lOMoARcPSD| 61432759
NỘI DUNG ÔN TẬP
HỌC PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
Phần lý thuyết
CHƯƠNG 1:
1. Đối tượng nghiên cứu của Kinh tế chính trị Mác Lênin.
1.2.1. Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác Lênin Với cách
một môn khoa học, kinh tế chính trị đối tượng nghiên cứu riêng Vlịch sử,
trong mỗi giai đoạn phát triển, các thuyết kinh tế quan niệm khác nhau về
đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị.
Kinh tế chính trị ở thời kỳ đầu đối tượng nghiên cứu
-Chủ nghĩa trọng thương nghiên cứu lĩnh vực lưu thông (chủ yếu là ngoại thương)
-Chủ nghĩa nông nghiên cứu lĩnh vực nông nghiệp
-Kinh tế chính trị cổ điển Anh nghiên cứu nguồn gốc của của cải vật chất và sự giàu
có của dân tộc
2. Quy luật kinh tế và chính sách kinh tế.
Quy luật kinh tế: Quy luật kinh tế những mối liên hệ phản ánh bản chất, khách
quan, lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế.
- Quy luật kinh tế mang tính khách quan. Với bản chất là quy luật xã hội, nên
sựtác động phát huy vai trò của đối với sản xuất trao đổi phải thông qua
các hoạt động của con người trong hội với những động lợi ích khác nhau. -
Quy luật kinh tế tác động vào các động cơ lợi ích và quan hệ lợi ích của con người
từ đó mà điều chỉnh hành vi kinh tế của họ.
- Phân biệt giữa quy luật kinh tế và chính sách kinh tế: + Quy luật kinh tế tồn
tạikhách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con người, con người không thể thủ
tiêu quy luật kinh tế, nhưng thể nhận thức vận dụng quy luật kinh tế để phục
vụ lợi ích của mình. Khi vận dụng không phù hợp, con người phải thay đổi hành vi
của mình chứ không thay đổi được quy luật, quy luật kinh tế do quan hệ kinh tế
quyết định.
+ Chính sách kinh tế sản phẩm chủ quan của con người được hình thành trên
sở vận dụng các quy luật kinh tế. Chính sách kinh tế thế thể phù hợp, hoặc
không phù hợp với quy luật kinh tế khách quan. Khi chính sách không phù hợp, chủ
thể ban hành chính sách có thể thay thế bằng chính sách khác.
CHƯƠNG 2:
1. Sản xuất hàng hóa và điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
lOMoARcPSD| 61432759
Sản xuất hàng hóa một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị Mac-Lenin
dùng để chvề kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải
để đáp ứng nhu cầu êung êu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi,
mua bán. Hay có thể hiểu, sản xuất hàng hóa kiểu tổ chức kinh tế sản phẩm
sản xuất ra là để bán.
Thứ hai: Đặc điểm của hàng hóa
Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị.
Giá trị hàng hóa:
Giá trị hàng hóa lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết nh bên trong
hàng hóa. Giá trị nội dung bên trong của hàng hóa, được biểu hiện ra bên
ngoài bằng việc hai hàng hóa thể trao đổi được với nhau. Giá trị hàng hóa cũng
có những đặc điểm riêng:
+ Giá trị hàng hóa biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa.
+ Giá trị hàng hóa là phạm trù lịch schỉ tổn ti ở kinh tế hàng hóa.
Giá trị sử dụng:
Giá trị sử dụng là công dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn một số nhu cầu nào đó
của con người. Đối với giá trị sử dụng, hàng hóa có các đặc trung, cụ thể:
+ Do thuộc nh tự nhiên của hàng hóa quyết định.
+ Giá trị hàng hóa không nhất thiết chỉ một giá trị sử dụng duy nhất. Khi khoa
học kỹ thuật càng phát triển người ta càng phát hiện ra nhiều thuộc nh mới của
hàng hóa và sử dụng chính cho nhiều mục đích khác nhau. + Là phạm trù vĩnh viễn
vì nó tồn tại trong mọi phương thức hoặc mọi kiểu tchc sản xuất.
+ Giá trị này không dành cho bản thân người sản xuất hàng hóa mà cho người êu
dùng hàng hóa. Người mua quyển shữu sử dụng hàng hóa theo mục đích
của họ. Hay nói cách khác, sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu của xã hội
*điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa: :Điều kiện ra đời và tồn tại của sản Th
nhất: Phân công lao động xã hội
Phân công lao động hội sự chuyên n hóa sản xuất, phân chia lao động
xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau. Phân công lao động xã
hội là cơ sở, là ền đcủa sản xuất hàng hóa. Phân công lao động xã hội càng phát
triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hóa càng mở rộng hơn, đa dạng hơn.
Sự phân công lao động hội khiến cho việc trao đổi sản phẩm trở thành tt
yếu. Khi phân công lao động hội, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ
sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải nhiều loại sản
phẩm khác nhau. Bên cạnh đó, họ cần đến sản phẩm ca nhau, buộc phải trao đổi
với nhau. Phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất đồng thời làm cho
lOMoARcPSD| 61432759
năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng ngày càng nhiều nên càng thúc đẩy
sự trao đổi sản phm.
Thứ hai: Sự tách biệt kinh tế
Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất được hiểu
những người sản xuất trở thành những chủ thsự độc lập nhất định với nhau.
Vì thế, sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thkinh tế, người y
muốn êu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi,
mua bán hàng hóa.
Sự tách biệt y do chế độ tư hữu về hữu tư liệu sản xuất quy định. Trong
chế độ tư hữu vliệu sản xuất thì tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của mỗi cá nhân
kết quả sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của họ. Sản xuất hàng hóa ra đi
trong chế độ chiếm hữu nô lệ.
Chính vì thế, hai điều kiện đã khẳng định phân công lao động xã hội làm cho những
người sản xuất phụ thuộc vào nhau, còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế gia
những người sản xuất lại chia rẽ họ, làm cho họ độc lập với nhau. Đây một mâu
thuẫn. Mâu thuẫn này được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của
nhau. Đó là 02 điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa.
.
3. Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
Lượng giá trị của hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến ợng giá trị của hàng hóa - Thời
gian lao động hội cần thiết - đơn vị đo lường lượng giá trị của hàng hóa Lượng giá trị
trong mỗi đơn vị ng hoá chính số lượng lao động đã hao phí để sản xuất ra ng hóa
đó hao phí này được tính bằng thời gian lao động để sản xuất ra hàng hóa. Tuy nhiên,
thời gian lao động ấy phải được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết.
(chứ không phải thời gian hao phí lao động biệt). Đó thời gian lao động mức
trung bình được hội thừa nhận. Thời gian lao động hội cần thiết là thời gian sản
xuất ra một đơn vị giá trị hàng hóa trong điều kiện trung bình với trình độ thành thạo trung
bình, cường đlao động trung bình trong những điều kiện bình thường của hội. Vậy,
lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa lượng thời gian lao động hội cần thiết để sản
xuất ra đơn vị hàng hóa đó.
Thời gian lao động hội cần thiết thời gian sản xuất ra một đơn vị giá trị hàng hóa
trong điều kiện trung bình với trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình
trong những điều kiện bình thường của xã hội. Vậy, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa
lượng thời gian lao động hội cần thiết đsản xuất ra đơn vị hàng hóa đó. Trong sản
xuất, người sản xuất thường phải tìm mọi cách để giảm thời gian hao phí lao động cá biệt
của mình xuống mức thấp hơn mức hao phí lao động hội cần thiết để được ưu thế
trong cạnh tranh. Xét về mặt cấu thành, lượng giá trị của một đơn vhàng hóa được sản
lOMoARcPSD| 61432759
xuất ra bao hàm: - Hao phí lao động quá khứ đã được kết tinh trong các yếu tố nguyên vật
liệu, thiết bị, vật đầu vào (hao phí lao động đã được vật hoá), giá trị của các yếu tố
liệu sản xuất này còn gọi là giá trị cũ. - Hao phí lao động sống của người lao động: là hao
phí lao động của người sản xuất trực tiếp tạo ra hàng hóa đó. Nếu ký hiệu G là giá trị hàng
hóa, c là hao phí lao động quá khứ để tạo ra liệu sản xuất, v + m hao phí lao động
sống (lao động hiện tại) thì G = c + v + m. Trong đó c là giá trị cũ, v + m là giá trị mới.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
Thứ nhất, năng suất lao động. + Năng suất lao động năng lực sản xuất của người lao
động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số
lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. + Khi tăng năng suất lao động,
số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một thời gian tăng lên, mức hao phí lao động cần thiết
trong một đơn vị hàng hóa giảm xuống làm giảm lượng giá trị trong một đơn vị hàng
hóa. Năng suất lao 12 động mối quan hệ tlệ nghịch với lượng giá trị của một đơn vị
hàng hóa. + Các nhân tố tác động đến năng suất lao động gồm những yếu tố chủ yếu như:
trình độ của người lao động; trình độ tiên tiến và mức độ trang bị kỹ thuật, khoa học, công
nghệ trong quá trình sản xuất; trình độ quản lý; cường độ lao động và yếu tố tự nhiên. Thứ
hai, cường độ lao động + Cường độ lao động mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt
động lao động trong sản xuất. + Tăng cường độ lao động m cho tổng số sản phẩm sản
xuất trong một đơn vị thời gian tăng lên song nếu các nhân tố khác không thay đổi thì hao
phí lao động cũng tăng tương ứng. Vì vậy, tổng lượng giá trị của tất cả các hàng hóa gộp
lại tăng lên. Song, lượng thời gian hao phí đsản xuất một đơn vị hàng hóa không thay
đổi, dó đó giá trị của một hàng hóa không đổi. + Tăng cường độ lao động cũng có ý nghĩa
rất quan trọng trong việc tạo ra số lượng các giá trị sử dụng nhiều hơn, góp phần thỏa mãn
tốt hơn nhu cầu của hội. Cường độ lao động chịu ảnh hưởng của các yếu tố sức khỏe,
thể chất, tâm lý, trình độ tay nghề thành thạo của người lao động, công tác tổ chức, kỷ luật
lao động… + Cần chú ý tăng cường độ lao động sẽ làm tăng mức hao phí lao động của
người sản xuất trong một thời gian. Xét về mặt này, tăng ờng độ lao động cũng giống
như việc kéo dài thời gian lao động. Do đó, kéo dài thời gian lao động cũng tác động
tới giá trị giống như tăng cường độ lao động. Thứ ba, tính chất phức tạp hay giản đơn của
lao động. + Lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi có quá trình đào tạo một cách hệ
thống, chuyên sâu vchuyên môn, kỹ ng, nghiệp vụ cũng thể thao tác được. + Lao
động phức tạp là những hoạt động lao động yêu cầu phải trải qua một quá trình đào tạo về
kỹ năng, nghiệp vụ theo yêu cầu của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Với tính
chất khác nhau đó, nên, trong cùng một đơn vị thời gian, một hoạt động lao động phức tạp
sẽ tạo ra được nhiều lượng giá trị hơn so với lao động giản đơn. K. Marx gọi lao động phức
tạp là lao động giản đơn được nhân bội lên.
2. Bản chất và chức năng của tiền tệ.
lOMoARcPSD| 61432759
bản chất, tiền một loại hàng hóa đặc biệt, vật ngang giá chung cho thế giới hàng
hóa. Tiền là hình thái biểu hiện giá trị của hàng hóa. Tiền phản ánh lao động xã hội
và quan hệ giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hóa.
a) Bản chất của tiền Tiền kết quả của quá trình phát triển sản xuất trao đổi
hàng hóa, sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị từ thấp đến cao. 13
- Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên: Trong lịch sử, khi sản xuất chưa phát
triển, việc trao đổi hàng hóa lúc đầu chỉ mang tính đơn lẻ, ngẫu nhiên, người ta
trao đổi trực tiếp hàng hóa có giá trị sử dụng này để đổi lấy một hàng hóa có giá
trị sử dụng khác. Hàng hóa được dùng để biểu hiện giá trị gọi vật ngang giá.
(1m vải = 10 kg thóc) - Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng: Quá trình sản xuất
phát triển hơn, hàng a được sản xuất ra phong phú hơn, nhu cầu của con người
cũng đa dạng hơn, trao đổi được mở rộng trở nên thường xuyên hơn, một
hàng hóa thể được đem trao đổi với nhiều hàng hóa khác nhau. Trong nh
thái này vật ngang gđược mở rộng nhiều hàng hóa. (1m vải = 10 kg thóc,
hoặc = 1con cừu, hoặc 0,1 gr vàng…) - Hình thái chung của giá trị: Việc trao đổi
trực tiếp không còn phù hợp khi sản xuất ng hóa phát triển cao n, đòi hỏi sự
hình thành vật ngang giá chung. Trong hình thái này, giá trị của các hàng hóa
đều biểu hiện giá trị của chúng ở hàng hóa đóng vai trò vật ngang giá chung. Ví
dụ: 1kg thóc, 1kg chè, 1 con cừu, 0,1 gr vàng = 1m vải (giả sử vải được chọn
làm vật ngang giá chung). mỗi vùng, hàng hóa được chọn làm vật ngang giá
chung thể khác nhau. Do đó, khi trao hàng hóa vượt khỏi phạm vi các vùng
sẽ gây khó khăn cho trao đổi. - Hình thái tiền tệ: trong hình thái này, những người
sản xuất hàng hóa quy ước thống nhất sử dụng một loại hàng hóa nhất định làm
vật ngang giá chung. Hình thái tiền của giá trị hàng hóa xuất hiện. Quá trình đó
tiếp tục được thúc đẩy đến khi những người sản xuất hàng hóa cố định yếu tố
ngang gchung đó ở vàng hoặc bạc. Tiền vàng hoặc tiền bạc xuất hiện trở thành
vật ngang giá chung cho toàn bộ thế giới hàng hóa. Khi đó, người tiêu dùng
muốn có được một loại hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu, họ có thể sử dụng tiền để
mua hàng hóa ấy. (1m vải, 10 kg thóc, 1 con cừu = 0,1gr vàng).
b) Chức năng của tiền
Phương tiện cất trữ: Tiền là đại diện cho giá trị, đại diện cho của cải nên khi tiền
xuất hiện, thay cất trữ hàng hóa, người dân thể cất trữ bằng tiền. Lúc này
tiền được rút ra khỏi lưu thông, đi vào cất trữ dưới hình thái vàng, bạc sẵn
sàng tham gia u thông khi cần thiết. Phương tiện thanh toán: Khi thực hiện
chức năng thanh toán, tiền được ng để trả nợ, trả tiền mua chịu hàng
hóa…Chức năng phương tiện thanh toán của tiền gắn liền với chế đtín dụng
thương mại, tức mua bán thông qua chế độ tín dụng, thanh toán không dùng tiền
mặt chỉ dùng tiền trên sổ sách kế toán, hoặc tiền trong tài khoản, tiền ngân
hàng, tiền điện tử… Tiền tệ thế giới: Khi trao đổi hàng hóa mở rộng ra ngoài
lOMoARcPSD| 61432759
biên giới quốc gia, tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Lúc này tiền được dùng
làm phương tiện mua bán, thanh toán quốc tế giữa các nước với nhau. Để thực
hiện chức năng này, tiền phải đủ giá trị, phải tiền vàng hoặc những đồng
tiền được công 15 nhận là phương tiện thanh toán quốc tế như USD, Euro.
