75
© Học viện Ngân hàng
ISSN 3030 - 4199
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280
Ảnh hưởng của ESG đến tài chính hoá doanh nghiệp:
Góc nhìn từ các doanh nghiệp ngành năng lượng
Ngày nhận: 30/05/2024 Ngày nhận bản sửa: 08/07/2025 Ngày duyệt đăng: 17/07/2025
Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi xanh yêu cầu minh bạch ESG ngày càng
tăng, đặc biệt với ngành năng lượng, việc hiểu rõ tác động của ESG đến chiến
lược tài chính doanh nghiệp trở nên cùng cấp thiết. Nghiên cứu này kiểm
định mối quan hệ giữa ESG (Môi trường, hội Quản trị) mức độ tài
chính hóa của 50 doanh nghiệp năng lượng niêm yết tại Việt Nam giai đoạn
2014-2023. Kết quả cho thấy: Yếu tố xã hội có tác động tích cực đến tài chính
hóa; Yếu tố môi trường ảnh hưởng tiêu cực Yếu tố quản trị không cho
thấy tác động rõ ràng. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có ảnh hưởng tích
cực đến tài chính hóa nhưng không phải kênh truyền dẫn chính giữa ESG
và tài chính hóa. Nghiên cứu đóng góp bằng cách phân tích riêng biệt trụ cột
ESG kiểm định vai trò trung gian của dòng tiền trong bối cảnh thị trường
mới nổi. Từ đó, nghiên cứu đề xuất khuyến nghị về kiểm soát cấu trúc tài sản
tài chính, gắn ưu đãi ESG với đầu thực, hoàn thiện khung pháp nâng
cao chất lượng giám sát từ phía nhà đầu tư.
The impact of ESG on corporate nancialization: Evidence from energy sector rms
Abstract: In the context of the green transition and increasing demands for ESG- especially in the energy
sector- understanding the impact of ESG on corporate nancial strategy has become critically important.
This study investigates the relationship between ESG factors (Environmental, Social, Governance) and
corporate nancialization in 50 listed Vietnam energy companies during 2014- 2023. Findings show
that social factors positively impact nancialization, environmental factors have a negative eect, and
governance factors are insignicant. Cash ow from operations inuences nancialization but is not a key
mediator in the ESG- nancialization relationship. The study contributes by separately analyzing each ESG
pillar and testing the mediating role of cash ow within the context of an emerging market. It proposes
several recommendations: controlling the structure of nancial assets, linking ESG incentives to real
investments, improving the legal framework, and enhancing monitoring quality from investors.
Keywords: ESG, Energy sector, Corporate nancialization, Operating cash ow
Doi: 10.59276/JELB.2025.07CD.2990
Tran Ngoc Mai
1
, Do Thi Minh Anh
2
Email: ngocmai@hvnh.edu.vn
1
, anhdtm@hvnh.edu.vn
2
Organization of all: Banking Academy of Vietnam
Trần Ngọc Mai, Đỗ Thị Minh Anh
Học viện Ngân hàng, Việt Nam
Ảnh hưởng của ESG đến tài chính hoá doanh nghiệp:
Góc nhìn từ các doanh nghiệp ngành năng lượng
76
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh phát triển bền vững trở
thành định hướng toàn cầu, việc tích hợp
yếu tố Môi trường (Environmental- E),
hội (Social- S) Quản trị (Governance-
G), gọi tắt ESG, vào chiến lược doanh
nghiệp không chỉ phản ánh trách nhiệm
hội còn công cụ nâng cao năng
lực cạnh tranh. Đặc biệt, trong ngành năng
lượng, ESG giữ vai trò thiết yếu bởi đây
ngành tiêu thụ tài nguyên lớn phải
thải khí nhà kính nhiều nhất. Theo World
Resources Institue, ngành năng lượng
đóng góp khoảng 75% tổng lượng phát
thải khí nhà kính toàn cầu năm 2021 (Ge
cộng sự, 2024). Tại Việt Nam, với các
cam kết như Net-Zero, ngành này đối mặt
với yêu cầu cấp thiết về cải thiện hiệu quả
môi trường, quản trị rủi ro minh bạch
ESG. Song song đó, tài chính hoá doanh
nghiệp (Corporate Financialization- CF)
nổi lên như một xu hướng đáng chú ý. Khái
niệm này phản ánh việc doanh nghiệp tăng
nắm giữ các tài sản tài chính như tiền mặt,
chứng khoán ngắn hạn nhằm khai thác lợi
suất, thay đầu sản xuất kinh doanh
(Krippner, 2005). Nếu lạm dụng, CF có thể
khiến doanh nghiệp lệch khỏi giá trị cốt lõi,
sao nhãng đầu tư vào công nghệ, sản xuất-
những yếu tố thiết yếu cho tăng trưởng bền
vững. Một số nghiên cứu còn cho rằng nắm
giữ tài sản tài chính chỉ nhằm “làm đẹp”
hồ sơ, thao túng chỉ số định giá (Barth
cộng sự, 2017; Palma, 2009), gây rủi ro
tiềm ẩn cho thị trường. Vì vậy, việc làm rõ
các yếu tố ảnh hưởng đến CF trong ngành
năng lượng, đặc biệt là yếu tố ESG, trở nên
vô cùng cấp thiết trong bối cảnh thị trường
mới nổi như Việt Nam.
Nghiên cứu này kiểm định mối quan
hệ giữa ESG tài chính hóa của ngành
năng lượng tại Việt Nam, đồng thời kiểm
định vai trò trung gian của dòng tiền hoạt
động kinh doanh, dựa trên dữ liệu của 50
doanh nghiệp niêm yết giai đoạn 2014-
2023. Nghiên cứu đóng góp vào khoảng
trống trong bối cảnh phần lớn các nghiên
cứu trước tập trung tại các nền kinh tế phát
triển, trong khi bằng chứng tại Việt Nam
còn hạn chế. Ngoài ra, các nghiên cứu trước
chủ yếu tập trung vào tác động trực tiếp của
ESG chưa làm chế truyền dẫn gián
tiếp. Việc nhận diện kênh tác động này ý
nghĩa lớn trong việc định hướng chiến lược
tài chính doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng
bổ sung khoảng trống bằng cách kiểm định
riêng ba trụ cột ESG, giúp nhận diện hơn
vai trò của từng yếu tố. Cấu trúc bài viết
gồm: Phần 2 tổng quan nghiên cứu
sở lý thuyết; Phần 3 mô tả dữ liệu, biến đo
lường phương pháp; Phần 4 trình bày
kết quả thực nghiệm thảo luận Phần
5 kết luận và hàm ý chính sách.
2. sở lý luận về ESG tài chính hóa
doanh nghiệp
2.1. sở thuyết về mối quan hệ giữa
ESG và tài chính hóa doanh nghiệp
ESG khung đánh giá mức độ doanh
nghiệp thực hành ba yếu tố then chốt trong
phát triển bền vững: môi trường (E),
hội (S) và quản trị (G) (European Banking
Authority, 2021). Trước khi trở nên phổ
biến, ESG thường được gắn với các thuật
ngữ như “Đầu trách nhiệm” hay
“Trách nhiệm hội doanh nghiệp” (CSR).
Theo Nguyên tắc Đầu trách nhiệm
Từ khóa: ESG, Ngành năng lượng, Tài chính hóa doanh nghiệp, Dòng tiền hoạt
động kinh doanh
TRẦN NGỌC MAI
-
ĐỖ THỊ MINH ANH
77
Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280- Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
(Principles for Responsible Investment,
2024), ESG “chiến lược thực tiễn
nhằm tích hợp các yếu tố môi trường,
hội quản trị vào quá trình ra quyết định
đầu sở hữu doanh nghiệp”. Việc đo
lường ESG thường dựa trên hai phương
pháp phổ biến. Thứ nhất dùng điểm
ESG do các tổ chức xếp hạng độc lập như
MSCI hay Bloomberg cung cấp, dựa trên
bộ tiêu chí riêng biệt (KnowESG, 2023).
Tuy nhiên, phương pháp này chủ yếu áp
dụng cho các thị trường phát triển, nơi dữ
đầy đủ, chuẩn hóa. Tại Việt Nam, phương
pháp phân tích nội dung thường được sử
dụng thay thế (Bui cộng sự, 2024). Cách
tiếp cận này dựa trên các khung hướng dẫn
như GRI, UN PRI để mã hóa tiêu chí ESG
từ các báo cáo công khai của doanh nghiệp,
qua đó xây dựng chỉ số đo lường phù hợp.
Nghiên cứu này lựa chọn phương pháp
phân tích nội dung nhằm đảm bảo dữ liệu
nhất quán và phản ánh đúng thực tiễn công
bố tại Việt Nam.
Tài chính hóa doanh nghiệp phản ánh xu
hướng gia tăng tỷ trọng phân bổ vào tài
sản tài chính thanh khoản cao như tiền
mặt, chứng khoán ngắn hạn, thay đầu
sản xuất kinh doanh (Krippner, 2005).
Điều này xuất phát từ mục tiêu tối đa hóa
lợi nhuận ngắn hạn (van der Zwan, 2014),
tuy nhiên nếu kéo dài có thể làm giảm năng
lực tăng trưởng tăng rủi ro thị trường
(Klinge cộng sự, 2021). Theo Klinge
cộng sự (2021), các phương pháp đo
lường CF phổ biến bao gồm: (1) Tỷ lệ tài
sản tài chính trên tổng tài sản; (2) Tỷ lệ thu
nhập tài chính trên tổng doanh thu hoặc lợi
nhuận; (3) Tỷ lệ đầu tài chính trên tổng
đầu tư. Trong đó, phương pháp tỷ lệ tài sản
tài chính trên tổng tài sản là phổ biến nhất.
Mối quan hệ giữa ESG CF thể được
giải thích bằng một số lý thuyết: Lý thuyết
đại diện (Agency theory), thuyết phụ
thuộc nguồn lực (Resource-based theory),
thuyết các bên liên quan (Stakeholder
theory), thuyết ràng buộc nguồn lực
(Theory of constraints).
Theo thuyết đại diện, ESG giúp doanh
nghiệp xây dựng hình ảnh uy tín tốt
(Murè cộng sự, 2021), do đó ESG
thể bị lợi dụng để “làm đẹp” hồ (Trần
Thị Xuân Anh và cộng sự, 2025), che giấu
hành vi đầu mang tính đầu (Kotchen
& Moon, 2012), làm tăng tài chính hóa.
Theo lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, nhiều
doanh nghiệp triển khai ESG để thu hút
vốn hoặc tăng điểm ESG nhằm tăng giá cổ
phiếu. Khi đó nguồn lực tài chính thặng dư,
nhưng nếu thiếu chế giám sát, nguồn lực
này thể bị chuyển hướng sang tài sản
tài chính thay đầu thực, làm tăng tài
chính hóa (Tang, 2022).
Ngược lại, theo thuyết các bên liên quan,
ESG giúp giảm bất cân xứng thông tin giữa
các bên, giúp giám sát tốt hơn hành vi của
nhà quản lý và hạn chế tài chính hóa (Yuan
cộng sự, 2022). thuyết ràng buộc về
nguồn lực cho rằng cả ESG tài chính hóa
đều tiêu tốn nguồn lực tài chính, đặc biệt
dòng tiền nhàn rỗi. Khi doanh nghiệp ưu
tiên ESG, nguồn lực dành cho tài sản tài
chính sẽ bị hạn chế, làm giảm tài chính hóa
(Samet & Jarboui, 2017; Zhang cộng sự,
2022a). Cũng theo lý thuyết này, dòng tiền
từ hoạt động kinh doanh đóng vai trò như
một nguồn lực tài chính nội tại quan trọng.
Mức độ thực hiện ESG thể ảnh hưởng
đến quy dòng tiền, tác động gián tiếp
đến khả năng tài chính hóa.
2.2. Tổng quan nghiên cứu và giả thuyết
Về yếu tố môi trường (E), một số nghiên
cứu cho thấy các cam kết môi trường làm
giảm CF do doanh nghiệp phải phân bổ
nguồn lực lớn cho đầu xanh công nghệ
sạch. Zhou cộng sự (2023) chỉ ra rằng
hiệu quả môi trường cao làm giảm mức độ
Ảnh hưởng của ESG đến tài chính hoá doanh nghiệp:
Góc nhìn từ các doanh nghiệp ngành năng lượng
78
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280
CF tại Trung Quốc. Tương tự, Wang
cộng sự (2025) ghi nhận các doanh nghiệp
gây ô nhiễm cao Trung Quốc mức tài
chính hóa giảm khi điểm E tăng. Tại Mỹ,
Cupertino và cộng sự (2019) phát hiện các
cam kết môi trường xu hướng tái phân
bổ từ tài sản tài chính sang đầu dài hạn
bền vững, qua đó giảm CF. Mối quan hệ
này phù hợp với kết quả của Gao và Zhang
(2025); Zhao Jin (2024). Nghiên cứu của
Nguyễn Vân cộng sự (2024) bổ sung
thêm khía cạnh quản trị minh bạch, theo
đó doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm
môi trường tốt thường giảm hành vi quản
trị lợi nhuận, cải thiện chất lượng thông tin
tài chính. Điều này thể làm giảm động
tài chính hóa dựa trên thông tin không
minh bạch.
