Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ
BÀI THẢO LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI : “ BÀI HỌC TÔN TRỌNG KHÁCH QUAN VÀ ĐỔI MỚI
TƯ DUY - TRÌNH BÀY CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ VẬN DỤNG CÁC
BÀI HỌC ĐÓ VÀO TRONG LĨNH VỰC ĐỜI SỐNG HỌC TẬP CỦA MỖI NGƯỜI ”
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Phương Kỳ Sơn Nhóm thực hiện: Nhóm 12
Lớp học phần: 2283MLNP0221 HÀ NỘI – 2022 LỜI HAY Ý ĐẸP
“Người duy nhất không mắc lỗi là người không làm gì cả... Đừng sợ
thừa nhận thất bại. Hãy học từ thất bại” 1 LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài “ Bài học tôn trọng
khách quan và đổi mới tư duy - vận dụng bài học vào lĩnh vực đời sống
học tập của mỗi người ” chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu
sắc nhất đến Giảng viên: PGS.TS Phương Kỳ Sơn - Người đã trực tiếp
giảng dạy truyền đạt những kiến thức quý giá, giúp đỡ và hướng dẫn tận
tình từ khi nhóm bắt đầu và thực hiện đề tài. Thực tế cho thấy không một ai
có thể thành công nếu không có người chỉ dẫn và người đã dẫn dắt tụi em
đến thành công của ngày hôm nay chính là thầy. Vì đều là những sinh viên
năm nhất nên chắc chắn chúng em không thể tránh khỏi những thiếu sót
vậy nên tụi em mong thầy có thể góp ý thêm để tụi em hoàn thành đề tài
một cách xuất sắc nhất có thể. Một lần nữa xin cảm ơn những lời dạy và
những lần giải đáp thắc mắc của thầy dành cho chúng em. Xin chân thành cảm ơn thầy! 2 LỜI CAM ĐOAN
Trong quá trình thực hiện đề tài thảo luận và truyền tải kiến thức, Nhóm
12 đã thao khảo một số các giáo trình và tài liệu có liên quan đến đề tài và
thuộc trong phạm vi nội dung môn Triết học Mác-Lenin. Tuy nhiên Nhóm
12 xin cam đoan rằng bài thảo luận của nhóm không trùng lặp hay sao chép
bất cứ bài cáo cáo nghiên cứu nào được thực hiện trước đó mà nhóm đã biết. 3 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tầm quan trọng của đề tài
Có một cuốn sách đã từng viết: “Một xã hội không triết học thì xem như bị cắt đứt
với cội rễ của nó và sẽ mò mẫm đi vào một tương lai vô định. Con người trong xã hội
như thế, nhất là giới trẻ, sẽ có ít cơ hội tìm hiểu bản thân và chọn lựa các giá trị cho
mình và cho xã hội, và sẽ dễ bị lung lạc bởi các thế lực có chủ đích riêng và đi ngược lại
sự tiến hóa tích cực.” Những nguyên lý cơ bản của triết học, đặc biệt là triết học Mac –
Lênin là môn khoa học cơ bản trang bị cho con người những kiến thức trong nhận thức
và hành động, là nguồn gốc lý luận và tiền đề khoa học tự nhiên, mang đến những định
hướng đúng đắn cho con người trong cuộc sống.
Trong triết học, chức năng của thế giới quan là định hướng cho con người nhận thức
đúng đắn về thế giới thực, giúp con người hình thành quan điểm khoa học định hướng
từ đó xác định thái độ xác định thái độ và cách thức hoạt động của mình, nâng cao vai
trò sáng tạo tích cực của con người
Chức năng vai trò của phương pháp luận là giúp con người có hệ thống phương
pháp luận chung nhất cho toàn bộ nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn
Nói chung, Triết học là định hướng, là dẫn dắt, là hạt nhân lý luận của thế giới, chỉ
đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Qua quá trình học tập,
hiểu được vai trò của môn học đối với việc nhận thức thế giới và hoạt động của bản
thân, con người sẽ trưởng thành hơn, có nhận thức hơn vào thực tiễn cuộc sống.
Học được cách tôn trọng khách quan, tôn trọng tính khách quan của vật chất, của
các quy luật tự nhiên và xã hội, đồng thời biết đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức sẽ giúp
con người có nhận thức đúng đắn tỏng cuộc sống, ngày càng hoàn thiện bản thân, giúp
bản thân có định hướng đúng đắn trong cuộc sống. Trên cơ sở quan điểm về bản chất
vật chất của thế giới, bản chất năng động, sáng tạo của ý thức và mối quan hệ biện
chứng giữa vật chất và ý thức, chủ nghĩa duy vật biện chứng xây dựng nên một nguyên
tắc phương pháp luận cơ bản, chung nhất đối với mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn
của con người. Đó chính là “ đổi mới tư ”,
duy để từ đó vận dụng vào đời sống học tập của mỗi người.
2. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Mục đích: Hiểu được tầm quan trọng của đề tài để từ đó vận dụng các bài học, các
quy luật vào đời sống học tập của mình 6
Nhiệm vụ: Bài thỏa luận gồm 2 chương chính
-Chương 1 : Cơ sở lí luận của bài học tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy
-Chương 2: Vận dụng bài học vào đời sống học tập của mỗi người
3. Cách thức làm đề tài: Vận dụng các kiến thức đã học dưới sự dẫn dắt của
PGS.TS Phương Kỳ Sơn – Giảng viên cao cấp, cũng như tìm hiểu thêm về
đề tài thông qua tài liệu tham khảo, qua một số trang web…
4. Ý nghĩa của đề tài: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản của bài học
tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy, làm cơ sở để sinh viên áp dụng vào
thực tế nhằm nâng cao hiệu quả học tập cũng như giúp bản thân ngày càng hoàn thiện hơn. 7
CHƯƠNG 1. LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Vật chất và ý thức 1.1.1 Vật chất a. Phạm trù vật chất
* Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trước Mác:
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của mọi
tồn tại là một bản nguyên tinh thần, còn vật chất chỉ là sản phẩm của bản nguyên tinh thần ấy.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật, từ thời kỳ cổ đại: Trung Quốc: Các nhà triết
học thời kỳ này cho rằng bản nguyên của thế giới là các yếu tố ngũ hành: kim, mộc,
thủy, hỏa, thổ là những yếu tố đầu tiên của vũ trụ; Ấn Độ: Phái Sàmkhya lại quan niệm
vật chất là Pràkriti (hay Pradhana); Hy Lạp: Các nhà triết học thời kỳ này đồng nhất
vật chất với các dạng tồn tại cụ thể của vật chất như: đất, nước, lửa, không khí, nguyên
tử,… xem đó là điểm khởi đầu của vũ trụ. Đó là những vật thể hữu hình cảm tính tồn
tại ở thế giới bên ngoài; ưu điểm: hình thành chủ nghĩa duy vật chất phác và phép biện
chứng sơ khai. Đến thời kỳ cận đại, các nhà triết học thời kỳ này tiếp tục đi theo
khuynh hướng hiểu về vật chất như các nhà triết học duy vật thời cổ đại, coi nguyên tử
là phân tử nhỏ bé nhất. Một số nhà triết học đã đồng nhất vật chất với khối lượng.
Vào cuối TK XIX – đầu TK XX, các nhà khoa học đã chứng minh được nguyên tử là
một trong những thành phần cấu tạo nên điện tử và quan điểm đồng nhất vật chất với
nguyên tử sụp đổ trước khoa học.
Kế thừa những tư tưởng của C.mác và Ph.Ăngghen, Lênin đã định nghĩa vật chất với
tư cách là một phạm trù triết học và bằng cách đem đối lập với phạm trù ý thức trên
phương diện nhận thức luận cơ bản. Đối với Lê-nin, không thể đưa ra định nghĩa nào
khác về hai khái niệm nhận thức luận này, chỉ nêu rõ cái nào được coi là có đầu khi sử dụng khái niệm đó.
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” Lênin đã đưa
ra định nghĩa về vật chất như sau: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực
tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng
ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. 8
* Định nghĩa vật chất của V.I Lênin bao hàm các nội dung cơ bản sau đây: - Nội dung định nghĩa:
+ Vật chất là một phạm trù triết học: dùng để chỉ vật chất nói chung, vô cùng, vô
tận, không sinh ra và cũng không mất đi mà chỉ chuyển hoá từ dạng này sang dạng
khác. Đây chính là cơ sở để phân biệt với khái niệm vật chất sử dụng trong các
khoa học tự nhiên có giới hạn, sinh ra và mất đi.
+ Dùng để chỉ thực tại khách quan: thuộc tính tồn tại khách quan, tồn tại ngoài ý
thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức con người.
+ Được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác con người chép lại,
chụp lại, phản ánh…: Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp
hoặc trực tiếp gây tác động lên giác quan con người; cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là
sự phản ánh của vật chất. Phạm trù vật chất là phạm trù cơ bản, cùng cặp với phạm
trù ý thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nhiệm vụ xác định nội dung của
những phạm trù này cũng như nội dung quan niệm về mối liên hệ giữa vật chất và
ý thức mang ý nghĩa đặt cơ sở cho toàn bộ hệ thống lý luận duy vật biện chứng đã
được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác thực hiện xong về căn bản. Tuy nhiên, trong
di sản lý luận của các ông, chủ nghĩa duy vật biện chứng, cả về hệ thống cũng như
từng khái niệm, quy luật, quan điểm riêng biệt của nó, thường không được trình
bày dưới hình thức lý luận thuần tuý, mà căn cứ vào những yêu cầu thực tiễn và
nhận thức cụ thể, liên hệ chặt chẽ với những lý luận khác, hoặc dưới hình thức phê
phán. Vì thế, trong nghiên cứu nhằm xây dựng hệ thống lý luận duy vật biện chứng
đáp ứng những yêu cầu lịch sử mới, khó tránh được những thiếu sót, hạn chế, thậm
chí những sai sót nhất định, do hiểu chưa thấu đáo tính lịch sử của mỗi luận điểm,
quan niệm triết học của các nhà kinh điển mácxít. Việc hiểu phạm trù vật chất
trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán của V.I.Lênin là một trường hợp như thế.