3. Dịch vụ quan htrao đổi trong trường hợp một số yếu tố khác hàng hóa
thông thường điều kiện hiện nay (trao đổi quyền sử dụng đất, mua bán chứng
khoán)
a) Dịch vụ
Dịch vụ là một loại hàng hóa, nhưng đó là loại hàng hóa vô hình.
Để được các loại dịch vụ, người ta cũng phải hao phí sức lao động mục đích của việc cung
ứng dịch vụ cũng nhằm thỏa mãn nhu cầu của người nhu cầu về loại hình dịch vụ đó. Giá trị
của dịch vụ cũng là lao động xã hội tạo ra dịch vụ. Giá trị sử dụng của dịch vụ không phải là phục
vụ trực ếp người cung ứng dịch vụ.
Thời kỳ C. Mác nghiên cứu, dịch vụ chưa phát triển mạnh mẽ như ngày nay. Khi đó, khu vực chiếm
ưu thế của nền kinh tế vẫn là sản xuất hàng hóa vật thể hữu hình. Khu vực dịch vụ chưa trở thành
phbiến. Vì vậy, trong luận của mình, C. Mác chưa điều kiện để trình bày về dịch vụ một
cách thật sâu sắc. Điều này làm cho nhiều người ngộ nhận cho rằng, C. Mác chỉ biết tới hàng hóa
vật thể. Trái lại, theo C. Mác, dịch vụ, nếu đó là dịch vụ cho sản xuất thì thuộc khu vực hàng hóa
cho sản xuất, còn dịch vụ cho êu dùng thì thuộc phạm trù hàng hóa cho êu dùng. Vtổng quát,
dịch vụ, cũng là một kiểu hàng hóa.
Khác với hàng hóa thông thường, dịch vụ hàng hóa không thể cất trữ. Việc sản xuất êu
dùng dịch vụ được diễn ra đồng thời. Trong điều kiện ngày nay, do sự phát triển của phân công
lao động xã hội dưới tác động của sự phát triển khoa học -công nghệ, dịch vụ ngày càng có vai trò
quan trọng trong việc thỏa mãn nhu cầu văn minh của con người.
b) Quan hệ trao đổi trong trường hợp một số yếu tố khác hàng hóa thông thường điều kiện
ngày nay
Nền sản xuất hàng hóa ngày nay hình thành quan hmua bán nhiều yếu tố đặc điểm nhận
dạng khác với hàng hóa thông thường như đã nghiên cứu. Sự khác biệt này xét theo nghĩa chúng
có các đặc trưng như: giá trị sử dụng, giá cả, có thể trao đổi, mua bán nhưng lại không do
hao phí lao động trực ếp như cách tạo ra các hàng hóa thông thường khác.
Khi xuất hiện hiện tượng trao đổi, mua bán các hàng hóa đặc biệt như vậy, làm cho nhiều người
ngnhận cho rằng luận về hàng hóa của C. Mác không còn phù hợp. Thực chất do họ chưa
phân biệt được hàng hóa những yếu tố khác hàng hóa thông thường. Sau đây sẽ xem xét quan
hệ trao đổi trong trường hợp một số yếu tố điển hình đang có nhiều tranh luận hiện nay:
-Quan hệ trong trường hợp trao đổi quyền sử dụng đất
Khi thực hiện mua bán quyền sử dụng đất, nhiều người lầm tưởng đó mua bán đất đai. Trên
thực tế, họ trao đổi với nhau quyền sử dụng đất.
lOMoARcPSD| 61432759
Quyền sử dụng đất giá trị sử dụng, có giá cả nhưng không do hao phí lao động tạo ra theo cách
như các hàng hóa thông thường. Giá cả của quyền sử dụng đất chịu tác động của nhiều yếu tố:
giá trị của ền, quan hệ cung cầu, đầu cơ, sự khan hiếm, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa, gia
tăng dân số...
Trong hội hiện đại, xuất hiện hiện tượng một bộ phận hội trở nên số lượng ền nhiều
(theo quan niệm thông thường giàu có) do mua bán quyền sử dụng đất. Bản chất của hiện
ợng này là gì?
t về bản chất, số lượng ền đó chính là hệ quả của việc ền từ túi chủ thể này chuyển sang túi
chthể khác. Trong trường hợp như vậy ền là phương ện thanh toán, không phải là thước đo
giá trị. Nhưng do thực tế, có nhiều ền là có thể mua được các hàng hóa khác, nên gây ra sự ng
nhận rằng nhiều giá trị. Do vậy, nhiều người cho rằng đất đai cũng tạo ra giá trị. Thực tế họ
chưa phân biệt được giá trị và của cải. Từng cá nhân có thể trnên giàu nhờ trao đổi, mua bán
quyn sử dụng đất, do so sánh số ền mà họ bỏ ra với số ền họ thu được chênh lệch
dương. Xét trên phạm vi toàn xã hội, không thể có một xã hội giàu có nếu chỉ mua bán quyền sử
dụng đất.
- Quan hệ trong trao đổi thương hiệu (danh ếng)
Ngày nay, thương hiệu của một doanh nghiệp cũng có thể được trao đổi, mua bán, được định giá,
tức chúng giá cả, thậm chí giá cả cao. Thương hiệu hay danh ếng kết quả của sự nỗ
lực của sự hao phí sức lao động của người nắm giữ thương hiệu, thậm chí của nhiều người. Do
đó, giá cả của thương hiệu, nhất là những thương hiệu nổi ếng thường rất cao. Điểm cần chú ý
là, thương hiệu chỉ thể được hình thành dựa trên một kiểu sản xuất hàng hóa, dịch vụ thc
mới có giá cả cao.
Bên cạnh đó, ngày nay hiện tượng, một số ít cầu thủ bóng đá nổi ếng cũng được trgiá rt
cao khi các câu lạc bộ chuyển nhượng. Sự thực, các câu lạc bộ mua bán sức lao động để thực hiện
hoạt động đá bóng trên sân cỏ. Nhưng do hoạt động đá bóng đó gắn với cơ thể sinh học của cầu
thủ, nên người ta nhầm tưởng đó mua bán danh ếng của anh ta. Sở giá ccủa các vụ chuyển
nhượng các cầu thủ tài năng thường rất cao sự khan hiếm của tài năng và những lợi ích kỳ
vọng thu được trong các trận thi đấu có sự tham gia của cầu thủ đó. Giá cả trong các vụ chuyển
nhượng như vậy vừa phản ánh giá trị hoạt động lao động đá bóng, vừa phản ánh yếu tố tài năng,
vừa phản ánh quan hkhan hiếm, vừa phản ánh lợi ích kỳ vọng của câu lạc bộ nhận chuyển
nhượng.
-Quan hệ trong trao đổi, mua bán chứng khoán, chứng quyền và một số giấy tờ có giá
Ngày nay, chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) do các công ty, doanh nghiệp cổ phần phát hành,
chứng quyền do các công ty kinh doanh chứng khoán chứng nhận một số loại giấy tờ giá
(ngân phiếu, thương phiếu) cũng thể mua bán, trao đổi và đem lại lượng ền lớn hơn cho
người mua bán.
Chứng khoán, chứng quyền, các loại giấy tờ có giá khác cũng có một số đặc trưng như hàng hóa,
mang lại thu nhập cho người mua bán. Sự phát triển của các giao dịch mua bán chứng khoán,
chứng quyền dần thúc đẩy hình thành một loại thị trường yếu tố có nh hàng hóa phái sinh, phân
lOMoARcPSD| 61432759
biệt với thị trường hàng hóa (dịch vụ thc) -thtrường chứng khoán, chứng quyền. C. Mác gọi
những hàng hóa này là bản giả, để phân biệt với tư bản tham gia quá trình sản xuất, trao đổi
hàng hóa thực trong nền kinh tế.
Để có thể được mua bán các loại chứng khoán, chứng quyền hoặc giấy tờ có giá đó phải dựa trên
sở sự tồn tại của một tổ chức sản xuất kinh doanh có thực. Người ta không mua các loại chứng
khoán, chứng quyền, giấy tờ giá không gắn với một chủ thsản xuất kinh doanh thực trong
nền kinh tế. Do đó, chứng khoán, chứng quyền là loại yếu tố phái sinh, nó có nh hàng hóa, bn
thân chúng không phải là hàng hóa như hàng hóa thông thường.
Sự giàu có của các cá nhân có được do số lượng ền tăng lên sau mỗi giao dịch cũng thực chất là
sự chuyển ền từ người khác vào trong túi của họ. Trong trường hợp y ền cũng thực hiện
chức năng thanh toán, không phản ánh giá trị của chứng khoán. Giá cả của chứng khoán phản
ánh lợi ích kỳ vọng mà người mua có thể có được. Xã hội cần phải dựa trên một nền sản xuất có
thực mới có thể giàu có được. Toàn thể xã hội không thể giàu có được bằng con đường duy nhất
là buôn bán chứng khoán, chứng quyền.
Mặc dù thị trường chứng khoán, chứng quyền là một kênh rất quan trọng để một số chthể làm
giàu thúc đẩy các giao dịch vốn cho nền kinh tế, song thực tế cũng cho thấy, nhiều người
giàu lên, cũng có nhiều người rơi vào nh trạng khánh kiệt khi chứng khoán không mua bán đượ
6. Thị trường và vai trò của thị trường.
*Thị trường:
Thtrường tổng hòa những quan hệ kinh tế, trong đó nhu cầu của các chủ thđược đáp ứng
thông qua việc trao đổi, mua bán với sự xác định giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ tương ứng
với trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất xã hội.
Như vậy, thị trường thể được nhận diện cấp độ cụ thể, quan sát được như chợ, cửa hàng,
quầy hàng lưu động, phòng giao dịch hay siêu thị và nhiều hình thức tổ chức giao dịch, mua bán
khác.
Ở cấp độ trừu tượng hơn, thị trường cũng có thể được nhận diện thông qua các mối quan hệ liên
quan đến trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ trong xã hội, được hình thành do những điều kiện
lịch sử, kinh tế, xã hội nhất định. Theo nghĩa này, thị trường tổng thể các mối quan hkinh tế
gồm cung, cầu, giá cả; quan hệ hàng -ền; quan hệ giá trị, giá trị sử dụng; quan hệ hợp tác, cạnh
tranh; quan hệ trong nước, ngoài nước... Đây cũng là các yếu tố của thị trường.
*vai trò của thị trường:
Vai trò của thị trường luôn không tách rời với chế thtrường. Thị trường trở nên sống động
bởi có sự vận hành của cơ chế thị trường.
Cơ chế thị trường là hthống các quan hệ mang nh tự điều chỉnh tuân theo yêu cầu của các quy
luật kinh tế.
lOMoARcPSD| 61432759
chế thtrường phương thức bản để phân phối sử dụng các nguồn vốn, tài nguyên,
công nghệ, sức lao động, thông n, trí tuệ... trong nền kinh tế thị trường. Đây là một kiểu cơ chế
vận hành nền kinh tế mang nh khách quan, do bản thân nền sản xuất hàng hóa hình thành. Cơ
chế thị trường được A. Smith ví như là một "bàn tay vô hình" có khả năng tự điều chỉnh các quan
hệ kinh tế.
7. Nền kinh tế thị trường và đặc trưng của nền kinh tế trị trường.
a) Nền kinh tế thị trường
* Khái niệm
Nền kinh tế thtrường nền kinh tế được vận hành theo chế thtrường. Đó nền kinh tế
hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thông qua thị trường,
chịu sự tác động, điều ết của các quy luật thị trường.
Sự hình thành kinh tế thị trường khách quan trong lịch sử: từ kinh tế tự nhiên, tự túc, kinh tế
hàng hóa, ri từ kinh tế hàng hóa phát triển thành kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường cũng tri
qua quá trình phát triển các trình độ khác nhau tkinh tế thtrường khai đến kinh tế th
trường hiện đại như ngày nay. Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại.
* Đặc trưng phổ biến của nền kinh tế thị trường
Kinh tế thtrường đã phát triển qua nhiều giai đoạn với nhiều hình khác nhau, các nền kinh
tế thị trường có những đặc trưng chung bao gồm:
Thnhất, có sự đa dạng của các chủ thkinh tế, nhiều hình thức sở hữu. Các chủ thể kinh tế bình
đẳng trước pháp luật.
Thhai, thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực hội thông qua
hoạt động của các thị trường bộ phận như thị trường hàng hóa, thị trường dịch vụ, thị trường
sức lao động, thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường khoa học - công nghệ...
Thứ ba, giá cđược hình thành theo nguyên tắc thị trường; cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là
động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh; động lực trực ếp của các chth sản xuất
kinh doanh lợi nhuận và lợi ích kinh tế -xã hội khác; nhà nước là chủ ththực hiện chức năng
quản lý, chức năng kinh tế; thực hiện khắc phục những khuyết tật của thị trường, thúc đẩy những
yếu tố ch cực, đảm bảo sự bình đẳng xã hội và sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
Thứ tư, là nền kinh tế mở, thị trường trong nước quan hệ mật thiết với thị trường quốc tế.
Các đặc trưng trên mang nh phổ biến của mọi nền kinh tế thtrường. Tuy nhiên, tùy theo điều
kiện lịch sử cụ thể, tùy theo chế độ chính trị -hội của mỗi quốc gia, ngoài những đặc trưng
chung, mỗi nền kinh tế thị trường quốc gia có thể có đặc trưng riêng, tạo nên nh đặc thù và các
mô hình kinh tế thị trường
8. Vai trò CỦA MỘT SỐ CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG
lOMoARcPSD| 61432759
rất nhiều chủ thkhác nhau tham gia trị trường và mỗi chủ thnhững vai trò quan trọng
riêng. Sau đây, chúng ta sẽ xem xét vai trò của một số chthể chính, đó là: người sản xuất, người
êu dùng, các chủ thể trung gian trong thị trường và nhà nước.