Ngược lại, yếu tố hội (S), thường đo
lường bởi CSR, có xu hướng làm tăng CF.
Nhiều nghiên cứu cho rằng CSR giúp doanh
nghiệp cải thiện hình ảnh, uy tín giảm
chi phí vốn, qua đó tăng khả năng huy động
vốn tích lũy tài sản tài chính (Cheng
cộng sự, 2014; Su & Lu, 2023).Các nghiên
cứu của Li cộng sự (2023), Xu (2024),
Zhang và cộng sự (2022b), Zheng và cộng
sự (2024) cũng đưa ra kết luận tương tự.
Tóm lại, về bản chất, yếu tố S giúp doanh
nghiệp xây dựng mối quan hệ tốt với các
bên liên quan, tạo điều kiện thuận lợi để
huy động vốn, từ đó đầu nhiều hơn vào
tài sản tài chính.
Với yếu tố quản trị (G), bằng chứng thực
nghiệm phân hóa nét. Một số nghiên
cứu cho thấy quản trị hiệu quả giúp doanh
nghiệp phân bổ vốn hợp lý, kiểm soát rủi
ro tốt hơn, từ đó giảm CF (Guizani, 2025;
Jo & Harjoto, 2012). Tương tự, Guo
cộng sự (2024) ghi nhận cải cách quản trị
tại các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc
góp phần giảm CF thông qua ưu tiên đầu
thực. Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại
chỉ ra rằng trong môi trường quản trị yếu,
điểm G cao thể bị lợi dụng để hợp thức
hóa hành vi đầu mang tính đầu (Cao
& Zhang, 2024; Zhang và cộng sự, 2022a)
cho thấy yếu tố G vừa công cụ giúp kiểm
soát CF, vừa tiềm ẩn nhiều nguy nếu
doanh nghiệp không duy trì minh bạch
giám sát đủ mạnh.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về ESG hay
CSR mới chủ yếu tập trung vào tác động
đến hiệu quả tài chính, khả năng sinh lời
hoặc chi phí vốn. Nghiên cứu của Dương
Nguyễn Thanh Phương và cộng sự (2024);
Trần Thị Xuân Anh Nguyễn Thùy Linh
(2023) cho thấy CSR tác động tích
cực đến hiệu quả tài chính của các doanh
nghiệp Việt Nam. Nguyễn Thu Hương
Đặng Ngọc Hùng (2025) chỉ ra ESG giúp
giảm chi phí vốn. Nguyễn Minh Phương
cộng sự (2024) kết luận rằng công bố
ESG đầy đủ minh bạch giúp nâng cao
vị thế cạnh tranh, tăng khả năng sinh lời.
Tuy nhiên vẫn chưa nghiên cứu nào
xem xét tác động của ESG đến tài chính
hóa doanh nghiệp Việt Nam, đặt ra khoảng
trống nghiên cứu quan trọng.
Từ những lập luận trên, bài viết đề xuất các
giả thuyết:
H
1a
: Yếu tố môi trường (E) tác động
ngược chiều đến mức độ tài chính hóa
của doanh nghiệp ngành năng lượng tại
Việt Nam.
H
1b
: Yếu tố hội (S) tác động cùng
chiều đến mức độ tài chính hóa của doanh
nghiệp ngành năng lượng tại Việt Nam.
H
1c
: Yếu tố quản trị (G) tác động
ngược chiều đến mức độ tài chính hóa
của doanh nghiệp ngành năng lượng tại
Việt Nam.
Bên cạnh đó, nhằm làm chế truyền
dẫn từ ESG đến CF, bài viết sử dụng
thuyết nguồn lực với lập luận rằng ESG làm
giảm dòng tiền nhàn rỗi, từ đó ảnh hưởng
mức độ CF. Cụ thể, việc triển khai ESG,
TRẦN NGỌC MAI
-
ĐỖ THỊ MINH ANH
79
Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280- Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
đặc biệt trong ngành năng lượng, thường
đòi hỏi nguồn lực đáng kể đầu tư vào công
nghệ sạch, hệ thống giám sát phát thải
các sáng kiến hội. Những cam kết này
làm giảm lượng tiền mặt nhàn rỗi, từ đó
khả năng nắm giữ tài sản tài chính sẽ bị hạn
chế. Từ đó, bài viết đề xuất giả thuyết:
H
2
: Yếu tố dòng tiền đóng vai trò trung
gian trong mối quan hệ giữa ESG
tài chính hóa doanh nghiệp ngành năng
lượng tại Việt Nam.
3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng thu thập
từ 50 doanh nghiệp ngành năng lượng niêm
yết trên các sàn chứng khoán HOSE, HNX
UPCOM giai đoạn 2014- 2023, với tổng
số 478 quan sát từ cơ sở dữ liệu FIINRPO.
Dựa theo Su Lu (2023), Zhang cộng
sự (2022b) hình nghiên cứu dạng
như sau:
FINANCIALIZE
i, t
= β
0
+ β
1
E
i,t
+ β
2
S
i,t
+ β
3
G
i,t
+ β
4
SIZE
i,t
+ β
5
GROWTH
i,t
+ β
6
ROA
i,t
+ β
7
LEV
i,t
+ β
8
TURN
i,t
+ ε
i,t
Trong đó FINANCIALIZE là biến đại diện
cho tài chính hóa doanh nghiệp, xác định
bằng tỷ trọng tiền mặt đầu tài chính
trên tổng tài sản doanh nghiệp. Chỉ số này
phản ánh mức độ doanh nghiệp phân bổ
nguồn lực vào các tài sản tài chính thay
tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh cốt lõi.
Các biến SIZE, GROWTH, ROA, LEV,
TURN thể hiện quy mô, tốc độ tăng trưởng
doanh thu, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản,
đòn bẩy tài chính hiệu suất hoạt động
của doanh nghiệp. Cách tính toán chi tiết
các biến được trình bày ở Bảng 1.
Đối với biến đo lường ESG, các yếu tố môi
trường, hội quản trị lần lượt được
đại diện bởi biến E, S G. Do Việt Nam
chưa chỉ số ESG chuẩn hóa cho tất cả
các doanh nghiệp, đồng thời dữ liệu từ các
tổ chức xếp hạng ESG quốc tế còn hạn chế
không đầy đủ các công ty, nghiên cứu
sử dụng Phương pháp Phân tích nội dung
(Content Analysis) để đo lường ESG. Cụ
thể, dữ liệu được thu thập từ báo cáo thường
niên, báo cáo phát triển bền vững của
doanh nghiệp. Sau đó tác giả mã hóa thông
tin theo bộ tiêu chí UN PRI (United Nation
Principles for Responsible Investment) kết
hợp với hệ thống đánh giá ESG của SNSI
Bảng 1. Tổng hp các biến
Tên biến
Ký hiệu
Đo lường
Tài chính hóa
FINANCIALIZE
(Tiền mặt + Đầu tư tài chính) / Tổng tài sản
Môi trường
E
Mã hóa từ phân tích nội dung báo cáo theo UN PRI và
SNSI
Xã hội
S
Quản trị
G
Quy mô doanh nghiệp
SIZE
Logarit của Tổng tài sản
Tăng trưởng doanh thu GROWTH
(Doanh thu năm hiện tại – năm trước) / Doanh thu
năm trước
Hiệu quả sinh lời
ROA
Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản bình quân
Đòn bẩy tài chính
LEV
Tổng nợ / Tổng tài sản
Hiệu suất hoạt động
TURN
Doanh thu / Tổng tài sản bình quân
Dòng tiền kinh doanh
OCFRATIO
Dòng tiền thuần t HĐKD/Tổng tài sản
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Ảnh hưởng của ESG đến tài chính hoá doanh nghiệp:
Góc nhìn từ các doanh nghiệp ngành năng lượng
80
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280
(2022) gồm 16 tiêu chí
1
. Các tiêu chí được
hoá giá trị 0/1 thành giá trị định lượng
thể so sánh được. Tiêu chí đạt 1 điểm
nếu thông tin hay tuân thủ tốt nội hàm
của tiêu chí. Giá trị chỉ số càng cao, thực
hành ESG của doanh nghiệp càng tốt. Đây
cách tiếp cận phổ biến trong bối cảnh
thiếu dữ liệu ESG chuẩn hóa, đặc biệt tại
các thị trường mới nổi (Michelon cộng
sự, 2015).
hình hồi quy OLS, FEM, REM
FGLS được sử dụng để đánh giá tác động
của ESG tới tài chính hóa. Nhóm tác giả
cũng thực hiện các kiểm định đa cộng
tuyến, kiểm định Hausman, kiểm định tự
tương quan và kiểm định phương sai sai số
thay đổi để lựa chọn mô hình phù hợp nhất.
Để làm chế truyền dẫn, nghiên cứu bổ
sung biến trung gian OCFRATIO, đại diện
cho dòng tiền nội tại của doanh nghiệp
được đo lường bằng tỷ số dòng tiền thuần
từ hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản.
Biến này được chọn dựa trên thuyết ràng
buộc nguồn lực thuyết phụ thuộc
nguồn lực. Theo đó, ESG đầu tài
chính đều tiêu tốn nguồn lực tài chính đáng
1Theo Sino-Securities Index (SNSI) ESG Ratings
Methodology
kể, đặc biệt là dòng tiền nhàn rỗi. Khi ESG
làm thay đổi dòng tiền hoạt động, điều
này thể ảnh hưởng đến khả năng doanh
nghiệp phân bổ tài sản, trong đó tài sản
tài chính. hình kiểm tra vai trò trung
gian vì thế có dạng sau:
OCFRATIO
i,t
= β
0
+ β
1
E
i,t
+ β
2
S
i,t
+ β
3
G
i,t
+
β
4
SIZE
i,t
+ β
5
GROWTH
i,t
+ β
6
ROA
i,t
+ β
7
LEV
i,t
+ β
8
TURN
i,t
+ ε
i,t
FINANCIALIZE
i,t
= β
0
+ β
1
E
i,t
+ β
2
S
i,t
+ β
3
G
i,t
+ β
4
SIZE
i,t
+ β
5
GROWTH
i,t
+ β
6
ROAi,t
+ β
7
LEV
i,t
+ β
8
TURN
i,t
+ β
9
OCFRATIO
i,t
+ εi,t
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Thống tả ma trận tương
quan
Nghiên cứu sử dụng STATA để minh hoạ
kiểm định giả thuyết nghiên cứu. Thống
tả cho biết FINANCIALIZE có trung
bình 0,231 độ lệch chuẩn cao (0,382), cho
thấy sự phân tán lớn giữa các doanh nghiệp
về mức độ tài chính hóa (Bảng 2). E, S và G
có giá trị trung bình lần lượt là 0,145; 0,203
0,365 thể hiện mức độ thực hiện các trụ
cột môi trường, xã hội và quản trị.
Bảng 2. Thống kê mô tả các biến
Tên biến
Số quan sát
Giá trị trung bình
Độ lệch chuẩn
Giá trị lớn nhất
Giá trị nhỏ nhất
FINANCIALIZE
486
0,231
0,382
-0,789
2,090
E
486
0,145
0,109
0,000
0,312
S
486
0,203
0,063
0,000
0,312
G
485
0,365
0,040
0,062
0,375
ROA
486
0,080
0,061
-0,008
0,299
SIZE
486
28,265
1,473
25,720
32,009
GROWTH
479
0,039
0,193
-0,381
0,911
LEV
486
0,502
0,205
0,077
0,911
TURN
479
1,979
2,023
0,077
7,910
OCFRATIO
486
0,148
0,202
-0,207
0,859
Nguồn: Xử lý dữ liệu của tác gi
TRẦN NGỌC MAI
-
ĐỖ THỊ MINH ANH
81
Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280- Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Yếu tố môi trường (E) gia tăng rệt, đặc
biệt từ sau 2016, phản ánh chuyển biến tích
cực của doanh nghiệp trong đầu công
nghệ sạch, tiết giảm phát thải tuân thủ
các cam kết quốc tế như Net-Zero 2050.
Việc này phần nào xuất phát từ áp lực chính
sách như Quy hoạch Điện VIII theo Quyết
định 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 (Thủ
tướng Chính phủ, 2023). Yếu tố hội (S)
cũng cải thiện, tốc độ chậm hơn, cho
thấy doanh nghiệp bắt đầu chú trọng đến an
toàn lao động, phúc lợi nhân viên trách
nhiệm cộng đồng. Đây là những yếu tố đặc
biệt quan trọng trong ngành năng lượng có
mức độ rủi ro vận hành cao. Ngược lại, yếu
tố quản trị (G) duy trì ở mức cao một cách
ổn định xu hướng giảm nhẹ sau 2021.
