Kim Liên, thờ thần Cao Sơn. Phía Bắc là đền Quan
Thánh, thờ thần Huyền Thiên thượng đế.
Quan niệm có Tứ trấn Thăng Long không phải ngẫu nhiên tồn tại.
Nhưng Thăng Long có bốn ngôi đền bảo vệ ngay từ buổi đầu quy hoạch
kinh đô vào thời Lý như thuật ngữ “Thăng Long Tứ trấn” tạo ra? Hay Tứ
trấn lần lượt được hình thành qua thời gian và được “tạo dựng” thêm ý
nghĩa trấn giữ? Những vấn đề trên đang còn bỏ ngỏ. Đây là vấn đề chủ yếu
mà Luận án đặt ra trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu về sự hình thành và biến
đổi Tục thờ Tứ trấn Thăng Long ở Hà Nội.
2. Mục đích nghiên cứu
2.1. Phác thảo một cái nhìn tổng thể về tục thờ “Tứ trấn Thăng Long” ở
Hà Nội từ khi hình thành cho đến ngày nay.
2.2. Bước đầu lý giải sự “tạo dựng truyền thống” ở tục thờ “Tứ trấn Thăng Long”.
2.3. Kiểm chứng mức độ phù hợp của lý thuyết “tạo dựng truyền
thống” (The invention of traditional) với nghiên cứu trường hợp “Tục thờ
Tứ trấn Thăng Long ở Hà Nội”.
3. Đối tượng và phm vi nghiên cu
3.1. Đối tượng của đề tài là tục thờ Tứ trấn Thăng Long ở Hà Nội. 3.2. Phm vi
- Về thời gian: nghiên cứu tục thờ từ khi tạo dựng cho đến nay.
- Phạm vi không gian: tập trung chủ yếu vào địa giới hành chính ba
quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa.
4. Hướng tiếp cận, phương pháp nghiên cứu
4.1. Hướng tiếp cn: - Hướng tiếp cận Lch s c th. 2
4.2. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ
cấp; Phương pháp điền dã dân tộc học; Phương pháp phân tích, tổng hợp liên ngành.
5. Kết qu nghiên cứu và đóng góp của lun án
- Cung cấp một hệ thống tư liệu tương đối đầy đủ về Tục thờ Tứ trấn Thăng Long ở Hà Nội;
- Phác thảo nên diện mạo tục thờ “Tứ trấn Thăng Long” ở Hà Nội từ
khi tạo dựng cho đến ngày nay;
- Góp phần kiểm chứng mức độ phù hợp của lý thuyết “tạo dựng truyền
thống” trong việc “tạo dựng” tục thờ Tứ trấn Thăng Long ở Hà Nội.
6. B cc ca Lun án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần
chính văn của luận án được bố cục thành 4 chương như sau:
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Chương 2: TỤC THỜ TỨ TRẤN THĂNG LONG TỪ TẠO DỰNG
ĐẾN “TẠO DỰNG TRUYỀN THỐNG” TRƯỚC NĂM 1945
Chương 3: SỰ BIẾN ĐỔI TỤC THỜ TỨ TRẤN THĂNG LONG TỪ SAU NĂM 1945 ĐẾN NAY
Chương 4: MỘT SỐ BÀN LUẬN VỀ TỤC THỜ TỨ TRẤN
THĂNG LONG TRONG CUỘC SỐNG HIỆN NAY 3 CHƯƠNG 1
TNG QUAN V NHNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Tng quan v nguồn tư liệu và tình hình nghiên cu
1.1.1. “Tứ trấn Thăng Long” qua các nguồn tư liệu
1.1.1.1. Nguồn tư liệu đề cập riêng đến tng trn.
*. Thư tịch c: Phần lớn các nguồn tư liệu giai đoạn này đề cập đến Tứ
trấn một cách riêng biệt như Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái biên
soạn vào thời Trần (thế kỷ XIV). Phải đến cuối thế kỷ XIX, Tứ trấn mới
thấy xuất hiện trong một số bộ sách như: Tập sách Hà Nội địa dư; Tập
sách Đại Nam nht thng chí; Tập sách Hà Nội sơn xuyên phong vực biên
soạn vào khoảng cuối năm 1887; Trong Tuyn tập văn bia Hà Nội.
Ghi chép về tục lệ, quy định thờ cúng tại từng Trấn có các tập tài liệu
chữ Hán sau đây: Hà khẩu phường hương lệ, Bch Mã t Tam giáp hương
l, Đại Nam thn lc, B kho lc; Hoàn Long Th L tri thn tích; Hoàn
Long Kim Liên phường khoán ước; Trấn Vũ Quán lục, Trấn Vũ quán mặc
tích,
Trấn Vũ thần mng hin ng ký.
*. Nguồn tư liệu của người nước ngoài, bao gồm ghi chép của những
tác giả người châu Âu vào khoảng thời gian từ thế kỷ XVII đến năm 1945,
được giới thiệu trong cuốn Hà Ni qua tài liệu và tư liệu lưu trữ.
1.1.1.2. Nguồn tư liệu đề cập đến h thng T trấn Thăng Long
Nguồn tư liệu này chỉ bao gồm những tài liệu thư tịch.
Tập Bản đồ thi Hồng Đức phản ánh về vị trí những ngôi đền, quán
tạo thành Tứ trấn bảo vệ thành Thăng Long. Tiếp đến là tập sách chữ Hán
Hà Thành Linh tích c lc, và tập sách Thăng Long cổ tích kho tnh hi
đồ của tác giả Đặng Xuân Khanh (1956).
1.1.2. Tình hình nghiên cu
*. Nh
ng nghiên cu, nhận định v tng trn
Nghiên cứu về trấn Bắc có Khóa luận tốt nghiệp Kho sát H thng
văn bản khắc Hán Nôm đền Quán Thánh; hay Luận văn: Đền Voi Phc
Th
L di tích và l hi. 4
Bên cạnh đó mỗi trấn cũng được đề cập đến những khía cạnh khác nhau như:
- Về thần tích và truyền thuyết về các vị thần của từng trấn có Tập sách
Văn học dân gian người Vit Góc nhìn th loi. Tập sách Địa chí văn
hóa dân gian Thăng Long - Đông Đô - Hà Ni. Tập sách S tích các v
th
ần Thăng Long – Hà Ni; Tập sách Truyn k dân gian Hà Ni.