b. Các hình thức tồn tại của vật chất Vận động
Theo định nghĩa của F. Ăngghen: “Vận động - hiểu theo nghĩa chung nhất, tức là
được hiểu như một phương thức tồn tại cơ bản của vật chất, một thuộc tính cố hữu 9
của vật chất - thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ
trụ, kể từ sự thay đổi vị trí giản đơn cho đến tư duy”.
-Vận động là phương thức tồn tại của vật chất nghĩa là vật chất tự tồn tại thông qua
vận động và nhờ vật chất vận động mà con người nhận biết được thế giới.
-Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất nghĩa là vật chất bao giờ cũng ở trạng
thái. Vận động vì bất cứ sự vật, hiện tượng vật chất nào cũng là một vật thể thống nhất
có kết cấu nhất định. Kết cấu đó không có gì khác là sự cùng tồn tại và ảnh hưởng lẫn
nhau giữa các bộ phận, các nhân tố, các xu hướng khác nhau, đối lập nhau. Sự ảnh
hưởng qua lại đó gây ra những biến đổi nói chung, tức vận động. Nói cách khác:
Nguồn gốc vận động nằm trong mâu thuẫn
-Những hình thức vận động cơ bản của vật chất: Căn cứ theo những tiêu chí phân
loại khác nhau, người ta có thể chia vận động của vật chất thành các hình thức vận
động khác nhau. Dựa trên những thành tựu của khoa học đương thời, Ph.Ăngghen đã
phân chia vận động thành các hình thức cơ bản sau (cho đến nay cách phân loại phổ
biến nhất trong khoa học vẫn là chia vận động thành 5 hình thức cơ bản như
Ph.Ăngghen đã tổng kết):
+ Vận động cơ học: Những quy luật di chuyển vị trí trong không gian của vật chất. Đây
là hình thức vận động cơ bản nhất, nhưng phổ biến nhất. Chuyển động cơ học tuân
theo các quy luật cơ học làm cho các sự vật và hiện tượng tương tác với nhau.
+ Vận động vật lý: Những quy luật vận động của các phân tử, hạt nhân và hạt cơ bản…
Trong các quá trình vật lý và tuân theo các quy luật vật lý, đến một giới hạn nhất định
sẽ gây ra những biến đổi về chất trong các vật thể, làm cho nó biến đổi thành vật khác.
+ Vận động hoá học: Những quy luật phân huỷ và hoá học của các chất, làm cho các hợp
chất hoá học ngày càng phức tạp, đồng thời tạo tiền đề cho sự xuất hiện và phát triển của thế giới sinh vật.
+ Vận động sinh học: Những quy luật vận động của sự sống trong các quá trình sinh học
như: đồng hóa-dị hóa, biến dị-di truyền, tổng hợp chất sống: axit nucleic (DNA,
RNA…) và protein…, đấu tranh sinh tồn
+ Vận động xã hội: Tư duy của con người, là sự vận động của tồn tại xã hội, mà trên hết
là của lực lượng sản xuất, trong các quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã
hội, theo các quy luật xã hội, làm cho xã hội phát triển từ dưới lên trên. 10 Đứng im:
- Khái niệm đứng im: Đứng im là trạng thái bảo tồn những thuộc tính vốn có của
vật chất và được xác định trong một giới hạn thời gian mà ở đó sự vật chưa thay
đổi thành sự vật khác. Đứng im có tính tương đối và tạm thời (còn vận động là
tuyệt đối) bởi vì đứng im chỉ diễn ra trong một hình thức vận động nhất định, trong
một quan hệ nhất định và trong một thời gian nhất định mà thôi. Như vậy, đứng im
chẳng qua chỉ là một trạng thái đặc biệt của vận động của vật chất. Đó là vận động
trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối của các sự vật hiện tượng. Do đó vận
động bao hàm sự đứng im. Ph.Ăngghen kết luận: “Mọi sự cân bằng chỉ là tương đối và tạm thời”.
- Không gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất Khái niệm:
-Không gian: Bất kỳ một khách thể vật chất nào cũng đều chiếm một vị trí nhất
định, ở vào một khung cảnh nhất định trong tương quan về mặt kích thước (hình
thức kết cấu, độ dài ngắn, cao thấp...) so với các khách thể khác. Các hình thức
tồn tại như vậy của vật thể được gọi là không gian. Hay nói cách khác, không
gian là hình thức tồn tại của vật chất, vì vật chất luôn tồn tại trong những dạng
vật chất cụ thể, có kết cấu và liên hệ với những dạng khác theo một trật tự phân bố nhất định.
