A.Vivaldi (1678 – 1741)
Không chỉ là người biểu diễn Violon nổi tiếng mà còn là nhà soạn nhạc, chỉ huy
và sư phạm. Sáng tác của ông không chỉ cho Violon và hoạt động âm nhạc không
chỉ trong phạm vi nước Ý của mình.
Vivaldi là nhà soạn nhạc opéra, ngoài opéra (39) ông còn có những cantat thể tục
(23), aria và những tác phẩm nghi lễ. Sáng tác nhạc đàn gồm: giao hưởng (23),
Sonate (73), Trio-sonate, concertosolo (447), và concerto grosso (46).
Các concerto cho các nhạc cụ khác nhau: Violon, Viole, sáo, hautbois, fagott,
Cor, Trompette, mandoline... Ông là người định hình cho liên khúc concerto ba
chương: Allegro, Largo, Allegro. Trong rất nhiều concerto, nổi bật hai chủ đề và
các đoạn chen với đặc điểm của phần phát triển. Các dấu hiệu này của Sonate
allegro cổ điển, được khẳng định trong sáng tác của Vivaldi, là tiền đề cho phong
cách Sonate allegro cổ điển.
Vivaldi còn yêu thích nhạc có tiêu đề như Bão tố trên biển cả, Thôn dã, Đêm,
Bốn mùa... Nội dung tiêu đề trong "Bốn mùa" của ông là một quá trình của thiên
nhiên, là liên khúc gồm bốn concerto - grosso; là những bức tranh thiên nhiên thơ
mộng, miêu tả các mùa trong năm.
Âm nhạc của ông, nổi bật với ngôn ngữ âm nhạc sinh động, biểu cảm. Tính chất
trữ tình trong các chương chậm, tính chất rực rỡ, lôi cuốn trong các chương kết
nhanh và thường đem tới những đường nét có tính vũ khúc dân gian Ý.
D.Scarlatti (1685 - 1757)
Là nhà soạn nhạc Ý độc đáo nhất lúc bấy giờ. Ông sinh ở Napoli, con trai của A.
Scarlatti. Từ nhỏ là người chơi đàn organ và cembalo nổi tiếng.
Ông là tác giả của nhiều thể loại âm nhạc khác nhau: opéra, oratorio, cantana và
aria, của âm nhạc nhà thờ và những concerto cho nhạc dân. Nổi bật nhất là 550
tăn cho đàn Clavir với ý nghĩa là nhà đối mới. Ông đã phát triển hoàn thiện loại
Sonate clavir một chương và tạo ra tình độc đáo điển hình nhưng vẫn khiêm tốn
gọi là những bài tập cho đàn Clavir. Trong các sonate của Scarlatti trước hết được
viết ở điệu trưởng (khoảng 400) và ở tốc độ nhanh (còn ở tốc độ châm khoảng 80
bản). Các bản Sonate của Scarlatti trong phong cách chủ điều, song cũng sử dụng
phương pháp mô phỏng
Ông là người khai thác hợp âm 6 bậc II giảng. Còn gọi là Napoli
Ông mở ra thời kỳ bước ngoặt của dân nhạc, nêu ra nguyên tắc phối khi mới và
khai thác khả năng biểu diễn của bộ dây
J.Lully (1632-1687)
Sinh ra tại Ý nhưng từ còn rất nhỏ đã sang Pháp sinh sống. Ông có năng khiếu âm
nhạc đặc biệt. Vừa biết chơi đàn Violon, chỉ huy, nhấy mùa, sáng tác và là người
lãnh đạo dàn nhạc hoàng gia. Ông là người sáng lập nghệ thuật opéra Pháp.
Lully đã tạo nên ý nghĩa lớn lao đặc biệt cho dàn nhạc của opéra. Dàn nhạc phong
phú hơn và có vai trò độc lập trong các cảnh sinh hoạt, các cảnh đồng quê, chiến
trận và các màn múa. Nhạc kịch của Lully có khúc mở đầu với hình thức ba phần
ABC hoặc ba phần có tải hiện ABA, bắt đầu ở tốc độ chậm, sau đó và nhanh và
lại tái hiện ở tốc độ chậm. Overture của Lully có tên gọi Overture Pháp và có vai
trò lớn cho phong cách nhạc đàn.
Ông sáng tạo Opera Ballet. (Ca vũ kịch)
J.P.Rameau (1683-1764)
Trong nghệ thuật của Rameau đã kết liền truyền thống với đường nét phong cách
mới rococo và quan điểm “ánh sáng"
Rameau còn là nhà lý luận âm nhạc nổi tiếng, đặc biệt trong lĩnh vực hoà âm.
Trong công trình lý thuyết hoà âm của mình, ông đã có nhân thức duy vật về âm
thanh Rameau đã đặt cơ sở cho cấu trúc hợp âm ba, các dạng đảo của đồng
thời khẳng định các chức năng cơ bản: chủ, hạ ác và ác được trình bày trong công
trình về hoà âm năm 1722.
Từ đầu thế kỷ XVIII, Ông là một trong những người đại diện cho trường phải
clavecin Pháp và hoàn thiện phong cách này, Rameau đã sáng tác các tác phẩm
cho dân clavecin trong các thể loại điển hình cho âm nhạc clavecin Pháp như
những tiều phẩm có tiêu đề, rondo và các điệu nhẩy, Rameau còn sáng tác những
khúc nhạc nhi các nhạc sĩ clavecin khác của Pháp, trong đó miêu tả tâm trạng tâm
lý và những chân dung phụ nữ hoặc các cảnh thiên nhiên. Nghệ thuật clavecin
của Rameau là rõ ràng hơn về màu sắc và nội dung, về hình tượng so với các
nhạc sĩ clavecin cũng thời
Georo Friech Handel (1685 - 1759)
Cuộc đời và sự nghiệp:
Thời kỳ ở Hai (1685-1703) Hambourg (1703-1706)
Thời kỳ ở Ý (1706 - 1710)
Thời kỳ ở Anh (1717 - 1759)
Thời kỳ ở Hall (1685-1703) Hambourg (1703-1706)
- Handel sinh ngày 23 tháng 2 năm 1685 tại Hall
- Handel học luật tại trường đại học tổng hợp, và học văn hoà âm nhạc Đức với nhà
soạn nhạc, nghệ sĩ đàn organ nổi tiếng W. Zachow
- Handel quyết định rời thành phố quê hương Hall vào năm 1703 đến Hambourg nơi
có trường phải nhạc kịch duy nhất của Đức để học tập thêm.
