-Nội dung:
+ Đại hội đảng lần thứ VI (1986) là dấu mốc quan trọng đánh dấu công cuộc đổi
mới toàn diện đất nước, trong đó sự đổi mới nhận thức vận dụng quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tại đại
hội chương trình đã được triển khai một cách cụ thể chi tiết. Các biện pháp
cải cách kinh tế đã được đưa ra, bao gồm việc thúc đẩy đầu nước ngoài, xây
dựng các khu kinh tế đặc biệt, tiến hành cải cách bộ máy hành chính, giảm quy
quân đội nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Trong đó, việc
thúc đẩy đầu nước ngoài được coi là một trong những biện pháp quan trọng
nhất của chương trình đổi mới. Điều này đã giúp Việt Nam thu hút được nhiều
vốn đầu từ các quốc gia khác, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nâng
cao chất lượng cuộc sống của người dân. Bên cạnh đó, việc xây dựng các khu
kinh tế đặc biệt đã giúp tăng cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trong
ngoài nước, tạo ra nhiều hội việc làm cho người dân thúc đẩy phát triển
kinh tế địa phương.
+ Đại hội đảng lần thứ VII (1991) : đánh giá trong 5 năm thực hiện công cuộc
đổi mới toàn diện đất nước, bước đầu đạt một số thành tựu đáng kể, đặc biệt, về
đổi mới kinh tế, Đảng khẳng định: “bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận động theo chế thị trường sự quản lý của Nhà nước”
trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội,
Đảng đưa ra những đặc trưng bản của chủ nghĩa hội xác định lại nước
ta đi lên chủ nghĩa hội “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”, tuy chưa rõ nhưng
chúng ta vẫn kiên quyết xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần khi
phần còn “buông lỏng, lúng túng” trong xây dựng quan hệ sản xuất.
Như vậy, so với Đại hội VI, tại Đại hội VII, Đảng ta lại bước tiến mới trong
nhận thức về con đường xây dựng chủ nghĩa hội, mặc còn những
khuyết điểm, song, “đổi mới không phải thay đổi mục tiêu hội chủ nghĩa
làm cho mục tiêu ấy được thực hiện kết quả bằng những quan niệm đúng
đắn về chủ nghĩa xã hội, bằng những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp”
trong đó, phương hướng thứ ba trong bảy phương hướng được trình bày trong
Cương lĩnh.
+ Đại hội đảng lần thứ VIII (1996): Đại hội đã thông qua chính sách đường lối
phát triển kinh tế và xã hội của tổng bí thư Đỗ Mười để đề ra hai nhiệm vụ chiến
lược xây dựng chủ nghĩa hội bảo vệ Tổ quốc đó đẩy mạnh công nghiệp
hoá và hiện đại hoá. Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng đất
nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu
kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển lực
lượng sản xuất, đời sống vật chất tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững
chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Đại hội được xem bước ngoặt quan trọng của đảng, đưa đất nước sang thời
đổi mới đẩy mạnh lên công nghiệp hóa hiện đại hóa, xây dựng nước Việt Nam
hùng mạnh đi lên bằng con đường chủ nghĩa xã hội.
+ Đại hội đảng lần thứ IX (2001): Đại hội họp trong bối cảnh đất ớc qua 15
năm đổi mới. Nhân loại bước vào năm đầu của thế kỷ XXI, cách mạng khoa học
và công nghệ, kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ.
Đại hội thông đã tổng kết thế kỷ XX, thông qua Chiến lược phát triển kinh tế -
hội đến năm 2010. đường lối phát triển kinh tế - hội 2001-2005; bổ sung,
sửa đổi Điều lệ Đảng, bầu ông Nông Đức Mạnh là Tổng Bí thư Đảng.
Báo cáo chính trị của Đại hội đã tổng kêt Việt Nam trong thế kỷ XX triển
vọng trong thế kỷ XXI; đánh giá tình hình đất nước 5 năm qua và những bài học
chủ yếu của 15 năm đổi mới; làm con đường đi lên chủ nghĩa hội nước
ta; đường lối và chính sách phát triển kinh tế - xã hội; phát triển giáo dục và đào
tạo, khoa học và công nghệ, xây dựng nên văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc; tăng cường quốc phòng an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; đẩy mạnh
cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp
chế; xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu
của Đảng.
Đại hội đã đánh dấu bước trưởng thành về nhận thức, vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác nin cùng với tưởng Hồ Chí Minh để đẩy mạnh công cuộc đổi
mới
+ Đại hội đảng lần thứ X (2006): Đại hội họp trong xu thế hoà bình, hợp tác,
toàn cầu hoá trên thế giới mở rộng; khoa học công nghệ, kinh tế tri thức phát
triển những đột phá. Công cuộc đổi mới nước ta 20 năm qua đạt những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Đại hội X đề ra đường lối phát triển kinh tế - hội (2006 - 2010), quyết tâm
đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đại hội bổ sung,
sửa đổi Điều lệ Đảng và bầu ông Nông Đức Mạnh là Tổng Bí thư Đảng.