Điều này phản ánh hệ thống quản trị ở Việt
Nam là yếu tố được quan tâm từ lâu nhưng
thiếu cải cách mang tính hình thức, đặc
biệt trong các doanh nghiệp nhà nước chi
phối; vai trò của hội đồng quản trị độc lập,
kiểm soát nội bộ công bố thông tin minh
bạch chưa được đảm bảo. Sự thiếu đồng
đều giữa E, S G cũng cho thấy các doanh
nghiệp mới chỉ tiến hành ESG “một phần”
mà chưa tích hợp vào chiến lược phát triển
dài hạn.
Ma trận tương quan không hệ số nào
vượt quá ngưỡng 0,8, thể hiện hình
không dấu hiệu đa cộng tuyến nghiêm
trọng (Bảng 3).
4.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Tác giả thực hiện hồi quy dữ liệu bảng với
3 hình POLS, FEM REM. Kết quả
kiểm định Hausman cho thấy giá trị Chi-
square = 17,039 với p-value = 0,03 hàm ý
mô hình FEM phù hợp hơn mô hình REM,
kiểm định phương sai sai số thay đổi
tự tương quan cho thấy tồn tại hai hiện
tượng này. vậy nhóm nghiên cứu sử
dụng phương pháp hồi quy FGLS để khắc
phục khuyết tật. Kết quả được trình bày
trong Bảng 4.
Kết quả cho thấy các doanh nghiệp chú
trọng đến yếu tố E xu hướng giảm CF.
Một cách giải việc tuân thủ các yêu
cầu môi trường như đầu tư công nghệ thân
thiện, xử chất thải hay giảm phát thải
thường chi phí lớn, làm giảm nguồn lự
Nguồn: Xử lý dữ liệu của tác gi
Hình 1. Xu hướng ESG của DN năng lượng tại Việt Nam 2014-2023
Ảnh hưởng của ESG đến tài chính hoá doanh nghiệp:
Góc nhìn từ các doanh nghiệp ngành năng lượng
82
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280
Bảng 3. Ma trận tương quan
Tên biến
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)
(9)
(10)
E
0,102**
1,000
(0,024)
S
0,284***
0,645***
1,000
(0,000)
(0,000)
G
0,101**
0,074*
0,257***
1,000
(0,027)
(0,104)
(0,000)
roa
0,346***
0,059
0,168***
0,089*
1,000
(0,000)
(0,197)
(0,000)
(0,050)
ocfratio
-0,028
0,098**
0,060
0,095**
0,259***
1,000
(0,537)
(0,031)
(0,184)
(0,037)
(0,000)
size
0,220***
0,423***
0,394***
0,071
0,012
0,053
1,000
(0,000)
(0,000)
(0,000)
(0,117)
(0,799)
(0,242)
growth
-0,053
-0,038
0,029
0,051
0,063
-0,108**
0,039
1,000
(0,248)
(0,404)
(0,531)
(0,270)
(0,169)
(0,018)
(0,395)
lev
-0,365***
-0,091**
-0,241***
-0,109**
-0,575***
-0,328***
0,059
0,233***
1,000
(0,000)
(0,045)
(0,000)
(0,016)
(0,000)
(0,000)
(0,197)
(0,000)
turn
-0,126***
-0,130***
-0,130***
-0,134***
0,039
-0,457***
-0,386***
0,140***
0,161***
1,000
Nguồn: Xử lý dữ liệu của tác gi
TRẦN NGỌC MAI
-
ĐỖ THỊ MINH ANH
83
Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280- Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
VIII. Việc đầu tư vào công nghệ xử lý phát
thải, chuyển đổi nhiên liệu hoặc đáp ứng
yêu cầu báo cáo ESG đang tiêu tốn nguồn
lực đáng kể, làm giảm tích lũy tài sản tài
chính.
Ngược lại, biến S có tác động dương, phản
ánh doanh nghiệp đầu cho trách nhiệm
hội xu hướng tăng CF. Theo thuyết
đại diện thuyết hạn chế nguồn lực, các
hoạt động xã hội giúp nâng cao uy tín, tăng
niềm tin nhà đầu tạo thuận lợi trong
tiếp cận vốn. Khi danh tiếng được củng cố,
doanh nghiệp có thể tăng khả năng tích lũy
tài sản tài chính, từ đó tăng CF. Kết quả
này phù hợp với Cheng và cộng sự (2014),
Su Lu (2023) cũng như luận giải của
Stuart và cộng sự (2023) nhấn mạnh uy tín
là yếu tố then chốt, là “giấy phép xã hội để
hoạt động” trong ngành năng lượng.
Đối với biến G, nghiên cứu không tìm
thấy mối liên hệ ý nghĩa thống với
CF. Điều này thể xuất phát từ hạn chế
trong quản trị công ty tại Việt Nam, nơi
quyền lực cổ đông nhỏ lẻ còn yếu, vai trò
ban kiểm soát chưa độc lập, việc thực
thi quản trị theo quốc tế còn hạn chế. Đặc
biệt trong ngành năng lượng, nhiều doanh
nghiệp nhà nước hoặc có sở hữu nhà nước
khiến cơ chế giám sát mang tính hình thức,
không phản ánh thực chất mức độ kiểm
soát nội bộ hay năng lực điều hành. Do đó,
biến G thể không đủ phân hóa để tạo ra
khác biệt trong hành vi CF.
Đối với kênh truyền dẫn tác động qua biến
trung gian OCFRATIO, kết quả thể hiện
Bảng 5.
Kết quả hồi quy cho thấy tác động của E
tới CF là nhất quán. Biến S có tác động âm
(-0,231) tới dòng tiền thể hiện rằng các hoạt
động xã hội làm giảm dòng tiền hoạt động.
Các hoạt động liên quan đến yếu tố xã hội-
như cải thiện phúc lợi người lao động, thực
hiện trách nhiệm cộng đồng hoặc thúc đẩy
bình đẳng giới- thường đòi hỏi chi phí đầu
nắm giữ tài sản tài chính. Ngoài ra, doanh
nghiệp thực hiện ESG nghiêm túc thể
định hướng phát triển bền vững, tập trung
vào hoạt động cốt lõi thay theo đuổi lợi
ích ngắn hạn. Kết quả này phù hợp với
các nghiên cứu quốc tế trong ngành năng
lượng các ngành gây ô nhiễm cao khác
(Wang cộng sự, 2025; Zhang cộng
sự, 2022a). Trong bối cảnh Việt Nam, đặc
biệt các doanh nghiệp nhiệt điện, khai thác
than, dầu khí, kết quả này càng sở
thực tiễn khi họ đang chịu áp lực lớn từ
các cam kết quốc tế như Net-Zero 2050 và
chính sách nội địa như Quy hoạch Điện
Bảng 4. Kết quả nghiên cứu mô hình FGLS
(1)
FINANCIALIZE
E
-0,109*
(0,061)
S
0,396***
(0,115)
G
-0,106
(0,067)
SIZE
0,035***
(0,006)
GROWTH
0,002
(0,011)
ROA
0,091
(0,077)
LEV
-0,225***
(0,037)
TURN
-0,002
(0,003)
_cons
-0,757***
(0,16)
Observations
478
Sai số chuẩn trong ngoặc đơn
*** p<0,01; ** p<0,05; * p<0,1
Nguồn: Xử lý dữ liệu của tác gi
Ảnh hưởng của ESG đến tài chính hoá doanh nghiệp:
Góc nhìn từ các doanh nghiệp ngành năng lượng
84
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280
lớn không mang lại dòng tiền ngay
lập tức (Su & Lu, 2023). Trong khi đó dòng
tiền lại quan hệ cùng chiều tới CF,
nội lực quan trọng giúp doanh nghiệp
điều kiện tài chính thuận lợi hơn để tích lũy
tài sản tài chính, tăng tính linh hoạt và khả
năng quản rủi ro (Stockhammer, 2004).
Nói cách khác, S gián tiếp giảm CF -0,231
× 0,099 = –0,0229.
Để xác nhận giả định về vai trò trung gian
của biến OCFRATIO, nghiên cứu tiến
hành kiểm định Sobel. Kiểm định Sobel
được sử dụng nhằm xác định xem tác động
của biến độc lập lên biến phụ thuộc thông
qua một biến trung gian ý nghĩa thống
hay không (Yadav cộng sự, 2024).
Kết quả cho thấy giá trị z = -1,965 với p
= 0,049 (< 0,05), tức hiệu ứng gián tiếp
của S qua dòng tiền là có ý nghĩa thống
ở mức 5%. Tuy nhiên, giá trị hiệu ứng gián
tiếp (-0,0229) thấp hơn nhiều so với hiệu
ứng trực tiếp (0,410) cho thấy mức độ ảnh
Bảng 5. Kết quả hồi quy làm rõ tác động của ESG lên Financialize thông qua dòng tiền
(1)
(2)
(3)
OCFRATIO
FINANCIALIZE
FINANCIALIZE
E
0,1
-0,109*
-0,134**
(0,062)
(0,061)
(0,059)
S
-0,231**
0,396***
0,41***
(0,101)
(0,115)
(0,112)
G
0,016
-0,106
-0,11
(0,085)
(0,067)
(0,07)
ROA
0,263***
0,091
0,075
(,097)
(,077)
(,081)
SIZE
-0,002
0,035***
0,037***
(0,004)
(0,006)
(0,005)
GROWTH
-0,043**
0,002
0,012
(0,021)
(0,011)
(0,013)
LEV
-0,088**
-0,225***
-0,24***
(0,039)
(0,037)
(0,036)
TURN
-0,023***
-0,002
0,001
(0,003)
(0,003)
(0,003)
OCFRATIO
0,099***
(0,023)
_cons
0,27**
-0,757***
-0,827***
(0,118)
(0,16)
(0,148)
Số quan sát
478
478
478
Sai số chuẩn trong ngoặc đơn
*** p<0,01; ** p<0,05; * p<0,1
Nguồn: Xử lý dữ liệu của tác gi
TRẦN NGỌC MAI
-
ĐỖ THỊ MINH ANH
85
Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280- Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
hưởng qua dòng tiền rất nhỏ. Điều này
được minh chứng bởi việc hệ số của S hầu
như không thay đổi giữa hai hình (2)
và (3).
Từ đó kết luận rằng dòng tiền hoạt động
làm suy giảm tác động của yếu tố hội
(S) đến CF, tuy nhiên mức độ suy giảm
không đáng kể. Tác động tổng thể của S
bao gồm hai phần: hiệu ứng trực tiếp với hệ
số ước lượng 0,410 hiệu ứng gián tiếp
thông qua dòng tiền -0,0229. Sự chênh
lệch lớn này cho thấy dòng tiền chỉ đóng
vai trò rất hạn chế trong việc dẫn truyền
ảnh hưởng của S. Thay vào đó, ảnh hưởng
của S nhiều khả năng đến từ các kênh khác
như uy tín doanh nghiệp, khả năng tiếp cận
tài chính, và sự tin tưởng của nhà đầu tư.
5. Kết luận và hàm ý chính sách
Nghiên cứu này kiểm định mối quan hệ
giữa ESG tài chính hóa doanh nghiệp
trong ngành năng lượng tại Việt Nam, sử
dụng dữ liệu bảng từ 50 doanh nghiệp niêm
yết giai đoạn 2014- 2023. Kết quả cho thấy
yếu tố hội (S) làm tăng tài chính hóa
thông qua việc cải thiện uy tín và khả năng
tiếp cận vốn. Ngược lại, yếu tố môi trường
(E) tác động tiêu cực, do chi phí thực
hiện các cam kết môi trường làm giảm khả
năng tích lũy tài sản tài chính. Yếu tố quản
trị (G) không có ảnh hưởng rõ rệt trong bối
cảnh hệ thống quản trị doanh nghiệp Việt
Nam còn hạn chế. Ngoài ra, dòng tiền từ
hoạt động kinh doanh một yếu tố thúc
đẩy tài chính hóa, nhưng không đóng vai
trò trung gian đáng kể. Điều này cho thấy
tác động của ESG, đặc biệt là yếu tố xã hội,
đến tài chính hóa chủ yếu đến từ các kênh
gián tiếp khác như uy tín doanh nghiệp
hoặc chi phí vốn.