Thời kỳ ở Ý (1706 - 1710)
- Năm 1706 Handel sang Ý - đất nước có nền văn hoà nhạc kịch cao.
- Học hỏi các thành tựu âm nhạc Ý về sự phong phủ của các hình thức thanh nhạc, về
phong cách biểu hiện giai điệu trong nhạc kịch, về các thể loại đa dạng cho nhạc đàn.
- Năm 1710, Handel trở về Tổ quốc, làm việc tại Hanover cho đến năm 1716, và trong
thời gian này hai lần đến thăm Anh dựng tác phẩm cũng như sang Paris để tìm hiểu
nhạc kịch.
Thời kỳ ở Anh (1717-1759)
- Khắc phục dần những quan niệm nhạc kịch Ý và tỉnh hiện thực của thẩm mỹ.
- Chuyển từ opéra sang oratorio, trong đó nhạc sĩ đã thể hiện đầy dù các khát vọng
sáng tạo của mình.
- Nghiên cứu,học tập truyền thống âm thạc Anh. Handel có một vị trí của nhà soạn
nhạc dân tộc Anh.
- Có thể cho rằng, những công sức của Handel dành cho việc cải cách nghệ thuật
opéra đã không thực hiện được và không để lại những dấu ấn lịch sử lớn nhất trong
sự phát triển của nghệ thuật opéra.
- Trong lĩnh vực Oratorio Handel lại gặt hái những thành công lớn.
- Xã hội Anh lúc ấy, sống động bằng âm nhạc của Handel, là một phần không thể
thiếu trong các ngày lễ trang trọng của nhân dân; cho đến cuối đời vẫn một lòng phục
vụ cho nghệ thuật của nhân dân Anh. Tài năng của Handel còn thể hiện trong hai tập
concerto cho đàn organ, những sáng tác cho đàn clavir và âm nhạc thính phòng.
Trong năm 1739 ông còn hoàn thành 12 concerto grosso. Những tác phẩm cuối cùng
của Handel trong lĩnh vực nhạc đàn là giành cho các thính chú dân chủ.
- Handel là một trong những nhà cổ điển vĩ đại của thế kỷ XVIII. Ông từ trần ngày
14/4/1759 và nhân dân Anh đã tiễn đưa Handel theo nghỉ lễ của một nghệ sĩ dân tộc
vĩ đại và được chôn cất tại nghĩa trang lớn nhất ở London.
Tác phẩm dàn nhạc nổi bật.
1. Nhạc nước (Water Music)
(Ông viết tặng vua George 1 của nước Anh khi tổ chức một bữa tiệc thượng lưu trên
sông Thames)
Bộ 3 tổ khúc cho dàn nhạc mang kỷ hiệu HWV 348-350, lần lượt ở các điệu thức Fa
trường, Rê trường và Sol trường.
2. Âm nhạc cho lễ hội Pháo hoa hoàng gia giọng Rê trưởng, HWV. 351
(Nhà vua của vương quốc Anh George II đã đề nghị Handel sáng tác một tác
phẩm nhân dịp kỷ niệm một năm ngày ký hiệp ước Aix-la-Chapelle kết thúc cuộc
chiến tranh Kế vị Áo. Lúc đầu tác phẩm viết chủ yếu cho bộ hơi theo yêu cầu của
vua, sau ông sửa đổi thêm dần đây khi biểu diễn ở phòng hoà nhạc)
Nghệ thuật Opera
Những sáng tác của Handel cho opera gồm 40 tác phẩm, đc viết trong thời kì khó
khăn của lịch sử nghệ thuật nhạc kịch. Ông là nhạc hiện đại cỉa thể loại Opera hài
hước mới.
Handel tìm toig con đường hiện thực trong nhạc kịch, nhưng ko đạt đc theo ý
muốn, mà phải chờ tới vai trò người kế tiếp trong công cuộc cải cách Gluck.
Tuy nhiên, phải đánh giá cao rằng nhạc kịch của Handel có tầm ảnh hưởng cao
hơn với những người cùng thời kì.
Nhiều tác phẩm của ông đc sáng tác trên các tác phẩm của các nhà thờ cổ đại và
đương thười nhưng những tác phảm của ồn ko thể xếp vào phạm vi Seria mà ông
sáng tạo nên một thể loại Opera mới mẻ.
Nhân vật của ông mang tính chất rập khuôn trong Opera Seria - vua, nhà cầm
quyền, hiệp sĩ
Trên sân khấu ko phát triển hoạt động kịch mà chỉ phát triển sự kiện đối với tâm
lí nhân vật. Nên nó mnag nghệ thuật kịch “của trạng thái” hơn là nghệ thuật phát
triển.
Một số tiết mục hợp xướng trong một số vở đc đánh giá cao, giữu vai trò lớn
trong các cảnh kết.
Các đoạn Aria thường ở thể loại 2 đoạn hoặc aria da capo trong đó có sự tương
phản mạnh.
Ông hỗn hợp hát nói aria, gặp cả sự xung đột trong song cả đầy sức biểu hiện ở
các bè có nhiều cá tính hoặc là song ca hòa hợp trữ tình như tác phẩm dưới.
Hợp xướng được ông xây dựng đa dạng và đc đánh giá cao. Giữu vai trò lớn
trong các cảnh kết và thường mang tính chất anh hùng - trữ tình.
Sáng tác Oratonio
Ông thất bại Opera nhưng lại rất thành công với Oratonia.
Giữa lúc buồn bã với Opera thì ông viết Oratonio “Đấng cứu thế” viết rong 14
ngày lại được khán giả hoan nghênh và tán thưởng. Từ đấy ông quyết định
chuyển từ Opera qua Oratonio và hiến thân toàn bộ. Lúc này ông đã 60
Về kịch bản ông thường lấy câu chuyện kinh thánh để nói lên thời đại.