- Về tín ngưỡng và lễ hội: Tập sách L Hội Thăng Long; Tín ngưỡng
dân gian Hà Nội trong đời sống văn hóa đô thị hin nay
*. Nhng nghiên cu, nhận định v T trn
Năm 1975, khi Hà Nội đã trở thành thủ đô của nước Việt Nam thống
nhất, thuật ngữ “Thăng Long Tứ trấn” mới được đề cập trở lại, khởi đầu là
tác giả Trần Quốc Vượng nêu lên trong sách Hà Nội nghìn xưa. Năm
2001, trong bài “Đôi điều về quy hoạch thành Thăng Long”, tác giả Trần
Quốc Vượng đề cập lại vấn đề Tứ trấn. Tác giả Hoàng Giáp (Viện Nghiên
cứu Hán Nôm) với bài viết “Thuyết ngũ hành và Thành cổ Hà Nội” đã
phân tích về vị thần trấn cửa Bắc.
Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội vào năm 2010, trên
cơ sở quan điểm của tác giả Trần Quốc Vượng về đặc điểm đất thiêng,
không gian thiêng trong “tính cách tôn giáo trong việc xây dựng đô thành”
của kinh thành Thăng Long xưa, một loạt bài viết liên quan đến Thăng
Long Tứ trấn đã phân tích, kiến giải ý nghĩa của Tục thờ Tứ trấn như sách
Tín ngưỡng dân gian Hà Nội trong đời sng văn hóa đô thị hin nay. Bài
viết “Không gian thiêng của Thăng Long – Hà Nội” của tác giả Đỗ Quang
Hưng, trong hội thảo khoa học quốc tế Phát trin bn vng Th đô Hà Nội
văn hiến, anh hùng, vì hoà bình. “Thăng Long Tứ trấn” cũng là tiêu đề bài
viết của tác giả Lê Văn Lan in trong sách Dấu xưa chuyện cũ Thăng Long
Hà Ni. Từ những nguồn tài liệu trình bày ở phần trên, chúng tôi cho
rằng quan niệm Tứ trấn Thăng Long được tạo dựng muộn nhất là vào thời
Nguyễn và các tác giả ngày nay kế thừa. 5
1.1.3. Nhn định v nguồn tư liệu, tình hình nghiên cu và vấn đề
đặt ra cho đề tài
*. Nhng nhận định sơ bộ v nguồn tư liệu và tình hình nghiên cu:
a) Nếu như các văn bản chữ Hán cho ta một tập hợp tư liệu về các vị
thần, thì những tài liệu ghi chép của người châu Âu về Thăng Long - Kẻ
Chợ đã thể hiện được quan niệm, suy nghĩ và cách quản lý của người
phương Tây...Đây là nguồn tư liệu quan trọng giúp chúng ta tìm hiểu về
Tục thờ Tứ trấn trong quá khứ.
b) Từ nguồn tư liệu thư tịch cổ có thể xác định một cách tương đối thời
gian hình thành cũng như thời gian xuất hiện thuật ngữ “Tứ trấn”.
c) Những tư liệu sau năm 1954 phần lớn là những tài liệu đề cập đến
từng trấn dưới góc độ nghiên cứu chuyên ngành như Hán Nôm, Văn hóa
học… Việc biện giải tục thờ ở từng trấn cũng như Tứ trấn được phản ánh
rải rác trong một số công trình của các tác giả khác nhau. Ngoài ra, sự thay
đổi của Tục thờ Tứ trấn cũng ít nhiều được nghiên cứu khảo sát.
*. Nhng vấn đề đặt ra đối vi việc sưu tầm nghiên cu Tc th T
trấn Thăng Long – Hà Ni hin nay:
a) Chưa có công trình bài viết nào đặt “Tứ trấn Thăng Long” là sự “tạo
dựng truyền thống”, trên cơ sở lý thuyết nghiên cứu cùng tên.
b) Cho đến nay vẫn còn khá nhiều tài liệu liên quan đến Tứ trấn bằng
chữ Hán cũng như tư liệu người Pháp chưa được khai thác.
c) Từ thực tế khảo sát các nguồn tư liệu cũng cho thấy còn rất nhiều
vấn đề cần phải thảo luận thêm về các vị thần ở Tứ trấn
d) Làm rõ sự hình thành và biến đổi của tục thờ Tứ trấn Thăng Long
trong quá khứ cũng là một cách để nhìn nhận vị trí và vai trò của tục thờ
này trong bối cảnh cuộc sống đương đại.
e) Mặt khác, từ thực tế phục hồi, tôn tạo di tích và lễ hội cũng đã và
đang đặt ra những vấn đề cần quan tâm đối với Tục thờ Tứ trấn trong cuộc sống hiện nay. 6
Trên đây là những vấn đề đặt ra cho việc nghiên cứu về Tục thờ Tứ
trấn Thăng Long - Hà Nội hiện nay, đồng thời cũng là vấn đề chính đặt ra cho luận án.
1.2. Gii thuyết khái niệm và cơ sở lý lun nghiên cu
1.2.1. Gii thuyết mt s khái nim.
Luận án đã giới thuyết một số khái niệm công cụ như: Khái nim
“Tục thờ”, “Tục th T trấn” hay khái niệm “Trấn”, “Tứ trn từ” và
“Thăng Long Tứ trấn”
1.2.2. Cơ sở lý thuyết nghiên cu.
Luận án vận dụng là lý thuyết về “Tạo dng truyn thống” (cũng có
khi được dịch là sáng to hoặc sáng chế truyn thng) của hai tác giả
Eric Hobsbawm và Terence Ranger.
1.3. “Tứ trấn Thăng Long” trong không gian lịch sử, văn hóa, xã
hội Thăng Long – Hà Ni
Bốn di tích tạo thành Tứ trấn tọa lạc trong “không gian lõi” của vùng
đất Thăng Long xưa và Hà Nội ngày nay.
