1. Trình bày tóm tắt quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH ở miền
Bắc giai đoạn 1954 – 1975. (4 điểm)
Tháng 7 – 1954, đất nước lâm vào cảnh bị chia cắt 2 miền Nam - Bắc. Miền
Nam trở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Trong khi đó, với chiến thắng lịch sử Điện
Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Genévơ năm 1954, miền Bắc hoàn toàn được giải
phóng và bắt đầu chuyển sang công cuộc xây dựng CNXH, trở thành hậu phương
vững chắc cho miền Nam nói riêng và đất nước nói chung. Tuy nhiên, Miền Bắc vừa
bước ra khỏi cuộc chiến tranh, gặp muôn vàn khó khăn. Hầu hết các cơ sở sản xuất
công nghiệp bị tàn phá, đồng ruộng nhiều nơi bị bỏ hoang. Đường xá, cầu cống hầu
như bị phá huỷ. Nền tài chính còn yếu kém, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Văn hoá giáo dục, y tế còn nhiều hạn chế. Vì thế, để có thể hậu thuẫn chắc chắn cho
miền Nam, Đảng ta đã đề ra chủ trương đưa miền Bắc quá độ lên CNXH mà trọng
tâm là khôi phục kinh tế, cải tạo XHCN.
Giai đoạn 1954 – 1960 : khôi
phục kinh tế và cải tạo XHCN
Tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiệm
vụ chủ yếu trước mắt của miền Bắc là khẩn trương hàn gắn vết thương chiến tranh;
tập trung vào việc phục hồi và phát triển kinh tế, đầu tiên là nông nghiệp; ổn định
xã hội; ổn định đời sống nhân dân; tăng cường và mở rộng quan hệ quốc tế…
Lấy khôi phục và phát triển nông nghiệp làm trọng tâm vì kinh tế miền Bắc cơ
bản là nông nghiệp. Việc thực hiện cải cách ruộng đất trong những năm 1954-1956
có ý nghĩa quyết định trong khôi phục và phái triển kinh tế nông nghiệp, thực hiện
nhiệm vụ cách mạng dân chủ, chia ruộng đất cho nông dân. Hơn 9 triệu người
trong hơn 2 triệu hộ nông dân lao động được chia hơn 810.000 ha ruộng đất. Bên
cạnh đó, các chính sách khuyến nông như, thủy lợi, phân bón, sức kéo... cũng được
triển khai. Vì thế nền nông nghiệp nhanh chóng được phục hồi. Ngoài ra, việc khôi
phục công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và giao thông vận tải cũng hoàn thành.
Ngành văn hoá giáo dục phát triển khá nhanh; hệ thống y tế, chăm sóc sức khoẻ
cho nhân dân cũng được nhà nước quan tâm xây dựng.
Vào tháng 11-1958, Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành Trung ương Đảng vạch
ra chủ trương thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế tư bản
tư doanh, tiểu thương tiểu chủ, thợ thủ công và nông dân cá thể. Đi đôi với quá
trình cải tạo xã hội chủ nghĩa. Hội nghị xác định phải ra sức xây dựng, phát triển
thành phần kinh tế quốc doanh.
Trong kế hoạch 3 năm lần thứ hai, nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa trong
nông nghiệp có vị trí trọng tâm, quan trọng nhất. Phương hướng chính là đưa nông
dân vào làm ăn tập thể và được xây dựng thí điểm. Năm 1959, phong trào phát
triển khắp nơi và trở thành cao trào trong năm 1960.
Cải tạo xã hội chủ nghĩa đã làm thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế-xã hội miền
Bắc, đưa thành phần kinh tế toàn dân và tập thể thành vai trò chủ đạo trong cơ cấu
kinh tế quốc dân. Thực hiện kế hoạch 3 năm lần thứ nhất (1955-1957) và 3 năm
lần thứ hai 1 (1958- 1960) đã làm diện mạo miền Bắc thay đổi.
Giai đoạn 1961 – 1965 : thực
hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
Tháng 9-1960 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III được triệu tập, thông qua kế
hoạch 5 năm lần thứ nhất, nhiệm vụ của kế hoạch này là bước đầu xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội và từng bước cải thiện đời sống tư tưởng,
tinh thần và văn hoá cho nhân dân để phù hợp với chế độ xã hội mới XHCN, bảo
đảm an ninh quốc phòng. Kế hoạch nói trên nhân dân miền Bắc đã dấy lên phong
trào thi lao động xã hội chủ nghĩa, điển hình là phong trào thi đua “Gió Đại
Phong” trong nông nghiệp, phong trào thi đua “Sóng Duyên Hải” trong công nghiệp,…
Đại hội đã đề ra đường lối xây dựng thời kỳ quá độ lên CNXH ở miền Bắc: đại
đoàn kết toàn dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước và lao động sáng tạo của nhân
dân Việt Nam, hợp tác với các nước XHCN để xây dựng miền Bắc tiến nhanh và
vững chắc lên CNXH. Từ đó xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân
và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững chắc phục vụ sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước.