Về hình thức oong đã nhạc kịch hóa Oratonio, chứa đựng nội dung lớn lao chưa
từng có . Oratonio chưa làm được 3 màn chứ ko phải 2 màn nhưu trước, được
trình diễn trên sân khấu nhà hát chứ ko phải phòng hòa nhạc.
Dàn nhạc của ông luôn luôn có vai trò hỗ trợ đắc lực cho phần hát và độc lập
Chủ đề khác nhau của oratonio Handel khẳng định tính đa dạng bề hình tượng và
tính độc đáo của thể loại. Chúng cho phép trong dàn ý, trữ tình - kịch tính, hoặc
anh hùng - sử thi.
hợp xướng là một trong những mặt đổi mới của Handel trong thanh xướng kịch.
Hợp xướng là đại diện cho các tư tưởng anh hùng cơ bản và những hình tượng
của nhân dân và khát vọng cao cả của họ. Nhưunxg hợp xướng đồ sộ khẳng định
cả đặc điểm to lớn của oratonio.
Fuga là một trong những hình thức hợp xướng biểu hiện mạnh nhất.
Vai trò dàn nhạc tron các nhạc kịch của Handel rất được đề cao. Ông sử dụng
phương tiện dàn nhạc ko chỉ đệm cho các aria, hát nói, mà còn tạo cho dàn nhạc
có vai trò độc lập trong các ouverture trang trọng phong cách Pháp và những cảnh
gây hiệu quả sân khấu.
Giới thiệu Oratonio Samson
Viết theo sự tích lấy từ kinh thánh (đây ko phải là tác phẩm tôn giáo viết cho nhà
thờ, mà ông mượn chuyện xưa để nói về hiện tại)
Tác phẩm ngợi ca lòng dũng cảm và sự hi sinh cao cả của vị anh hùng, mang lại
hạnh phúc cho nhân dân độc lập cho dân tộc
Overture gồm 3p:
Phần 1: nghiêm trang hùng vĩ
Chủ đề âm nhạc gầm 4 nhịp mở đầu chuển bị ko khí chung với tiết tấu hành khúng
khang trương. Chủ đề 8 phần tiếp theo
Phần 2: cấu trúc Fuga
Chủ đề going tiếng kèn xông trận thôi thúc vang lên ở bè cao (3 nhịp đầu) - bè trung
(3 nhịp tiếp) - Bè trầm (3 nhịp)
Phần 3: là khúc nhạc Minuet (sau này hiệu đính đc cắt
Aria Samson: các quãng bốn đi lên nhưu lời kêu gọi, tiết tấu khẩn trương thúc giục.
Sáng tác khí nhạc & nhạc đàn
Đóng góp quan trọng trong sự hình thành phong cachs khí nhạc nữa đầu thế kỉ
18.
Hoàn chỉnh phong cách cổ điển của một số thể loại tiêu biểu như Sonate, tổ khúc,
concerto grosso, biến tấu và biến tấu cổ.
Khí nhạc của ông gắn liền vơus nghệ thuật Opera và Oratonio
Ông là người biểu diễn đàn phiếm điệu luyện lạ thường và ứng tác xuất sắc
Các tác phẩm khí nahjc của ông gồm 4 nhóm: organo, clavir, dàn nahjc và thính
phòng
Sáng tác Clavir
Tổng hợp các trường phái Đức, Ý, Pháp và Anh.
Tác phẩm man tính chất giai diệu dân ca và hình thức theo phong cách chủ điệu với
nền tảng hòa âm rõ ràng.
Dưới tác động của opera ông đã thay đổi cấu trúc và nội dung hình tượng của thể loại
tổ khúc.
Ông mở rộng hình thức khác nhaỷ múa như Prelude, Ouverture, Variation, Fuga. Nó
gần với Opera với giai điệu anh hùng nhiệt tình.
Bản tổ khúc số 10 dmool có mqh với opera seria với gia điệu Sarabanda từ chất liệu
aria.
Aria ai oán của Alminera trong nhạc kịch Rinado hình thành chương và chủ đề cho
biến tấu trong tổ khúc 11.dmoll
Johann Sebastian Bach(1685 - 1750)
Ông là nhạc sĩ xĩ đại trong mọi thời đại
Dòng họ ông có 7 đời sống bằng nghề âm nhạc vè có trên 200 nhạc sĩ biểu diễn
nổi tiếng ở nước Đức. Ông là ngôi sao chói lọi nhất, người ta gọi “Bach vĩ đại”
Suốt đời ông chỉ sống ở Đức, cuộc sống khá nghèo nàn, ông phải sáng tác, chỉ
huy dàn nhạc và dạy nhạc.
Ông mất ngày 28/6/1750 trong sự quên lãng của người đời.
Sự nghiệp của ông mãi sau 100 năm mới được phát hiện và khám phá với một
tầm vóc hùng vĩ và chói sáng
Beethoven từng nói “Bach ko phải là một dòng suối và Bach là một đại dương”
Toàn bộ tác phẩm của ông là bản tổng kết sinh động những thành tựu của âm
nhạc thế giới từ cổ đại cho đến đương thời và cả cho âm nhạc thời hiện đại
Ông là người đặt nền móng cho mọi loại trường phải, mọi loại chuyên ngành
trong âm nhạc
Các trường phái âm nhạc trên thế giới trái ngược nhau về quan điểm, về phong
cách, về phương pháp, sáng tác đều coi Bach là sư tổ của mình
1. Cuộc đời và sự nghiệp
Bach sinh ngày 31/3/1685 tại thành phố nhỏ Eisenach. Mồ côi cha mẹ từ sớm nên
Bach được nuôi dạy bởi người anh trai Johann Christoph, nhạc sĩ đàn organ và
clavencin ở thành phố Ohrdruf
Ngay từ những năm tháng học ở trường trung học tại thành phố Ohrdruf =, Bach
đã mâu thuẫn với hệ thống giáo dục già cỗi, lỗi thời của hệ thống giáo dục Đức
lúc bấy giờ
Bach đã phát hiện ra nghệ thuật to lớn của Palestrina, Oralando de Lassus,
Schutz,...