1. Người sản xuất
Người sản xuất hàng hóa những người sản xuất cung cấp hàng hóa, dịch vụ ra thị trường
nhằm đáp ứng nhu cầu êu dùng của hội. Người sản xuất bao gồm các nhà sản xuất, đầu tư,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ... Họ là những người trực ếp tạo ra của cải vật chất, sản phẩm cho
xã hội để phục vụ êu dùng.
Người sản xuất những người sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất, kinh doanh thu li
nhuận. Nhiệm vụ của họ không chlàm thỏa mãn nhu cầu hiện tại của hội, còn tạo ra
phục vụ cho những nhu cầu trong tương lai với mục êu đạt lợi nhuận tối đa trong điều kiện
nguồn lực hạn. Vì vậy, người sản xuất luôn phải quan tâm đến việc lựa chọn sản xuất hàng hóa
nào, số lượng bao nhiêu, sản xuất với các yếu tố nào để có lợi nhất.
Ngoài mục êu m kiếm lợi nhuận, người sản xuất cần phải trách nhiệm đối với con người;
trách nhiệm cung cấp những hàng hóa, dịch vụ không làm tổn hại tới sức khỏe và lợi ích của con
người trong xã hội.
2. Người êu dùng
Người êu dùng là những người mua hàng hóa, dịch vụ trên thị trường để thỏa mãn nhu cầu êu
dùng. Sức mua của người êu dùng yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của người sản
xuất. Sự phát triển đa dạng về nhu cầu của người êu dùng động lực quan trọng của sự phát
triển sản xuất, ảnh hưởng trực ếp tới sản xuất.
Người êu dùng có vai trò rất quan trọng trong định hướng sản xuất. Do đó, trong điều kiện nn
kinh tế thtrường, ngoài việc thỏa mãn nhu cầu của mình, người êu dùng cần phải trách
nhiệm đối với sự phát triển bền vững của xã hội.
Lưu ý: Việc phân chia người sản xuất, người êu dùng chỉ nh chất tương đối để thấy được
chức năng chính của các chthnày khi tham gia thị trường. Trên thực tế, doanh nghiệp luôn
đóng vai trò vừa là người mua cũng vừa là người bán.
3. Các chủ th trung gian trong thị trường
Chthtrung gian những nhân, tổ chức đảm nhiệm vai trò cầu nối giữa các chủ thsản xuất,
êu dùng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.
Do sự phát triển của sản xuất và trao đổi dưới tác động của phân công lao động hội, làm cho
sự tách biệt tương đối giữa sản xuất trao đổi ngày càng sâu sắc; trên cơ sở đó xuất hiện những
chthtrung gian trong thị trường. Những chủ thnày vai trò ngày càng quan trọng để kết
nối, trao đổi thông n trong các quan hệ mua -bán.
Nhvai trò của các chủ thể trung gian này mà nền kinh tế thị trường trở nên sống động, linh hoạt
hơn. Hoạt động của các chủ thể trung gian trong thị trường làm ng cơ hội thực hiện giá trị của
lOMoARcPSD| 61432759
hàng hóa cũng như thỏa mãn nhu cầu của người êu dùng. Các chủ thtrung gian làm tăng sự
kết nối giữa sản xuất và êu dùng, làm cho sản xuất và êu dùng trở nên ăn khớp với nhau.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay, các chủ thể trung gian thị trường không
chỉ có các trung gian thương nhân mà còn rất nhiều các chủ thể trung gian phong phú trên tất cả
các quan hệ kinh tế như: trung gian môi giới chứng khoán, trung gian môi giới nhà đất, trung gian
môi giới khoa hc -công nghệ... Các trung gian trong thtrường không những hoạt động trên
phạm vi thị trường trong nước mà còn trên phạm vi quốc tế. Bên cạnh đó cũng có nhiều loại hình
trung gian không phù hợp với các chuẩn mực đạo đức (lừa đảo, môi giới bất hợp pháp...) và cần
được loại trừ.
4. Nhà nước
Trong nền kinh tế thtrường, xét về vai trò kinh tế, nhà nước thực hiện chức năng quản nhà
ớc về kinh tế, đồng thời thực hiện những biện pháp để khắc phục những khuyết tật của thị
trường.
Với trách nhiệm như vậy, một mặt, nhà nước thực hiện quản trị phát triển nền kinh tế thông qua
việc tạo lập môi trường kinh tế tốt nhất cho các chủ thkinh tế phát huy sức sáng tạo của họ.
Việc tạo ra các rào cản đối với hoạt động sản xuất kinh doanh từ phía nhà nước sẽ kìm hãm động
lực sáng tạo của các chủ thể sản xuất kinh doanh. Các rào cản như vậy phải được loại bỏ. Việc này
đòi hỏi mỗi nhân trách nhiệm trong bộ máy quản nhà nước cần phải nhận thức được
trách nhiệm của mình là thúc đẩy phát triển, không gây cản trở sự phát triển của nền kinh tế th
trường.
Cùng với đó, nhà nước còn sử dụng các công cụ kinh tế để khắc phục các khuyết tật của nền kinh
tế thị trường, làm cho nền kinh tế thị trường hoạt động hiệu quả.
9. Các quy luật kinh tế cơ bản của nền kinh tế thị trường:
- Quy luật giá trị:
Quy luật giá trị quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá. đâu có sản xuất
và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị.
Quy luật giá trị quy luật chi phối chế thị trường chi phối các quy luật kinh
tế khác, các quy luật kinh tế khác là biểu hiện yêu cầu của quy luật giá trị mà thôi..
Quy luật giá trị quy.ết định giá cả hàng hoá, dịch vụ, mà giá cả là tín hiệu nhạy bén
nhất của cơ chế thị trường .
Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải được tiến hành trên
sở của việc hao phí lao động hội cần thiết: Trong sản xuất đòi hỏi người
sản xuất luôn luôn ý thức tìm cách hạ thấp hao phí lao động biệt xuống nhỏ
hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết.
lOMoARcPSD| 61432759
Trong lĩnh vực sản xuất :Đối với việc sản xuất một thứ hàng hóa riêng biệt thì yêu
cầu của quy luật giá trị được biểu hiện chỗ: hàng hoá của người sản xuất muốn bán
được trên thị trường, muốn được xã hội thừa nhận thì lượng gtrị của một hàng hoá
biệt phải phù hợp với thời gian lao động hội cần thiết. Đối với một loại hàng
hoá thì yêu cầu quy luật giá trị thể hiện là tổng giá trị của hàng hóa phải phợp với
nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội .
Trong lĩnh vực trao đổi : Việc trao đổi phải tiến hành theo nguyên tắc ngang giá. Quy
luật giá trị biểu hiện sự hoạt động của mình thông qua sự vận động của giá cả xung
quanh giá trị. Giá cả phụ thuộc vào giá trị, giá trị sở của giá cả, những hàng
hoá hao plao động lớn thì giá trị của lớn dẫn đến giá cả cao ngược lại.
Đối với mỗi hàng hoá thì giá cả hàng hoá thể bằng hoặc nhỏ hơn hoặc lớn hơn
giá trị nhưng đối với toàn bộ hàng hóa của xã hội thì chúng ta luôn luôn có tổng giá
cả hàng hóa bằng tổng giá trị.
Tác dụng của quy luật giá trị: quy luật giá trị tự phát điều tiết việc sản xuất lưu
thông hàng hóa thông qua sự biến động của cung - cầu thể hiện qua giá cả trên thị
trường.
- Quy luật cung cầu :
Cung phản ánh khối lượng sản phẩm hàng hoá được sản xuất đưa ra thị trường để
thực hiện (để bán). cung do sản xuất quyết định, nó không đồng nhất với sản xuất .
Cầu phản ánh nhu cầu tiêu dùng khả năng thanh toán của hội. Do đó, cầu không
đồng nhất với tiêu dùng, không phải nhu cầu tự nhiên, nhu cầu bất theo
nguyện vọng tiêu dùng chủ quan của con người, phụ thuộc vào khả năng thanh
toán.
Cung - Cầu có mối quan hệ hữu với nhau, thường xuyên tác động lẫn nhau trên
thị trường, đâu thị trường thì đó có quy luật cung - cầu tồn tại hoạt động
một cách khách quan. Cung - cầu tác động lẫn nhau:
Cầu xác định cung ngược lại cung xác định cầu. Cầu xác định khối lượng, chất
lượng chủng loại cung về hàng hoá. những hàng hoá nào được tiêu thụ thì mới
được tái sản xuất. Ngược lại, cung tạo ra cầu, kích thích tăng cầu thông qua phát
triển slượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá, hình thức, quy cách giá cả của
nó.
Cung - cầu tác động lẫn nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả. Đây là sự tác động
phức tạp theo nhiều hướng và nhiều mức độ khác nhau.
Quy luật cung - cầu tác động khách quan rất quan trọng. Nếu nhận thức được
chúng thì chúng ta vận dụng để tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh theo
lOMoARcPSD| 61432759
chiều hướng có lợi cho quá trình tái sản xuất xã hội. Nhà nước có thể vận dụng quy
luật cung - cầu thông qua các chính sách, các biện pháp kinh tế như: giá cả, lợi nhuận,
tín dụng, hợp đồng kinh tế, thuế, thay đổi cấu tiêu dùng. Để tác động vào các hoạt
động kinh tế theo quy luật cung - cầu, duy trì những tỷ lệ cân đối cung cầu một cách
lành mạnh và hợp lý.
- Quy luật canh tranh:
Cạnh tranh là sự tác động lẫn nhau giữa các nhóm người, giữa người mua và người
bán hay giữa người sản xuất người tiêu dùng. Hai nhóm này tác động lẫn nhau
với cách một thể thống nhất, một hợp lực. đây nhân chỉ tác động với
cách một bộ phận, một lực lượng hội, một nguyên tử của một khối. Chính
dưới hình thái đó mà cạnh tranh đã vạch rõ cái tính chất xã hội của sản xuất và tiêu
dùng.
Bên canh tranh yếu hơn cả cũng đồng thời là cái bên mà ở đó mỗi cá nhân đều hoạt
động một cách độc lập với đông đảo những người cạnh tranh với mình thường
thường là trực tiếp chống lại những người đó. Chính vì sự phụ thuộc lẫn nhau giữa
một người cạnh tranh biệt với những người khác lại càng thêm ràng. Trái lại
bên mạnh hơn bao giờ cũng đương đầu với đối phương với tư cách là một chỉnh thể
ít nhiều thống nhất.
Người mua làm cho giá thị trường càng thấp, càng tốt. Mỗi người chỉ quan tâm đến
đồng nghiệp trong chừng mực thấy đi với họlợi hơn việc chống lại họ. Khi một
bên yếu hơn bên kia thì hành động chung sẽ chấm dứt, mỗi người sẽ tự lực xoay sở
lấy. Nếu một bên chiếm ưu thế thì mỗi người bên đó đều sẽ được lợi, tất cả diễn ra
như là họ cùng nhau thực hiện độc quyền chung vậy.
Cạnh tranh như một tất yếu trong nền kinh tế hàng hoá. Cạnh tranh có tác dụng san
bằng các giá cả mấp mô để có giá cả trung bình, giá trị thị trường và giá cả sản xuất
đều hình thành từ cạnh tranh trong nội bộ ngành và giữa các ngành.
Tóm lại: Trong cơ chế thị trường, quy luật cạnh tranh như một công cụ, phương tiện
gây áp lực cực mạnh thực hiện yêu cầu của quy luật giá trị, cạnh tranh trong một cơ
chế vận động chứ không phải cạnh tranh nói chung.
- Quy luật lưu thông tiền tệ :
Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật xác định lượng tiền cần cho lưu thông. Lượng
tiền cần cho lưu thông chính bằng tỷ số giữa tổng giá cả hàng hoá với tốc độ lưu
thông tư bản .
lOMoARcPSD| 61432759
Trong thực tế: lượng tiền cần cho lưu thông bằng tỷ số giữa tổng giá cả hàng hóa trừ
đi tổng tiền khấu trừ, trừ đi tổng giá cả bán chịu cộng với tổng tiền thanh toán với
tốc độ lưu thông tư bản.
Quy luật lưu thông tiền tệ tuân theo các nguyên lý sau:
Lưu thông tiền tệ chế lưu thông tiền tệ do chế lưu thông hàng hoá quyết
định.
Tiền đại diện cho người mua, hàng đại diện cho người bán. Lưu thông tiền tquan
hệ chặt chẽ với tiền - hàng, mua - bán, giá cả - tiền tệ.
Kinh tế hàng hoá trên một ý nghĩa nhất định có thể gọi là kinh tế tiền tệ, quyết định
cơ chế lưu thông tiền tệ.
Mặt khác cơ chế lưu thông tiền tệ còn phụ thuộc vào cơ chế xuất nhập khẩu, cơ chế
quản lý kim loại quý, cơ chế kinh doanh tiền của ngân hàng.
Nếu quy luật canh tranh, quy luật cung - cầu làm giá hàng hoá vận động, san bằng
thì quy luật lưu thông tiền tệ giữa mối liên hệ cân bằng giữa hàng và tiền.
Ngoài ra còn một số loại quy luật khác như: quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng
giảm, quy luật khủng hoảng kinh tế , quy luật tâm lý… cũng ảnh hưởng đến cơ chế
thị trường.
CHƯƠNG 3:
1. Công thức chung của tư bản.
Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số ền nhất định nhưng bản
thân ền không phải bản. Tiền chỉ biến thành bản trong những điều kiện
nhất định, khi chúng được sử dụng để bóc lột lao động của người khác.
Theo đó ền được chia thành ền thông thường hoặc ền bản. Tiền thông
thường sẽ vận động theo công thức: H T H (hàng ền hàng), nghĩa sự
chuyển hoá của hàng hoá thành ền, rồi ền lại chuyển hoá thành hàng hoá. Trong
trường hợp ền được coi bản, thì vận động theo công thức: T H T (n
hàng ền), tức là sự chuyển hoá của ền thành hàng hoá, rồi hàng hoá lại chuyển
hoá ngược lại thành ền. Bất cứ ền nào vận động theo công thức T H T đều
chuyển hoá thành tư bản.
Giữa ền thông thường hoặc ền bản thì cả hai sự vận động đều do hai giai đoạn
đối lập nhau là mua và bán hợp thành, trong mỗi giai đoạn đều có hai nhân tố vật
chất đối diện nhau ền hàng, hai người quan hệ kinh tế với nhau người
mua và người bán.