Dựa trên kết quả này, nhóm tác giả đề xuất
một số khuyến nghị. Với doanh nghiệp,
cần nhận thức thực hiện ESG, đặc biệt
các yếu tố hội, môi trường không chỉ
mang lại giá trị cộng đồng còn nâng
cao uy tín khả năng tiếp cận vốn. Nhà
đầu tổ chức tín dụng nên đánh giá
ESG không chỉ như một tiêu chí tín nhiệm
còn gần xem xét mức độ thực thi gắn
với chiến lược đầu cốt lõi. Với quan
quản lý, cần hoàn thiện khung pháp về
công bố thông tin và thực hành ESG. Hiện
nay, việc thực hiện ESG Việt Nam chủ
yếu dựa trên hướng dẫn khuyến nghị, dẫn
đến báo cáo chỉ mang tính hình thức. Do
đó, cần ban hành các văn bản pháp cấp
nghị định hoặc thông tư hướng dẫn chi tiết
về nội dung, phương pháp đo lường, nghĩa
vụ công bố thông tin ESG, đặc biệt trong
ngành năng lượng.
Bên cạnh những kết quả nghiên cứu trên,
để hoàn thiện hơn nữa hướng nghiên cứu,
thể mở rộng phạm vi sang các ngành
khác nhau, so sánh tác động giữa các ngành
cũng như sử dụng các mô hình nghiên cứu,
biến trung gian khác để xem xét vai trò
truyền dẫn cũng như tác động trong ngắn
hạn, dài hạn. ■
Tài liệu tham khảo
Barth, M. E., Gomez-Biscarri, J., Kasznik, R., & López-Espinosa, G. (2017). Bank earnings and regulatory capital
management using available for sale securities. Review of Accounting Studies, 22(4), 1761–1792. https://doi.
org/10.1007/s11142-017-9426-y
Bui, T. T. L., Tran, T. L. A., & Hoang, T. (2024). ESG disclosure and nancial performance: Empirical study of Vietnamese
commercial banks. Banks and Bank Systems, 19(1), 208–220. https://doi.org/10.21511/bbs.19(1).2024.18
Cao, C., & Zhang, Y. (2024). A study of the impact of staggered boards on corporate nancialization: From the perspective
of board governance. Frontiers in Psychology, 15. https://doi.org/10.3389/fpsyg.2024.1377948
Cheng, B., Ioannou, I., & Serafeim, G. (2014). Corporate social responsibility and access to nance. Strategic
Management Journal, 35(1), 1–23. https://doi.org/10.1002/smj.2131
Ảnh hưởng của ESG đến tài chính hoá doanh nghiệp:
Góc nhìn từ các doanh nghiệp ngành năng lượng
86
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280
Cupertino, S., Consolandi, C., & Vercelli, A. (2019). Corporate Social Performance, Financialization, and Real
Investment in US Manufacturing Firms. Sustainability, 11(7), Article 7. https://doi.org/10.3390/su11071836
Dương Nguyễn Thanh Phương, Nguyễn Quốc Anh, Trần Thị Mỹ Liên, & Phan Thị Thanh Quyên. (2024). Tác động thực
hiện trách nhiệm xã hội đối với hiệu quả của các doanh nghiệp nhóm VN30 niêm yết tại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế
& Dự báo, (1). https://kinhtevadubao.vn/tac-dong-thuc-hien-trach-nhiem-xa-hoi-doi-voi-hieu-qua-cua-cac-doanh-
nghiep-nhom-vn30-niem-yet-tai-viet-nam-29864.html
European Banking Authority. (2021). Report on management and supervision of ESG risks for credit institutions and
investment rms. https://www.eba.europa.eu/publications-and-media/press-releases/eba-publishes-its-report-
management-and-supervision-esg-risks
Gao, C., & Zhang, S. (2025). ESG performance and corporate nancialization: A dual perspective of risk management
and value creation. Finance Research Letters, 71, 106442. https://doi.org/10.1016/j.frl.2024.106442
Ge, M., Friedrich, J., & Vigna, L. (2024). Where do Emissions come from? 4 Charts Explain Greenhouse Gas Emissions
by Sector. Truy cập từ https://www.wri.org/insights/4-charts-explain-greenhouse-gas-emissions-countries-and-
sectors
Guizani, M. (2025). CEO career horizon, corporate governance and corporate nancial asset allocation: Evidence from
Malaysia. Asian Journal of Accounting Research, ahead-of-print(ahead-of-print). https://doi.org/10.1108/AJAR-
06-2024-0229
Guo, M., Li, N., Guo, F., & Li, X. (2024). The State Capital Investing and Operating Company Pilot Reform and the
Financialization of the Chinese SOEs. Journal of International Financial Management & Accounting, n/a(n/a).
https://doi.org/10.1111/jifm.12241
Jo, H., & Harjoto, M. A. (2012). The Causal Eect of Corporate Governance on Corporate Social Responsibility. Journal
of Business Ethics, 106(1), 53–72. https://doi.org/10.1007/s10551-011-1052-1
Klinge, T. J., Fernandez, R., & Aalbers, M. B. (2021). Whither corporate nancialization? A literature review. Geography
Compass, 15(9), e12588. https://doi.org/10.1111/gec3.12588
KnowESG. (2023, February 13). Comparing ESG Ratings Agencies: MSCI, Morningstar, Bloomberg, LSEG and More.
KnowESG. https://www.knowesg.com/featured-article/esg-ratings-a-benchmark-for-performance
Kotchen, M., & Moon, J. J. (2012). Corporate Social Responsibility for Irresponsibility. The B.E. Journal of Economic
Analysis & Policy, 12(1). https://doi.org/10.1515/1935-1682.3308
Krippner, G. R. (2005). The nancialization of the American economy. Socio-Economic Review, 3(2), 173–208. https://
doi.org/10.1093/SER/mwi008
Li, L., Wang, Y., Sun, H., Shen, H., & Lin, Y. (2023). Correction: Li & cộng sự Corporate Social Responsibility
Information Disclosure and Financial Performance: Is Green Technology Innovation a Missing Link? Sustainability,
15, 11926. Sustainability, 15(19). https://doi.org/10.3390/su151914544
Michelon, G., Pilonato, S., & Ricceri, F. (2015). CSR reporting practices and the quality of disclosure: An empirical
analysis. Critical Perspectives on Accounting, 33, 59–78. https://doi.org/10.1016/j.cpa.2014.10.003
Murè, P., Spallone, M., Mango, F., Marzioni, S., & Bittucci, L. (2021). ESG and reputation: The case of sanctioned
Italian banks. Corporate Social Responsibility and Environmental Management, 28(1), 265–277. https://doi.
org/10.1002/csr.2047
Nguyễn Minh Phương, Trần Thúy Anh, Bùi Thị Dạ Lý, Trần Bình Minh & Đinh Phương Hà. (2024). Tác động của công
bố thông tin ESG tới khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 330,
22-33. https://doi.org/ 10.33301/JED.VI.2063
Nguyễn Thu Hương & Đặng Ngọc Hùng. (2025). Ảnh hưởng của Môi trường, Xã hội, & Quản trị đến Chi phí sử dụng
vốn: Tiếp cận theo phân tích tổng hợp. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 333(2), 55-66. https://doi.org/10.33301/JED.
VI.2200
Nguyễn Vân Hà, Vũ Tuệ Minh, Nguyễn Hà Trang, Phạm Anh Vũ, Phạm Thị Thanh Hường, & Mai Quang Anh. (2024).
Tác động của trách nhiệm môi trường đến quản trị lợi nhuận tại các quốc gia thuộc khối BRICS. Tạp chí Kinh tế -
Luật & Ngân hàng, 26(6), 54-66. https://doi.org/10.59276/JELB.2024.06.2670
Palma, J. G. (2009). The revenge of the market on the rentiers.: Why neo-liberal reports of the end of history turned out
to be premature. Cambridge Journal of Economics, 33(4), 829–869. https://doi.org/10.1093/cje/bep037
Principles for Responsible Investmen, P. (2024). What are the Principles for Responsible Investment? PRI. https://www.
unpri.org/about-us/what-are-the-principles-for-responsible-investment
Samet, M., & Jarboui, A. (2017). How does corporate social responsibility contribute to investment eciency? Journal
of Multinational Financial Management, 40, 33–46. https://doi.org/10.1016/j.muln.2017.05.007
SNSI. (2022). Sino-Securities Index ESG Ratings Methodology. https://www.chindices.com/les/Sino-Securities%20
Index%20ESG%20Ratings%20Methodology.pdf
Stockhammer, E. (2004). Financialisation and the slowdown of accumulation. Cambridge Journal of Economics, 28(5),
719–741. https://doi.org/10.1093/cje/beh032
TRẦN NGỌC MAI
-
ĐỖ THỊ MINH ANH
87
Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280- Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Stuart, A., Bond, A., Franco, A. M. A., Baker, J., Gerrard, C., Danino, V., & Jones, K. (2023). Conceptualising social
licence to operate. Resources Policy, 85, 103962. https://doi.org/10.1016/j.resourpol.2023.103962
Su, K., & Lu, Y. (2023). The impact of corporate social responsibility on corporate nancialization. The European
Journal of Finance, 29(7), 2047–2073. https://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1351847X.2023.2175704
Tang, H. (2022). The Eect of ESG Performance on Corporate Innovation in China: The Mediating Role of Financial
Constraints and Agency Cost. Sustainability, 14(7), Article 7. https://doi.org/10.3390/su14073769
Thủ tướng Chính phủ. (2023). Quyết định 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 về phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực
quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Cổng thông tin điện tử Chính phủ. https://vanban.chinhphu.
vn/?pageid=27160&docid=207889
Trần Thị Xuân Anh, Đào Hồng Nhung, & Trần Anh Tuấn. (2025). Cơ sở lý luận về hành vi tẩy xanh & bằng chứng thực
nghiệm từ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ. Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng, 27(3), 26-42.
https://doi.org/10.59276/JELB.2025.03.2777
Trần Thị Xuân Anh, & Nguyễn Thùy Linh. (2023). Ảnh hưởng của môi trường, xã hội & quản trị (ESG) đến hiệu quả
tài chính của doanh nghiệp- Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam. Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, 158(158),
1–21. https://doi.org/10.38203/jiem.vi.062023.1067
van der Zwan, N. (2014). Making sense of nancialization. Socio-Economic Review, 12(1), 99–129. https://doi.
org/10.1093/ser/mwt020
Wang, M., Nor, N. M., Rahim, N. A., Khan, F., & Cheng, Y. (2025). Which uncertainty measures matter for corporate
nancialization? Evidence from China intensive polluted industries. Cogent Economics & Finance, 13(1), 2449190.
https://doi.org/10.1080/23322039.2024.2449190
Xu, S. (2024). Exploring Nonlinear Linkage between Corporate Financialization and Innovative Eciency: Identication
and Governance of Excessive Financialization. Asia-Pacic Journal of Financial Studies, 53(4), 467–503. https://
doi.org/10.1111/ajfs.12482
Yadav, U. S., Ghosal, I., Pareek, A., Khandelwal, K., yadav, A. K., & Chakraborty, C. (2024). Impact of entrepreneurial
orientation and ESG on environmental performance: Moderating impact of digital transformation and technological
innovation as a mediating construct using Sobel test. Journal of Innovation and Entrepreneurship, 13(1), 86. https://
doi.org/10.1186/s13731-024-00443-y
Yuan, X., Li, Z., Xu, J., & Shang, L. (2022). ESG disclosure and corporate nancial irregularities Evidence from
Chinese listed rms. Journal of Cleaner Production, 332, 129992. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2021.129992
Zhang, S., Xu, L., & Liu, N. (2022a). Crowding-in and crowding-out eects of corporate philanthropy on R&D
investment. Managerial and Decision Economics, 43(6), 1835–1849. https://doi.org/10.1002/mde.3491
Zhang, S., Yin, X., Xu, L., Li, Z., & Kong, D. (2022b). Eect of Environmental, Social, and Governance Performance
on Corporate Financialization: Evidence from China. Sustainability, 14(17), Article 17. https://doi.org/10.3390/
su141710712
Zhao, J., & Jin, S. (2024). Can ESG Ratings Suppress Corporate Financialization? Advances in Economics, Management
and Political Sciences, 91, 310–321. https://doi.org/10.54254/2754-1169/91/20241041
Zheng, D., Lei, L., Wang, L., & Li, X. (2024). Inhibiting or promoting: The impact of corporate social responsibility on
corporate nancialization. International Review of Economics & Finance, 89, 1404–1421. https://doi.org/10.1016/j.
iref.2023.08.022
Zhou, Z., Xu, L., Guo, P., & Ai, H. (2023). Environmental regulation and corporate nancialization: Insight from Blue
Sky Protection Campaign in China. Environmental Science and Pollution Research, 30(19), 54993–55008. https://
doi.org/10.1007/s11356-023-26188-x

Preview text:

Ảnh hưởng của ESG đến tài chính hoá doanh nghiệp:
Góc nhìn từ các doanh nghiệp ngành năng lượng
Trần Ngọc Mai, Đỗ Thị Minh Anh
Học viện Ngân hàng, Việt Nam Ngày nhận: 30/05/2024
Ngày nhận bản sửa: 08/07/2025
Ngày duyệt đăng: 17/07/2025
Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và yêu cầu minh bạch ESG ngày càng
tăng, đặc biệt với ngành năng lượng, việc hiểu rõ tác động của ESG đến chiến
lược tài chính doanh nghiệp trở nên vô cùng cấp thiết. Nghiên cứu này kiểm
định mối quan hệ giữa ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị) và mức độ tài
chính hóa của 50 doanh nghiệp năng lượng niêm yết tại Việt Nam giai đoạn
2014-2023. Kết quả cho thấy: Yếu tố xã hội có tác động tích cực đến tài chính
hóa; Yếu tố môi trường có ảnh hưởng tiêu cực và Yếu tố quản trị không cho
thấy tác động rõ ràng. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có ảnh hưởng tích
cực đến tài chính hóa nhưng không phải là kênh truyền dẫn chính giữa ESG
và tài chính hóa. Nghiên cứu đóng góp bằng cách phân tích riêng biệt trụ cột
ESG và kiểm định vai trò trung gian của dòng tiền trong bối cảnh thị trường
mới nổi. Từ đó, nghiên cứu đề xuất khuyến nghị về kiểm soát cấu trúc tài sản
tài chính, gắn ưu đãi ESG với đầu tư thực, hoàn thiện khung pháp lý và nâng
cao chất lượng giám sát từ phía nhà đầu tư.