Từ năm 15 tuổi, Bach đã là thành viên hát trong một dàn hợp xướng Luneburg và
sau này là nhạc sĩ - nghệ sĩ đàn organ ở nhà thờ.
18 tuổi bắt đầu nhận lương nhờ đàn Violon trong dàn nhạc của công tước.
Năm 20 tuổi ông chuyển đến Weimar và chơi Organ trong dàn nhạc cung đình.
Giai đoạn này ông trưởng thành về sáng tác và biểu diễn điêu luyện.
Năm 1717 vè chống lại cách xử sự bất công của nhà chức trách nên đã đệ đơn xin
thôi việc và hậu quả bị bỏ tù.
Những năm cuối từ 1723 - 1750 Bach đã sống ở Leipxip, nahjc sĩ đã sáng tạo ko
mệt mỏi và đạt tới đỉnh cao trong sự nghiệp của mình.
Bach đã có mqh với trường nahjc ở đây và nhiều sáng tác của nhạc sĩ được viết
theo thành phần biểu diễn của dàn nahjc này.
Cùng với các khuynh hướng dân chủ trong văn hóa, ở Leipxip vẫn còn tồn tại các
trật tự xã hội cũ. Bach lại một lần nữa xung đột với tổ chức văn hóa, như năm
1717 ở Weimar, tuy lần này ông không phải rời khỏi thành phố nhưung sáng tác
của nahjc sĩ ko đc ấn hành, tất cả chỉ còn ở dạng viết tay, và cuộc sống chật vật,
đói nghèo triền miên
Bach mất ngày 28/6/1750 trong sự quên lãng
Âm nhạc
Âm nhạc của Bach dù viết cho loại đàn nào hoặc viết cho hát cũng đều mang âm
hưởng của organ và hợp xướng. Hai chính chất này trong âm nhạc Bach gần như
làm sống dậy các tòa kiến trúc đồ sộ, những bức điêu khắc tuyệt vời các bức
tranh vẽ trong nhà thờ... Phần âm nhạc đã tạo nên linh hồn cho các công trình
tuyệt tác ấy.
Sáng tác
Organ:
Các sáng tác của Bach cho đàn organ đã phát triển truyền thống của phong cách
organ Đức. Ông đã khắc phục các chức năng giới hạn của nt liên quan trước hết
với nhà thờ.
Tư duy Phức điệu của Bach được thể hiện trong các thể loại khác nhau như cho
đàn organ: toccata, fantaisie, prelude, fuga, passacaille... cả các cải biên hợp
xướng cho organ chiếm vị trí đáng kể.
Trong liên khúc toccata, fantaisie, prelude với fuga Bach đã thể hiện là người
điêu luyện bậc thầy của các hình thức tương phản
Một số tác phẩm cho đàn organ được viết với mục đích sư phạm (dành cho con
trai của Bach). Gồm 46 preludes trên cơ sở của các giai điệu hợp xướng, được cải
biên ngẫu hứng.
Nhiều cải biên của Bach như sau concerto cho đàn organ mà một phần trong dựa
trên concerto của Vivaldi
Những tp organ kinh điển của Bach được viết trong các hình thức, thể loại cổ, mà
ở phần một đã điểm các tp của ông cho nhạc cụ này
Clavir
Là sự tổng hợp phức tạp của âm nhạc đàn clavir của Đức, Pháp, Ý
Nhưng sáng tác cho đàn Clavir của Bach có sức mạnh bi hùng và sự tự do ngẫu
hứng của phong cách organ của ông có cấu trúng hòa âm rõ ràng, giai điệu phong
phú và tính rực rõ của âm nhạc violin Ý
Phức điệu của Bach tiếp nhận sự biểu hiện đặt biệt trong sáng tác cho clavecin.
Trong đó đã nêu lên sự hoàn thiện của phong cách cũng nhưu hình thức phức
điệu phức tạp nhất là Fuga
Sáng tác cho đàn clavecin của Bach là đa dnagj về hình tượng, thể loại; thể hiện
hai hiệu quả chính. Tính thân thiết - thính phòng trong inventipn, tổ khúc và trong
một số prelude và fuga. Còn tron concerto là dàn ý sáng tạo vưới khuôn khổ lớn
hơn; phức tạp hơn với tính chất điêu luyện ngẫu - hứng trong cấu trúc phức điêu.
+ tổ khúc
Thể loại tổ khúc của Bach cho đàn clavecin lại ko đi theo con đường truyền thống
như 6 tổ khúc Pháp và 6 tổ khúc Anh viết năm 1722. tổ khúc dần mất đi mối liên
quan đấn ngọn nguồn phong tục đầu tiên. Từ nền tảng phong tục chỉ còn giữ lại
những đặc điểm về những dấu hiệu tiết tấu nhịp điệu riêng biệt của các điệu nhảy
và nguyên tắc của sự tương phản. Bach đã đổi mới những nguyên tắc này.
Tổ khúc của Bach có khuynh hướng sử dụng phức điệu ở các chương, đặt biệt là
chương guige, trong nhiều trường hợp là fuga
+ bình quân luật
Hai tập bình quân luật của Bach cho đàn clavecin là một công trình khoa học để
chứng minh cho một phát minh, đồng thời là tác phẩm nghệ thuật vĩ đại, đã đúc
kết những tinh túy nhất về âm nhạc của Bach. Tập I viết năm 1722, còn tập II viết
năm 1744. hai tập “bình quân” cũng với tập “nghệ thuật fuga” viết năm 1750 là
những tập đồ sộ, vĩ đại trong sự nghiệp âm nhạc của Bach.