Bên cạnh đó giữa hai công thức đó những điểm khác nhau về chất. Lưu thông
hàng hoá giản đơn bắt đầu bằng việc bán (H – T) và kết thúc bằng việc mua (T – H).
lOMoARcPSD| 61432759
Điểm xuất phát điểm kết thúc của quá trình đều hàng hoá, còn ền chỉ đóng
vai trò trung gian. Ngược lại, lưu thông của bản bắt đầu bằng việc mua (T – H) và
kết thúc bằng việc bán (H – T). Tiền vừa là điểm xuất phát, vừa là điểm kết thúc của
quá trình, còn hàng hoá chỉ đóng vai trò trung gian; n ở đây không phải là chi ra
dứt khoát mà chỉ là ứng ra rồi thu về.
Mục đích của lưu thông hàng hoá giản đơn là giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu,
nên các hàng hoá trao đổi phải giá trị sdụng khác nhau. Svận động sẽ kết
thúc giai đoạn thứ hai, khi những người trao đổi được giá trị sử dụng người
đó cần đến. Còn mục đích của lưu thông tư bản không phải là giá trị sử dụng, mà
giá trị, hơn nữa giá trị tăng thêm. Vy công thức chung của bản thì theo
C.Mác gọi công thức T H Tcông thức chung của bản. Nguyên nhân công
thức T H Tcông thức chung của bản svận động của mọi bản đều
biểu hiện trong lưu thông dưới dạng khái quát đó, dù là tư bản thương nghiệp,
bản công nghiệp hay tư bản cho vay.
2. Hàng hóa sức lao động
Theo C.Mác, sức lao động hay năng lực lao động toàn bộ những năng lực thể cht
nh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống được người đó
đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó.
Để sức lao động trở thành hàng hóa cần đáp ứng hai điều kiện sau:
Một là người lao động được tự do về thân thể.
Hai người lao động không đcác liệu sản xuất để tkết hợp vớisức lao
động của mình tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ phải bán sức lao động.
Hàng hóa sức lao động có hai thuộc nh cơ bản là giá trị và giá trị sử dụng. Cụ th:
Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng do một số ợng lao động hộicần thiết
để sản xuất tái sản xuất ra sức lao động quyết định. Giá trcủa hàng hóa sức
lao động được tạo thành bởi các yếu tố sau:
+ Giá trị liệu sinh hoạt cần thiết (cả vật chất, nh thần) để tái sản xuất sức lao
động.
+ Phí tn đào tạo người lao động
+ Giá trị nhng tư liệu sinh hoạt cần thiết bao gồm vật chất và nh thần của người
lao động.
Giá trị sdụng của hàng hóa sức lao động cũng để thỏa mãn nhu cầucủa người
mua.
Người mua hàng hóa sức lao động mong muốn thỏa mãn nhu cầu giá trị lớn hơn,
giá trị tăng thêm. Giá trị sdụng của hàng hóa sức lao động được thể hiện trong
quá trình sử dụng sức lao động.
lOMoARcPSD| 61432759
4. Tư bản bất biến, tư bản khả biến và tiền công.
Tư bản khả biến là khái niệm trong kinh tế chính trị Marx-Lenin dùng để chỉ về
một bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động (trả lương, thuê mướn công nhân),
đại lượng của thay đổi trong quá trình sản xuất tạo ra giá trị thặng . Tư
bản khả biến được Marx hiệu v. Tư bản khả biến thể tạo ra sự biến đổi
về giá trị.
Tư bản bất biến là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để sản xuất ra giá trị
thặng dư, còn bản khả biến vai trò quyết định trong quá trình đó, vì nó chính
là bộ phận tư bản đã lớn lên.
bản bất biến là một khái niệm của kinh tế chính trị Marx-Lenin dùng để chỉ
một bphận bản dùng để mua liệu sản xuất giá trị được bảo toàn
chuyển vào sản phẩm. Tư bản bất biến được Karl Marx ký hiệu là c. Tư bản bất
biến bao gồm cả nguyên liệu. bản bất biến là tư bản vật chất, để phân biệt với
tư bản khả biến là tư bản bỏ ra mua sức lao động
Tiền công lao động hay tiền công là khái niệm của kinh tế chính trị MarxLenin,
biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động giá cả của hàng hóa
sức lao động. Theo C.Mác, thdễ sự lầm tưởng, trong hội bản, tiền
công giá cả của lao động nhà bản trả tiền công cho công nhân sau khi
công nhân đã lao động để sản xuất ra hàng hóa tiền công được trả theo thời
gian lao động (giờ, ngày, tuần, tháng...), hoặc theo số lượng hàng hóa đã sản xuất
được. Tuy nhiên, cáinhà tư bản mua của công nhân không phải là lao động,
mà là sức lao động. Tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động,
chỉ là giá trị hay giá cả của hàng hóa sức lao động.
4.Tuần hoàn và chu chuyển tư bản, tư bản cố định và tư bản lưu động
Sản xuất bản chủ nghĩa sthống nhất biện chúng giữa quá trình sản xuất quá
trình lưu thông. Lưu thông của tư bản, theo nghĩa rộng, sự vận động của bản,
nhờ đó bản lớn lên thu được giá trị thặng dư, cũng tức sự tuần hoàn
chu chuyển của tư bản.
Sản xuất bản chủ nghĩa sthống nhất biện chúng giữa quá trình sản xuất quá
trình lưu thông. Lưu thông của tư bản, theo nghĩa rộng, sự vận động của bản,
nhờ đó bản lớn lên thu được giá trị thặng dư, cũng tức sự tuần hoàn
chu chuyển của tư bản. a) Tuần hoàn của tư bản
bản công nghiệp (với nghĩa các ngành sản xuất vật chất), trong quá trình tuần
hoàn đều vận động theo công thức:
lOMoARcPSD| 61432759
Sự vận động này trải qua ba giai đoạn: hai giai đoạn lưu thông và một giai đoạn sản
xuất.
-Giai đoạn thứ nhất - giai đoạn lưu thông:
Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường các yếu tố sản xuất để mua liệu sản xuất và
sức lao động.
Quá trình lưu thông đó được biểu thị như sau:
Giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái bản tiền tệ, chức năng giai đoạn này là
mua các yếu tố cho quá trình sản xuất, tức biến bản tiền tệ thành tư bản sản
xuất.
Giai đoạn thứ hai - giai đoạn sản xuất:
Trong giai đoạn này bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất (TBSX), chức
năng thực hiện sự kết hợp hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất ra
hàng hóa trong giá trị của giá trị thặng dư. Trong các giai đoạn tuần hoàn
của tư bản thì giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyết định nhất, vì nó gắn trực tiếp với
mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Kết thúc của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa.
- Giai đoạn thứ ba - giai đoạn lưu thông:
H' - T'
Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản hàng hóa, chức năng thực
hiện giá trị của khối lượng hàng hóa đã sản xuất ra trong đó đã bao hàm một lượng
giá trị thặng dư. Trong giai đoạn này, nhà bản trở lại thị trường với cách
người bán hàng. Hàng hóa của nhà bản được chuyển hóa thành tiền. Kết thúc giai
đoạn thứ ba, bản hàng hóa chuyển hóa thành bản tiền tệ. Đến đây, mục đích
của nhà tư bản đã được thực hiện, tư bản quay trở lại hình thái ban đầu trong tay chủ
của nó nhưng với số lượng lớn hơn trước.
lOMoARcPSD| 61432759
Sự vận động của tư bản qua ba giai đoạn nói trên là sự vận động có tinh tuần hoàn:
tư bản ứng ra dưới hình thái tiền và rồi đến khi quay trở về cũng dưới hình thái tiền
có kèm theo giá trị thặng dư. Quá trình đó tiếp tục được lặp đi, lặp lại không ngừng
gọi là sự vận động tuần hoàn của tư bản.
Vậy, tuần hoàn của bản sự vận động liên tục của bản trải qua ba giai đoạn,
lần lượt mang ba hình thái khác nhau, thực hiện ba chức năng khác nhau để rồi lại
quay trở về hình thái ban đầu có kèm theo giá trị thặng dư.
Tuần hoàn của tư bản chỉ có thể tiến hành bình thường trong điều kiện các giai đoạn
khác nhau của không ngừng được chuyển tiếp. Mặc khác, tư bản phải nằm lại
mỗi gia đoạn tuần hoàn trong một thời gian nhất định. Hay nói cách khác, tuần hoàn
của tư bản chỉ tiến hành một cách bình thường khi hai điều kiện sau đây được thỏa
mãn: một là, các giai đoạn của chúng diễn ra liên tục; hai là, các hình thái bản
cùng tồn tại và được chuyển hóa một cách đều đặn. vậy, bản một sự vận
động tuần hoàn của tư bản, là sư vận động liên tục không ngừng.
Phù hợp với ba giai đoạn tuần hoàn của bản ba hình thái của bản công
nghiệp: tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất và tư bản hàng hóa.
Để tái sản xuất diễn ra một cách bình thường thì tư bản xã hội cũng như từng tư bản
cá biệt đều tồn tại cùng một lúc dưới cả ba hình thái. Ba hình thái của tư bản không
phải ba loại bản khác nhau, mà là ba hình thái của một tư bản công nghiệp biểu
hiện trong quá trình vận động của nó. Song ng trong quá trình vận động ấy đã
chứa đựng khả năng tách rời của ba hình thái tư bản. Trong quá trình phát triển của
chủ nghĩa tư bản, khả năng tách rời đó đã làm xuất hiện tư bản thương nghiệp và tư
bản cho vay, hình thành các tập đoàn khác trong giai cấp bản: chủ công nghiệp,
nhà buôn, chủ ngân hàng, v
.
v. chia nhau giá trị thặng dư. Nghiên cứu tuần hoàn của
bản nghiên cứu mặt chất trong sự vận động của bản, còn mặt lượng của s
vận động được nghiên cứu ở chu chuyển của tư bản.
b) Chu chuyển của tư bản
Sự tuần hòan của tư bản, nếu xét nó với tư cách là một quá trình định kỳ đổi mới và
thường xuyên lặp đi lặp lại thì gọi chu chuyển của tư bản. Những bản khác nhau
chu chuyển với vận tốc khác nhau tùy theo thời gian sản xuất và lưu thông của hàng
hóa. Thời gian chu chuyển của bản bao gồm thời gian sản xuất thời gian lưu
thông.
- Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm ở trong lĩnh vực sản xuất.
Thời gian sản xuất bao gồm: thời gian lao động, thời gian gián đoạn lao động thời
gian dự trữ sản xuất. Thời gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn là do tác động của
lOMoARcPSD| 61432759
nhiều nhân tố như: tính chất của ngành sản xuất; quy hoặc chất lượng các sản
phẩm: stác động của quá trình tự nhiên đối với sản xuất; năng suất lao động
tình trạng dự trữ các yếu tố sản xuất.
- Thời gian lưu thông thời gian bản nằm trong lĩnh vực lưu thông. Trong
thờigian lưu thông, tư bản không làm chức năng sản xuất, do đó không sản xuất ra
hàng hóa, cũng không sản xuất ra giá trị thặng dư. Thời gian lưu thông gồm thời
gian mua thời gian bán hàng hóa. Thời gian lưu thông dài hay ngắn phụ thuộc
các nhân tố sau đây: thị trường xa hay gần, tình hình thị trường xấu hay tốt, trình
độ phát triển của vận tải và giao thông.
Thời gian chu chuyển của bản càng rút ngắn thì càng tạo điều kiện cho giá trị
thặng dư được sản xuất ra nhiều hơn, tư bản càng lớn nhanh hơn.
Các loại bản khác nhau hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau thì số vòng chu
chuyển không giống nhau. Để so sánh tốc độ vận động của các tư bản khác nhau,
người ta tính số vòng chu chuyển của các loại bản đó trong một thời gian nhất
định.
Tốc độ chu chuyển của bản là số vòng (lần) chu chuyển của bản trong một năm.
Ta có công thức số vòng chu chuyển của tư bản như sau:
n = CH/ch
Trong đó: (n) lả số vòng (hay lần) chu chuyển của bản; (CH) thời gian trong
năm; (ch) là thời gian cho 1 vòng chu chuyển của tư bản.
Ví dụ: Một tư bản có thời gian 1 vòng chu chuyển là 6 tháng thì tốc đchu chuyển
trong năm là:
n = 12 tháng / 6 tháng = 2 vòng
Như vậy, tốc độ chu chuyển của tư bản tỷ lnghịch với thời gian 1 vòng chu chuyển
của bản. Muốn tăng tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm thời gian sản xuất và
thời gian lưu thông của nó. c) Tư bản cố định và tư bản lưu động
Các bộ phận khác nhau của tư bản sản xuất không chu chuyển giống nhau. Căn cứ
vào phương thức chu chuyển khác nhau của từng bộ phận bản, người ta chia
bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động.
Tư bản cố định là bộ phận bản sản xuất tồn tại dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà
xưởng, v.v. về hiện vật tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của
bị khấu hao từng phần và được chuyển dần vào sản phẩm mới được sản xuất ra.
lOMoARcPSD| 61432759
Tư bản cố định được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất và nó bị hao mòn
dần trong quá trình sản xuất. hai lại hao mòn hao mòn hữu hình hao mòn
vô hình:
Hao mòn hữu hình là hao mòn về vật chất, hao mòn về cơ học có thể nhận thấy. Hao
mòn hữu hình do quá trình sử dụng và sự tác động của tnhiên làm cho các bộ phận
của tư bản cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ hỏng và phải được thay thế.
Hao mòn hình sự hao mòn thuần túy về mặt giá trị. Hao mòn hình xảy ra
ngay cả khi máy móc còn tốt nhưng bmất giá xuất hiện các máy móc hiện đại
hơn, rẻ hơn hoặc giá trị tương đương nhưng công suất cao hơn. Để tránh hao mòn
hình, các nhà bản tìm cách kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động,
tăng ca kíp làm việc, v.v. nhằm tận dụng công suất của máy móc trong thời gian càng
ngắn càng tốt.
Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định là một biện pháp quan trọng để tăng quỹ
khấu hao tài sản cố định, làm cho lượng bản sdụng tăng lên, tránh được thiệt
hại hao mòn hữu hình do tự nhiên phá hủy và hao mòn hình gây ra. Nhờ đó
có điều kiện đổi mới thiết bị nhanh.
- Tư bản lưui động là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng nguyên liệu, nhiên
liệu, vật liệu phụ, sức lao động, V.V., giá trị của lưu thông toàn bộ cùng với sản
phẩm và được hoàn lại toàn bộ cho các nhà tư bản sau mỗi quá trình sản xuất.
bản lưu động chu chuyển nhanh hơn bản cố định. Việc tăng tốc độ chu chuyển
của tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng. Một mặt, tốc độ chu chuyển của bản
lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng bản lưu động được sử dụng trong năm, do đó
tiết kiệm được tư bản ứng trước; mặt khác, do tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu
động khả biến làm cho tỷ suất giá trị thặng khối lượng giá trị thặng dư hàng
năm tăng lên.