Đây là dấu mốc quan trọng trong tiến trình đây mạnh công nghiệp hóa hiện đại
hóa. Các văn kiện được thông qua tại đại hội được xem kết tinh t tuệ của
toàn đảng và dân ta
+ Đại hội đảng lần thứ XI (2011): Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược phát triển kinh tế
- hội (2011 - 2020); đề ra đường lối phát triển kinh tế - hội 5 năm 2011 -
2020; bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng; bầu ông Nguyễn Phú Trọng Tổng
thư Đảng
Đại hội sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tưởng Hồ Chí Minh
trong thời quá độ đi lên CNXH con đường lên CNXH Việt Nam, định
hướng cho hoạt động của đảng, nhà ớc nhân dân Việt Nam trong những
thập kỉ tới.
+ Đại hội đảng lần thứ XII (2016) : Đại hội đã tổng kết qua 30 năm đổi mới,
Đảng ta đã sự phân tíchràng về mối quan hệ lớn này. Qua đó, tổng kết 30
năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa hội đã một lần nữa khẳng định, nền kinh tế thị trường định hướng
hội chủ nghĩa Việt Nam quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất, nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh
tế, trong đó kinh tế Nhà nước gi vai trò chủ đạo, kinh tế nhân một động
lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình
đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.
+ Đại hội đảng lần thứ XIII (2021) : diễn ra trong bối cảnh thế giới trong
nước nhiều thay đổi trước sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ lần thứ tư, ảnh hưởng của đại dịch toàn cầu Covid 19 đưa đến những
thời cơ và thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta.
Đại hội lần này, trải qua 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện cương lĩnh chính trị
năm 1991, 10 năm cương lĩnh năm 2011, Đảng ta vẫn giữ vững một con đường,
một đường lối, Đảng ta vẫn quyết tâm phấn đấu, kiên định vận dụng sáng tạo
luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, đặc biệt tiếp tục vận dụng sáng tạo quy luật quan hệ sản
xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phù hợp với thực
tiễn Việt Nam. Đảng khẳng định: “tiếp tục nắm vững xử lý tốt mối quan hệ
giữa phát triển lực lượng sản xuất xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa”, đây được xem là mối quan hệ lớn, phản ánh quy luật
mang tính biện chứng, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng đẩy đủ, quán
triệt sâu sắc thực hiện thật tốt, hiệu quả, tuyệt đối không được cực đoan,
phiến diện.
Đại hội XIII dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của đảng dân
tộc ta , ý nghĩa định hướng tầm nhìn chiến lược của tương lai, đẩy mạnh toàn
diện công cuộc đổi mới , chú động tích cực hội nhập quốc tế phát triển bền
vững.
-Kết quả:
+ Về kinh tế, đổi mới nền kinh tế đất nước từ kế hoạch hóa tập trung bao cấp
sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đẩy mạnh nền kinh tế Việt Nam
theo chế thị trường, định hướng lên hội chủ nghĩa chịu sự quản của
Nhà nước;
+ Về chính trị hội, đẩy mạnh vai trò của cả 03 nhánh quyền lực: lập pháp,
pháp hành pháp; trong đó, vai trò của quan lập pháp được chú trọng;
hoạt động hành chính nhà nước được đơn giản hóa, cụ thể hóa, đáp ứng được
yêu cầu của nhân dân, lấy nhân dân làm gốc, xây dựng nhà nước “của dân, do
dân, vì dân”;
+ Về văn hóa giáo dục, gìn giữ, kế thừa văn hóa truyền thống dân tộc, hội
nhập tiếp cận nền văn hóa đa sắc màu của thế giới; cải cách giáo dục theo
hướng chú trọng thực hành, tăng tính tự do, tự chủ và chú trọng vào người học.