-Thời gian: Sự tồn tại của các khách thể vật chất bên cạnh các quan hệ không
gian, còn được biểu hiện ở mức độ tồn tại lâu dài hay nhanh chóng của hiện
tượng, ở sự kế tiếp trước sau của các giai đoạn vận động... Những thuộc tính này
của sự vật được đặc trưng bằng phạm trù thời gian. Hay nói cách khác thời gian
là hình thức tồn tại của vật chất, biểu thị sự tồn tại, vận động kế tiếp nhau theo
trình tự xuất hiện, phát triển và mất đi của các sự vật, hiện tượng.
Tính chất của không gian và thời gian: 11
-Tính khách quan: Không gian, thời gian là thuộc tính của vật chất tồn tại gắn
liền với nhau và gắn liền với vật chất. Vật chất tồn tại khách quan, do đó không
gian và thời gian cũng tồn tại khách quan.
-Tính vĩnh cửu và vô tận: Theo Ph.Ăngghen, vật chất vĩnh cửu và vô tận trong
không gian và trong thời gian. Những thành tựu của vật lý học vi mô cũng như những
thành tựu của vũ trụ học ngày càng xác nhận tính vĩnh cửu và vô tận của không gian
và thời gian. Tính ba chiều của không gian và tính một chiều của thời gian: Tính ba
chiều của không gian là chiều dài, chiều rộng và chiều cao. Tính một chiều của thời
gian là chiều từ quá khứ đến tương lai. Như vậy, không gian, thời gian và vận động là
những hình thức, phương thức tồn tại tất yếu, vốn có của vật chất. Chỉ có vật chất tồn
tại, vận động vĩnh viễn trong thời gian và không gian, và chỉ có không gian, thời gian
của vật chất đang vận động. Con người nhận thức vật chất thông qua các hình thức và
phương thức tồn tại của nó.
Không gian thực có 3 chiều, còn thời gian chỉ có một chiều: Quá khứ ->
Hiện tại -> Tương lai.
c. Tính thống nhất vật chất của thế giới
° Tồn tại của thế giới là tiền đề cho sự thống nhất của thế giới
Trong quan niệm về sự thống nhất của thế giới phải lấy việc thừa nhận sự
tồn tại của nó làm tiền đề. Không thừa nhận sự tồn tại của thế giới thì không thể nói tới
việc nhận thức thế giới.
Theo nghĩa chung nhất, tồn tại là phạm trù dùng để chỉ tính có thực của thế
giới xung quanh con người, khẳng định sự tồn tại là gạt bỏ những nghi ngờ về tính
không thực, sự hư vô, tức là gạt bỏ sự "không tồn tại".
Sự tồn tại của thế giới là hết sức phong phú về dạng, loại. Có tồn tại vật chất
và tồn tại tinh thần, có tồn tại khách quan và tồn tại chủ quan, có tồn tại của tự nhiên
và tồn tại của xã hội.
° Thế giới thống nhất ở tính vật chất
Một, theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, trên thế giới chỉ có một thế giới
thống nhất duy nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật chất tồn tại khách quan và độc lập
với ý thức của con người. 12
Tất cả các bộ phận của thế giới vật chất đều thống nhất với nhau, chúng đều
là những dạng vật chất cụ thể, chúng là cấu trúc vật chất hoặc chúng có nguồn gốc vật
chất, chúng do vật chất sinh ra và chúng có giá thành tương đương với cái phổ biến
trong thực tế. các quy luật khách quan của thế giới vật chất.
Thế giới vật chất tồn tại vĩnh cửu, vô hạn và không có hồi kết, không sinh ra cũng
không mất đi. Trên thế giới chỉ có các quá trình vật chất biến đổi và chuyển hóa lẫn
nhau, là nguồn gốc, là nhân quả của nhau. 1.1.2. Ý thức
1.1.2.1. Khái niệm về ý thức
Quan điểm của chủ nghĩa duy tân: Các nhà triết học duy tân cho rằng, ý thức là
nguyên thể đầu tiên, tồn tại vĩnh viễn, là nguyên nhân sinh thành, chi phối sự tồn tại,
biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất. Chủ nghĩa duy tâm khách quan với những đại
biểu tiêu biểu như Platon, G.Heeghen đã tuyệt đối hóa vai trò của lí tính, khẳng định
thế giới “ý niệm” hay “ý niệm tuyệt đối” là bản thể, sinh ra toàn bộ thế giới hiện thực.