The impact of ESG on corporate financialization: Evidence from energy sector firms
Abstract:
In the context of the green transition and increasing demands for ESG- especial y in the energy
sector- understanding the impact of ESG on corporate financial strategy has become critical y important.
This study investigates the relationship between ESG factors (Environmental, Social, Governance) and
corporate financialization in 50 listed Vietnam energy companies during 2014- 2023. Findings show
that social factors positively impact financialization, environmental factors have a negative effect, and
governance factors are insignificant. Cash flow from operations influences financialization but is not a key
mediator in the ESG- financialization relationship. The study contributes by separately analyzing each ESG
pil ar and testing the mediating role of cash flow within the context of an emerging market. It proposes
several recommendations: control ing the structure of financial assets, linking ESG incentives to real
investments, improving the legal framework, and enhancing monitoring quality from investors.
Keywords: ESG, Energy sector, Corporate financialization, Operating cash flow
Doi: 10.59276/JELB.2025.07CD.2990
Tran Ngoc Mai1, Do Thi Minh Anh2
Email: ngocmai@hvnh.edu.vn1, anhdtm@hvnh.edu.vn2
Organization of al : Banking Academy of Vietnam © Học viện Ngân hàng
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng ISSN 3030 - 4199 75
Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280
Ảnh hưởng của ESG đến tài chính hoá doanh nghiệp:
Góc nhìn từ các doanh nghiệp ngành năng lượng
Từ khóa: ESG, Ngành năng lượng, Tài chính hóa doanh nghiệp, Dòng tiền hoạt động kinh doanh 1. Đặt vấn đề
Nghiên cứu này kiểm định mối quan
hệ giữa ESG và tài chính hóa của ngành
Trong bối cảnh phát triển bền vững trở
năng lượng tại Việt Nam, đồng thời kiểm
thành định hướng toàn cầu, việc tích hợp
định vai trò trung gian của dòng tiền hoạt
yếu tố Môi trường (Environmental- E), Xã
động kinh doanh, dựa trên dữ liệu của 50
hội (Social- S) và Quản trị (Governance-
doanh nghiệp niêm yết giai đoạn 2014-
G), gọi tắt là ESG, vào chiến lược doanh
2023. Nghiên cứu đóng góp vào khoảng
nghiệp không chỉ phản ánh trách nhiệm
trống trong bối cảnh phần lớn các nghiên
xã hội mà còn là công cụ nâng cao năng
cứu trước tập trung tại các nền kinh tế phát
lực cạnh tranh. Đặc biệt, trong ngành năng
triển, trong khi bằng chứng tại Việt Nam
lượng, ESG giữ vai trò thiết yếu bởi đây
còn hạn chế. Ngoài ra, các nghiên cứu trước
là ngành tiêu thụ tài nguyên lớn và phải
chủ yếu tập trung vào tác động trực tiếp của
thải khí nhà kính nhiều nhất. Theo World
ESG mà chưa làm rõ cơ chế truyền dẫn gián
Resources Institue, ngành năng lượng
tiếp. Việc nhận diện kênh tác động này có ý
đóng góp khoảng 75% tổng lượng phát
nghĩa lớn trong việc định hướng chiến lược
thải khí nhà kính toàn cầu năm 2021 (Ge
tài chính doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng
và cộng sự, 2024). Tại Việt Nam, với các
bổ sung khoảng trống bằng cách kiểm định
cam kết như Net-Zero, ngành này đối mặt
riêng ba trụ cột ESG, giúp nhận diện rõ hơn
với yêu cầu cấp thiết về cải thiện hiệu quả
vai trò của từng yếu tố. Cấu trúc bài viết
môi trường, quản trị rủi ro và minh bạch
gồm: Phần 2 tổng quan nghiên cứu và cơ
ESG. Song song đó, tài chính hoá doanh
sở lý thuyết; Phần 3 mô tả dữ liệu, biến đo
nghiệp (Corporate Financialization- CF)
lường và phương pháp; Phần 4 trình bày
nổi lên như một xu hướng đáng chú ý. Khái
kết quả thực nghiệm và thảo luận và Phần
niệm này phản ánh việc doanh nghiệp tăng
5 kết luận và hàm ý chính sách.
nắm giữ các tài sản tài chính như tiền mặt,
chứng khoán ngắn hạn nhằm khai thác lợi
2. Cơ sở lý luận về ESG và tài chính hóa
suất, thay vì đầu tư sản xuất kinh doanh doanh nghiệp
(Krippner, 2005). Nếu lạm dụng, CF có thể
khiến doanh nghiệp lệch khỏi giá trị cốt lõi,
2.1. Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa
sao nhãng đầu tư vào công nghệ, sản xuất-
ESG và tài chính hóa doanh nghiệp
những yếu tố thiết yếu cho tăng trưởng bền
vững. Một số nghiên cứu còn cho rằng nắm
ESG là khung đánh giá mức độ doanh
giữ tài sản tài chính chỉ nhằm “làm đẹp”
nghiệp thực hành ba yếu tố then chốt trong
hồ sơ, thao túng chỉ số định giá (Barth và
phát triển bền vững: môi trường (E), xã
cộng sự, 2017; Palma, 2009), gây rủi ro
hội (S) và quản trị (G) (European Banking
tiềm ẩn cho thị trường. Vì vậy, việc làm rõ
Authority, 2021). Trước khi trở nên phổ
các yếu tố ảnh hưởng đến CF trong ngành
biến, ESG thường được gắn với các thuật
năng lượng, đặc biệt là yếu tố ESG, trở nên
ngữ như “Đầu tư có trách nhiệm” hay
vô cùng cấp thiết trong bối cảnh thị trường
“Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp” (CSR). mới nổi như Việt Nam.
Theo Nguyên tắc Đầu tư Có trách nhiệm
76 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280
TRẦN NGỌC MAI - ĐỖ THỊ MINH ANH
(Principles for Responsible Investment,
Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder
2024), ESG là “chiến lược và thực tiễn
theory), Lý thuyết ràng buộc nguồn lực
nhằm tích hợp các yếu tố môi trường, xã (Theory of constraints).
hội và quản trị vào quá trình ra quyết định
Theo lý thuyết đại diện, ESG giúp doanh
đầu tư và sở hữu doanh nghiệp”. Việc đo
nghiệp xây dựng hình ảnh và uy tín tốt
lường ESG thường dựa trên hai phương
(Murè và cộng sự, 2021), do đó ESG có
pháp phổ biến. Thứ nhất là dùng điểm
thể bị lợi dụng để “làm đẹp” hồ sơ (Trần
ESG do các tổ chức xếp hạng độc lập như
Thị Xuân Anh và cộng sự, 2025), che giấu
MSCI hay Bloomberg cung cấp, dựa trên
hành vi đầu tư mang tính đầu cơ (Kotchen
bộ tiêu chí riêng biệt (KnowESG, 2023).
& Moon, 2012), làm tăng tài chính hóa.
Tuy nhiên, phương pháp này chủ yếu áp
Theo lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, nhiều
dụng cho các thị trường phát triển, nơi dữ
doanh nghiệp triển khai ESG để thu hút
đầy đủ, chuẩn hóa. Tại Việt Nam, phương
vốn hoặc tăng điểm ESG nhằm tăng giá cổ
pháp phân tích nội dung thường được sử
phiếu. Khi đó nguồn lực tài chính thặng dư,
dụng thay thế (Bui và cộng sự, 2024). Cách
nhưng nếu thiếu cơ chế giám sát, nguồn lực
tiếp cận này dựa trên các khung hướng dẫn
này có thể bị chuyển hướng sang tài sản
như GRI, UN PRI để mã hóa tiêu chí ESG
tài chính thay vì đầu tư thực, làm tăng tài
từ các báo cáo công khai của doanh nghiệp, chính hóa (Tang, 2022).
qua đó xây dựng chỉ số đo lường phù hợp.
Ngược lại, theo lý thuyết các bên liên quan,
Nghiên cứu này lựa chọn phương pháp
ESG giúp giảm bất cân xứng thông tin giữa
phân tích nội dung nhằm đảm bảo dữ liệu
các bên, giúp giám sát tốt hơn hành vi của
nhất quán và phản ánh đúng thực tiễn công
nhà quản lý và hạn chế tài chính hóa (Yuan bố tại Việt Nam.
và cộng sự, 2022). Lý thuyết ràng buộc về
Tài chính hóa doanh nghiệp phản ánh xu
nguồn lực cho rằng cả ESG và tài chính hóa
hướng gia tăng tỷ trọng phân bổ vào tài
đều tiêu tốn nguồn lực tài chính, đặc biệt là
sản tài chính có thanh khoản cao như tiền
dòng tiền nhàn rỗi. Khi doanh nghiệp ưu
mặt, chứng khoán ngắn hạn, thay vì đầu
tiên ESG, nguồn lực dành cho tài sản tài
tư sản xuất kinh doanh (Krippner, 2005).
chính sẽ bị hạn chế, làm giảm tài chính hóa
Điều này xuất phát từ mục tiêu tối đa hóa
(Samet & Jarboui, 2017; Zhang và cộng sự,
lợi nhuận ngắn hạn (van der Zwan, 2014),
2022a). Cũng theo lý thuyết này, dòng tiền
tuy nhiên nếu kéo dài có thể làm giảm năng
từ hoạt động kinh doanh đóng vai trò như
lực tăng trưởng và tăng rủi ro thị trường
một nguồn lực tài chính nội tại quan trọng.
(Klinge và cộng sự, 2021). Theo Klinge
Mức độ thực hiện ESG có thể ảnh hưởng
và cộng sự (2021), các phương pháp đo
đến quy mô dòng tiền, tác động gián tiếp
lường CF phổ biến bao gồm: (1) Tỷ lệ tài
đến khả năng tài chính hóa.
sản tài chính trên tổng tài sản; (2) Tỷ lệ thu
nhập tài chính trên tổng doanh thu hoặc lợi
2.2. Tổng quan nghiên cứu và giả thuyết
nhuận; (3) Tỷ lệ đầu tư tài chính trên tổng
đầu tư. Trong đó, phương pháp tỷ lệ tài sản
Về yếu tố môi trường (E), một số nghiên
tài chính trên tổng tài sản là phổ biến nhất.
cứu cho thấy các cam kết môi trường làm
Mối quan hệ giữa ESG và CF có thể được
giảm CF do doanh nghiệp phải phân bổ
giải thích bằng một số lý thuyết: Lý thuyết
nguồn lực lớn cho đầu tư xanh và công nghệ
đại diện (Agency theory), Lý thuyết phụ
sạch. Zhou và cộng sự (2023) chỉ ra rằng
thuộc nguồn lực (Resource-based theory),
hiệu quả môi trường cao làm giảm mức độ
Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280- Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng 77
Ảnh hưởng của ESG đến tài chính hoá doanh nghiệp:
Góc nhìn từ các doanh nghiệp ngành năng lượng
CF tại Trung Quốc. Tương tự, Wang và
điểm G cao có thể bị lợi dụng để hợp thức
cộng sự (2025) ghi nhận các doanh nghiệp
hóa hành vi đầu tư mang tính đầu cơ (Cao
gây ô nhiễm cao ở Trung Quốc có mức tài
& Zhang, 2024; Zhang và cộng sự, 2022a)
chính hóa giảm khi điểm E tăng. Tại Mỹ,
cho thấy yếu tố G vừa là công cụ giúp kiểm
Cupertino và cộng sự (2019) phát hiện các
soát CF, vừa tiềm ẩn nhiều nguy cơ nếu
cam kết môi trường có xu hướng tái phân
doanh nghiệp không duy trì minh bạch và
bổ từ tài sản tài chính sang đầu tư dài hạn giám sát đủ mạnh.
bền vững, qua đó giảm CF. Mối quan hệ
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về ESG hay
này phù hợp với kết quả của Gao và Zhang
CSR mới chủ yếu tập trung vào tác động
(2025); Zhao và Jin (2024). Nghiên cứu của
đến hiệu quả tài chính, khả năng sinh lời
Nguyễn Vân Hà và cộng sự (2024) bổ sung
hoặc chi phí vốn. Nghiên cứu của Dương
thêm khía cạnh quản trị minh bạch, theo
Nguyễn Thanh Phương và cộng sự (2024);
đó doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm
Trần Thị Xuân Anh và Nguyễn Thùy Linh
môi trường tốt thường giảm hành vi quản
(2023) cho thấy CSR có tác động tích
trị lợi nhuận, cải thiện chất lượng thông tin
cực đến hiệu quả tài chính của các doanh
tài chính. Điều này có thể làm giảm động
nghiệp Việt Nam. Nguyễn Thu Hương và
cơ tài chính hóa dựa trên thông tin không
Đặng Ngọc Hùng (2025) chỉ ra ESG giúp minh bạch.
giảm chi phí vốn. Nguyễn Minh Phương
Ngược lại, yếu tố xã hội (S), thường đo
và cộng sự (2024) kết luận rằng công bố
lường bởi CSR, có xu hướng làm tăng CF.