Sau 10 năm thực hiện sự nghiệp xây dựng CNXH, xã hội và con người miền
Bắc đều đổi mới, trở thành hậu phương vững chắc cho cách mạng cả nước với chế
độ chính trị ưu việt, lực lượng kinh tế và quốc phòng lớn mạnh.
Giai đoạn 1965 – 1968 : chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chi
viện miền Nam
Tháng 8 – 1964, Mỹ dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” nhằm phá hoại tiềm lực
kinh tế, quốc phòng, phá hoại công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, ý định ngăn
chặn, cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, hòng đè bẹp ý chí chiến đấu
và niềm tin của nhân dân Việt Nam vào cuộc kháng chiến.
Trước tình hình đó, theo tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 và lần
thứ 12, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã kịp thời xác định chủ trương:
- Một là, kịp thời chuyển hướng xây dựng kinh tế để phù hợp với tình hình có chiến tranh phá hoại.
- Hai là, tăng cường lực lượng quốc phòng cho kịp với tình hình cả nước có chiến tranh.
- Ba là, ra sức chi viện cho miền Nam để đánh bại địch ở chiến trường chính miền Nam.
- Bốn là, phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức cho phù hợp với tình hình mới.
Thực hiện Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cấp, các ngành, các lực
lượng và địa phương, từ công trường, nhà máy đến nông thôn, đô thị đã dấy lên
quyết tâm đánh thắng đế quốc Mỹ, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam.
Giai đoạn 1969 – 1975 : khôi phục kinh tế
Tranh thủ những thuận lợi mới do Mỹ chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc,
Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc thực hiện các kế hoạch ngắn hạn nhằm khắc
phục hậu quả chiến tranh và tiếp tục xây dựng miền Bắc.
Nhân dân miền Bắc đã khẩn trương bắt tay khôi phục kinh tế và đẩy mạnh sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chấp hành các nghị quyết của Đảng, sau ba năm
phấn đấu gian khổ, từ năm 1969 đến năm 1972, tình hình khôi phục kinh tế và tiếp
tục xây dựng chủ nghĩa xã hội có nhiều chuyển biến tốt đẹp.
Quân dân miền Bắc đã kịp thời chuyển hướng kinh tế từ thời bình sang thời chiến,
vừa sản xuất, vừa chiến đấu, trong 12 ngày đêm lập nên trận “Điện Biên Phủ trên
không”, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, buộc Mỹ phải đàm
phán và ký kết Hiệp định Paris, công nhận độc lập chủ quyền, thống nhất của Việt Nam.
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Trung ương Đảng đã đề ra kế hoạch 2 năm
khôi phục và phát triển kinh tế 1974-1975. Miền Bắc còn hoàn thành nhiệm vụ hậu
phương lớn đối với tuyền tuyến miền Nam và hoàn thành nghĩa vụ quốc tế đối với
cách mạng Lào và Campuchia.
2. Phân tích vai trò của hậu phương miền Bắc đối với tiền tuyến miền Nam trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975). Trong cuộc sống, bạn
rút ra được cho bản thân mình những bài học kinh nghiệm gì giữa vai trò của
hậu phương và tiền tuyến từ vấn đề lịch sử trên? (6 điểm)
Vai trò của hậu phương miền Bắc đối với tiền tuyến miền Nam trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước:
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (năm 1954), Đảng ta
chủ trương thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Tiến hành cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Nam. Cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc không chỉ có mục tiêu xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc
cho đồng bào ta ở miền Bắc mà còn nhằm xây dựng, củng cố căn cứ địa hậu phương
chung của cả nước để tiến hành giải phóng miền Nam. Đảng ta luôn thống nhất: phải
xây dựng miền Bắc thành hậu phương chiến lược vững mạnh toàn diện trên tất cả các
mặt chính trị, tư tưởng, kinh tế, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, kết hợp giữa xây dựng
và và bảo vệ vững chắc hậu phương.
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.