Ý thức của con người chỉ là sự “hồi tưởng” về “ý niệm” hay “tự ý thức” lại “ý niệm
tuyệt đối”. Ý thức của con người là do cảm giác sinh ra, nhưng cảm giác theo quan
niệm của họ không phải là sự phản ánh thế giới khách quan mà chỉ là cái vốn có của
mỗi cá nhân tồn tại tách rời, biệt lập với thế giới bên ngoài. Đó là những quan niệm
hết sức phiến diện, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm, cơ sở lý luận của tôn giáo.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình: Đối lập với các quan niệm của
chủ nghĩa duy tâm, các nhà duy vật siêu hình phủ nhận tính chất siêu tự nhiên của ý
thức, tinh thần. Họ xuất phát từ thế giới hiện thực để lý giải nguồn gốc của ý thức.
Các nhà duy vật siêu hình đã đồng nhất ý thức với vật chất. Họ coi ý thức cũng chỉ là
một dạng vật chất đặc biệt, do vật chất sản sinh ra.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: Trong khi phê phán chủ nghĩa
duy tâm khách quan cho rằng: “ý niệm” có trước, sáng tạo ra thế giới, Các Mác đồng
thời khẳng định quan điểm duy vật biện chứng về ý thức: “Ý niệm chẳng qua chỉ là
vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó ”.
Theo Lênin, ý thức là sự phản ánh của bộ óc con người đối với thế giới vật
chất khách quan, là tổng hòa các quá trình tâm lý như cảm giác, tư duy,… cũng là hạt
nhân để con người nhận thức về mình cũng như về thế giới. Nói cách khác, ý thức là 13
sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người và có sự cải biến và sáng tạo.
1.1.2.2. Nguồn gốc của ý thức
Theo quan điểm duy vật biện chứng thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
Trên cơ sở những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, đặc biệt là sinh lý
học - thần kinh hiện đại, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng
định ý thức chỉ là thuộc tính của vật chất, nhưng không phải của mọi dạng vật
chất, mà là vật tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao nhất của sự sống,
bộ não con người và các hoạt động của nó giúp kết nối con người với thế giới
khách quan, sau đó thế giới quan tác động vào bộ não con người, hình thành nên
ý thức và thế giới quan của con người.
Sự phát triển của giới tự nhiên mới tạo ra tiền đề vật chất có năng lực phản
ánh, chỉ là nguồn gốc sâu xa của ý thức. Hoạt động thực tiễn của loài người mới là
nguồn gốc trực tiếp quyết định sự ra đời của ý thức. Trong các công trình nghiên
cứu khoa học của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhiều lần chỉ ra rằng, ý thức
không những có nguồn gốc tự nhiên mà còn có nguồn gốc xã hội và là một hiện
tượng mang bản chất xã hội. Có nhiều yếu tố cấu thành nguồn gốc xã hội của ý thức
nhưng cơ bản nhất và trực tiếp nhất là lao động và ngôn ngữ.
+ Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào giới
tự nhiên làm thay đổi thứ tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người. Trong
quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan thế giới bộc lộ
những quy luật của nó biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà con người có
thể quan sát được. Những hiện tượng ấy thông qua hoạt động của các giác quan, tác
động vào bộ óc con người, tạo ra khả năng hình thành nên tri thức nói riêng và ý thức nói chung.
+ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung Ý
thức. Không có ngôn ngữ, ý thức không tồn tại và thể hiện. 14
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát
triển của Ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội. Ý thức là sự phản ánh hiện thực
khách quan vào trong bộ óc người thông qua lao động ngôn ngữ và các quan hệ xã
hội. Ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội.
Theo quan điểm nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của ý thức, sự xuất
hiện của ý thức là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của thế giới tự nhiên và lịch
sử trái đất, đồng thời nó cũng là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội - lịch sử loài
người. Trong đó nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần, còn nguồn gốc xã hội là điều
kiện đủ để hình thành, tồn tại và phát triển ý thức.
1.1.2.3. Bản chất và kết cấu của ý thức
a. Bản chất của ý thức
Triết học Mác-Lênin khẳng định bản chất của ý thức là sự phản ánh hiện thực
khách quan vào trong bộ óc sáng tạo.
Như vậy, khi xem xét ý thức về mặt bản thể luận, thì ý thức chỉ là hình ảnh về
hiện thực khách quan trong bộ óc người. Ý thức là cái phản ánh khách quan, ý thức
không phải là sự vật, mà chỉ là hình ảnh ở trong óc người. Ý thức tồn tại phi cảm
tính, đối lập với các đối tượng vật chất mà nó phản ánh luôn tồn tại cảm tính. Thế
giới khách quan là nguyên bản, là tính thứ nhất. Còn ý thức chỉ là bản sao, là hình
ảnh về thế giới đó, là tính thứ hai. Đấy là căn cứ quan trọng nhất để khẳng định thế
giới quan duy vật biện chứng, phê phán chủ nghĩa duy tâm và duy vật siêu hình
trong quan niệm về bản chất của ý thức.