Căn cứ để phân chia bản sản xuất thành bản cố định bản lưu động
phương thức chuyển dịch giá trị khác nhau của từng bộ phận tư bản trong quá trình
sản xuất
5. Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư. Các phương pháp sản xuất giá trị thặng
Tỷ suất giá trị thặng dư

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61432759 NỘI DUNG ÔN TẬP
HỌC PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN Phần lý thuyết CHƯƠNG 1:
1. Đối tượng nghiên cứu của Kinh tế chính trị Mác Lênin.
1.2.1. Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin Với tư cách
là một môn khoa học, kinh tế chính trị có đối tượng nghiên cứu riêng Về lịch sử,
trong mỗi giai đoạn phát triển, các lý thuyết kinh tế có quan niệm khác nhau về
đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị.
 Kinh tế chính trị ở thời kỳ đầu đối tượng nghiên cứu là
-Chủ nghĩa trọng thương nghiên cứu lĩnh vực lưu thông (chủ yếu là ngoại thương)
-Chủ nghĩa nông nghiên cứu lĩnh vực nông nghiệp
-Kinh tế chính trị cổ điển Anh nghiên cứu nguồn gốc của của cải vật chất và sự giàu có của dân tộc
2. Quy luật kinh tế và chính sách kinh tế.
Quy luật kinh tế: Quy luật kinh tế là những mối liên hệ phản ánh bản chất, khách
quan, lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế. -
Quy luật kinh tế mang tính khách quan. Với bản chất là quy luật xã hội, nên
sựtác động và phát huy vai trò của nó đối với sản xuất và trao đổi phải thông qua
các hoạt động của con người trong xã hội với những động cơ lợi ích khác nhau. -
Quy luật kinh tế tác động vào các động cơ lợi ích và quan hệ lợi ích của con người
từ đó mà điều chỉnh hành vi kinh tế của họ. -
Phân biệt giữa quy luật kinh tế và chính sách kinh tế: + Quy luật kinh tế tồn
tạikhách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con người, con người không thể thủ
tiêu quy luật kinh tế, nhưng có thể nhận thức và vận dụng quy luật kinh tế để phục
vụ lợi ích của mình. Khi vận dụng không phù hợp, con người phải thay đổi hành vi
của mình chứ không thay đổi được quy luật, quy luật kinh tế do quan hệ kinh tế quyết định.
+ Chính sách kinh tế là sản phẩm chủ quan của con người được hình thành trên cơ
sở vận dụng các quy luật kinh tế. Chính sách kinh tế vì thế có thể phù hợp, hoặc
không phù hợp với quy luật kinh tế khách quan. Khi chính sách không phù hợp, chủ
thể ban hành chính sách có thể thay thế bằng chính sách khác. CHƯƠNG 2:
1. Sản xuất hàng hóa và điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa lOMoAR cPSD| 61432759
Sản xuất hàng hóa là một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị Mac-Lenin
dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải
là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi,
mua bán. Hay có thể hiểu, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm
sản xuất ra là để bán.
Thứ hai: Đặc điểm của hàng hóa
Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị. – Giá trị hàng hóa:
Giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh bên trong
hàng hóa. Giá trị là nội dung bên trong của hàng hóa, nó được biểu hiện ra bên
ngoài bằng việc hai hàng hóa có thể trao đổi được với nhau. Giá trị hàng hóa cũng
có những đặc điểm riêng:
+ Giá trị hàng hóa biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa.
+ Giá trị hàng hóa là phạm trù lịch sử chỉ tổn tại ở kinh tế hàng hóa. – Giá trị sử dụng:
Giá trị sử dụng là công dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn một số nhu cầu nào đó
của con người. Đối với giá trị sử dụng, hàng hóa có các đặc trung, cụ thể:
+ Do thuộc tính tự nhiên của hàng hóa quyết định.
+ Giá trị hàng hóa không nhất thiết chỉ có một giá trị sử dụng duy nhất. Khi khoa
học kỹ thuật càng phát triển người ta càng phát hiện ra nhiều thuộc tính mới của
hàng hóa và sử dụng chính cho nhiều mục đích khác nhau. + Là phạm trù vĩnh viễn
vì nó tồn tại trong mọi phương thức hoặc mọi kiểu tổ chức sản xuất.
+ Giá trị này không dành cho bản thân người sản xuất hàng hóa mà cho người tiêu
dùng hàng hóa. Người mua có quyển sở hữu và sử dụng hàng hóa theo mục đích
của họ. Hay nói cách khác, sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu của xã hội
*điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa: :Điều kiện ra đời và tồn tại của sản Thứ
nhất: Phân công lao động xã hội –
Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất, phân chia lao động
xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau. Phân công lao động xã
hội là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hóa. Phân công lao động xã hội càng phát
triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hóa càng mở rộng hơn, đa dạng hơn. –
Sự phân công lao động xã hội khiến cho việc trao đổi sản phẩm trở thành tất
yếu. Khi có phân công lao động xã hội, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ
sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải có nhiều loại sản
phẩm khác nhau. Bên cạnh đó, họ cần đến sản phẩm của nhau, buộc phải trao đổi
với nhau. Phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất đồng thời làm cho lOMoAR cPSD| 61432759
năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều nên càng thúc đẩy
sự trao đổi sản phẩm.
Thứ hai: Sự tách biệt kinh tế –
Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất được hiểu
là những người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau.
Vì thế, sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế, người này
muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hóa. –
Sự tách biệt này do chế độ tư hữu về tư hữu tư liệu sản xuất quy định. Trong
chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của mỗi cá nhân
và kết quả là sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của họ. Sản xuất hàng hóa ra đời
trong chế độ chiếm hữu nô lệ.
Chính vì thế, hai điều kiện đã khẳng định phân công lao động xã hội làm cho những
người sản xuất phụ thuộc vào nhau, còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa
những người sản xuất lại chia rẽ họ, làm cho họ độc lập với nhau. Đây là một mâu
thuẫn. Mâu thuẫn này được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của
nhau. Đó là 02 điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa. .
3. Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
Lượng giá trị của hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa - Thời
gian lao động xã hội cần thiết - đơn vị đo lường lượng giá trị của hàng hóa Lượng giá trị
trong mỗi đơn vị hàng hoá chính là số lượng lao động đã hao phí để sản xuất ra hàng hóa
đó và hao phí này được tính bằng thời gian lao động để sản xuất ra hàng hóa. Tuy nhiên,
thời gian lao động ấy phải được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết.
(chứ không phải là thời gian hao phí lao động cá biệt). Đó là thời gian lao động ở mức
trung bình và được xã hội thừa nhận. Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian sản
xuất ra một đơn vị giá trị hàng hóa trong điều kiện trung bình với trình độ thành thạo trung
bình, cường độ lao động trung bình trong những điều kiện bình thường của xã hội. Vậy,
lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa là lượng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản
xuất ra đơn vị hàng hóa đó.
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian sản xuất ra một đơn vị giá trị hàng hóa
trong điều kiện trung bình với trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình
trong những điều kiện bình thường của xã hội. Vậy, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa
là lượng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra đơn vị hàng hóa đó. Trong sản
xuất, người sản xuất thường phải tìm mọi cách để giảm thời gian hao phí lao động cá biệt
của mình xuống mức thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết để có được ưu thế
trong cạnh tranh. Xét về mặt cấu thành, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa được sản lOMoAR cPSD| 61432759
xuất ra bao hàm: - Hao phí lao động quá khứ đã được kết tinh trong các yếu tố nguyên vật
liệu, thiết bị, vật tư đầu vào (hao phí lao động đã được vật hoá), giá trị của các yếu tố tư
liệu sản xuất này còn gọi là giá trị cũ. - Hao phí lao động sống của người lao động: là hao
phí lao động của người sản xuất trực tiếp tạo ra hàng hóa đó. Nếu ký hiệu G là giá trị hàng
hóa, c là hao phí lao động quá khứ để tạo ra tư liệu sản xuất, v + m là hao phí lao động
sống (lao động hiện tại) thì G = c + v + m. Trong đó c là giá trị cũ, v + m là giá trị mới.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
Thứ nhất, năng suất lao động. + Năng suất lao động là là năng lực sản xuất của người lao
động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số
lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. + Khi tăng năng suất lao động,
số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một thời gian tăng lên, mức hao phí lao động cần thiết
trong một đơn vị hàng hóa giảm xuống và làm giảm lượng giá trị trong một đơn vị hàng
hóa. Năng suất lao 12 động có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với lượng giá trị của một đơn vị
hàng hóa. + Các nhân tố tác động đến năng suất lao động gồm những yếu tố chủ yếu như:
trình độ của người lao động; trình độ tiên tiến và mức độ trang bị kỹ thuật, khoa học, công
nghệ trong quá trình sản xuất; trình độ quản lý; cường độ lao động và yếu tố tự nhiên. Thứ
hai, cường độ lao động + Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt
động lao động trong sản xuất. + Tăng cường độ lao động làm cho tổng số sản phẩm sản
xuất trong một đơn vị thời gian tăng lên song nếu các nhân tố khác không thay đổi thì hao
phí lao động cũng tăng tương ứng. Vì vậy, tổng lượng giá trị của tất cả các hàng hóa gộp
lại tăng lên. Song, lượng thời gian hao phí để sản xuất một đơn vị hàng hóa không thay
đổi, dó đó giá trị của một hàng hóa không đổi. + Tăng cường độ lao động cũng có ý nghĩa
rất quan trọng trong việc tạo ra số lượng các giá trị sử dụng nhiều hơn, góp phần thỏa mãn
tốt hơn nhu cầu của xã hội. Cường độ lao động chịu ảnh hưởng của các yếu tố sức khỏe,
thể chất, tâm lý, trình độ tay nghề thành thạo của người lao động, công tác tổ chức, kỷ luật
lao động… + Cần chú ý là tăng cường độ lao động sẽ làm tăng mức hao phí lao động của
người sản xuất trong một thời gian. Xét về mặt này, tăng cường độ lao động cũng giống
như việc kéo dài thời gian lao động. Do đó, kéo dài thời gian lao động cũng có tác động
tới giá trị giống như tăng cường độ lao động. Thứ ba, tính chất phức tạp hay giản đơn của
lao động. + Lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi có quá trình đào tạo một cách hệ
thống, chuyên sâu về chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ cũng có thể thao tác được. + Lao
động phức tạp là những hoạt động lao động yêu cầu phải trải qua một quá trình đào tạo về
kỹ năng, nghiệp vụ theo yêu cầu của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Với tính
chất khác nhau đó, nên, trong cùng một đơn vị thời gian, một hoạt động lao động phức tạp
sẽ tạo ra được nhiều lượng giá trị hơn so với lao động giản đơn. K. Marx gọi lao động phức
tạp là lao động giản đơn được nhân bội lên.
2. Bản chất và chức năng của tiền tệ. lOMoAR cPSD| 61432759
bản chất, tiền là một loại hàng hóa đặc biệt, là vật ngang giá chung cho thế giới hàng
hóa. Tiền là hình thái biểu hiện giá trị của hàng hóa. Tiền phản ánh lao động xã hội
và quan hệ giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hóa.
a) Bản chất của tiền Tiền là kết quả của quá trình phát triển sản xuất và trao đổi
hàng hóa, là sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị từ thấp đến cao. 13
- Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên: Trong lịch sử, khi sản xuất chưa phát
triển, việc trao đổi hàng hóa lúc đầu chỉ mang tính đơn lẻ, ngẫu nhiên, người ta
trao đổi trực tiếp hàng hóa có giá trị sử dụng này để đổi lấy một hàng hóa có giá
trị sử dụng khác. Hàng hóa được dùng để biểu hiện giá trị gọi là vật ngang giá.
(1m vải = 10 kg thóc) - Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng: Quá trình sản xuất
phát triển hơn, hàng hóa được sản xuất ra phong phú hơn, nhu cầu của con người
cũng đa dạng hơn, trao đổi được mở rộng và trở nên thường xuyên hơn, một
hàng hóa có thể được đem trao đổi với nhiều hàng hóa khác nhau. Trong hình
thái này vật ngang giá được mở rộng ở nhiều hàng hóa. (1m vải = 10 kg thóc,
hoặc = 1con cừu, hoặc 0,1 gr vàng…) - Hình thái chung của giá trị: Việc trao đổi
trực tiếp không còn phù hợp khi sản xuất hàng hóa phát triển cao hơn, đòi hỏi sự
hình thành vật ngang giá chung. Trong hình thái này, giá trị của các hàng hóa
đều biểu hiện giá trị của chúng ở hàng hóa đóng vai trò vật ngang giá chung. Ví
dụ: 1kg thóc, 1kg chè, 1 con cừu, 0,1 gr vàng = 1m vải (giả sử vải được chọn
làm vật ngang giá chung). Ở mỗi vùng, hàng hóa được chọn làm vật ngang giá
chung có thể khác nhau. Do đó, khi trao hàng hóa vượt khỏi phạm vi các vùng
sẽ gây khó khăn cho trao đổi. - Hình thái tiền tệ: trong hình thái này, những người
sản xuất hàng hóa quy ước thống nhất sử dụng một loại hàng hóa nhất định làm
vật ngang giá chung. Hình thái tiền của giá trị hàng hóa xuất hiện. Quá trình đó
tiếp tục được thúc đẩy đến khi những người sản xuất hàng hóa cố định yếu tố
ngang giá chung đó ở vàng hoặc bạc. Tiền vàng hoặc tiền bạc xuất hiện trở thành
vật ngang giá chung cho toàn bộ thế giới hàng hóa. Khi đó, người tiêu dùng
muốn có được một loại hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu, họ có thể sử dụng tiền để
mua hàng hóa ấy. (1m vải, 10 kg thóc, 1 con cừu = 0,1gr vàng). b) Chức năng của tiền
Phương tiện cất trữ: Tiền là đại diện cho giá trị, đại diện cho của cải nên khi tiền
xuất hiện, thay vì cất trữ hàng hóa, người dân có thể cất trữ bằng tiền. Lúc này
tiền được rút ra khỏi lưu thông, đi vào cất trữ dưới hình thái vàng, bạc và sẵn
sàng tham gia lưu thông khi cần thiết. Phương tiện thanh toán: Khi thực hiện
chức năng thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, trả tiền mua chịu hàng
hóa…Chức năng phương tiện thanh toán của tiền gắn liền với chế độ tín dụng
thương mại, tức mua bán thông qua chế độ tín dụng, thanh toán không dùng tiền
mặt mà chỉ dùng tiền trên sổ sách kế toán, hoặc tiền trong tài khoản, tiền ngân
hàng, tiền điện tử… Tiền tệ thế giới: Khi trao đổi hàng hóa mở rộng ra ngoài lOMoAR cPSD| 61432759
biên giới quốc gia, tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Lúc này tiền được dùng
làm phương tiện mua bán, thanh toán quốc tế giữa các nước với nhau. Để thực
hiện chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải là tiền vàng hoặc những đồng
tiền được công 15 nhận là phương tiện thanh toán quốc tế như USD, Euro.