1.3.1. Tng quan v không gian lch sử, văn hóa, xã hội Thăng
Long- Hà Ni.
Không gian văn hóa xã hội và lịch sử Thăng Long - Hà Nội được
phản ánh khái quát qua phân tích của vua Lý Thái Tổ trong bài Chiếu
d
ời đô, cũng như trong các bộ sử triều Nguyễn. Sắc thái văn hóa chung
và sự đa dạng sắc thái văn hóa của Thăng Long - Kẻ Chợ chính là văn
hóa làng Bắc Bộ. Sắc thái văn hóa riêng của Thăng Long - Đông Đô -
Hà Nội được tạo ra do môi trường của kinh đô, nơi tập trung những tầng
lớp trí thức, nơi qua lại và giao lưu của sứ thần, của thương nhân các nước.
1.3.2. Tc th T trn trong bi cảnh tôn giáo tín ngưỡng ca
Thăng Long - Hà Ni. 7
Thăng Long - Hà Nội dung chứa nhiều loại hình tôn giáo, tín
ngưỡng. Đặc điểm tôn giáo tín ngưỡng này đã được hình thành từ buổi
đầu độc lập tự chủ của nước Đại Việt thế kỷ IX - XI cho đến tận ngày nay.
Tiu kết
“Không gian thiêng Thăng Long” đã được vương triều Lý tạo dựng
từ buổi đầu định đô. Vị trí bốn trấn tọa lạc giới hạn bốn phương vị của
kinh thành Thăng Long xưa. Bốn di tích mang và chịu ảnh hưởng những
đặc tính của không gian văn hóa xã hội lịch sử tôn giáo tín ngưỡng của
không gian Thăng Long - Hà Nội. Quan niệm Thăng Long có Tứ trấn
bảo vệ hay tục thờ ở bốn ngôi đền tạo thành Tứ trấn có thể được tạo
dựng từ sớm, nhưng thuật ngữ “Tứ trấn từ” xuất hiện muộn trong một
văn bản thời Nguyễn. Trong chừng mực nhất định chính là sự “tạo dựng
truyền thống” mà cụm từ nguyên gốc được Eric Hobsbawm và Terence
Ranger sử dụng trong lý thuyết của mình là “The invention of tradition”. 8 Chương 2
TC TH T TRẤN THĂNG LONG - T TO DNG
ĐẾN “TẠO DNG TRUYN THỐNG” TRƯỚC NĂM 1945
Trong chương này chúng tôi chia thành hai giai đoạn để khảo sát,
nghiên cứu về Tục thờ Tứ trấn gồm: 1. Giai đoạn to dng tc th
“Tứ trấn” (Tạm lấy mốc từ thời Lý đến đầu thời Nguyễn); 2. Giai đoạn
to dng truyn thống”(tương đương với thi Nguyn).
Thuật ngữ “tạo dựng” trong giai đoạn đầu (2.1) được sử dụng hàm
nghĩa bao gồm truyền thuyết, thần tích, niên đại tạo dựng, ý nghĩa biểu
tượng... liên quan đến bốn đức thần ở bốn ngôi đền đã được các nguồn
sử liệu, thư tịch đề cập đến. Theo chúng tôi đây là giai đoạn tạo dựng
cơ bản, hình thành nên hồn cốt với những ý nghĩa về biểu tượng dường
như bất biến của tục thờ ở Tứ trấn.
Thuật ngữ “tạo dựng truyền thống” trong giai đoạn thứ hai (2.2)
được sử dụng hàm nghĩa: quan niệm Thăng Long có tứ trấn bảo vệ
được tạo dựng vào khoảng thời Nguyễn, nhưng lại được hiểu là truyền
thống vốn đã có từ xa xưa và gắn với thời kỳ mới định đô dưới vương triều Lý.
2.1. Giai đoạn to dng tc th “Tứ trấn” (1010-1802)
2.1.1. Niên đại to dng và nhng ln tu chỉnh “Tứ trấn”
Bốn ngôi đền được tạo dựng không đồng thời. Những lần tu chỉnh
bốn ngôi đền cũng được sử liệu phản ánh ở mức độ khác nhau, cho thấy
bốn ngôi đền chưa nằm trong quy hoạch của thành Thăng Long và cùng
mang ý nghĩa trấn yểm cho kinh đô Thăng Long trường tồn từ thời Lý (1010-1225).
2.1.2. Lai lch công trng ca bốn Đức thn. Bốn đức thần đều có
công bảo vệ cho quốc gia dân tộc trường tồn, củng cố ngai vàng.
2.1.3. Biểu tượng và ý nghĩa tục th bn Đức thn. Có thể nhận
thấy, lớp ý nghĩa chính của tục thờ giai đoạn tạo dựng là chống giặc
ngoại xâm, bảo vệ và củng cố vương quyền của các triều đại phong
kiến từ thời Lý, thời Trần đến thời hậu Lê. 9
2.1.4. Vic phng th bn Đức thn. Trong phần Thể lệ và Lễ nghi
của Kiến văn tiểu lc nhắc đến duy nhất ngôi đền Bạch Mã, là một
trong tám ngôi đền thờ thượng đẳng thần.... Ba ngôi đền Voi Phục,
Quan Thánh và Kim Liên không được sách đề cập. Bên cạnh những
quy định có tính quan phương như trong Kiến văn tiểu lc phản ánh,
những nguồn tư liệu trực tiếp viết đến bốn ngôi đền góp phần cung cấp
thêm việc phụng thờ bốn đức thần.
2.1.5. Tng kết và nhn xét: Tứ trấn được tạo dựng vào thời gian
khác nhau. Mỗi Đức thần có biểu tượng và ý nghĩa riêng nhưng tựu
chung đều có công trong việc bảo vệ quốc gia, củng cố vương quyền.
Tục thờ bốn đức thần được phản ánh ở mức độ khác nhau.
2.2. Giai đoạn “tạo dng truyn thống” Tứ trn t của Thăng
Long (1820-1945). Đây là giai đoạn “khoác” thêm cho bốn ngôi đền
vai trò bảo vệ trấn giữ cho kinh đô Thăng Long từ khi hình thành vào thời Lý.