Thời ấy các loại đàn phím bấm như organ và clavecin đc xây dựng theo hệ thống
âm thanh tuyệt đối. Hệ thống này chia 1 cung thành 9 comma. Như vậy đô thăng
cao hơn rê giáng 1 comma. Muốn biểu diễn chuẩn xác những bản như thế, phải
có một laoij đàn phím với hai phím đen; một hàng, dành cho các âm thanh có dấu
thăng; một hàng khác , dành cho các âm có dấu giáng. Trên thực tế , tai người nge
khó phân biếtuwj sai lệch một nửa comma. Bach đã thay vào bằng hệ thống bình
quân.
Bach chia đều một cung thành 2 phần bằng nhau nên chỉ cần một hàng phím đen
cho các âm thanh có thăng hoặc giáng. Như vậy Đô lên Rê chia làm 2 và Đô
thăng và Rê giáng có chung cao độ. 1 quãng 8 chia làm 12 bán cung và 6 cung.
Bach đã viết hai tập “Bình quân” , mỗi tập gồm cặp Prelude và Fuga vào tất cả 24
giọng, điệu khác nhau của âm nhạc, từ ko có dấu hóa nào đến nhiều nhất là 7 dấu
hóa.
Sự chuyển giọng, điệu lần lượt của các cặp theo bán cung hóa để chứng minh cho
tính chất bình đẳng giữa các nửa cung. Đồng thời, Bach còn nhấn mạnh ý nghĩa
hai mặt của mỗi giọng điệu. Các cặp thuộc giọng thứ đều xếp xen kẽ vào nhau
những cặp thuộc giọng trưởng cùng tên với chúng. Trong sự sắp xếp, Bach còn
quan tâm tới sự tương phản về tính chất của các fuga.
Thính phòng và dàn nhạc
Thanh nhạc và nhạc đàn
Joseph Haydn(1732 - 1809)
I. Sơ lượt
Joseph Haydn (1732-1809) là nhà soạn nhạc người Áo, được gọi là “cha đẻ của
symphony” và “cha đẻ của string quartet" nhờ vào sự phát triển và cải tiến các thể
loại này. Haydn có phong cách âm nhạc mang tính cách mạng, với sự hòa hợp
tuyệt vời giữa cấu trúc rõ ràng và sự tự do sáng tạo trong âm nhạc. Các tác phẩm
của ông thường mang tính vui tươi, lạc quan và hài hước thể hiện sự tỉnh tế và sự
hiểu biết sâu sắc về âm nhạc. Haydn cũng là người đầu tiên áp dụng những quy
tắc cấu trúc trong việc xây dựng các tác phẩm phức tạp mà vẫn giữ được tỉnh dễ
tiếp cân cho người nghe.
J. Haydn sinh ở Rohrau trong một gia đình đông con. Bố của nhạc sĩ có giọng hát
Tenor đẹp và biết chơi nhiều nhạc cụ khác nhau và Haydn có được những năm
tháng đẹp đề tuổi thơ ở vùng quê có nền âm nhạc phong phú này. Sau đó, Haydn
đã tới Vienne.
Haydn không được học có hệ thống, mà kiến thức âm nhạc của ông tiếp thu từ
thành tựu của quá khứ và trực rực tiếp trong thực hành nghề nghiệp. Ông còn học
từ các sáng tác giao hưởng của những nhà soạn nhạc Ý và Vienne sớm.
Năm 1751, ông đã viết một trong những sáng tác đầu tiên của mình đó là nhạc
kịch theo phong cách hát trò có tiêu đề "Con quỹ thọt mới", được trình diễn tại
một trong những sân khẩu thành Vienne nhưng không để lại ấn tượng. Từ giữa
những năm 50, Haydn bắt đầu thế hiện rõ năng lực trong lĩnh vực nhạc dân.
Năm, 1755, Haydn tham gia trong một nhóm nhạc hòa tấu với tư cách là một
nhạc công. Đồ có tiết mục trình bày cho nhóm, Haydn dã viết 20 tử tấu dây. Từ
1759, nhạc sĩ làm việc cho ông hoàng Morzin, phụ trách dàn nhạc gồm 12 thành
viên.
Những năm này, một trong những sự kiện đáng chú ý trong đời nhạc sĩ là tình
bạn giữa ông với Mozart trong các chuyến lưu diễn ở Vienne. Mozart coi Haydn
như một người thầy; còn Haydn ca ngợi Mozart là thiên tài lớn.
Những năm từ 1791 - 1801, có nhiều thay đổi lớn trong cuộc đời nhạc sĩ. Ông
được giải phóng khỏi cuộc đời làm thuê và trở thành nhà sáng tác hoàn toàn tự
do. Haydn tới Luân Đôn, được nhân dân Anh đón tiếp nồng nhiệt qua các trình
diễn tác phẩm của mình cà đã thúc đẩy ông sáng tác những tác phẩm mới. Ở Luân
Đôn, Haydn đã viết 12 “Giao hưởng Luân Đôn”, do ông chỉ huy trước công
chúng Anh. Ông tiếp nhận danh hiệu ở khắp nơi: Tiên sĩ của Trường Đại học
Oxford và Viện sĩ của các nhạc Viện hàn lâm khoa học - nghệ thuật Stockholm,
Amsterdam, Paris.
Tại Anh, Haydn đã viết nhạc kịch mới “Orfée ed Euridice” (1791). chuyến đi thứ
2 đến Anh 1794, Haydn đã suy nghĩ cho nhưunxg sáng tác loại thanh nhạc - nhạc
đàn kết hợp đồ sộ của mình. Trở về đất nước, ông đã sáng tác năm 1799 bản
oratonio “Đấng sáng tạo muôn loài” và năm 1801 là “Bốn mùa”. những tác phẩm
này kết thúc sự nghiệp vĩ đại của nhà soạn nhạc cổ điển.
Haydn mất tại Vienne ngày 31/5/1809 trong căn nhà nhỏ ở ngoại thành, khi quân
đội Napoléon chiếm Vienne lần thứ hai.
II. SÁNG TÁC GIAO HƯỞNG
Haydn là nhà soạn nhạc đầu tiên đã đưa vào giao hưởng nội dung tư tưởng có ý
nghĩa. Ông đã đạt tới sự tổng hợp giữa nội dung và hình thức, tạo sự hoàn thiện
về nghệ thuật của phong cách sonate - giao hưởng.