Tức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, khách quan quy định cả về
nội dung và hình thức biểu hiện nhưng để cải biến thông qua lăng kính chủ quan
của con người. Ý thức là cái vật chất ở bên ngoài di chuyển vào trong đầu óc của
con người và được cải biến đi ở trong đó.
Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội. Sự ra đời và tồn tại
của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối của các quy luật tự
nhiên và xã hội, được quy định bởi nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh
hoạt hiện thực của đời sống xã hội. Ý thức không phải là kết quả của sự phản ánh
ngẫu nhiên, đơn lẻ, thụ động của thế giới khách quan mà nó là kết quả của quá
trình phản ánh có định hướng, có mục đích rõ rệt. Ý thức phản ánh ngày càng sâu 15
sắc, từng bước xâm nhập các tầng bản chất, quy luật, điều kiện đem lại hiệu quả hoạt động thực tiễn.
Sự phản ánh ý thức là quá trình thống nhất của ba mặt: Một là, trao đổi thông
tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh. Hai là, mô hình hóa đối tượng trong tư duy
dưới dạng hình ảnh tinh thần. Ba là, chuyển hóa mô hình từ tư duy ra hiện thực
khách quan. Phản ánh và sáng tạo là hai mặt của bản chất ý thức.
b. Kết cấu của ý thức
Có kết cấu phức tạp, bao gồm nhiều thành tố có quan hệ với nhau. Tùy theo
cách tiếp cận mà có thể phân tích kết cấu đó theo các tiêu thức khác nhau. Có thể
phân tích cấu trúc đỏ theo hai chiều dưới đây:
Thứ nhất, theo chiều ngang: ý thức bao gồm các yếu tố cấu thành như tri thức,
tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí,... trong đó tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi.
Theo C.Mác, “phương thức mà theo đó ý thức tồn tại và theo đó một cái gì
tồn tại đối với ý thức là tri thức…, cho nên một cái gì đó nảy sinh ra đối với
ý thức, chừng nào ý thức biết cái đó ”
Cùng với quá trình nhận thức sự vật, trong ý thức còn nảy sinh thái độ của
con người đối với đối tượng phản ánh. Tình cảm là một hình thái đặc biệt
của sự phản ánh tồn tại, nó phản ánh quan hệ giữa người với người và quan
hệ giữa người với thế giới khách quan.
Nhận thức không phải là một quá trình dễ dàng, phẳng lặng mà là một quá trình
phản ánh với những khó khăn, và để vượt qua để đặt được mục đích, chủ thể nhận
thức phải có ý chí, quyết tâm cao. Ý chí chính là cố gắng, nỗ lực, khả năng huy
động mọi tiềm năng của mỗi con người vào hoạt động để có thể vượt qua mọi trở
ngại để đạt mục đích đề ra.
Thứ hai, theo chiều dọc: ý thức bao gồm các yếu tố tự ý thức, tiềm thức, vô
thức... Tất cả những yếu tố đó cùng với những yếu tố khác quy định tính chất
phong phú, phức tạp trong thế giới tinh thần và hoạt động tinh thần của con người.
Tự ý thức là ý thức hướng về nhận thức của bản thân mình trong mối quan
hệ với ý thức về thế giới bên ngoài. Đây là một thành tố quan trọng của ý
thức, đánh dấu trình độ phát triển của ý thức. Nhờ vậy, con người tự ý thức
về bản thân mình như một thực thể hoạt động có cảm giác, đang tư duy, tự 16
đánh giá và năng lực của bản thân. Qua đó, xác định đúng vị trí, mạnh yếu
của mình, ý thức về mình, về hành động của mình. Tự ý thức không chỉ là tự
ý thức của cá nhân, mà còn là tự ý thức của các nhóm xã hội khác nhau về
địa vị của họ trong hệ thống quan hệ sản xuất về lợi ích và lý tưởng của mình.
Tiềm thức là những hoạt động tâm lí diễn ra bên ngoài sự kiểm soát của ý
thức. Về thực chất, tiềm thức là những tri thức mà chủ thể đã có được từ
trước nhưng đã gần như thành bản năng, là ý thức dưới dạng tiềm tàng. Tiềm
thức có vai trò quan trọng trong đời sống và tư duy khoa học, nó gắn bó rất
chặt chẽ với loại hình tư duy chính xác, được lặp đi lặp lại.
Vô thức là những hiện tượng tâm lý không phải do lý trí điều khiển, nằm
ngoài phạm vi của lý trí mà ý thức không kiểm soát được trong một lúc nào
đó. Vô thức biểu hiện ra thành nhiều hiện tượng khác nhau như bản năng
ham muốn, giấc mơ, bị thôi miên, lỡ lời,…Mỗi hiện tượng vô thức có vùng
hoạt động riêng, có vai trò, chức năng riêng, song đều có mọt chức năng
chung là giải tỏa những ức chế trong hoạt động thần kinh,… Vô thức là hoạt
động tầng sâu của tâm lý – ý thức, có vai trò to lớn trong đời sống và hoạt
động của con người. Nhờ có ý thức điều khiển mà vô thức được điều chỉnh,
hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ.