2.2.1. Bi cnh lch s xã hi Hà Nội giai đoạn “tạo dng truyn
thống”. Năm 1802, kinh đô đất nước chuyển vào Huế. Kinh đô Thăng
Long vốn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước lúc này
chỉ còn vang bóng, trở thành trấn thành miền Bắc.
2.2.2. Cơ sở ca to dng truyn thống “Tứ trn từ” cho Thăng
Long. Chúng tôi cho rằng quan niệm “Tứ trấn” được hình thành từ
những cơ sở dưới đây:
*. Th nhất: “không gian thiêng” Thăng Long đã được to lp
khoảng 800 năm trước
*. Th hai: Các đức thn bốn ngôi đền đều có công giúp các triu
đại đương thời dp gic, tr tà, cng c vương triều như đã đề cp phn 2.1.2.
*. Th 3: Các cơ sở c liệu liên quan đến s hình thành quan nim
“Tứ trấn”
*. Th tư: Niềm tin vào yếu t phong thy của kinh thành Thăng Long
2.2.3. Tc th T trấn giai đoạn “Tạo dng truyn thống”. 10
Chính bởi truyền thống được tạo dựng mang tính chính trị nên khi
nghiên cứu tục thờ “Tứ trấn Thăng Long” qua hai phương diện kiến
trúc vật chất cũng như sự phụng thờ tinh thần thì dường như truyền
thống được tạo dựng không biểu hiện được gì nhiều.
2.2.3.1. Không gian cnh quan kiến trúc T trn. Những tấm ảnh
của người Pháp chụp vào khoảng thời gian năm 1883 trở lại đây phản
ánh những ngôi đền thuộc Tứ trấn khá gần gũi với diện mạo với không
gian cảnh quan kiến trúc hiện nay.
2.2.3.2. Vic th phng. Sách Khâm định Đại Nam hội điển s l
(triều Nguyễn) quy định những nghi thức tế tự tại các đền miếu tại kinh
đô, cũng như các trực tỉnh (Hà Nội thời gian này là trực tỉnh).
Tiu kết
Theo thời gian bốn di tích tạo thành Tứ trấn lần lượt được hình
thành, công trạng của bốn đức thần ít nhiều được phản ánh gắn liền với
việc bảo vệ quốc gia củng cố vương quyền của các triều đại từ thời Lý
đến đầu thời Nguyễn. Mặt khác, bốn ngôi đền cùng tọa lạc về bốn
hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, có thể coi là bốn điểm mốc giới về
phương vị cho “không gian thiêng” của kinh đô Thăng Long. Trên
những cơ sở đó các Nho sĩ thời Nguyễn đã tạo dựng thêm thuật ngữ
“Tứ trấn từ” nhằm thiêng hóa cho từng trấn cũng như không gian
thiêng kinh đô Thăng Long. “Số phận” hay kết quả “tạo dựng truyền
thống” “Tứ trấn từ” của Thăng Long dường như không như mong đợi
của các Nho sĩ thời Nguyễn. Tuy vậy, nền móng từ sự “tạo dựng truyền
thống” đó sẽ trở thành điểm tựa cho sự phục hồi trở lại tục thờ “Tứ trấn
Thăng Long” vào giai đoạn nước Việt Nam độc lập, tự chủ. 11 Chương 3
S BIN ĐỔI TC TH CA T TRN
THĂNG LONG TỪ SAU NĂM 1945 ĐẾN NAY
3.1. Tc th T trấn Thăng Long giai đoạn t phát (1945-1986)
“Tự phát” là khái niệm tương đối, thể hiện trên hai phương diện quản
lý di tích và việc phụng thờ. Mặc dù bốn ngôi đền vẫn chịu sự quy định
cũng như chính sách về tôn giáo tín ngưỡng của nhà nước, nhưng phản ánh
về cảnh quan di tích cũng như những hoạt động tín ngưỡng tại bốn ngôi
đền dường như mang tính tự phát.
3.1.1. Bi cnh lch s Th đô Hà Nội. Luận án đề cập đến bối cảnh
xã hội vào những giai đoạn cụ thể như: Giai đoạn 1945-1954; Giai đoạn
1954-1975; Gia
i đoạn 1975 -1986. Trong mỗi giai đoạn đều nhấn mạnh
vào những sự kiện lịch sử trọng yếu cũng như chính sách về tôn giáo, tín
ngưỡng của Đảng và Nhà nước. Từ cuối giai đoạn này các nghi thc và l
hi truyn thng bắt đầu được phc hi.
3.1.2. Tc th T trấn Thăng Long giai đoạn t phát (1945-1986)
3.1.2.1. C
nh quan di tích T trn. Sau khi hòa bình lập lại (năm 1954)
nước ta chia thành hai miền. Người dân di tản quay trở lại Thủ đô sinh
sống. Nhiều di tích bị biến thành nhà kho, trường học, nhà ở. . Cùng chung
tình trạng như trên, cảnh quan kiến trúc Tứ trấn ít nhiều bị tác động, thay đổi.
3.1.2.2. Vic phng th T trn. Kiến trúc cảnh quan Tứ trấn đều ít nhiều
bị lấn chiếm, xuống cấp. Công tác quản lý bốn ngôi đền đều do hội người cao
tuổi trong làng cử người đảm nhiệm. Kinh phí cho việc duy trì hương khói, tế lễ
đều từ nguồn công đức của khách thập phương.
3.2. Tc th “Tứ trấn Thăng Long” giai đoạn phc hi và kế tc s
to dng truyn thng t sau 1986 đến nay
3.2.1. Bi cnh lch s. Giai đoạn này tiếp tục phục hồi và phát triển
mạnh mẽ hơn. Trong khoảng 15 năm trở lại đây, nhân dịp kỷ niệm 990
năm, 995 năm và 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, nhiều di tích được đầu
tư tu bổ tôn tạo. Đặc biệt là những công trình có tính chất trọng điểm để kỷ 12
niệm, trong đó có 4 di tích thuộc “Tứ trấn Thăng Long”. Ngôn thuyết “Tứ
trấn Thăng Long” tiếp tục thu hút sự quan tâm của các học giả, được phân
tích dưới nhiều góc độ, góp phần thúc đẩy việc phục hồi “tạo dựng truyền
thống” “Tứ trấn Thăng Long” từ thời Nguyễn.