ESG đầy đủ và minh bạch giúp nâng cao
Nhiều nghiên cứu cho rằng CSR giúp doanh
vị thế cạnh tranh, tăng khả năng sinh lời.
nghiệp cải thiện hình ảnh, uy tín và giảm
Tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào
chi phí vốn, qua đó tăng khả năng huy động
xem xét tác động của ESG đến tài chính
vốn và tích lũy tài sản tài chính (Cheng và
hóa doanh nghiệp Việt Nam, đặt ra khoảng
cộng sự, 2014; Su & Lu, 2023).Các nghiên
trống nghiên cứu quan trọng.
cứu của Li và cộng sự (2023), Xu (2024),
Từ những lập luận trên, bài viết đề xuất các
Zhang và cộng sự (2022b), Zheng và cộng giả thuyết:
sự (2024) cũng đưa ra kết luận tương tự.
H1a: Yếu tố môi trường (E) có tác động
Tóm lại, về bản chất, yếu tố S giúp doanh
ngược chiều đến mức độ tài chính hóa
nghiệp xây dựng mối quan hệ tốt với các
của doanh nghiệp ngành năng lượng tại
bên liên quan, tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam.
huy động vốn, từ đó đầu tư nhiều hơn vào
H1b: Yếu tố xã hội (S) có tác động cùng tài sản tài chính.
chiều đến mức độ tài chính hóa của doanh
Với yếu tố quản trị (G), bằng chứng thực
nghiệp ngành năng lượng tại Việt Nam.
nghiệm phân hóa rõ nét. Một số nghiên
H1c: Yếu tố quản trị (G) có tác động
cứu cho thấy quản trị hiệu quả giúp doanh
ngược chiều đến mức độ tài chính hóa
nghiệp phân bổ vốn hợp lý, kiểm soát rủi
của doanh nghiệp ngành năng lượng tại
ro tốt hơn, từ đó giảm CF (Guizani, 2025; Việt Nam.
Jo & Harjoto, 2012). Tương tự, Guo và
cộng sự (2024) ghi nhận cải cách quản trị
Bên cạnh đó, nhằm làm rõ cơ chế truyền
tại các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc
dẫn từ ESG đến CF, bài viết sử dụng lý
góp phần giảm CF thông qua ưu tiên đầu
thuyết nguồn lực với lập luận rằng ESG làm
tư thực. Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại
giảm dòng tiền nhàn rỗi, từ đó ảnh hưởng
chỉ ra rằng trong môi trường quản trị yếu,
mức độ CF. Cụ thể, việc triển khai ESG,
78 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280
TRẦN NGỌC MAI - ĐỖ THỊ MINH ANH
Bảng 1. Tổng hợp các biến Tên biến Ký hiệu Đo lường Tài chính hóa FINANCIALIZE
(Tiền mặt + Đầu tư tài chính) / Tổng tài sản Môi trường E
Mã hóa từ phân tích nội dung báo cáo theo UN PRI và Xã hội S SNSI Quản trị G Quy mô doanh nghiệp SIZE
Logarit của Tổng tài sản Tăng trưởng doanh thu GROWTH
(Doanh thu năm hiện tại – năm trước) / Doanh thu năm trước Hiệu quả sinh lời ROA
Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản bình quân Đòn bẩy tài chính LEV
Tổng nợ / Tổng tài sản Hiệu suất hoạt động TURN
Doanh thu / Tổng tài sản bình quân Dòng tiền kinh doanh OCFRATIO
Dòng tiền thuần từ HĐKD/Tổng tài sản
Nguồn: Tác giả tổng hợp
đặc biệt trong ngành năng lượng, thường
bằng tỷ trọng tiền mặt và đầu tư tài chính
đòi hỏi nguồn lực đáng kể đầu tư vào công
trên tổng tài sản doanh nghiệp. Chỉ số này
nghệ sạch, hệ thống giám sát phát thải và
phản ánh mức độ mà doanh nghiệp phân bổ
các sáng kiến xã hội. Những cam kết này
nguồn lực vào các tài sản tài chính thay vì
làm giảm lượng tiền mặt nhàn rỗi, từ đó
tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh cốt lõi.
khả năng nắm giữ tài sản tài chính sẽ bị hạn
Các biến SIZE, GROWTH, ROA, LEV,
chế. Từ đó, bài viết đề xuất giả thuyết:
TURN thể hiện quy mô, tốc độ tăng trưởng
H2: Yếu tố dòng tiền đóng vai trò trung doanh thu, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản,
gian trong mối quan hệ giữa ESG và
đòn bẩy tài chính và hiệu suất hoạt động
tài chính hóa doanh nghiệp ngành năng
của doanh nghiệp. Cách tính toán chi tiết lượng tại Việt Nam.
các biến được trình bày ở Bảng 1.
Đối với biến đo lường ESG, các yếu tố môi
3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
trường, xã hội và quản trị lần lượt được
đại diện bởi biến E, S và G. Do Việt Nam
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng thu thập
chưa có chỉ số ESG chuẩn hóa cho tất cả
từ 50 doanh nghiệp ngành năng lượng niêm
các doanh nghiệp, đồng thời dữ liệu từ các
yết trên các sàn chứng khoán HOSE, HNX
tổ chức xếp hạng ESG quốc tế còn hạn chế
và UPCOM giai đoạn 2014- 2023, với tổng
và không đầy đủ các công ty, nghiên cứu
số 478 quan sát từ cơ sở dữ liệu FIINRPO.
sử dụng Phương pháp Phân tích nội dung
Dựa theo Su và Lu (2023), Zhang và cộng
(Content Analysis) để đo lường ESG. Cụ
sự (2022b) mô hình nghiên cứu có dạng
thể, dữ liệu được thu thập từ báo cáo thường như sau:
niên, báo cáo phát triển bền vững của
FINANCIALIZEi, t = β0 + β1 Ei,t + β2 Si,t + β3 doanh nghiệp. Sau đó tác giả mã hóa thông
Gi,t + β4 SIZEi,t + β5 GROWTHi,t + β6 ROAi,t
tin theo bộ tiêu chí UN PRI (United Nation
+ β7 LEVi,t + β8 TURNi,t + εi,t
Principles for Responsible Investment) kết
Trong đó FINANCIALIZE là biến đại diện
hợp với hệ thống đánh giá ESG của SNSI
cho tài chính hóa doanh nghiệp, xác định
Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280- Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng 79
Ảnh hưởng của ESG đến tài chính hoá doanh nghiệp:
Góc nhìn từ các doanh nghiệp ngành năng lượng
Bảng 2. Thống kê mô tả các biến Tên biến
Số quan sát Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị lớn nhất Giá trị nhỏ nhất FINANCIALIZE 486 0,231 0,382 -0,789 2,090 E 486 0,145 0,109 0,000 0,312 S 486 0,203 0,063 0,000 0,312 G 485 0,365 0,040 0,062 0,375 ROA 486 0,080 0,061 -0,008 0,299 SIZE 486 28,265 1,473 25,720 32,009 GROWTH 479 0,039 0,193 -0,381 0,911 LEV 486 0,502 0,205 0,077 0,911 TURN 479 1,979 2,023 0,077 7,910 OCFRATIO 486 0,148 0,202 -0,207 0,859
Nguồn: Xử lý dữ liệu của tác giả
(2022) gồm 16 tiêu chí1. Các tiêu chí được
kể, đặc biệt là dòng tiền nhàn rỗi. Khi ESG
mã hoá giá trị 0/1 thành giá trị định lượng
làm thay đổi dòng tiền hoạt động, điều
có thể so sánh được. Tiêu chí đạt 1 điểm
này có thể ảnh hưởng đến khả năng doanh
nếu có thông tin hay tuân thủ tốt nội hàm
nghiệp phân bổ tài sản, trong đó có tài sản
của tiêu chí. Giá trị chỉ số càng cao, thực
tài chính. Mô hình kiểm tra vai trò trung
hành ESG của doanh nghiệp càng tốt. Đây
gian vì thế có dạng sau:
là cách tiếp cận phổ biến trong bối cảnh
OCFRATIOi,t = β0 + β1 Ei,t + β2 Si,t + β3 Gi,t +
thiếu dữ liệu ESG chuẩn hóa, đặc biệt tại
β4 SIZEi,t + β5 GROWTHi,t + β6 ROAi,t + β7
các thị trường mới nổi (Michelon và cộng LEVi,t + β8 TURNi,t + εi,t sự, 2015).
FINANCIALIZEi,t = β0 + β1 Ei,t + β2 Si,t + β3
Mô hình hồi quy OLS, FEM, REM và
Gi,t + β4 SIZEi,t + β5 GROWTHi,t + β6 ROAi,t
FGLS được sử dụng để đánh giá tác động
+ β7 LEVi,t + β8 TURNi,t + β9 OCFRATIOi,t
của ESG tới tài chính hóa. Nhóm tác giả + εi,t
cũng thực hiện các kiểm định đa cộng
tuyến, kiểm định Hausman, kiểm định tự
4. Kết quả nghiên cứu
tương quan và kiểm định phương sai sai số
thay đổi để lựa chọn mô hình phù hợp nhất.
4.1. Thống kê mô tả và ma trận tương
Để làm rõ cơ chế truyền dẫn, nghiên cứu bổ quan
sung biến trung gian OCFRATIO, đại diện
cho dòng tiền nội tại của doanh nghiệp và
Nghiên cứu sử dụng STATA để minh hoạ
được đo lường bằng tỷ số dòng tiền thuần
và kiểm định giả thuyết nghiên cứu. Thống
từ hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản.
kê mô tả cho biết FINANCIALIZE có trung
Biến này được chọn dựa trên lý thuyết ràng
bình 0,231 và độ lệch chuẩn cao (0,382), cho
buộc nguồn lực và lý thuyết phụ thuộc
thấy sự phân tán lớn giữa các doanh nghiệp
nguồn lực. Theo đó, ESG và đầu tư tài
về mức độ tài chính hóa (Bảng 2). E, S và G
chính đều tiêu tốn nguồn lực tài chính đáng
có giá trị trung bình lần lượt là 0,145; 0,203
và 0,365 thể hiện mức độ thực hiện các trụ
1Theo Sino-Securities Index (SNSI) ESG Ratings Methodology
cột môi trường, xã hội và quản trị.