Haydn viết hơn 100 bản giao hưởng trong đó 12 bản giao hưởng "Luân Đôn"
nổi tiếng nhất.
Giao hưởng của Haydn khác hẳn với các hình thức giao hưởng sớm trước ông,
còn mang đặc điểm của loại tổ khúc, kết cấu chưa chặt chẽ, âm nhạc phức điệu,
hình tượng chưa rõ nét...
Trong những bản giao hưởng, ông đã sử dụng liên khúc sonate một cách sáng
tạo, ngoài chương Menuetto thêm vào đó những chương: ba đoạn phúc, biến tấu,
rondo,... trong mối tương quan chặt chẽ cả về tính chất âm nhạc cũng như cấu
trúc, tốc độ, điệu tính từng chương.
Sơ đồ liên khúc sonate
Chương I - Sonate(Allegro) - diễn tả đấu tranh căng thẳng, lý trí.
Chương II - Tự do - diễn tả nội tâm trữ tình hay bi thương
Chương III - Menuet hay Skerzo - nghỉ ngơi, vui tươi hay châm biếm
Chương IV - Sonate hay Rondo - Sonate - tổng hợp các chương - kết luận
(Menuet: Vũ khúc đình Pháp nhịp 3/4, Skerzo: châm biếm, tinh nghịch)
Ông vận dụng sự tương phản về tốc độ cũng như tính chất để nhấn mạnh nội
dung âm nhạc của từng chương và hình tượng của các chủ đề chính và phu trong
chương sonate.
Dân ca dan vũ là linh hồn trong giao hưởng của ông.
Haydn ko ưa dùng tiêu đề cho giao hưởng cũng như cho âm nhạc thính phòng.
Tuy nhiên, ta thấy có vài tiêu đề xuất hiện trong giao hưởng là do các nhạc sĩ
đương thời đặt cho nó. (Săn bắn, đồng hồ, gà, buổi sáng, buổi trưa,...)
Trong giao hưởng 39. ông học Mozart đưa Clarinet và giao hưởng.
Có thể chia giao hưởng của ông thành bốn giai đoạn:
- Giai đoạn 1: 1761 - 1772 những bản giao hưởng ấy còn mang nặng tính chất nhạc
giải trí, phục vụ cho sinh hoạt có phong cách thính phòng.
- Giai đoạn 2: giai đoạn này ông sáng tác trong những năm làm việc cực nhọc tại
lãnh điệu bá tước Esterhazy. Những bản giao hưởng số 44, 45 và 49 viết ở điệu thứ,
âm nhạc tràn đầy tình cảm bi ai; trái với phong cách điểu hình của ông là lạc quan yêu
đời, khôi hài, giản dị, trong sáng.
- Giai đoạn thứ 3: và những bản giao hưởng viết tronh những năm 80 của tk như 6
bản “Giao hưởng Paris”, lần đầu tiên Haydn đưa nội dung với ý nghãi xã hội rộng hơn
và khẳng định giao hưởng là tác phẩm độc lập, được thể hiện trong tính thống nhất
bốn chương của liên khúc; mỗi chương có nội dung độc lập, hoàn thiện.
- Giai đoạn thứ 4: cũng là giai đoạn cuối là những bản giao hưởng Luân Đôn, đỉnh
cao trong sáng tác giao hưởng của Haydn.
Haydn qui định rõ ràng thành phần dàn nhạc như sau:
- Bộ gỗ: Flute, Oboi, Clarinet, Fagot.
- Bộ Đồng: Cor, Trumpet
- Bộ gõ: 2 timpani
- Bộ dây: Violin1, 2. Viola, Cello, Contrasbass.
Đây là một bước tiến trong quá trình hoàn thiện thể loại giao hưởng của trưởng
phái cổ điển Vienne.
Biến chế cổ điển Vienne thường gồm:
- 10 violon 1, 8 violon 2 6 viola, 6 cello, 4 contrebasse (bộ dây),
III. SÁNG TÁC THÍNH PHÒNG
1. Sáng tác thính phòng, son mi
Tứ tấu có ý nghĩa lớn nhất trong sự hình thành của phong cách thính phòng cổ
điển. Trong lịch sử của tứ tấu, Haydn đã đưa ra vai trò vốn có như giao hưởng.
Tứ tấu dây thể hiện sự cách tân nhất của nhà cổ điển Vienne vĩ đại.
Những năm 70, những tứ tấu của ông có ý nghĩa lớn như giao hưởng, phong phú
bởi tính thể loại, nội dung tư tưởng của tác phẩm. Đó là liên khúc gồm những
chương nhạc tương phản chủ đề; Đặt biệt, ở các chương kết của tác phẩm.
Haydn đem fuga vào tứ cấu và còn xuất hiện ở các bản sau như 32 - Cdur, số 35 -
fmoll, số 36 - Adur. Chương menuet của tứ cấu op.76 số 2 được viết theo thủ
pháp canon.
Những tứ cấu viết trong những năm 80 và 90 dã khẳng định những đường nét
điển hình trong phong cách tứ cấu Haydn như 6 bản “tứ cấu Nga” nổi bật là tính
chủ đề rõ hơn, sự tương phản được khẳng định giữa 2 chủ đề và thường làchủ đề
với tính phong tục, dân gian.
Hình tượng rõ nhất của chủ đề thể hiện trong một vài tứ cấu; như tứ cấu op.64 số
5 có tiêu đề “Chim sơn ca” bởi chủ đề một của sonate allegro vang lên ở tầm cữ
cao của violon và cho ta cảm giác như tiếng hót của sơn ca
106 bản giao hưởng
90+ tứ tấu đàn dây
62 bản sonata dành cho piano
32 bản tam tấu piano
Theo một ước tính, ông đã sáng tác hơn 340 giờ nhạc, nhiều hơn Mozart,
Beethoven, Handel hay Bach. Ông được ghi nhận là người phát minh ra tứ tấu
đàn dây như chúng ta biết, và là kiến trúc sư chính của các định dạng cổ điển.