3.2.2. Tc th T trấn Thăng Long. Có thể nhận thấy sự chỉ đạo từ
Chương trình 05 -Ctr/TU ngày 30 tháng 5 năm 2001 của Thành ủy Hà Nội:
“. . Hoàn thành tôn to T trn..”cùng quan niệm không gian thiêng Thăng
Long Tứ trấn chính là cơ sở cho sự phục hồi tục thờ ở các ngôi đền tạo thành
Tứ trấn trên cả hai phương diện vật thể và phi vật thể. Bên cạnh sự phục hồi là
sự “tích hợp” thêm những tín ngưỡng thờ tự mới vào không gian tín ngưỡng
vốn có của bốn ngôi đền.
* 3.2.1.1. Tình hình qun lý di tích và ngun kinh phí T trn
Tình hình quản lý di tích và nguồn kinh phí của Tứ trấn hiện nay cơ
bản mang những điểm chung như:
- Về quản lý di tích: Cả bốn ngôi đền đều đã được xếp hạng di tích cấp
Quốc gia, nên đặt dưới sự quản lý của nhà nước. Việc tu bổ tôn tạo, hoạt
động di tích phải tuân theo Luật Di sản văn hóa. Bên cạnh đó, (ngoại trừ
trấn Bắc) Ban quản lý di tích Tứ trấn là sự kết hợp giữa chính quyền và hội
người cao tuổi nhằm duy trì thường xuyên việc phụng thờ tại ngôi đền.
- Nguồn kinh phí: Bốn ngôi đền đều có nguồn kinh phí từ tiền công đức
của khách thập phương. Việc tu bổ, tôn tạo di tích đều được cấp từ ngân sách của Nhà nước.
3.2.1.2. Vic phc hi, m rng quy mô, mt bng và cnh quan kiến
trúc ca T trn. Trước năm 2000, quy mô, mặt bằng kiến trúc của Tứ trấn
phần lớn là vết tích, dấu ấn từ thời Lê Trung Hưng trở lại đây. Tuy nhiên,
từ những năm 2000 đến năm 2010, vào dịp tổ chức đại lễ kỷ niệm Thăng
Long tròn 1000 năm tuổi, dấu hiệu của sự phục hồi tinh thần “tạo dựng
truyền thống” Thăng Long Tứ trấn khá đậm nét trên phương diện vật chất và tinh thần.
3.2.1.3. Vic phng th, tế l trong năm ở T trn
3.2.1.4. Vi
c phc hi l hi T trn 13
Song song với việc đầu tư kinh phí tu bổ tôn tạo Tứ trấn một cách quy
mô vào dịp đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, lễ hội ở Tứ
trấn cũng được nghiên cứu phục hồi và tổ chức bài bản, quy mô nhưng vẫn
mang những nét riêng trong phạm vi của làng - phường nơi bốn ngôi đền tọa lạc.
Tiu kết
Bối cảnh xã hội từ năm 1945 đến trước năm 1986, có nhiều biến động,
ít nhiều đã làm gián đoạn tục thờ ở Tứ trấn. Phải đến những năm 1990 thế
kỷ XX với những chính sách về tôn giáo, tín ngưỡng của nhà nước, đặc
biệt là chỉ đạo của Thành ủy Hà Nội thông qua Chương trình 05 hướng tới
lễ kỷ niệm 990 năm và 1000 năm Thăng Long Hà Nội, cùng với quan
niệm về Thăng Long có Tứ trấn bảo vệ, tục thờ tứ trấn có sự phục hồi khá
mạnh mẽ. Bên cạnh đó, giai đoạn này tục thờ “Tứ trấn Thăng Long” đã
tích hợp thêm những tín ngưỡng thờ tự mới vào không gian thần điện vốn có.
Từ khi hình thành cho đến nay, Tc th T trấn Thăng Long ở Hà Ni mặc
dù đã có những lớp văn hóa cũng như lớp ý nghĩa biểu tượng chồng xếp nhưng
có thể khẳng định: Vai trò trấn giữ bảo vệ vương quyền, quốc gia của các Đức
thần là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quan niệm, niềm tự hào của cư dân Việt từ
Thăng Long xưa đến Hà Nội ngày nay. 14 CHƯƠNG 4
MT S BÀN LUN V TC TH T TRN THĂNG LONG
TRONG CUC SNG HIN NAY
4.1. T trấn Thăng Long qua sự so sánh với các “Tứ trấn” khác
4.1.1. Thăng Long Tứ trấn qua so sánh với “Tứ trấn” của kinh đô Hoa Lư
4.1.2. Thăng Long Tứ trấn qua so sánh với “Tứ trấn” của thành cổ Lạng Sơn
Nếu tín ngưỡng dân gian và quan niệm phong thủy tạo nên sự tương
đồng về quan niệm có Tứ trấn bảo vệ cho kinh đô, cho thành, thì vị trí địa
chính trị, văn hóa nơi mỗi thành tọa lạc tạo nên sự khác biệt.
4.2. So sánh tc th ca các trn trong T trấn Thăng Long
Điểm tương đồng và khác biệt trong tục thờ ở Tứ trấn được đề cập đến
bao gồm: Kiến trúc, điện thần, tượng thờ; Hoa văn và đề tài trang trí; Việc phụng thờ.
4.3. Các xu hướng chuyển đổi ca Tc th T trn hin nay
4.3
.1. Xu hướng chuyển đổi ni dung tc th. Từ ghi chép của những
tài liệu đầu thế kỷ XX cho đến nay, tục thờ các Đức thần trong Tứ trấn đã
có những thay đổi. Hiện nay, sự duy trì Tục thờ Tứ trấn, mặc dù vẫn dựa
trên những ghi chép, những hồi cố nhưng tính chất quan phương và vai trò
công năng của các Đức thần đã bị phai nhạt đi nhiều. Lễ phẩm trong dịp lễ
ở Tứ trấn ngày nay rất phong phú, bên cạnh những lễ với những vật phẩm
có tính truyền thống, còn có những lễ phẩm mang hơi thở của cuộc sống
đương đại.