80 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280
TRẦN NGỌC MAI - ĐỖ THỊ MINH ANH
Nguồn: Xử lý dữ liệu của tác giả
Hình 1. Xu hướng ESG của DN năng lượng tại Việt Nam 2014-2023
Yếu tố môi trường (E) gia tăng rõ rệt, đặc
mà chưa tích hợp vào chiến lược phát triển
biệt từ sau 2016, phản ánh chuyển biến tích dài hạn.
cực của doanh nghiệp trong đầu tư công
Ma trận tương quan không có hệ số nào
nghệ sạch, tiết giảm phát thải và tuân thủ
vượt quá ngưỡng 0,8, thể hiện mô hình
các cam kết quốc tế như Net-Zero 2050.
không có dấu hiệu đa cộng tuyến nghiêm
Việc này phần nào xuất phát từ áp lực chính trọng (Bảng 3).
sách như Quy hoạch Điện VIII theo Quyết
định 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 (Thủ
4.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
tướng Chính phủ, 2023). Yếu tố xã hội (S)
cũng cải thiện, dù tốc độ chậm hơn, cho
Tác giả thực hiện hồi quy dữ liệu bảng với
thấy doanh nghiệp bắt đầu chú trọng đến an
3 mô hình POLS, FEM và REM. Kết quả
toàn lao động, phúc lợi nhân viên và trách
kiểm định Hausman cho thấy giá trị Chi-
nhiệm cộng đồng. Đây là những yếu tố đặc
square = 17,039 với p-value = 0,03 hàm ý
biệt quan trọng trong ngành năng lượng có
mô hình FEM phù hợp hơn mô hình REM,
mức độ rủi ro vận hành cao. Ngược lại, yếu
kiểm định phương sai sai số thay đổi và
tố quản trị (G) duy trì ở mức cao một cách
tự tương quan cho thấy có tồn tại hai hiện
ổn định và có xu hướng giảm nhẹ sau 2021.
tượng này. Vì vậy nhóm nghiên cứu sử
Điều này phản ánh hệ thống quản trị ở Việt
dụng phương pháp hồi quy FGLS để khắc
Nam là yếu tố được quan tâm từ lâu nhưng
phục khuyết tật. Kết quả được trình bày
thiếu cải cách và mang tính hình thức, đặc trong Bảng 4.
biệt trong các doanh nghiệp nhà nước chi
Kết quả cho thấy các doanh nghiệp chú
phối; vai trò của hội đồng quản trị độc lập,
trọng đến yếu tố E có xu hướng giảm CF.
kiểm soát nội bộ và công bố thông tin minh
Một cách lý giải là việc tuân thủ các yêu
bạch chưa được đảm bảo. Sự thiếu đồng
cầu môi trường như đầu tư công nghệ thân
đều giữa E, S và G cũng cho thấy các doanh
thiện, xử lý chất thải hay giảm phát thải
nghiệp mới chỉ tiến hành ESG “một phần”
thường có chi phí lớn, làm giảm nguồn lự
Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280- Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng 81
Ảnh hưởng của ESG đến tài chính hoá doanh nghiệp:
Góc nhìn từ các doanh nghiệp ngành năng lượng iả 0) ác g (1 1,000 ủa t iệu c ữ l ý d ử l (9) 1,000 ,000) 0,161*** (0 Nguồn: X (8) 1,000 ,000) 0,233*** (0 0,140*** (0,002) ) ) (7 1,000 0,039 ,395 ,000) (0 0,059 (0,197) -0,386*** (0 ) ) 57*** uan (6 1,000 0,053 ,000) ,000) (0,242) -0,108** (0,018 -0,328*** (0 -0,4 (0 ương q ) rận t (5 1,000 ,000) ,000) 0,259*** (0 0,012 (0,799) 0,063 (0,169) 0,039 -0,575*** (0 (0,389) . Ma t * ) ) ) 7) (4 ,050) ,270) Bảng 3 1,000 0,089* (0 0,095* (0,037 0,071 (0,11 0,051 (0 -0,109** (0,016 -0,134*** (0,003) ) ) (3) 060 1,000 ,000) ,000) ,000) ,000) 0,257*** (0 0,168*** (0 0, (0,184) 0,394*** (0 0,029 (0,531 -0,241*** (0 -0,130*** (0,004 * ** ) 8 * ) ) (2) 1,000 ,000) 23*** ,000) 0,645*** (0 0,074 (0,104) 0,059 (0,197) 0,098 (0,031 0,4 (0 -0,03 (0,404) -0,091* (0,045 -0,130*** (0,004 ) ) 8) (1) 1,000 ,000) ,000) ,000) ,000) ,006) 0,102** (0,024) 0,284*** (0 0,101** (0,027 0,346*** (0 -0,028 (0,537 0,220*** (0 -0,053 (0,24 -0,365*** (0 -0,126*** (0 iến io th Tên b cialize ow n finan E S G roa ocfrat size gr lev tur
82 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280
TRẦN NGỌC MAI - ĐỖ THỊ MINH ANH
Bảng 4. Kết quả nghiên cứu mô hình FGLS
VIII. Việc đầu tư vào công nghệ xử lý phát (1)
thải, chuyển đổi nhiên liệu hoặc đáp ứng
yêu cầu báo cáo ESG đang tiêu tốn nguồn FINANCIALIZE
lực đáng kể, làm giảm tích lũy tài sản tài E -0,109* chính. (0,061)
Ngược lại, biến S có tác động dương, phản S 0,396***
ánh doanh nghiệp đầu tư cho trách nhiệm (0,115)
xã hội có xu hướng tăng CF. Theo lý thuyết G -0,106
đại diện và lý thuyết hạn chế nguồn lực, các
hoạt động xã hội giúp nâng cao uy tín, tăng (0,067)
niềm tin nhà đầu tư và tạo thuận lợi trong SIZE 0,035***
tiếp cận vốn. Khi danh tiếng được củng cố, (0,006)
doanh nghiệp có thể tăng khả năng tích lũy GROWTH 0,002
tài sản tài chính, từ đó tăng CF. Kết quả (0,011)
này phù hợp với Cheng và cộng sự (2014),
Su và Lu (2023) cũng như luận giải của ROA 0,091
Stuart và cộng sự (2023) nhấn mạnh uy tín (0,077)
là yếu tố then chốt, là “giấy phép xã hội để LEV -0,225***
hoạt động” trong ngành năng lượng. (0,037)
Đối với biến G, nghiên cứu không tìm TURN -0,002
thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với (0,003)
CF. Điều này có thể xuất phát từ hạn chế
trong quản trị công ty tại Việt Nam, nơi _cons -0,757***
quyền lực cổ đông nhỏ lẻ còn yếu, vai trò (0,16)
ban kiểm soát chưa độc lập, và việc thực Observations 478
thi quản trị theo quốc tế còn hạn chế. Đặc
Sai số chuẩn trong ngoặc đơn
biệt trong ngành năng lượng, nhiều doanh
*** p<0,01; ** p<0,05; * p<0,1
nghiệp nhà nước hoặc có sở hữu nhà nước
khiến cơ chế giám sát mang tính hình thức,
Nguồn: Xử lý dữ liệu của tác giả
không phản ánh thực chất mức độ kiểm
nắm giữ tài sản tài chính. Ngoài ra, doanh
soát nội bộ hay năng lực điều hành. Do đó,
nghiệp thực hiện ESG nghiêm túc có thể có
biến G có thể không đủ phân hóa để tạo ra
định hướng phát triển bền vững, tập trung
khác biệt trong hành vi CF.
vào hoạt động cốt lõi thay vì theo đuổi lợi
Đối với kênh truyền dẫn tác động qua biến
ích ngắn hạn. Kết quả này phù hợp với
trung gian OCFRATIO, kết quả thể hiện ở
các nghiên cứu quốc tế trong ngành năng Bảng 5.
lượng và các ngành gây ô nhiễm cao khác
Kết quả hồi quy cho thấy tác động của E
(Wang và cộng sự, 2025; Zhang và cộng
tới CF là nhất quán. Biến S có tác động âm
sự, 2022a). Trong bối cảnh Việt Nam, đặc
(-0,231) tới dòng tiền thể hiện rằng các hoạt
biệt các doanh nghiệp nhiệt điện, khai thác
động xã hội làm giảm dòng tiền hoạt động.
than, dầu khí, kết quả này càng có cơ sở
Các hoạt động liên quan đến yếu tố xã hội-
thực tiễn khi họ đang chịu áp lực lớn từ
như cải thiện phúc lợi người lao động, thực
các cam kết quốc tế như Net-Zero 2050 và
hiện trách nhiệm cộng đồng hoặc thúc đẩy
chính sách nội địa như Quy hoạch Điện
bình đẳng giới- thường đòi hỏi chi phí đầu
Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280- Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng 83
Ảnh hưởng của ESG đến tài chính hoá doanh nghiệp:
Góc nhìn từ các doanh nghiệp ngành năng lượng
Bảng 5. Kết quả hồi quy làm rõ tác động của ESG lên Financialize thông qua dòng tiền (1) (2) (3) OCFRATIO FINANCIALIZE FINANCIALIZE E 0,1 -0,109* -0,134** (0,062) (0,061) (0,059) S -0,231** 0,396*** 0,41*** (0,101) (0,115) (0,112) G 0,016 -0,106 -0,11 (0,085) (0,067) (0,07) ROA 0,263*** 0,091 0,075 (,097) (,077) (,081) SIZE -0,002 0,035*** 0,037*** (0,004) (0,006) (0,005) GROWTH -0,043** 0,002 0,012 (0,021) (0,011) (0,013) LEV -0,088** -0,225*** -0,24*** (0,039) (0,037) (0,036) TURN -0,023*** -0,002 0,001 (0,003) (0,003) (0,003) OCFRATIO 0,099*** (0,023) _cons 0,27** -0,757*** -0,827*** (0,118) (0,16) (0,148) Số quan sát 478 478 478
Sai số chuẩn trong ngoặc đơn
*** p<0,01; ** p<0,05; * p<0,1
Nguồn: Xử lý dữ liệu của tác giả
tư lớn và không mang lại dòng tiền ngay
hành kiểm định Sobel. Kiểm định Sobel
lập tức (Su & Lu, 2023). Trong khi đó dòng
được sử dụng nhằm xác định xem tác động
tiền lại có quan hệ cùng chiều tới CF, là
của biến độc lập lên biến phụ thuộc thông
nội lực quan trọng giúp doanh nghiệp có
qua một biến trung gian có ý nghĩa thống
điều kiện tài chính thuận lợi hơn để tích lũy
kê hay không (Yadav và cộng sự, 2024).
tài sản tài chính, tăng tính linh hoạt và khả
Kết quả cho thấy giá trị z = -1,965 với p
năng quản lý rủi ro (Stockhammer, 2004).
= 0,049 (< 0,05), tức là hiệu ứng gián tiếp
Nói cách khác, S gián tiếp giảm CF -0,231
của S qua dòng tiền là có ý nghĩa thống kê × 0,099 = –0,0229.
ở mức 5%. Tuy nhiên, giá trị hiệu ứng gián
Để xác nhận giả định về vai trò trung gian
tiếp (-0,0229) thấp hơn nhiều so với hiệu
của biến OCFRATIO, nghiên cứu tiến
ứng trực tiếp (0,410) cho thấy mức độ ảnh
84 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280
TRẦN NGỌC MAI - ĐỖ THỊ MINH ANH
hưởng qua dòng tiền là rất nhỏ. Điều này
đẩy tài chính hóa, nhưng không đóng vai
được minh chứng bởi việc hệ số của S hầu
trò trung gian đáng kể. Điều này cho thấy
như không thay đổi giữa hai mô hình (2)
tác động của ESG, đặc biệt là yếu tố xã hội, và (3).
đến tài chính hóa chủ yếu đến từ các kênh
Từ đó kết luận rằng dòng tiền hoạt động
gián tiếp khác như uy tín doanh nghiệp
làm suy giảm tác động của yếu tố xã hội hoặc chi phí vốn.