3. Dịch vụ và quan hệ trao đổi trong trường hợp một số yếu tố khác hàng hóa
thông thường ở điều kiện hiện nay (trao đổi quyền sử dụng đất, mua bán chứng khoán) a) Dịch vụ
Dịch vụ là một loại hàng hóa, nhưng đó là loại hàng hóa vô hình.
Để có được các loại dịch vụ, người ta cũng phải hao phí sức lao động và mục đích của việc cung
ứng dịch vụ cũng nhằm thỏa mãn nhu cầu của người có nhu cầu về loại hình dịch vụ đó. Giá trị
của dịch vụ cũng là lao động xã hội tạo ra dịch vụ. Giá trị sử dụng của dịch vụ không phải là phục
vụ trực tiếp người cung ứng dịch vụ.
Thời kỳ C. Mác nghiên cứu, dịch vụ chưa phát triển mạnh mẽ như ngày nay. Khi đó, khu vực chiếm
ưu thế của nền kinh tế vẫn là sản xuất hàng hóa vật thể hữu hình. Khu vực dịch vụ chưa trở thành
phổ biến. Vì vậy, trong lý luận của mình, C. Mác chưa có điều kiện để trình bày về dịch vụ một
cách thật sâu sắc. Điều này làm cho nhiều người ngộ nhận cho rằng, C. Mác chỉ biết tới hàng hóa
vật thể. Trái lại, theo C. Mác, dịch vụ, nếu đó là dịch vụ cho sản xuất thì thuộc khu vực hàng hóa
cho sản xuất, còn dịch vụ cho tiêu dùng thì thuộc phạm trù hàng hóa cho tiêu dùng. Về tổng quát,
dịch vụ, cũng là một kiểu hàng hóa.
Khác với hàng hóa thông thường, dịch vụ là hàng hóa không thể cất trữ. Việc sản xuất và tiêu
dùng dịch vụ được diễn ra đồng thời. Trong điều kiện ngày nay, do sự phát triển của phân công
lao động xã hội dưới tác động của sự phát triển khoa học -công nghệ, dịch vụ ngày càng có vai trò
quan trọng trong việc thỏa mãn nhu cầu văn minh của con người.
b) Quan hệ trao đổi trong trường hợp một số yếu tố khác hàng hóa thông thường ở điều kiện ngày nay
Nền sản xuất hàng hóa ngày nay hình thành quan hệ mua bán nhiều yếu tố có đặc điểm nhận
dạng khác với hàng hóa thông thường như đã nghiên cứu. Sự khác biệt này xét theo nghĩa chúng
có các đặc trưng như: có giá trị sử dụng, có giá cả, có thể trao đổi, mua bán nhưng lại không do
hao phí lao động trực tiếp như cách tạo ra các hàng hóa thông thường khác.
Khi xuất hiện hiện tượng trao đổi, mua bán các hàng hóa đặc biệt như vậy, làm cho nhiều người
ngộ nhận cho rằng lý luận về hàng hóa của C. Mác không còn phù hợp. Thực chất do họ chưa
phân biệt được hàng hóa và những yếu tố khác hàng hóa thông thường. Sau đây sẽ xem xét quan
hệ trao đổi trong trường hợp một số yếu tố điển hình đang có nhiều tranh luận hiện nay:
-Quan hệ trong trường hợp trao đổi quyền sử dụng đất
Khi thực hiện mua bán quyền sử dụng đất, nhiều người lầm tưởng đó là mua bán đất đai. Trên
thực tế, họ trao đổi với nhau quyền sử dụng đất. lOMoAR cPSD| 61432759
Quyền sử dụng đất có giá trị sử dụng, có giá cả nhưng không do hao phí lao động tạo ra theo cách
như các hàng hóa thông thường. Giá cả của quyền sử dụng đất chịu tác động của nhiều yếu tố:
giá trị của tiền, quan hệ cung cầu, đầu cơ, sự khan hiếm, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa, gia tăng dân số...
Trong xã hội hiện đại, xuất hiện hiện tượng một bộ phận xã hội trở nên có số lượng tiền nhiều
(theo quan niệm thông thường là giàu có) do mua bán quyền sử dụng đất. Bản chất của hiện tượng này là gì?
Xét về bản chất, số lượng tiền đó chính là hệ quả của việc tiền từ túi chủ thể này chuyển sang túi
chủ thể khác. Trong trường hợp như vậy tiền là phương tiện thanh toán, không phải là thước đo
giá trị. Nhưng do thực tế, có nhiều tiền là có thể mua được các hàng hóa khác, nên gây ra sự ngộ
nhận rằng có nhiều giá trị. Do vậy, nhiều người cho rằng đất đai cũng tạo ra giá trị. Thực tế họ
chưa phân biệt được giá trị và của cải. Từng cá nhân có thể trở nên giàu có nhờ trao đổi, mua bán
quyền sử dụng đất, do so sánh số tiền mà họ bỏ ra với số tiền mà họ thu được là có chênh lệch
dương. Xét trên phạm vi toàn xã hội, không thể có một xã hội giàu có nếu chỉ mua bán quyền sử dụng đất.
- Quan hệ trong trao đổi thương hiệu (danh tiếng)
Ngày nay, thương hiệu của một doanh nghiệp cũng có thể được trao đổi, mua bán, được định giá,
tức là chúng có giá cả, thậm chí có giá cả cao. Thương hiệu hay danh tiếng là kết quả của sự nỗ
lực của sự hao phí sức lao động của người nắm giữ thương hiệu, thậm chí của nhiều người. Do
đó, giá cả của thương hiệu, nhất là những thương hiệu nổi tiếng thường rất cao. Điểm cần chú ý
là, thương hiệu chỉ có thể được hình thành dựa trên một kiểu sản xuất hàng hóa, dịch vụ thực mới có giá cả cao.
Bên cạnh đó, ngày nay có hiện tượng, một số ít cầu thủ bóng đá nổi tiếng cũng được trả giá rất
cao khi các câu lạc bộ chuyển nhượng. Sự thực, các câu lạc bộ mua bán sức lao động để thực hiện
hoạt động đá bóng trên sân cỏ. Nhưng do hoạt động đá bóng đó gắn với cơ thể sinh học của cầu
thủ, nên người ta nhầm tưởng đó là mua bán danh tiếng của anh ta. Sở dĩ giá cả của các vụ chuyển
nhượng các cầu thủ tài năng thường rất cao là vì sự khan hiếm của tài năng và những lợi ích kỳ
vọng thu được trong các trận thi đấu có sự tham gia của cầu thủ đó. Giá cả trong các vụ chuyển
nhượng như vậy vừa phản ánh giá trị hoạt động lao động đá bóng, vừa phản ánh yếu tố tài năng,
vừa phản ánh quan hệ khan hiếm, vừa phản ánh lợi ích kỳ vọng của câu lạc bộ nhận chuyển nhượng.
-Quan hệ trong trao đổi, mua bán chứng khoán, chứng quyền và một số giấy tờ có giá
Ngày nay, chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) do các công ty, doanh nghiệp cổ phần phát hành,
chứng quyền do các công ty kinh doanh chứng khoán chứng nhận và một số loại giấy tờ có giá
(ngân phiếu, thương phiếu) cũng có thể mua bán, trao đổi và đem lại lượng tiền lớn hơn cho người mua bán.
Chứng khoán, chứng quyền, các loại giấy tờ có giá khác cũng có một số đặc trưng như hàng hóa,
mang lại thu nhập cho người mua bán. Sự phát triển của các giao dịch mua bán chứng khoán,
chứng quyền dần thúc đẩy hình thành một loại thị trường yếu tố có tính hàng hóa phái sinh, phân lOMoAR cPSD| 61432759
biệt với thị trường hàng hóa (dịch vụ thực) -thị trường chứng khoán, chứng quyền. C. Mác gọi
những hàng hóa này là tư bản giả, để phân biệt với tư bản tham gia quá trình sản xuất, trao đổi
hàng hóa thực trong nền kinh tế.
Để có thể được mua bán các loại chứng khoán, chứng quyền hoặc giấy tờ có giá đó phải dựa trên
cơ sở sự tồn tại của một tổ chức sản xuất kinh doanh có thực. Người ta không mua các loại chứng
khoán, chứng quyền, giấy tờ có giá không gắn với một chủ thể sản xuất kinh doanh thực trong
nền kinh tế. Do đó, chứng khoán, chứng quyền là loại yếu tố phái sinh, nó có tính hàng hóa, bản
thân chúng không phải là hàng hóa như hàng hóa thông thường.
Sự giàu có của các cá nhân có được do số lượng tiền tăng lên sau mỗi giao dịch cũng thực chất là
sự chuyển tiền từ người khác vào trong túi của họ. Trong trường hợp này tiền cũng thực hiện
chức năng thanh toán, không phản ánh giá trị của chứng khoán. Giá cả của chứng khoán phản
ánh lợi ích kỳ vọng mà người mua có thể có được. Xã hội cần phải dựa trên một nền sản xuất có
thực mới có thể giàu có được. Toàn thể xã hội không thể giàu có được bằng con đường duy nhất
là buôn bán chứng khoán, chứng quyền.
Mặc dù thị trường chứng khoán, chứng quyền là một kênh rất quan trọng để một số chủ thể làm
giàu và thúc đẩy các giao dịch vốn cho nền kinh tế, song thực tế cũng cho thấy, có nhiều người
giàu lên, cũng có nhiều người rơi vào tình trạng khánh kiệt khi chứng khoán không mua bán đượ
6. Thị trường và vai trò của thị trường. *Thị trường:
Thị trường là tổng hòa những quan hệ kinh tế, trong đó nhu cầu của các chủ thể được đáp ứng
thông qua việc trao đổi, mua bán với sự xác định giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ tương ứng
với trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất xã hội.
Như vậy, thị trường có thể được nhận diện ở cấp độ cụ thể, quan sát được như chợ, cửa hàng,
quầy hàng lưu động, phòng giao dịch hay siêu thị và nhiều hình thức tổ chức giao dịch, mua bán khác.
Ở cấp độ trừu tượng hơn, thị trường cũng có thể được nhận diện thông qua các mối quan hệ liên
quan đến trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ trong xã hội, được hình thành do những điều kiện
lịch sử, kinh tế, xã hội nhất định. Theo nghĩa này, thị trường là tổng thể các mối quan hệ kinh tế
gồm cung, cầu, giá cả; quan hệ hàng -tiền; quan hệ giá trị, giá trị sử dụng; quan hệ hợp tác, cạnh
tranh; quan hệ trong nước, ngoài nước... Đây cũng là các yếu tố của thị trường.
*vai trò của thị trường:
Vai trò của thị trường luôn không tách rời với cơ chế thị trường. Thị trường trở nên sống động
bởi có sự vận hành của cơ chế thị trường.
Cơ chế thị trường là hệ thống các quan hệ mang tính tự điều chỉnh tuân theo yêu cầu của các quy luật kinh tế. lOMoAR cPSD| 61432759
Cơ chế thị trường là phương thức cơ bản để phân phối và sử dụng các nguồn vốn, tài nguyên,
công nghệ, sức lao động, thông tin, trí tuệ... trong nền kinh tế thị trường. Đây là một kiểu cơ chế
vận hành nền kinh tế mang tính khách quan, do bản thân nền sản xuất hàng hóa hình thành. Cơ
chế thị trường được A. Smith ví như là một "bàn tay vô hình" có khả năng tự điều chỉnh các quan hệ kinh tế.
7. Nền kinh tế thị trường và đặc trưng của nền kinh tế trị trường.
a) Nền kinh tế thị trường * Khái niệm
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường. Đó là nền kinh tế
hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thông qua thị trường,
chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường.
Sự hình thành kinh tế thị trường là khách quan trong lịch sử: từ kinh tế tự nhiên, tự túc, kinh tế
hàng hóa, rồi từ kinh tế hàng hóa phát triển thành kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường cũng trải
qua quá trình phát triển ở các trình độ khác nhau từ kinh tế thị trường sơ khai đến kinh tế thị
trường hiện đại như ngày nay. Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại.
* Đặc trưng phổ biến của nền kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường đã phát triển qua nhiều giai đoạn với nhiều mô hình khác nhau, các nền kinh
tế thị trường có những đặc trưng chung bao gồm:
Thứ nhất, có sự đa dạng của các chủ thể kinh tế, nhiều hình thức sở hữu. Các chủ thể kinh tế bình
đẳng trước pháp luật.
Thứ hai, thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực xã hội thông qua
hoạt động của các thị trường bộ phận như thị trường hàng hóa, thị trường dịch vụ, thị trường
sức lao động, thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường khoa học - công nghệ...
Thứ ba, giá cả được hình thành theo nguyên tắc thị trường; cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là
động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh; động lực trực tiếp của các chủ thể sản xuất
kinh doanh là lợi nhuận và lợi ích kinh tế -xã hội khác; nhà nước là chủ thể thực hiện chức năng
quản lý, chức năng kinh tế; thực hiện khắc phục những khuyết tật của thị trường, thúc đẩy những
yếu tố tích cực, đảm bảo sự bình đẳng xã hội và sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
Thứ tư, là nền kinh tế mở, thị trường trong nước quan hệ mật thiết với thị trường quốc tế.
Các đặc trưng trên mang tính phổ biến của mọi nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, tùy theo điều
kiện lịch sử cụ thể, tùy theo chế độ chính trị -xã hội của mỗi quốc gia, ngoài những đặc trưng
chung, mỗi nền kinh tế thị trường quốc gia có thể có đặc trưng riêng, tạo nên tính đặc thù và các
mô hình kinh tế thị trường
8. Vai trò CỦA MỘT SỐ CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG lOMoAR cPSD| 61432759
Có rất nhiều chủ thể khác nhau tham gia trị trường và mỗi chủ thể có những vai trò quan trọng
riêng. Sau đây, chúng ta sẽ xem xét vai trò của một số chủ thể chính, đó là: người sản xuất, người
tiêu dùng, các chủ thể trung gian trong thị trường và nhà nước. 1. Người sản xuất
Người sản xuất hàng hóa là những người sản xuất và cung cấp hàng hóa, dịch vụ ra thị trường
nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Người sản xuất bao gồm các nhà sản xuất, đầu tư,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ... Họ là những người trực tiếp tạo ra của cải vật chất, sản phẩm cho
xã hội để phục vụ tiêu dùng.