Ông đã dạy cho những nhà soạn nhạc vĩ đại trong tương lai Beethoven là học trò
được ông đánh giá cao nhất.
2. Sáng tác cho đàn phím
Những sáng tác của Haydn cho đàn phím gồm sonate, biến tấu, rondo. Sáng tác
cho đàn phím của Haydn ko có ý nghĩa lịch sử lớn như giao hưởng và tứ cấu
nhưng ở lĩnh vực này nhạc sĩ đã tạo nên những tác phẩm với giá trị nghệ thuật
cao.
Haydn đã viết khoảng 53 sonate. Những bản sonate viết trong những năm 80 là
phong phú về nội dung, trưởng thnahf về phong cách thể hiện qua chất liệu chủ
đề tương phản và hoàn thiện sonate allegro...
Các bản sonate D dur, e moll, và hai bản sonate đồ sộ điệu tính Es dur là những
điển hình cho mẫu mực cổ điển.
Bản sonate D dur là liên khúc ba chương với sự tương phản nhấn mạnh giữa
chương chậm, bi thương gần với sarabande cổ với hai chương đầu và cuối sinh
động.
3. Concerto
Haydn có một số bản concerto cho đàn phím, violon, violoncelle và các nhạc cụ
hơi. Ở lĩnh vực này, ông đã mở ra thời đại của concerto cổ điển. Song, nguyên tắc
của sự phát triển giao hưởng và sự thi thố hờ tấu giữa bè solo và dàn nhạc được
phát triển đầy đủ trong tất cả các bản concerto. Các bản concerto của Haydn có ba
chương với hai phần trình bày trong chương một và chương kết là nhanh với tính
chất nhảy múa. Nhưungx tác phẩm nổi bật trong lĩnh vực này là concerto cho
violoncello Ddur, và cho Piano Ddur.
Christophe Willibald Gluck (1714-1787)
I. Cuộc đời và sự nghiệp
Những năm tháng ở Tiệp, Ý, Anh và Vienne là thời kỳ hình thành cải cách đầu
tiên.
Gluck sinh ở vùng giáp với Tiệp, thuộc nước Đức, thời nhỏ, ông sống trong vùng
rừng núi Bohème tươi đẹp.
Từ năm 1726, Gluck đến một thành phố của Tiệp để tiếp thu nền học vấn âm
nhạc tại đây; đồng thời còn hát trong hợp xướng nhà thờ. Đến năm 1732, Gluck
tới Praha để nâng cao trình độ âm nhạc và đã học với một nhà phức điệu nổi tiếng
nhất của Tiệp. Đến 22 tuổi, ông được công nhận là nhạc sĩ dưới ảnh hưởng của
nền văn hóa phong phú của thủ đô Tiệp. Với tài chơi đàn organ và còn là nhà sư
phạm âm nhạc, giỏi về hòa thanh, đối vị, nên được người đời mệnh danh là “Bach
của Tiệp”.
Sau một năm dừng lại ở Vienne Gluck đã chuyển đến Itala để có thể tìm hiểu, học
tập các nhạc sĩ viết opera nổi tiếng, mặc dầu ông đã biết đến opera đến opera ý
trong thời gian ở Vienne. 4 năm sống ở Milan, dưới sự dẫn dắt của nhà soạn nhạc,
nghệ sĩ đàn organ, nhà chỉ huy G.B.Sammartini - một trong những nhà giao
hưởng ý đầu tiên. Gluck đã hoàn thiện nghệ thuật và kỹ thuật sáng tác nói chung
và cho nhạc kịch nói riêng. Những vở nhạc kịch đầu, Gluck viết trên kịch bản của
Metastasio, trở thành nhà sáng tác nhạc kịch nối tiếng ở Milan và nhiều thành phố
khác của ý. Tuy nhiên, những vở viết trong thời gian này theo phong cách sérva
truyền thống.
Năm 1746, Gluck sang Anh và vẫn tiếp tục viết nhạc kịch truyền thống với những
vở nổi tiếng như ArtamenaSự thất bại của những người khổng lồ.
Sau Anh, đến 1754, Gluck đi thăm Dresden, Praha, Napoli, Hambourg,
Copenhagen, vừa chỉ huy, sáng tác, dàn dựng các vở nhạc kịch mới của mình;
ông đã viết hơn 50 vở.
Sau chuyến chu du nhiều nước, Gluck trở về Vienne và vẫn sáng tác nhạc kịch
theo phong cách sêrie, đồng thời ông đã hướng tới những khuynh hướng sáng tạo
mới, đến nhạc kịch hài hước và vũ kịch Pháp. Chính ciệc sáng tác thể loại nhạc
kịch mới đã giải phóng những công thức truyền thống trước đây và giúp Gluck
tìm đến phương pháp hiện thực. Vũ kịch giữ vai trò quan trọng trong con đường
cải cách nhạc kịch của Gluck. Thời kỳ này những vỡ vũ kịch nổi tiếng của ông
như Don Juan, Hoàng tử Trung Hoa, Alexandre.
Thời kì cải cách được thể hiện qua 3 vở đầu tiên là Orfeo và Euridice dựng năm
1762, Alceste dựng năm 1767 và Paride ed Elena dựng năm 1770. Ba vở cải cách
này biểu diễn ở Vienne, đã thể hiện rõ tài năng của Gluck cũng như quan điểm
thẩm mỹ của ông.
Con đường vở nhạc kịch cải cách ở Paris đã biểu hiện đầy đủ nhất sự tìm tòi sáng
tạo của Gluck. Nhạc kịch của ông đã có cổ vũ trực tiếp cho Paris đang sục sôi
tinh thần cách mạng. Gluck đòi hỏi sự chân thật của nghệ thuật trong biểu diễn và
cả trong kịch bản. Ông còn sửa chữa lại các vỡ như Orfeo, Alceste,... để phù hợp
với sân khấu Paris, biểu hiện bằng tiếng Pháp bè của Orfeo cho giọng Tenor (con
khi ở Vienne cho castra - alto) và có mở rộng thêm các màn múa.