4.3.2. Xu hướng gia tăng sự quan tâm ca chính quyn các cấp đối
vi tc th.
Có thể nhận thấy sự quan tâm của chính quyền các cấp đối với tục thờ
Tứ trấn phần nào mang tính chính trị. Kinh đô Thăng Long 1000 năm tuổi
xứng đáng có đại lễ kỷ niệm. Hiển nhiên Tứ trấn bảo vệ, trấn yểm cho
kinh đô Thăng Long trường tồn phải được “trang hoàng” với một bộ mặt
mới cho xứng tầm với vị thế, vai trò vốn đã được tạo dựng.
4.3.3. Xu hướng tích hp các yếu t tôn giáo, tín ngưỡng mi 15
Sự tích hợp và hỗn dung những tín ngưỡng khác vào không gian thờ tự
của bốn ngôi đền như thờ Tam phủ, thờ Bác Hồ, tưởng niệm anh hùng liệt
sĩ góp phần làm tăng đối tượng đến lễ bái, cũng như thời điểm thiêng khác.
Tín ngưỡng thờ Tam phủ, Tứ phủ được tích hợp vào không gian Tứ trấn
phản ánh sự tác động mạnh mẽ của tín ngưỡng thờ Mẫu trong bối cảnh
đang được phục hưng phát triển.
4.3.4. Xu hướng thương mại hóa di tích phc v mục đích kinh tế.
Sự phục hưng và phát triển mạnh mẽ của tín ngưỡng thờ “Tam phủ”
“Tứ phủ” như đã trình bày trên đã tạo nên một “thị trường” cùng những
dịch vụ chạy theo rất sôi động.
4.4. Vai trò, ý nghĩa của tc th T trấn Thăng long
4.4.1. T
c th “Tứ trấn Thăng Long” phản ánh lch s hình thành
và biến đổi của kinh thành Thăng Long
Từ việc nghiên cứu tục thờ Tứ trấn Thăng Long cho biết: Nếu như ba
vị Đức thần Long Đỗ, Linh Lang, Huyền Thiên Thượng đế xuất hiện vào
giai đoạn xây dựng và bảo vệ kinh thành Thăng Long với tư cách là kinh
đô nước Đại Việt độc lập, tự chủ sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, thì Đức
thần Cao Sơn xuất hiện vào giai đoạn củng cố vương triều, ngai vàng trong
cuộc dẹp loạn hoàng tộc nhà hậu Lê.
4.4.2. Tc th T trấn Thăng Long phản ánh tôn giáo tín ngưỡng
của kinh đô Thăng Long trong diễn trình lch s
*. Phn ánh s hình thành và biến đổi tín ngưỡng dân gian Hà Ni.
Tục thờ Tứ trấn ở Thăng Long - Hà Nội góp phần phản ánh sự hình thành
tiếp biến của tục thờ Tứ trấn của cư dân Thăng Long vào những thời điểm
khác nhau. Ban đầu là sự du nhập tín ngưỡng thờ Thành Hoàng từ thời
thuộc Đường (năm 823). Tiếp theo là sự kế thừa tín ngưỡng thờ Thành
Hoàng trên khi cư dân Đại Việt bước vào giai đoạn độc lập tự chủ. Từ đây,
hình thành nên các vị thần với vai trò trấn giữ, bảo vệ cho kinh đô Thăng Long.
Bên cạch đó, nguồn gốc các đức thần đều ít nhiều có liên quan đến tín
ngưỡng thờ thần của cư dân nông nghiệp. Từ thời Nguyễn cho đến trước
năm 1986, giai đoạn mà vai trò trấn giữ của bốn vị thần ở Tứ trấn dường
như đã mất hẳn. Việc duy trì tục thờ ở từng trấn mang tính chất khép kín 16
trong đơn vị phe giáp của phường hàng Buồm, của làng Thủ Lệ, làng Kim
Liên, làng An Hoa. Ngày nay, với những chính sách về văn hóa bao gồm
cả tín ngưỡng tôn giáo, những thuận lợi về điều kiện vật chất, kinh tế, góp
phần thúc đẩy nhu cầu tìm hiểu phục dựng lại những giá trị lịch sử truyền thống.
* Phn ánh s tích hp các yếu t tôn giáo tín ngưỡng. Nguồn gốc bốn
đức thần Tứ trấn đều từ tự nhiên và gắn với môi trường sinh tụ của cư dân
Thăng Long - Hà Nội. Việc thờ bốn đức thần phản ánh sự đa dạng trong
quan niệm thờ thần của cư dân Thăng Long. Ngày nay, trong không gian
thờ của từng trấn còn tích hợp thêm các loại hình tín ngưỡng khác vừa
phản ánh sự đa dạng phong phú, lại vừa cho thấy sự, dung hòa giữa các
loại hình tôn giáo tín ngưỡng .
* Phản ánh đời sng sinh hot l hi của kinh đô Thăng Long xưa và
Hà Ni nay. Lễ hội Tứ trấn là dịp kỷ niệm để tưởng nhớ về Đức thần được
tôn thờ, thể hiện sự tri ân của thế hệ ngày nay đối với các Đức thần. Bên
cạnh đó, lễ hội như là một “kênh giải trí” đáp ứng được nhu cầu về văn
hóa tín ngưỡng tâm linh, sự thư giãn của đa số người dân, đồng thời góp
phần cố kết cộng đồng cư dân sinh sống trên địa bàn.
Quyền năng, công lao của các Đức thần khi mới hình thành mang ý
nghĩa lớn tầm quốc gia, của kinh đô. Về sau, quyền năng đó được khoác
thêm những vai trò có tính chất cụ thể, thường nhật. Ngày nay, Tứ trấn
được đầu tư nghiên cứu cũng như tu bổ lớn nhằm tôn đẩy vai trò, quyền
năng của các Đức thần lên và trở về như khi mới hình thành. Sự phục hồi
di tích và lễ hội Tứ trấn vì vậy đã góp phần làm nên nét đặc trưng riêng
cho văn hóa Thủ đô Hà Nội, bởi sự có mặt của các lễ hội “làng trong phố”
mang đậm dấu ấn truyền thống.