* Vấn đề “trí tuệ nhân tạo”
Ngày nay, khoa học và công nghệ hiện đại đã có những bước phát triển mạnh mẽ,
sản xuất ra nhiều loại máy móc không những có khả năng thay thế lao động cơ
bắp, mà còn có thể thay thế cho một phần lao động trí óc của con người. Chẳng
hạn như máy tính điện tử, “người máy thông minh”, “trí tuệ nhân tạo”. Song, điều
đó không có nghĩa là máy móc cũng có ý thức như con người. Ý thức và máy tính
điện tử là hai quá trình khác nhau về bản chất. “Người máy thông minh” thực ra
chỉ là một quá trình vật lý. Hệ thống thao tác của nó được con người lập trình
phỏng theo một số thao tác của tư duy con người. Máy móc chỉ là những kết cấu
kỹ thuật do con người sáng tạo ra. Còn con người là một thực thể xã hội năng động
được hình thành trong tiến trình lịch sử tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên và thực
tiễn xã hội. Máy không thể sáng tạo tại hiện tượng dưới dạng tinh thần trong bản
thân nó. Năng lực đó chỉ có con người có ý thức mới thực hiện được và qua đó lập 17
trình cho máy móc thực hiện. Sự phản ánh ảnh sáng tạo tái tạo lại hiện thực chỉ có
ở ý thức con người với tư cách là một thực thể xã hội, hoạt động cải tạo thế giới
khách quan. Ý thức mang bản chất xã hội. Do vậy, dù máy móc có hiện đại đến
đâu chăng nữa cũng không thể hoàn thiện được như con người.
1.1.3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
1.1.3.1. Vai trò của vật chất đối với ý thức
Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật
chất là nguồn gốc của ý thức, vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh được về vật chất.
Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên
chỉ khi có con người mới có ý thức. Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới
vật chất thì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là
sản phẩm của thế giới vật chất. Kết luận này đã được chứng minh bởi sự phát triển
hết sức lâu dài của khoa học về giới tự nhiên; nó là một bằng chứng khoa học về
giới tự nhiên; nó là một bằng chứng khoa học chứng minh quan điểm: vật chất có trước, ý thức có sau.
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc
con người, thế giới khách quan tác động đến bộ óc gây ra hiện tượng phản ánh, lao
động, ngôn ngữ), hoặc là chính bản thân thế giới vật chất (bộ óc người, hiện tượng
phản ánh, lao động, ngôn ngữ) đã khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức.
Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật
chất nên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất. Sự vận động và phát
triển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị quy luật sinh học, các quy luật
xã hội và sự tác động của môi trường sống quyết định. Những yếu tố này thuộc
lĩnh vực vật chất nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả
hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức.
1.1.3.2. Vai trò của ý thức đối với vật chất
Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông
qua hoạt động thực tiễn của con người.
Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai
trò của con người. Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong 18
hiện thực. Muốn thay đổi hiện thực, con người phải tiến hành những hoạt động vật chất.
Song, mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai trò của ý
thức không phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho
con người tri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở ấy con người xác định mục
tiêu, đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch lựa chọn phương pháp, biện pháp,
công cụ, phương tiện... để thực hiện mục tiêu của mình. Ở đây, ý thức đã thể hiện
sự tác động của mình đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực
hoặc tiêu cực. Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm
cách mạng, có nghị lực, có ý chí hành động của con người phù hợp với các quy
luật khách quan, con người có năng lực vượt qua những thách thức trong quá trình
thực hiện mục đích của mình, thế giới được cải tạo - đó là sự tác động tích cực của
ý thức; còn nếu ý thức của con người phản ánh không đúng hiện thực khách quan,
bản chất quy luật khách quan, hành động ấy sẽ có tác dụng tiêu cực đối với hoạt
động thực tiễn, đối với hiện thực khách quan.
Như vậy, bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thể
quyết định hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng hay
sai, thành công hay thất bại, hiệu quả hay không hiệu quả.
Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về vai trò của vật chất
của ý thức, quyết định nội dung và khả năng sáng tạo của ý thức, là điều kiện kiên
quyết để thực hiện ý thức, ý thức chỉ có khả năng tác động lại vật chất, sự tác động
ấy không phải tự thân mà phải thông qua hoạt động thực tiễn (hoạt động vật chất
của con người. Sức mạnh của ý thức trong sự tác động này phụ thuộc vào trình độ
phản ánh của ý thức, mức độ thâm nhập của ý thức vào những người hành động,
trình độ tổ chức của con người và những điều kiện vật chất, hoàn cảnh vật chất,
trong đó con người hành động theo định hướng của ý thức.