Người sản xuất là những người sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất, kinh doanh và thu lợi
nhuận. Nhiệm vụ của họ không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu hiện tại của xã hội, mà còn tạo ra và
phục vụ cho những nhu cầu trong tương lai với mục tiêu đạt lợi nhuận tối đa trong điều kiện
nguồn lực có hạn. Vì vậy, người sản xuất luôn phải quan tâm đến việc lựa chọn sản xuất hàng hóa
nào, số lượng bao nhiêu, sản xuất với các yếu tố nào để có lợi nhất.
Ngoài mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, người sản xuất cần phải có trách nhiệm đối với con người;
trách nhiệm cung cấp những hàng hóa, dịch vụ không làm tổn hại tới sức khỏe và lợi ích của con người trong xã hội. 2. Người tiêu dùng
Người tiêu dùng là những người mua hàng hóa, dịch vụ trên thị trường để thỏa mãn nhu cầu tiêu
dùng. Sức mua của người tiêu dùng là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của người sản
xuất. Sự phát triển đa dạng về nhu cầu của người tiêu dùng là động lực quan trọng của sự phát
triển sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất.
Người tiêu dùng có vai trò rất quan trọng trong định hướng sản xuất. Do đó, trong điều kiện nền
kinh tế thị trường, ngoài việc thỏa mãn nhu cầu của mình, người tiêu dùng cần phải có trách
nhiệm đối với sự phát triển bền vững của xã hội.
Lưu ý: Việc phân chia người sản xuất, người tiêu dùng chỉ có tính chất tương đối để thấy được
chức năng chính của các chủ thể này khi tham gia thị trường. Trên thực tế, doanh nghiệp luôn
đóng vai trò vừa là người mua cũng vừa là người bán.
3. Các chủ thể trung gian trong thị trường
Chủ thể trung gian là những cá nhân, tổ chức đảm nhiệm vai trò cầu nối giữa các chủ thể sản xuất,
tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.
Do sự phát triển của sản xuất và trao đổi dưới tác động của phân công lao động xã hội, làm cho
sự tách biệt tương đối giữa sản xuất và trao đổi ngày càng sâu sắc; trên cơ sở đó xuất hiện những
chủ thể trung gian trong thị trường. Những chủ thể này có vai trò ngày càng quan trọng để kết
nối, trao đổi thông tin trong các quan hệ mua -bán.
Nhờ vai trò của các chủ thể trung gian này mà nền kinh tế thị trường trở nên sống động, linh hoạt
hơn. Hoạt động của các chủ thể trung gian trong thị trường làm tăng cơ hội thực hiện giá trị của lOMoAR cPSD| 61432759
hàng hóa cũng như thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Các chủ thể trung gian làm tăng sự
kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng, làm cho sản xuất và tiêu dùng trở nên ăn khớp với nhau.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay, các chủ thể trung gian thị trường không
chỉ có các trung gian thương nhân mà còn rất nhiều các chủ thể trung gian phong phú trên tất cả
các quan hệ kinh tế như: trung gian môi giới chứng khoán, trung gian môi giới nhà đất, trung gian
môi giới khoa học -công nghệ... Các trung gian trong thị trường không những hoạt động trên
phạm vi thị trường trong nước mà còn trên phạm vi quốc tế. Bên cạnh đó cũng có nhiều loại hình
trung gian không phù hợp với các chuẩn mực đạo đức (lừa đảo, môi giới bất hợp pháp...) và cần được loại trừ. 4. Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, xét về vai trò kinh tế, nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về kinh tế, đồng thời thực hiện những biện pháp để khắc phục những khuyết tật của thị trường.
Với trách nhiệm như vậy, một mặt, nhà nước thực hiện quản trị phát triển nền kinh tế thông qua
việc tạo lập môi trường kinh tế tốt nhất cho các chủ thể kinh tế phát huy sức sáng tạo của họ.
Việc tạo ra các rào cản đối với hoạt động sản xuất kinh doanh từ phía nhà nước sẽ kìm hãm động
lực sáng tạo của các chủ thể sản xuất kinh doanh. Các rào cản như vậy phải được loại bỏ. Việc này
đòi hỏi mỗi cá nhân có trách nhiệm trong bộ máy quản lý nhà nước cần phải nhận thức được
trách nhiệm của mình là thúc đẩy phát triển, không gây cản trở sự phát triển của nền kinh tế thị trường.
Cùng với đó, nhà nước còn sử dụng các công cụ kinh tế để khắc phục các khuyết tật của nền kinh
tế thị trường, làm cho nền kinh tế thị trường hoạt động hiệu quả.
9. Các quy luật kinh tế cơ bản của nền kinh tế thị trường:
- Quy luật giá trị:
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá. ở đâu có sản xuất
và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị.
Quy luật giá trị là quy luật chi phối cơ chế thị trường và chi phối các quy luật kinh
tế khác, các quy luật kinh tế khác là biểu hiện yêu cầu của quy luật giá trị mà thôi..
Quy luật giá trị quy.ết định giá cả hàng hoá, dịch vụ, mà giá cả là tín hiệu nhạy bén
nhất của cơ chế thị trường .
Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải được tiến hành trên
cơ sở của việc hao phí lao động xã hội cần thiết: Trong sản xuất nó đòi hỏi người
sản xuất luôn luôn có ý thức tìm cách hạ thấp hao phí lao động cá biệt xuống nhỏ
hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết. lOMoAR cPSD| 61432759
Trong lĩnh vực sản xuất :Đối với việc sản xuất một thứ hàng hóa riêng biệt thì yêu
cầu của quy luật giá trị được biểu hiện ở chỗ: hàng hoá của người sản xuất muốn bán
được trên thị trường, muốn được xã hội thừa nhận thì lượng giá trị của một hàng hoá
cá biệt phải phù hợp với thời gian lao động xã hội cần thiết. Đối với một loại hàng
hoá thì yêu cầu quy luật giá trị thể hiện là tổng giá trị của hàng hóa phải phù hợp với
nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội .
Trong lĩnh vực trao đổi : Việc trao đổi phải tiến hành theo nguyên tắc ngang giá. Quy
luật giá trị biểu hiện sự hoạt động của mình thông qua sự vận động của giá cả xung
quanh giá trị. Giá cả phụ thuộc vào giá trị, giá trị là cơ sở của giá cả, những hàng
hoá có hao phí lao động lớn thì giá trị của nó lớn dẫn đến giá cả cao và ngược lại.
Đối với mỗi hàng hoá thì giá cả hàng hoá có thể bằng hoặc nhỏ hơn hoặc lớn hơn
giá trị nhưng đối với toàn bộ hàng hóa của xã hội thì chúng ta luôn luôn có tổng giá
cả hàng hóa bằng tổng giá trị.
Tác dụng của quy luật giá trị: quy luật giá trị tự phát điều tiết việc sản xuất và lưu
thông hàng hóa thông qua sự biến động của cung - cầu thể hiện qua giá cả trên thị trường. - Quy luật cung cầu :
Cung phản ánh khối lượng sản phẩm hàng hoá được sản xuất và đưa ra thị trường để
thực hiện (để bán). cung do sản xuất quyết định, nó không đồng nhất với sản xuất .
Cầu phản ánh nhu cầu tiêu dùng có khả năng thanh toán của xã hội. Do đó, cầu không
đồng nhất với tiêu dùng, vì nó không phải là nhu cầu tự nhiên, nhu cầu bất kì theo
nguyện vọng tiêu dùng chủ quan của con người, mà phụ thuộc vào khả năng thanh toán.
Cung - Cầu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, thường xuyên tác động lẫn nhau trên
thị trường, ở đâu có thị trường thì ở đó có quy luật cung - cầu tồn tại và hoạt động
một cách khách quan. Cung - cầu tác động lẫn nhau:
Cầu xác định cung và ngược lại cung xác định cầu. Cầu xác định khối lượng, chất
lượng và chủng loại cung về hàng hoá. những hàng hoá nào được tiêu thụ thì mới
được tái sản xuất. Ngược lại, cung tạo ra cầu, kích thích tăng cầu thông qua phát
triển số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá, hình thức, quy cách và giá cả của nó.
Cung - cầu tác động lẫn nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả. Đây là sự tác động
phức tạp theo nhiều hướng và nhiều mức độ khác nhau.
Quy luật cung - cầu tác động khách quan và rất quan trọng. Nếu nhận thức được
chúng thì chúng ta vận dụng để tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh theo lOMoAR cPSD| 61432759
chiều hướng có lợi cho quá trình tái sản xuất xã hội. Nhà nước có thể vận dụng quy
luật cung - cầu thông qua các chính sách, các biện pháp kinh tế như: giá cả, lợi nhuận,
tín dụng, hợp đồng kinh tế, thuế, thay đổi cơ cấu tiêu dùng. Để tác động vào các hoạt
động kinh tế theo quy luật cung - cầu, duy trì những tỷ lệ cân đối cung cầu một cách lành mạnh và hợp lý. - Quy luật canh tranh:
Cạnh tranh là sự tác động lẫn nhau giữa các nhóm người, giữa người mua và người
bán hay giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Hai nhóm này tác động lẫn nhau
với tư cách là một thể thống nhất, một hợp lực. ở đây cá nhân chỉ tác động với tư
cách là một bộ phận, một lực lượng xã hội, là một nguyên tử của một khối. Chính
dưới hình thái đó mà cạnh tranh đã vạch rõ cái tính chất xã hội của sản xuất và tiêu dùng.
Bên canh tranh yếu hơn cả cũng đồng thời là cái bên mà ở đó mỗi cá nhân đều hoạt
động một cách độc lập với đông đảo những người cạnh tranh với mình và thường
thường là trực tiếp chống lại những người đó. Chính vì sự phụ thuộc lẫn nhau giữa
một người cạnh tranh cá biệt với những người khác lại càng thêm rõ ràng. Trái lại
bên mạnh hơn bao giờ cũng đương đầu với đối phương với tư cách là một chỉnh thể ít nhiều thống nhất.
Người mua làm cho giá thị trường càng thấp, càng tốt. Mỗi người chỉ quan tâm đến
đồng nghiệp trong chừng mực thấy đi với họ có lợi hơn việc chống lại họ. Khi một
bên yếu hơn bên kia thì hành động chung sẽ chấm dứt, mỗi người sẽ tự lực xoay sở
lấy. Nếu một bên chiếm ưu thế thì mỗi người bên đó đều sẽ được lợi, tất cả diễn ra
như là họ cùng nhau thực hiện độc quyền chung vậy.
Cạnh tranh như một tất yếu trong nền kinh tế hàng hoá. Cạnh tranh có tác dụng san
bằng các giá cả mấp mô để có giá cả trung bình, giá trị thị trường và giá cả sản xuất
đều hình thành từ cạnh tranh trong nội bộ ngành và giữa các ngành.
Tóm lại: Trong cơ chế thị trường, quy luật cạnh tranh như một công cụ, phương tiện
gây áp lực cực mạnh thực hiện yêu cầu của quy luật giá trị, cạnh tranh trong một cơ
chế vận động chứ không phải cạnh tranh nói chung.
- Quy luật lưu thông tiền tệ :
Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật xác định lượng tiền cần cho lưu thông. Lượng
tiền cần cho lưu thông chính bằng tỷ số giữa tổng giá cả hàng hoá với tốc độ lưu thông tư bản . lOMoAR cPSD| 61432759
Trong thực tế: lượng tiền cần cho lưu thông bằng tỷ số giữa tổng giá cả hàng hóa trừ
đi tổng tiền khấu trừ, trừ đi tổng giá cả bán chịu cộng với tổng tiền thanh toán với
tốc độ lưu thông tư bản.
Quy luật lưu thông tiền tệ tuân theo các nguyên lý sau:
Lưu thông tiền tệ và cơ chế lưu thông tiền tệ do cơ chế lưu thông hàng hoá quyết định.
Tiền đại diện cho người mua, hàng đại diện cho người bán. Lưu thông tiền tệ có quan
hệ chặt chẽ với tiền - hàng, mua - bán, giá cả - tiền tệ.
Kinh tế hàng hoá trên một ý nghĩa nhất định có thể gọi là kinh tế tiền tệ, quyết định
cơ chế lưu thông tiền tệ.
Mặt khác cơ chế lưu thông tiền tệ còn phụ thuộc vào cơ chế xuất nhập khẩu, cơ chế
quản lý kim loại quý, cơ chế kinh doanh tiền của ngân hàng.
Nếu quy luật canh tranh, quy luật cung - cầu làm giá hàng hoá vận động, san bằng
thì quy luật lưu thông tiền tệ giữa mối liên hệ cân bằng giữa hàng và tiền.
Ngoài ra còn một số loại quy luật khác như: quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng
giảm, quy luật khủng hoảng kinh tế , quy luật tâm lý… cũng ảnh hưởng đến cơ chế thị trường. CHƯƠNG 3:
1. Công thức chung của tư bản.
Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định nhưng bản
thân tiền không phải là tư bản. Tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiện
nhất định, khi chúng được sử dụng để bóc lột lao động của người khác.
Theo đó tiền được chia thành là tiền thông thường hoặc tiền tư bản. Tiền thông
thường sẽ vận động theo công thức: H – T – H (hàng – tiền – hàng), nghĩa là sự
chuyển hoá của hàng hoá thành tiền, rồi tiền lại chuyển hoá thành hàng hoá. Trong
trường hợp tiền được coi là tư bản, thì vận động theo công thức: T – H – T (tiền –
hàng – tiền), tức là sự chuyển hoá của tiền thành hàng hoá, rồi hàng hoá lại chuyển
hoá ngược lại thành tiền. Bất cứ tiền nào vận động theo công thức T – H – T đều
chuyển hoá thành tư bản.
Giữa tiền thông thường hoặc tiền tư bản thì cả hai sự vận động đều do hai giai đoạn
đối lập nhau là mua và bán hợp thành, trong mỗi giai đoạn đều có hai nhân tố vật
chất đối diện nhau là tiền và hàng, và hai người có quan hệ kinh tế với nhau là người mua và người bán.