-Ý nghĩa:
1. Khắc phục khó khăn và tồn tại trong quá khứ: Sau hơn 45 năm, công cuộc đổi
mới đã giúp Việt Nam vượt qua những khó khăn, tồn tại sau chiến tranh và đánh
đuổi đế quốc Mỹ. Đất nước đã giành được độc lập, tự do và tự chủ
2. Phát triển đất nước: Công cuộc đổi mới đã tạo động lực cho nền kinh tế và xã
hội phát triển vượt bậc. Việt Nam đã tiến bước hướng tới dân chủ hóa xã hội và
đề cao quyền công dân
3. Cải biến sâu sắc, toàn diện: Đổi mới không chỉ là việc giải quyết khó khăn mà
còn là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện. Nó đã thúc đẩy sự phát triển của đời
sống nhân dân và khẳng định uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế
4. Chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường : Công cuộc đổi mới đã
đưa nền kinh tế Việt Nam từ kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, đẩy mạnh cơ chế thị trường và định hướng lên xã
hội chủ nghĩa
5. Góp phần củng cố độc lập, tự chủ của dân tộc : Đổi mới đã góp phần củng cố độc
lập, tự chủ của dân tộc và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa của đất nước

Preview text:

-Nội dung:
+ Đại hội đảng lần thứ VI (1986) là dấu mốc quan trọng đánh dấu công cuộc đổi
mới toàn diện đất nước, trong đó có sự đổi mới nhận thức và vận dụng quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tại đại
hội chương trình đã được triển khai một cách cụ thể và chi tiết. Các biện pháp
cải cách kinh tế đã được đưa ra, bao gồm việc thúc đẩy đầu tư nước ngoài, xây
dựng các khu kinh tế đặc biệt, tiến hành cải cách bộ máy hành chính, giảm quy
mô quân đội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Trong đó, việc
thúc đẩy đầu tư nước ngoài được coi là một trong những biện pháp quan trọng
nhất của chương trình đổi mới. Điều này đã giúp Việt Nam thu hút được nhiều
vốn đầu tư từ các quốc gia khác, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng
cao chất lượng cuộc sống của người dân. Bên cạnh đó, việc xây dựng các khu
kinh tế đặc biệt đã giúp tăng cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trong và
ngoài nước, tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
+ Đại hội đảng lần thứ VII (1991) : đánh giá trong 5 năm thực hiện công cuộc
đổi mới toàn diện đất nước, bước đầu đạt một số thành tựu đáng kể, đặc biệt, về
đổi mới kinh tế, Đảng khẳng định: “bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”
trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
Đảng đưa ra những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội và xác định lại nước
ta đi lên chủ nghĩa xã hội “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”, tuy chưa rõ nhưng
chúng ta vẫn kiên quyết xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần khi có
phần còn “buông lỏng, lúng túng” trong xây dựng quan hệ sản xuất.
Như vậy, so với Đại hội VI, tại Đại hội VII, Đảng ta lại có bước tiến mới trong
nhận thức về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, mặc dù còn có những
khuyết điểm, song, “đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa
mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có kết quả bằng những quan niệm đúng
đắn về chủ nghĩa xã hội, bằng những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp”
trong đó, phương hướng thứ ba trong bảy phương hướng được trình bày trong Cương lĩnh.
+ Đại hội đảng lần thứ VIII (1996): Đại hội đã thông qua chính sách đường lối
phát triển kinh tế và xã hội của tổng bí thư Đỗ Mười để đề ra hai nhiệm vụ chiến
lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đó là đẩy mạnh công nghiệp
hoá và hiện đại hoá. Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng đất
nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu
kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển lực
lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững
chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Đại hội được xem là bước ngoặt quan trọng của đảng, đưa đất nước sang thời kì
đổi mới đẩy mạnh lên công nghiệp hóa hiện đại hóa, xây dựng nước Việt Nam
hùng mạnh đi lên bằng con đường chủ nghĩa xã hội.
+ Đại hội đảng lần thứ IX (2001): Đại hội họp trong bối cảnh đất nước qua 15
năm đổi mới. Nhân loại bước vào năm đầu của thế kỷ XXI, cách mạng khoa học
và công nghệ, kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ.
Đại hội thông đã tổng kết thế kỷ XX, thông qua Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội đến năm 2010. đường lối phát triển kinh tế - xã hội 2001-2005; bổ sung,
sửa đổi Điều lệ Đảng, bầu ông Nông Đức Mạnh là Tổng Bí thư Đảng.
Báo cáo chính trị của Đại hội đã tổng kêt Việt Nam trong thế kỷ XX và triển
vọng trong thế kỷ XXI; đánh giá tình hình đất nước 5 năm qua và những bài học
chủ yếu của 15 năm đổi mới; làm rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta; đường lối và chính sách phát triển kinh tế - xã hội; phát triển giáo dục và đào
tạo, khoa học và công nghệ, xây dựng nên văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc; tăng cường quốc phòng và an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; đẩy mạnh
cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp
chế; xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Đại hội đã đánh dấu bước trưởng thành về nhận thức, vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác Lê nin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh để đẩy mạnh công cuộc đổi mới
+ Đại hội đảng lần thứ X (2006): Đại hội họp trong xu thế hoà bình, hợp tác,
toàn cầu hoá trên thế giới mở rộng; khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức phát
triển có những đột phá. Công cuộc đổi mới ở nước ta 20 năm qua đạt những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Đại hội X đề ra đường lối phát triển kinh tế - xã hội (2006 - 2010), quyết tâm
đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đại hội bổ sung,
sửa đổi Điều lệ Đảng và bầu ông Nông Đức Mạnh là Tổng Bí thư Đảng.