1.2. Nội dung bài học đổi mới tư duy 1.2.1. Tư duy 1.2.1.1. Khái niệm tư duy 19
Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem
những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật
chất, làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó.
1.2.1.2. Quá trình hình thành tư duy
Tư duy xuất hiện trong quá trình sản xuất xã hội của con người. Trong quá
trình đó, con người so sánh các thông tin, dữ liệu thu được từ nhận thức cảm tính
hoặc các ý nghĩ với nhau. Trải qua các quá trình khái quát hoá và trừu tượng hoá,
phân tích và tổng hợp để rút ra các khái niệm, phán đoán, giả thiết, lý luận,... Kết
quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là sự phản ánh khái quát các thuộc tính, các
mối liên hệ cơ bản, phổ biến, các quy luật không chỉ ở một sự vật riêng lẻ mà còn ở
một nhóm sự vật nhất định. Vì vậy, tư duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề
thông qua tri thức đã nắm được từ trước.
Tư duy bắt nguồn từ hoạt động tâm lý. Hoạt động này gắn liền với phản xạ sinh
lý là hoạt động đặc trưng của hệ thần kinh cao cấp. Hoạt động đó diễn ra ở các
động vật cao cấp, đặc biệt thể hiện rõ ở thú linh trưởng và ở người. Nhưng tư duy
với tư cách là hoạt động tâm lý bậc cao nhất thì chỉ có ở con người và là kết quả
của quá trình lao động sáng tạo của con người.
1.2.1.3. Đặc điểm của tư duy
Tư duy là năng lực của con người:
Tư duy, trên thực tế là năng lực bản chất của con người. Đỉnh cao của nó là
năng lực nhận thức lý tính, trừu tượng, cái cho phép khái quát hoá mọi nhận biết
khác của con người về sự vật, hiện tượng, quá trình.
Tư duy phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan :
Tư duy phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan. Tư duy phải
được biểu đạt thành ngôn ngữ. Do đó, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy. Tư
duy có tính năng động, sáng tạo, nó có thể phản ánh mối liên hệ bản chất bên trong
của sự vật. Nhận thức lý tính hay tư duy được thể hiện ở các hình thức như khái
niệm, phán đoán và suy lý.
Tư duy là năng lực sáng tạo của tinh thần: 20
Tư duy không chỉ là năng lực phản ánh tinh thần mà còn là năng lực sáng tạo
tinh thần. Nói chính xác hơn, bản chất đặc thù của tư duy là sự thống nhất của hai
mặt mâu thuẫn: phản ánh tinh thần và sáng tạo tinh thần.
Theo cách hiểu thông thường, tư duy là hình thức phản ánh cao nhất hiện thực
khách quan vào bộ óc con người. Nhưng tư duy còn có nhiệm vụ góp phần cải tạo
thực tại khách quan. Tuy nhiên ở đây cần có sự phân biệt về chất giữa trực quan
sinh động và tư duy trừu tượng. Trực quan sinh động chỉ là giai đoạn thấp của quá
trình nhận thức, thực chất là quá trình nhận thức cảm tính, dựa trên cơ sở hoạt
động sinh, tâm lý của các giác quan như mắt (thấy), tai (nghe)... còn tư duy trừu
tượng là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, thực chất là quá trình nhận thức lý
tính, bằng các hình thức như khái niệm, phán đoán và suy lý mà phản ánh được
những thuộc tính, quan hệ chung, phổ biến, cơ bản, tất yếu của các sự vật hiện tượng.
1.2.2. Nội dung bài học đổi mới tư duy
Một trong những nội dung hết sức quan trọng của đổi mới tư duy là đổi mới
cách thức nhận thức hiện thực nhất là khi hiện thực vận động ngày càng phức tạp.
Tư duy mới cho phép ta khám phá bản chất, thực chất của các hiện tượng mới và
cũ đang tồn tại và phát huy tác dụng trong đời sống.
Đổi mới tư duy là phát huy tính năng động chủ quan, phát huy vai trò tích cực,
năng động, sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc
vật chất hoá tính tích cực, năng động, sáng tạo ấy. Điều này đòi hỏi con người phải
tôn trọng tri thức khoa học, tích cực học tập, nghiên cức để làm chủ tri thức khoa
học và truyền bá nó vào quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin của quần
chúng, hướng dẫn quần chúng hành động. Mặt khác, phải tự giác tu dưỡng, rèn
luyện để hình thành, củng cố nhân sinh quan cách mạng, tình cảm, nghị lực cách
mạng để có sự thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn trong định hướng hành động.
Thực tiễn là cơ sở và mục đích của nhận thức. Đối với phép biện chứng duy vật
thì thực tiễn là quá trình mà trong đó, toàn bộ hoạt động vật chất của con người
gắn liền với quan điểm phát triển. Chính thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm nghiệm quá trình đổi mới tư duy. 21