4.4.3. Tc th “Tứ trấn Thăng Long” góp phần bảo lưu văn hóa
ngh thut c truyn.
Có thể nhận thấy những loại hình nghệ thuật cổ truyền luôn gắn chặt
với không gian lễ hội. Tứ trấn nói chung, trấn Đông và trấn Bắc nói riêng
là hai “bảo tàng” ngoài trời thu nhỏ lưu giữ và phản ánh sinh động những
giá trị thẩm mỹ về nghệ thuật bài trí, sắp đặt, chạm khắc, trang trí hoa văn
trên kiến trúc, tượng thờ của chủ nhân đương thời. 17
4.4.4. Tc th T trấn Thăng Long góp phần giáo dc truyn thng
và liên kết cộng đồng.
Những vị thần đại diện cho ý chí quật cường của một dân tộc bị áp bức;
đại diện cho tình đoàn kết của cộng đồng người Việt cùng chung sức
chống lại thiên tai, địch họa, chống lụt, phòng hạn.
4.4.5. Tc th T trấn Thăng Long góp phần vào hoạt động tham
quan du lch ca Hà Ni.
Nếu kiến trúc, điêu khắc cùng vị trí tọa lạc của bốn ngôi đền tạo nên sự
thắng địa, thì những câu chuyện đan xen giữa lịch sử và huyền thoại về
bốn nhân vật được thờ trở thành hồn cốt nuôi dưỡng cho bốn di tích trường
tồn với thời gian. Chính những giá trị đó đã góp phần làm hấp dẫn mọi đối
tượng đến tham quan du lịch.
4.4.6. Tc th T trấn Thăng Long góp phần cân bằng đời sng tâm linh.
Khi Thăng Long là kinh đô, đô hội của cả nước từ thời Lý cho đến đầu
triều Nguyễn, Tứ trấn Thăng Long được dựng lên theo quan niệm dân gian
với ý nghĩa bảo vệ cho các vương triều phong kiến vững mạnh và trường
tồn. Khi Thăng Long không còn là kinh đô cho đến tận ngày nay, bốn ngôi
đền thiêng mang tầm quốc gia trước đây trở thành không gian thiêng cho
đại đa số mọi đối tượng đến chiêm bái. Những chia sẻ của những người
đến Tứ trấn. . cho thấy phần nào vai trò của không gian thiêng ở Tứ trấn đối với họ.
4.4.7. Ý nghĩa của việc “tạo dng truyn thống” tục th T trn Thăng Long
Những tạo dựng tục thờ ở Tứ trấn định hình gắn liền với các triều đại
phong kiến Việt Nam từ thời Lý đến bắt đầu triều Nguyễn, đó là những tạo
dựng cơ bản, nòng cốt được hiểu là truyền thống. Bên cạnh đó theo định
nghĩa về “Sáng tạo”của tác giả Phan Dũng trong bài viết Phương pháp
lun sáng tạo và đổi mi thì “Sáng tạo là hoạt động tạo ra bt c cái
có đồng thi tính mi và tính ích li (trong phm vi áp dng c thể)”
thì những nội dung dưới đây trong một chừng mực nhất định chính là sự
“tạo dựng/ sáng tạo truyền thống” nhằm phù hợp với bối cảnh lịch sử cụ
thể bao gồm: 18
Th nht, về công tác quản lý; Th hai, nguồn kinh phí; Th ba, việc
phụng thờ; Th tư, lễ hội; Th năm, nghi thức và các trò diễn trong lễ hội.
Khi bối cảnh lịch sử thay đổi, năm nội dung trên đều có thể được duy trì
hoặc sẽ mai một, từ đó có những “sáng tạo” cho phù hợp.
Tuy nhiên, một truyền thống được tạo dựng điều kiện cần về mặt hình
thức là tạo được một liên kết với quá khứ hay “ngụ ý một dòng chảy tiếp
nối từ quá khứ” [20,tr.86] thì thuật ngữ Tứ trấn từ hay Thăng Long Tứ trấn
đã làm được. Nhưng điều kiện đủ về mặt nội dung bao gồm “một tp hp
nh
ng thực hành, thường nằm dưới s chi phi ca nhng lut l thành
văn hay bất thành văn, có bản cht nng tính nghi thc hoặc hình tượng
nh
m khc sâu các giá tr và tiêu chun hành vi nhất định vào tâm thc
c
ộng đồng qua hình thc tái diễn” [20,tr.86] thì tục thờ “Tứ trấn Thăng
Long chưa thực hiện được. Những thực hành nghi lễ, phụng thờ, lễ hội áp
dụng chung cho bốn di tích thì dường như “truyền thống” được tạo ra biểu
hiện rất nhạt nhòa, ngoài việc tại trấn Đông xuất hiện thêm hoành phi
“Đông Trấn Chính Từ”, trấn Nam là “Trấn Nam Phương”. Giai đoạn phục
hồi tinh thần tục thờ “Tứ trấn Thăng Long” ở Hà Nội vào dịp kỷ niệm
1000 năm Thăng Long - Hà Nội, trấn Tây có thêm hoành phi “Tây Trấn
từ” cũng như nghi môn trấn Tây và trấn Nam được thiết kế tương tự nhau
đã được chúng tôi đề cập ở trên. Về mặt hình thức, giai đoạn phục hồi “tạo
dựng truyền thống” có phần rõ nét hơn. Nhưng về nội dung biểu hiện qua
sự phụng thờ bốn đức thần tại bốn trấn, nhất là vào dịp lễ hội vẫn mang
tính độc lập. Trên cơ sở quan điểm của lý thuyết “Tạo dựng truyền thống”,
chúng tôi cho rằng: sự “tạo dựng truyền thống” “Tứ trấn Thăng Long” của
các Nho sĩ dưới thời Nguyễn sẽ tương thích và biểu hiện rõ nét hơn khi đặt
trong bối cảnh mô hình xã hội mà chủ thể là người Việt Nam. Và Thăng
Long vẫn là kinh đô của cả nước.