Đây là dấu mốc quan trọng trong tiến trình đây mạnh công nghiệp hóa hiện đại
hóa. Các văn kiện được thông qua tại đại hội được xem là kết tinh trí tuệ của toàn đảng và dân ta
+ Đại hội đảng lần thứ XI (2011): Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội (2011 - 2020); đề ra đường lối phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 -
2020; bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng; bầu ông Nguyễn Phú Trọng là Tổng Bí thư Đảng
Đại hội là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
trong thời kì quá độ đi lên CNXH và con đường lên CNXH ở Việt Nam, định
hướng cho hoạt động của đảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam trong những thập kỉ tới.
+ Đại hội đảng lần thứ XII (2016) : Đại hội đã tổng kết qua 30 năm đổi mới,
Đảng ta đã có sự phân tích rõ ràng về mối quan hệ lớn này. Qua đó, tổng kết 30
năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội đã một lần nữa khẳng định, nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh
tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động
lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình
đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.
+ Đại hội đảng lần thứ XIII (2021) : diễn ra trong bối cảnh thế giới và trong
nước có nhiều thay đổi trước sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ lần thứ tư, ảnh hưởng của đại dịch toàn cầu Covid – 19 đưa đến những
thời cơ và thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta.
Đại hội lần này, trải qua 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện cương lĩnh chính trị
năm 1991, 10 năm cương lĩnh năm 2011, Đảng ta vẫn giữ vững một con đường,
một đường lối, Đảng ta vẫn quyết tâm phấn đấu, kiên định vận dụng sáng tạo lý
luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, đặc biệt tiếp tục vận dụng sáng tạo quy luật quan hệ sản
xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phù hợp với thực
tiễn Việt Nam. Đảng khẳng định: “tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ
giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa”, đây được xem là mối quan hệ lớn, phản ánh quy luật
mang tính biện chứng, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đẩy đủ, quán
triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả, tuyệt đối không được cực đoan, phiến diện.
Đại hội XIII là dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của đảng và dân
tộc ta , có ý nghĩa định hướng tầm nhìn chiến lược của tương lai, đẩy mạnh toàn
diện công cuộc đổi mới , chú động tích cực hội nhập quốc tế và phát triển bền vững. -Kết quả:
+ Về kinh tế, đổi mới nền kinh tế đất nước từ kế hoạch hóa tập trung bao cấp
sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đẩy mạnh nền kinh tế Việt Nam
theo cơ chế thị trường, định hướng lên xã hội chủ nghĩa và chịu sự quản lý của Nhà nước;
+ Về chính trị – xã hội, đẩy mạnh vai trò của cả 03 nhánh quyền lực: lập pháp,
tư pháp và hành pháp; trong đó, vai trò của cơ quan lập pháp được chú trọng;
hoạt động hành chính nhà nước được đơn giản hóa, cụ thể hóa, đáp ứng được
yêu cầu của nhân dân, lấy nhân dân làm gốc, xây dựng nhà nước “của dân, do dân, vì dân”;
+ Về văn hóa – giáo dục, gìn giữ, kế thừa văn hóa truyền thống dân tộc, hội
nhập và tiếp cận nền văn hóa đa sắc màu của thế giới; cải cách giáo dục theo
hướng chú trọng thực hành, tăng tính tự do, tự chủ và chú trọng vào người học. -Ý nghĩa:
1. Khắc phục khó khăn và tồn tại trong quá khứ: Sau hơn 45 năm, công cuộc đổi
mới đã giúp Việt Nam vượt qua những khó khăn, tồn tại sau chiến tranh và đánh
đuổi đế quốc Mỹ. Đất nước đã giành được độc lập, tự do và tự chủ
2. Phát triển đất nước: Công cuộc đổi mới đã tạo động lực cho nền kinh tế và xã
hội phát triển vượt bậc. Việt Nam đã tiến bước hướng tới dân chủ hóa xã hội và đề cao quyền công dân
3. Cải biến sâu sắc, toàn diện: Đổi mới không chỉ là việc giải quyết khó khăn mà
còn là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện. Nó đã thúc đẩy sự phát triển của đời
sống nhân dân và khẳng định uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế
4. Chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường
: Công cuộc đổi mới đã
đưa nền kinh tế Việt Nam từ kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, đẩy mạnh cơ chế thị trường và định hướng lên xã hội chủ nghĩa
5. Góp phần củng cố độc lập, tự chủ của dân tộc
: Đổi mới đã góp phần củng cố độc
lập, tự chủ của dân tộc và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa của đất nước