(S) đến CF, tuy nhiên mức độ suy giảm là
Dựa trên kết quả này, nhóm tác giả đề xuất
không đáng kể. Tác động tổng thể của S
một số khuyến nghị. Với doanh nghiệp,
bao gồm hai phần: hiệu ứng trực tiếp với hệ
cần nhận thức rõ thực hiện ESG, đặc biệt
số ước lượng 0,410 và hiệu ứng gián tiếp
các yếu tố xã hội, môi trường không chỉ
thông qua dòng tiền là -0,0229. Sự chênh
mang lại giá trị cộng đồng mà còn nâng
lệch lớn này cho thấy dòng tiền chỉ đóng
cao uy tín và khả năng tiếp cận vốn. Nhà
vai trò rất hạn chế trong việc dẫn truyền
đầu tư và tổ chức tín dụng nên đánh giá
ảnh hưởng của S. Thay vào đó, ảnh hưởng
ESG không chỉ như một tiêu chí tín nhiệm
của S nhiều khả năng đến từ các kênh khác
mà còn gần xem xét mức độ thực thi gắn
như uy tín doanh nghiệp, khả năng tiếp cận
với chiến lược đầu tư cốt lõi. Với cơ quan
tài chính, và sự tin tưởng của nhà đầu tư.
quản lý, cần hoàn thiện khung pháp lý về
công bố thông tin và thực hành ESG. Hiện
5. Kết luận và hàm ý chính sách
nay, việc thực hiện ESG ở Việt Nam chủ
yếu dựa trên hướng dẫn khuyến nghị, dẫn
Nghiên cứu này kiểm định mối quan hệ
đến báo cáo chỉ mang tính hình thức. Do
giữa ESG và tài chính hóa doanh nghiệp
đó, cần ban hành các văn bản pháp lý cấp
trong ngành năng lượng tại Việt Nam, sử
nghị định hoặc thông tư hướng dẫn chi tiết
dụng dữ liệu bảng từ 50 doanh nghiệp niêm
về nội dung, phương pháp đo lường, nghĩa
yết giai đoạn 2014- 2023. Kết quả cho thấy
vụ công bố thông tin ESG, đặc biệt trong
yếu tố xã hội (S) làm tăng tài chính hóa ngành năng lượng.
thông qua việc cải thiện uy tín và khả năng
Bên cạnh những kết quả nghiên cứu trên,
tiếp cận vốn. Ngược lại, yếu tố môi trường
để hoàn thiện hơn nữa hướng nghiên cứu,
(E) có tác động tiêu cực, do chi phí thực
có thể mở rộng phạm vi sang các ngành
hiện các cam kết môi trường làm giảm khả
khác nhau, so sánh tác động giữa các ngành
năng tích lũy tài sản tài chính. Yếu tố quản
cũng như sử dụng các mô hình nghiên cứu,
trị (G) không có ảnh hưởng rõ rệt trong bối
biến trung gian khác để xem xét vai trò
cảnh hệ thống quản trị doanh nghiệp Việt
truyền dẫn cũng như tác động trong ngắn
Nam còn hạn chế. Ngoài ra, dòng tiền từ hạn, dài hạn. ■
hoạt động kinh doanh là một yếu tố thúc
Tài liệu tham khảo
Barth, M. E., Gomez-Biscarri, J., Kasznik, R., & López-Espinosa, G. (2017). Bank earnings and regulatory capital
management using available for sale securities. Review of Accounting Studies, 22(4), 1761–1792. https://doi. org/10.1007/s11142-017-9426-y
Bui, T. T. L., Tran, T. L. A., & Hoang, T. (2024). ESG disclosure and financial performance: Empirical study of Vietnamese
commercial banks. Banks and Bank Systems, 19(1), 208–220. https://doi.org/10.21511/bbs.19(1).2024.18
Cao, C., & Zhang, Y. (2024). A study of the impact of staggered boards on corporate financialization: From the perspective
of board governance. Frontiers in Psychology, 15. https://doi.org/10.3389/fpsyg.2024.1377948
Cheng, B., Ioannou, I., & Serafeim, G. (2014). Corporate social responsibility and access to finance. Strategic
Management Journal, 35(1), 1–23. https://doi.org/10.1002/smj.2131
Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280- Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng 85
Ảnh hưởng của ESG đến tài chính hoá doanh nghiệp:
Góc nhìn từ các doanh nghiệp ngành năng lượng
Cupertino, S., Consolandi, C., & Vercelli, A. (2019). Corporate Social Performance, Financialization, and Real
Investment in US Manufacturing Firms. Sustainability, 11(7), Article 7. https://doi.org/10.3390/su11071836
Dương Nguyễn Thanh Phương, Nguyễn Quốc Anh, Trần Thị Mỹ Liên, & Phan Thị Thanh Quyên. (2024). Tác động thực
hiện trách nhiệm xã hội đối với hiệu quả của các doanh nghiệp nhóm VN30 niêm yết tại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế
& Dự báo, (1). https://kinhtevadubao.vn/tac-dong-thuc-hien-trach-nhiem-xa-hoi-doi-voi-hieu-qua-cua-cac-doanh-
nghiep-nhom-vn30-niem-yet-tai-viet-nam-29864.html
European Banking Authority. (2021). Report on management and supervision of ESG risks for credit institutions and
investment firms. https://www.eba.europa.eu/publications-and-media/press-releases/eba-publishes-its-report-
management-and-supervision-esg-risks
Gao, C., & Zhang, S. (2025). ESG performance and corporate financialization: A dual perspective of risk management
and value creation. Finance Research Letters, 71, 106442. https://doi.org/10.1016/j.frl.2024.106442
Ge, M., Friedrich, J., & Vigna, L. (2024). Where do Emissions come from? 4 Charts Explain Greenhouse Gas Emissions
by Sector. Truy cập từ https://www.wri.org/insights/4-charts-explain-greenhouse-gas-emissions-countries-and- sectors
Guizani, M. (2025). CEO career horizon, corporate governance and corporate financial asset allocation: Evidence from
Malaysia. Asian Journal of Accounting Research, ahead-of-print(ahead-of-print). https://doi.org/10.1108/AJAR- 06-2024-0229
Guo, M., Li, N., Guo, F., & Li, X. (2024). The State Capital Investing and Operating Company Pilot Reform and the
Financialization of the Chinese SOEs. Journal of International Financial Management & Accounting, n/a(n/a).
https://doi.org/10.1111/jifm.12241
Jo, H., & Harjoto, M. A. (2012). The Causal Effect of Corporate Governance on Corporate Social Responsibility. Journal
of Business Ethics, 106(1), 53–72. https://doi.org/10.1007/s10551-011-1052-1
Klinge, T. J., Fernandez, R., & Aalbers, M. B. (2021). Whither corporate financialization? A literature review. Geography
Compass, 15(9), e12588. https://doi.org/10.1111/gec3.12588
KnowESG. (2023, February 13). Comparing ESG Ratings Agencies: MSCI, Morningstar, Bloomberg, LSEG and More.
KnowESG. https://www.knowesg.com/featured-article/esg-ratings-a-benchmark-for-performance
Kotchen, M., & Moon, J. J. (2012). Corporate Social Responsibility for Irresponsibility. The B.E. Journal of Economic
Analysis & Policy, 12(1). https://doi.org/10.1515/1935-1682.3308
Krippner, G. R. (2005). The financialization of the American economy. Socio-Economic Review, 3(2), 173–208. https:// doi.org/10.1093/SER/mwi008
Li, L., Wang, Y., Sun, H., Shen, H., & Lin, Y. (2023). Correction: Li & cộng sự Corporate Social Responsibility
Information Disclosure and Financial Performance: Is Green Technology Innovation a Missing Link? Sustainability,
15, 11926. Sustainability, 15(19). https://doi.org/10.3390/su151914544
Michelon, G., Pilonato, S., & Ricceri, F. (2015). CSR reporting practices and the quality of disclosure: An empirical
analysis. Critical Perspectives on Accounting, 33, 59–78. https://doi.org/10.1016/j.cpa.2014.10.003
Murè, P., Spallone, M., Mango, F., Marzioni, S., & Bittucci, L. (2021). ESG and reputation: The case of sanctioned
Italian banks. Corporate Social Responsibility and Environmental Management, 28(1), 265–277. https://doi. org/10.1002/csr.2047
Nguyễn Minh Phương, Trần Thúy Anh, Bùi Thị Dạ Lý, Trần Bình Minh & Đinh Phương Hà. (2024). Tác động của công
bố thông tin ESG tới khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 330,
22-33. https://doi.org/ 10.33301/JED.VI.2063
Nguyễn Thu Hương & Đặng Ngọc Hùng. (2025). Ảnh hưởng của Môi trường, Xã hội, & Quản trị đến Chi phí sử dụng
vốn: Tiếp cận theo phân tích tổng hợp. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 333(2), 55-66. https://doi.org/10.33301/JED. VI.2200
Nguyễn Vân Hà, Vũ Tuệ Minh, Nguyễn Hà Trang, Phạm Anh Vũ, Phạm Thị Thanh Hường, & Mai Quang Anh. (2024).
Tác động của trách nhiệm môi trường đến quản trị lợi nhuận tại các quốc gia thuộc khối BRICS. Tạp chí Kinh tế -
Luật & Ngân hàng, 26(6), 54-66. https://doi.org/10.59276/JELB.2024.06.2670
Palma, J. G. (2009). The revenge of the market on the rentiers.: Why neo-liberal reports of the end of history turned out
to be premature. Cambridge Journal of Economics, 33(4), 829–869. https://doi.org/10.1093/cje/bep037
Principles for Responsible Investmen, P. (2024). What are the Principles for Responsible Investment? PRI. https://www.
unpri.org/about-us/what-are-the-principles-for-responsible-investment
Samet, M., & Jarboui, A. (2017). How does corporate social responsibility contribute to investment efficiency? Journal
of Multinational Financial Management, 40, 33–46. https://doi.org/10.1016/j.mulfin.2017.05.007
SNSI. (2022). Sino-Securities Index ESG Ratings Methodology. https://www.chindices.com/files/Sino-Securities%20
Index%20ESG%20Ratings%20Methodology.pdf
Stockhammer, E. (2004). Financialisation and the slowdown of accumulation. Cambridge Journal of Economics, 28(5),
719–741. https://doi.org/10.1093/cje/beh032
86 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280
TRẦN NGỌC MAI - ĐỖ THỊ MINH ANH
Stuart, A., Bond, A., Franco, A. M. A., Baker, J., Gerrard, C., Danino, V., & Jones, K. (2023). Conceptualising social
licence to operate. Resources Policy, 85, 103962. https://doi.org/10.1016/j.resourpol.2023.103962
Su, K., & Lu, Y. (2023). The impact of corporate social responsibility on corporate financialization. The European
Journal of Finance, 29(7), 2047–2073. https://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1351847X.2023.2175704
Tang, H. (2022). The Effect of ESG Performance on Corporate Innovation in China: The Mediating Role of Financial
Constraints and Agency Cost. Sustainability, 14(7), Article 7. https://doi.org/10.3390/su14073769
Thủ tướng Chính phủ. (2023). Quyết định 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 về phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực
quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Cổng thông tin điện tử Chính phủ. https://vanban.chinhphu.
vn/?pageid=27160&docid=207889
Trần Thị Xuân Anh, Đào Hồng Nhung, & Trần Anh Tuấn. (2025). Cơ sở lý luận về hành vi tẩy xanh & bằng chứng thực
nghiệm từ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ. Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng, 27(3), 26-42.
https://doi.org/10.59276/JELB.2025.03.2777
Trần Thị Xuân Anh, & Nguyễn Thùy Linh. (2023). Ảnh hưởng của môi trường, xã hội & quản trị (ESG) đến hiệu quả
tài chính của doanh nghiệp- Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam. Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, 158(158),
1–21. https://doi.org/10.38203/jiem.vi.062023.1067
van der Zwan, N. (2014). Making sense of financialization. Socio-Economic Review, 12(1), 99–129. https://doi. org/10.1093/ser/mwt020
Wang, M., Nor, N. M., Rahim, N. A., Khan, F., & Cheng, Y. (2025). Which uncertainty measures matter for corporate
financialization? Evidence from China intensive polluted industries. Cogent Economics & Finance, 13(1), 2449190.
https://doi.org/10.1080/23322039.2024.2449190
Xu, S. (2024). Exploring Nonlinear Linkage between Corporate Financialization and Innovative Efficiency: Identification
and Governance of Excessive Financialization. Asia-Pacific Journal of Financial Studies, 53(4), 467–503. https:// doi.org/10.1111/ajfs.12482
Yadav, U. S., Ghosal, I., Pareek, A., Khandelwal, K., yadav, A. K., & Chakraborty, C. (2024). Impact of entrepreneurial
orientation and ESG on environmental performance: Moderating impact of digital transformation and technological
innovation as a mediating construct using Sobel test. Journal of Innovation and Entrepreneurship, 13(1), 86. https://
doi.org/10.1186/s13731-024-00443-y
Yuan, X., Li, Z., Xu, J., & Shang, L. (2022). ESG disclosure and corporate financial irregularities – Evidence from
Chinese listed firms. Journal of Cleaner Production, 332, 129992. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2021.129992
Zhang, S., Xu, L., & Liu, N. (2022a). Crowding-in and crowding-out effects of corporate philanthropy on R&D
investment. Managerial and Decision Economics, 43(6), 1835–1849. https://doi.org/10.1002/mde.3491
Zhang, S., Yin, X., Xu, L., Li, Z., & Kong, D. (2022b). Effect of Environmental, Social, and Governance Performance
on Corporate Financialization: Evidence from China. Sustainability, 14(17), Article 17. https://doi.org/10.3390/ su141710712
Zhao, J., & Jin, S. (2024). Can ESG Ratings Suppress Corporate Financialization? Advances in Economics, Management
and Political Sciences, 91, 310–321. https://doi.org/10.54254/2754-1169/91/20241041
Zheng, D., Lei, L., Wang, L., & Li, X. (2024). Inhibiting or promoting: The impact of corporate social responsibility on
corporate financialization. International Review of Economics & Finance, 89, 1404–1421. https://doi.org/10.1016/j. iref.2023.08.022
Zhou, Z., Xu, L., Guo, P., & Ai, H. (2023). Environmental regulation and corporate financialization: Insight from Blue
Sky Protection Campaign in China. Environmental Science and Pollution Research, 30(19), 54993–55008. https://
doi.org/10.1007/s11356-023-26188-x
Năm thứ 27(8)- Tháng 7. 2025- Số 280- Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng 87