Không gian thiêng của kinh thành Thăng Long xưa, Thủ đô Hà Nội
ngày nay vẫn giữ nguyên vị trí. Vì vậy, sự phục hồi trở lại Tục thờ “Tứ
trấn Thăng Long” hiện nay là sự tiếp tục của việc tạo dựng truyền thống
tục thờ trong bối cảnh mới khi mà vị thế Việt Nam nói chung và Thủ đô
Hà Nội nói riêng ngày một lên cao trên trường quốc tế. Tứ trấn Thăng
Long với tính chính trị của nó, một mặt khẳng định uy linh các vị thần 19
sông núi, một mặt phản ánh sức mạnh đoàn kết tinh thần tự hào về “hồn
thiêng sông núi” của Thăng Long Hà Nội từ ngàn xưa…
“Truyền thống” “Tứ trấn từ” hay “Thăng Long Tứ trấn” được các Nho
sĩ dưới thời Nguyễn tạo dựng trong bối cảnh lịch sử Hà Nội dưới triều đại
phong kiến cuối cùng của Việt Nam đang trong giai đoạn thoái trào, đi vào
con đường mất nước và dưới sự áp bức bóc lột sâu sắc của chủ nghĩa thực
dân Pháp xâm lược. Song song với bối cảnh chính trị đó là sự đấu tranh,
mâu thuẫn, giằng co giữa hai luồng văn hóa cũ và mới, giữa đông và tây,
giữa bảo thủ và duy tân. Cho nên “tạo dựng truyền thống” “Tứ trấn Thăng
Long” theo chúng tôi có ý nghĩa tạo dựng nên một không gian thiêng riêng
có của Hà Nội và chủ yếu mang tính chính trị.
4.5. “Tứ trấn Thăng Long” qua nhn thc của các đối tượng khác
nhau trong xã hi.
Mặc dù khái niệm “Tứ trấn Thăng Long” được hình thành từ lâu nhưng
sự nhận hiểu về tục thờ này lại có sự khác biệt giữa các đối tượng khác nhau trong xã hội.
*. Quan nim T trn với ý nghĩa bảo v, trn gi không gian thiêng.
Điều này được xác nhận trước tiên qua ngôn thuyết của các nhà khoa học,
từ đó đã định hướng cho cơ quan chủ quản về quan niệm Thăng Long Tứ
trấn. Ngoài ra, tuy không phổ biến nhưng “Tứ trấn Thăng Long” cũng
được giới trí thức trẻ nhìn nhận dưới góc độ phong thủy, tâm linh. Với các
nhà quản lý văn hóa, thì trên cơ sở nghiên cứu đánh giá của các nhà nghiên
cứu, các cán bộ chuyên môn các cơ quan quản lý văn hóa đã đi đến thừa
nhận: Thăng Long xưa tồn tại bốn ngôi đền tạo thành Tứ trấn với ý nghĩa
bảo vệ, trấn giữ. Nội dung đó được viết và lưu giữ trong hồ sơ xếp hạng
của từng trấn và phổ biến trong lời giới thiệu treo ở từng ngôi đền.
*. Quan niệm “Nghe đồn đền thiêng” thì đến l bái, cu cúng
Đây là quan niệm chung của các đối tượng đến lễ bái, cầu cúng, họ có
thể là dân thường có, là viên chức cũng có thể là quan chức.
*. “Tứ trấn Thăng Long” với khách tham quan du lch.
Đối tượng khách tham quan du lịch (khách trong và ngoài nước), chủ
yếu biết đến ngôi đền qua tìm hiểu sách báo, qua mạng. Khi đến lần
đầu, họ không có thời gian đủ dài để trải nghiệm về không gian linh 20
thiêng của ngôi đền... Như vậy, tùy từng đối tượng mà cách hiểu về
Thăng Long Tứ trấn cũng có sự khác nhau.
*. Quan niệm “Chỉ có ba v thn một điểm th ch không có T
trấn”
Ngôi đền Tân Khai được xây dựng năm 1804 phụng thờ Đức thần
Bạch Mã đại vương, bên trái thờ Đức thần Tô Lịch giang thần, bên phải
thờ Đức thần Thiết Lâm cổ thần; Ngôi đình Đồng Lạc (Quyến Yếm) thờ
ba vị đại vương: Cao Sơn, Bạch Mã, Linh Lang. Việc kết tập ba vị thần
thiêng hàng đầu của kinh đô Thăng Long từ thời kỳ khởi dựng vào cùng
một thần điện là một hiện tượng lạ rất cần có những khảo cứu riêng.
Tiu kết
Thăng Long Tứ trấn, Hoa Lư Tứ trấn và Tứ trấn của thành cổ Lạng
Sơn cùng được tạo nên từ tín ngưỡng dân gian, quan niệm phong thủy
và được đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Thủy thần hay vị thần có
nguồn gốc từ tục thờ nước của người Việt xưa cùng được thờ ở Tứ trấn
của ba tòa thành trên. Bên cạnh đó, vị trí địa chính trị, văn hóa ở mỗi
vùng Thăng Long, Hoa Lư và thành cổ Lạng Sơn khác nhau đã tạo dựng
nên các vị thần thờ trong Tứ trấn ở ba tòa thành mang những điểm khác nhau.
Khi so sánh tục thờ giữa các trấn Thăng Long ở Hà Nội với nhau,
nếu sự tương đồng thường thể hiện trong việc quản lý, hay hình thức
kiến trúc thì sự khác biệt lại nằm trong ý nghĩa biểu tượng của đức thần
được thờ ở từng ngôi đền; Việc nhận hiểu về “Tứ trấn Thăng Long”
cũng đa dạng như sự tồn tại của nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội.
Thủ đô Hà Nội cùng với cả nước đang trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ tác động
sâu sắc đến diện mạo đời sống kinh tế, văn hóa. Nhưng, quá trình đô thị
hóa đó cũng đã và đang góp phần làm chuyển đổi tc th T trấn Thăng
Long Hà Ni.