Bên cạnh đó giữa hai công thức đó có những điểm khác nhau về chất. Lưu thông
hàng hoá giản đơn bắt đầu bằng việc bán (H – T) và kết thúc bằng việc mua (T – H). lOMoAR cPSD| 61432759
Điểm xuất phát và điểm kết thúc của quá trình đều là hàng hoá, còn tiền chỉ đóng
vai trò trung gian. Ngược lại, lưu thông của tư bản bắt đầu bằng việc mua (T – H) và
kết thúc bằng việc bán (H – T). Tiền vừa là điểm xuất phát, vừa là điểm kết thúc của
quá trình, còn hàng hoá chỉ đóng vai trò trung gian; tiền ở đây không phải là chi ra
dứt khoát mà chỉ là ứng ra rồi thu về.
Mục đích của lưu thông hàng hoá giản đơn là giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu,
nên các hàng hoá trao đổi phải có giá trị sử dụng khác nhau. Sự vận động sẽ kết
thúc ở giai đoạn thứ hai, khi những người trao đổi có được giá trị sử dụng mà người
đó cần đến. Còn mục đích của lưu thông tư bản không phải là giá trị sử dụng, mà là
giá trị, hơn nữa giá trị tăng thêm. Vậy công thức chung của tư bản là gì thì theo
C.Mác gọi công thức T – H – T’ là công thức chung của tư bản. Nguyên nhân công
thức T – H – T’ là công thức chung của tư bản vì sự vận động của mọi tư bản đều
biểu hiện trong lưu thông dưới dạng khái quát đó, dù là tư bản thương nghiệp, tư
bản công nghiệp hay tư bản cho vay.
2. Hàng hóa sức lao động
Theo C.Mác, sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất
và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó
đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó.
Để sức lao động trở thành hàng hóa cần đáp ứng hai điều kiện sau:
– Một là người lao động được tự do về thân thể.
– Hai là người lao động không có đủ các tư liệu sản xuất để tự kết hợp vớisức lao
động của mình tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ phải bán sức lao động.
Hàng hóa sức lao động có hai thuộc tính cơ bản là giá trị và giá trị sử dụng. Cụ thể:
– Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng do một số lượng lao động xã hộicần thiết
để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định. Giá trị của hàng hóa sức
lao động được tạo thành bởi các yếu tố sau:
+ Giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (cả vật chất, tinh thần) để tái sản xuất sức lao động.
+ Phí tổn đào tạo người lao động
+ Giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết bao gồm vật chất và tinh thần của người lao động.
– Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng là để thỏa mãn nhu cầucủa người mua.
Người mua hàng hóa sức lao động mong muốn thỏa mãn nhu cầu có giá trị lớn hơn,
giá trị tăng thêm. Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động được thể hiện trong
quá trình sử dụng sức lao động. lOMoAR cPSD| 61432759
4. Tư bản bất biến, tư bản khả biến và tiền công.
Tư bản khả biến là khái niệm trong kinh tế chính trị Marx-Lenin dùng để chỉ về
một bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động (trả lương, thuê mướn công nhân),
đại lượng của nó thay đổi trong quá trình sản xuất và tạo ra giá trị thặng dư. Tư
bản khả biến được Marx ký hiệu là v. Tư bản khả biến có thể tạo ra sự biến đổi về giá trị.
Tư bản bất biến là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để sản xuất ra giá trị
thặng dư, còn tư bản khả biến có vai trò quyết định trong quá trình đó, vì nó chính
là bộ phận tư bản đã lớn lên.
Tư bản bất biến là một khái niệm của kinh tế chính trị Marx-Lenin dùng để chỉ
một bộ phận tư bản dùng để mua tư liệu sản xuất và giá trị được bảo toàn và
chuyển vào sản phẩm. Tư bản bất biến được Karl Marx ký hiệu là c. Tư bản bất
biến bao gồm cả nguyên liệu. Tư bản bất biến là tư bản vật chất, để phân biệt với
tư bản khả biến là tư bản bỏ ra mua sức lao động
Tiền công lao động hay tiền công là khái niệm của kinh tế chính trị MarxLenin,
biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động và là giá cả của hàng hóa
sức lao động. Theo C.Mác, có thể dễ có sự lầm tưởng, trong xã hội tư bản, tiền
công là giá cả của lao động vì nhà tư bản trả tiền công cho công nhân sau khi
công nhân đã lao động để sản xuất ra hàng hóa và tiền công được trả theo thời
gian lao động (giờ, ngày, tuần, tháng...), hoặc theo số lượng hàng hóa đã sản xuất
được. Tuy nhiên, cái mà nhà tư bản mua của công nhân không phải là lao động,
mà là sức lao động. Tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động, mà
chỉ là giá trị hay giá cả của hàng hóa sức lao động.
4.Tuần hoàn và chu chuyển tư bản, tư bản cố định và tư bản lưu động
Sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất biện chúng giữa quá trình sản xuất và quá
trình lưu thông. Lưu thông của tư bản, theo nghĩa rộng, là sự vận động của tư bản,
nhờ đó mà tư bản lớn lên và thu được giá trị thặng dư, cũng tức là sự tuần hoàn và chu chuyển của tư bản.
Sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất biện chúng giữa quá trình sản xuất và quá
trình lưu thông. Lưu thông của tư bản, theo nghĩa rộng, là sự vận động của tư bản,
nhờ đó mà tư bản lớn lên và thu được giá trị thặng dư, cũng tức là sự tuần hoàn và
chu chuyển của tư bản. a) Tuần hoàn của tư bản
Tư bản công nghiệp (với nghĩa các ngành sản xuất vật chất), trong quá trình tuần
hoàn đều vận động theo công thức: lOMoAR cPSD| 61432759
Sự vận động này trải qua ba giai đoạn: hai giai đoạn lưu thông và một giai đoạn sản xuất.
-Giai đoạn thứ nhất - giai đoạn lưu thông:
Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường các yếu tố sản xuất để mua tư liệu sản xuất và sức lao động.
Quá trình lưu thông đó được biểu thị như sau:
Giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản tiền tệ, chức năng giai đoạn này là
mua các yếu tố cho quá trình sản xuất, tức là biến tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất.
Giai đoạn thứ hai - giai đoạn sản xuất:
Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất (TBSX), có chức
năng thực hiện sự kết hợp hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất ra
hàng hóa là trong giá trị của nó có giá trị thặng dư. Trong các giai đoạn tuần hoàn
của tư bản thì giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyết định nhất, vì nó gắn trực tiếp với
mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Kết thúc của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa.
- Giai đoạn thứ ba - giai đoạn lưu thông: H' - T'
Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản hàng hóa, chức năng là thực
hiện giá trị của khối lượng hàng hóa đã sản xuất ra trong đó đã bao hàm một lượng
giá trị thặng dư. Trong giai đoạn này, nhà tư bản trở lại thị trường với tư cách là
người bán hàng. Hàng hóa của nhà tư bản được chuyển hóa thành tiền. Kết thúc giai
đoạn thứ ba, tư bản hàng hóa chuyển hóa thành tư bản tiền tệ. Đến đây, mục đích
của nhà tư bản đã được thực hiện, tư bản quay trở lại hình thái ban đầu trong tay chủ
của nó nhưng với số lượng lớn hơn trước. lOMoAR cPSD| 61432759
Sự vận động của tư bản qua ba giai đoạn nói trên là sự vận động có tinh tuần hoàn:
tư bản ứng ra dưới hình thái tiền và rồi đến khi quay trở về cũng dưới hình thái tiền
có kèm theo giá trị thặng dư. Quá trình đó tiếp tục được lặp đi, lặp lại không ngừng
gọi là sự vận động tuần hoàn của tư bản.
Vậy, tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục của tư bản trải qua ba giai đoạn,
lần lượt mang ba hình thái khác nhau, thực hiện ba chức năng khác nhau để rồi lại
quay trở về hình thái ban đầu có kèm theo giá trị thặng dư.
Tuần hoàn của tư bản chỉ có thể tiến hành bình thường trong điều kiện các giai đoạn
khác nhau của nó không ngừng được chuyển tiếp. Mặc khác, tư bản phải nằm lại ở
mỗi gia đoạn tuần hoàn trong một thời gian nhất định. Hay nói cách khác, tuần hoàn
của tư bản chỉ tiến hành một cách bình thường khi hai điều kiện sau đây được thỏa
mãn: một là, các giai đoạn của chúng diễn ra liên tục; hai là, các hình thái tư bản
cùng tồn tại và được chuyển hóa một cách đều đặn. Vì vậy, tư bản là một sự vận
động tuần hoàn của tư bản, là sư vận động liên tục không ngừng.
Phù hợp với ba giai đoạn tuần hoàn của tư bản có ba hình thái của tư bản công
nghiệp: tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất và tư bản hàng hóa.
Để tái sản xuất diễn ra một cách bình thường thì tư bản xã hội cũng như từng tư bản
cá biệt đều tồn tại cùng một lúc dưới cả ba hình thái. Ba hình thái của tư bản không
phải là ba loại tư bản khác nhau, mà là ba hình thái của một tư bản công nghiệp biểu
hiện trong quá trình vận động của nó. Song cũng trong quá trình vận động ấy đã
chứa đựng khả năng tách rời của ba hình thái tư bản. Trong quá trình phát triển của
chủ nghĩa tư bản, khả năng tách rời đó đã làm xuất hiện tư bản thương nghiệp và tư
bản cho vay, hình thành các tập đoàn khác trong giai cấp tư bản: chủ công nghiệp,
nhà buôn, chủ ngân hàng, v.v. chia nhau giá trị thặng dư. Nghiên cứu tuần hoàn của
tư bản là nghiên cứu mặt chất trong sự vận động của tư bản, còn mặt lượng của sự
vận động được nghiên cứu ở chu chuyển của tư bản.
b) Chu chuyển của tư bản
Sự tuần hòan của tư bản, nếu xét nó với tư cách là một quá trình định kỳ đổi mới và
thường xuyên lặp đi lặp lại thì gọi là chu chuyển của tư bản. Những tư bản khác nhau
chu chuyển với vận tốc khác nhau tùy theo thời gian sản xuất và lưu thông của hàng
hóa. Thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông.
- Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm ở trong lĩnh vực sản xuất.
Thời gian sản xuất bao gồm: thời gian lao động, thời gian gián đoạn lao động và thời
gian dự trữ sản xuất. Thời gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn là do tác động của lOMoAR cPSD| 61432759
nhiều nhân tố như: tính chất của ngành sản xuất; quy mô hoặc chất lượng các sản
phẩm: sự tác động của quá trình tự nhiên đối với sản xuất; năng suất lao động và
tình trạng dự trữ các yếu tố sản xuất.
- Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông. Trong
thờigian lưu thông, tư bản không làm chức năng sản xuất, do đó không sản xuất ra
hàng hóa, cũng không sản xuất ra giá trị thặng dư. Thời gian lưu thông gồm có thời
gian mua và thời gian bán hàng hóa. Thời gian lưu thông dài hay ngắn phụ thuộc
các nhân tố sau đây: thị trường xa hay gần, tình hình thị trường xấu hay tốt, trình
độ phát triển của vận tải và giao thông.
Thời gian chu chuyển của tư bản càng rút ngắn thì càng tạo điều kiện cho giá trị
thặng dư được sản xuất ra nhiều hơn, tư bản càng lớn nhanh hơn.
Các loại tư bản khác nhau hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau thì số vòng chu
chuyển không giống nhau. Để so sánh tốc độ vận động của các tư bản khác nhau,
người ta tính số vòng chu chuyển của các loại tư bản đó trong một thời gian nhất định.
Tốc độ chu chuyển của tư bản là số vòng (lần) chu chuyển của tư bản trong một năm.
Ta có công thức số vòng chu chuyển của tư bản như sau: n = CH/ch
Trong đó: (n) lả số vòng (hay lần) chu chuyển của tư bản; (CH) là thời gian trong
năm; (ch) là thời gian cho 1 vòng chu chuyển của tư bản.
Ví dụ: Một tư bản có thời gian 1 vòng chu chuyển là 6 tháng thì tốc độ chu chuyển trong năm là:
n = 12 tháng / 6 tháng = 2 vòng
Như vậy, tốc độ chu chuyển của tư bản tỷ lệ nghịch với thời gian 1 vòng chu chuyển
của tư bản. Muốn tăng tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm thời gian sản xuất và
thời gian lưu thông của nó. c) Tư bản cố định và tư bản lưu động
Các bộ phận khác nhau của tư bản sản xuất không chu chuyển giống nhau. Căn cứ
vào phương thức chu chuyển khác nhau của từng bộ phận tư bản, người ta chia tư
bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động.
Tư bản cố định là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà
xưởng, v.v. về hiện vật tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó
bị khấu hao từng phần và được chuyển dần vào sản phẩm mới được sản xuất ra. lOMoAR cPSD| 61432759
Tư bản cố định được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất và nó bị hao mòn
dần trong quá trình sản xuất. Có hai lại hao mòn là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình:
Hao mòn hữu hình là hao mòn về vật chất, hao mòn về cơ học có thể nhận thấy. Hao
mòn hữu hình do quá trình sử dụng và sự tác động của tự nhiên làm cho các bộ phận
của tư bản cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ hỏng và phải được thay thế.
Hao mòn vô hình là sự hao mòn thuần túy về mặt giá trị. Hao mòn vô hình xảy ra
ngay cả khi máy móc còn tốt nhưng bị mất giá vì xuất hiện các máy móc hiện đại
hơn, rẻ hơn hoặc có giá trị tương đương nhưng công suất cao hơn. Để tránh hao mòn
vô hình, các nhà tư bản tìm cách kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động,
tăng ca kíp làm việc, v.v. nhằm tận dụng công suất của máy móc trong thời gian càng ngắn càng tốt.
Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định là một biện pháp quan trọng để tăng quỹ
khấu hao tài sản cố định, làm cho lượng tư bản sử dụng tăng lên, tránh được thiệt
hại hao mòn hữu hình do tự nhiên phá hủy và hao mòn vô hình gây ra. Nhờ đó mà
có điều kiện đổi mới thiết bị nhanh.
- Tư bản lưui động là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng nguyên liệu, nhiên
liệu, vật liệu phụ, sức lao động, V.V., giá trị của nó lưu thông toàn bộ cùng với sản
phẩm và được hoàn lại toàn bộ cho các nhà tư bản sau mỗi quá trình sản xuất.
Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định. Việc tăng tốc độ chu chuyển
của tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng. Một mặt, tốc độ chu chuyển của tư bản
lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng tư bản lưu động được sử dụng trong năm, do đó
tiết kiệm được tư bản ứng trước; mặt khác, do tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu
động khả biến làm cho tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư hàng năm tăng lên.
Căn cứ để phân chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động là
phương thức chuyển dịch giá trị khác nhau của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất
5. Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư. Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Tỷ suất giá trị thặng dư