Ở Paris, nhạc sĩ đã viết những nhạc kịch cải cách cuối cùng của mình là Armide
(1777), Iphigenie en Tauride (1779); và cũng trong cùng năm là vở Tiếng vọng
và câu thùy tiên, nhưng lại xa vời những vở cacir cách và ko thành công. Những
năm cuối đời, Gluck trở lại Vienne nhưng lại chuyên tâm sáng tác các cac khúc,
Gluck tạo ra trường phái nhạc kịch mới có ảnh hưởng tới nhiều nhạc sĩ cùng thời
và các nhạc sĩ ở nhiều nước trong thế kỉ XIX với số lượng gần 100 nhạc kịch các
loại.
II. Những nguyên tác cải cách nhạc kịch của Gluck
Gluck chiếm vị trí có ý nghĩa nhất trong lịch sử sân khấu nhạc kịch. Quan điểm
thẩm mỹ và cộng cuộc cải cách nhạc kịch của ông đã mở ra một thời kỳ mới của
nghệ thuật nhạc kịch.
Tránh những dư thừa đã có trong nhạc kịch Ý. Đấy là sự lạm dụng kỷ thuật thanh
nhạc làm cho nhạc kịch ngô nghê.
Âm nhạc phải luôn đi đôi với ngôn ngữ văn học, phải kết hợp âm nhạc với lời ca.
Âm nhạc phải phục vụ cho kịch. Sự tổng hợp giữa âm nhạc và kịch là nền tảng
trong cải cách của Gluck. Âm nahjc và ngôn ngữ văn học phải quyện lại với
nhau, âm nhạc và lời ca phải kết hợp chặt chẽ. Âm nhạc phải góp phần chi kịch
phù hợp với tình tiết của kịch, là phương tiện để miêu tả các khía cạnh nội tâm
của các nhân vật.
Aria phải phù hợp nội dung tâm lý nhân vật, tránh phô trương kỹ thuật thanh
nhạc. Thoát ra khỏi sự nghiêm chỉnh và công thức, giai điệu chung chung như
trước đây. Aria trong nhạc kịch của Gluck là đơn giản, cách hát, màu sắc đạt đỉnh
cao; khẳng định các tâm trạng của nhân vật và tình huống kịch.
Múa ko phải giải trí vui mắt mà phải có nội dung liên quan đến tình tiết nhạc
kịch.
Các khúc nhạc Ouverture phải có nội dung, hình tượng của nhạc kịch. Phaiir gợi
trước tính chân thật của cảnh trí sẽ diễn ra trước khán giả.
Ông đã liên kết hát nói, aria, hợp xướng và múa trong các cảnh kịch lớn và có dàn
ý sáng tạo toàn diện đồ sộ.
Mối liên quan của quan điểm thẩm mĩ của Gluck với chủ nghĩa cổ điển đc thể
hiện trong việc sử dụng của chủ đề cổ đại và việc lý giải các nhân vật trong nhạc
kịch. Những nguyên tắc tư tưởng - thẩm mĩ mới này, đòi hỏi sự thay đổi trong
kịch bản, trong các hình thức thanh nhạc, hợp xướng, và dàn nhạc của nhạc kịch.
III. Giới thiệu nhạc kịch ORFEO & EURIDICE
Nội dung: chủ đề nhạc kịch Orfeo rút ra từ câu chuyện thần thoại Hy Lạp nổi
tiếng. Nói về một danh ca tẻ tuổi tên là Orfeo. Anh có vợ là Euridice chẳng may
bị rắn cắn chết, Thần Amore chỉ cho anh đường đi tìm vợ nơi âm phủ với điều
kiện không được nhìn mặt vợ ko nàng ra đi mãi mãi. Với tài nghệ của mình chàng
đã vượt qua gian nan nơi âm phủ với nhiều gian truân. Sua khi cứu được người
vợ bằng tiếng đàn và giọng hát tuyệt vời của mình chàng trở về dượng thế. Người
vợ thắc mắc sao chàng quả lạnh lùng. Trong một phút yếu mềm chàng đã nhìn
mặt vợ mình và nàng ra đi với quỷ thần. Chàng đau khổ nhưng thần Amore đã
giúp vợ chồng sống lại và có cuộc sống hạnh phúc.
Wolfgang Amadeus Mozart (1756 - 1791)
Mozart là trường hợp đặt biệt trong lịch sử âm nhạc thế giới.
Ông là nhạc sĩ, thần đồng - thiên tài âm nhạc.
Nhạc sĩ Tchaikovsky từng nói: “Tôi khẳng định sâu sắc rằng Mozart là đỉnh cao
nhất mà cái đẹp trong âm nhạc có thể đạt tới”.
“Âm nhạc Beethoven là nghệ thuật vị nhân sinh” Hăng hái, sôi nổi, khí thế anh
hùng. Còn “Âm nhạc Mozart là nghệ thuật vị nt” tế nhin đẹp đẽ giàu chất thơ.
Ông sống vỏn vẹn 35 năm với một cuộc sống đầy nhọc nahwnf đau khổ của một
thiên tài những đã để lại cho kho tàng thế giới khoảng 626 tác phẩm, đủ mọi thể
loại. Và thể loại nào cũng đạt đến sự hoàn hảo tuyệt đối và như nhau.
I. Cuộc đời và sự nghiệp
Mozart sinh vào ngày 27 tháng giêng năm 1756 tại Salzbourg - thành phố cổ ở
Tây Nam Áo, nơi có nhiều điệu dân ca, dân vũ phong phú và là trung tâm của
những sinh hoạt tôn giáo.
Ngay từ nhỏ đã phát lộ nằn nhiếu âm nahjc thần kỳ. 3 tuổi đã nghe chuẩn xác cao
độ âm thanh, lên 4 tuổi đã bắt đầu ngẫu hứng các khúc nhạc tự nghĩ. Sớm thấy
năng khiếu của con, cha ông đã cho Mozart học violon và đàn phím.
7 tuổi đã viết 4 bản sonate, 8 tuổi Mozart đã soạn bản nhạc giao hưởng đầu tiên
(k16) cho tất cả các laoij nhạc cụ của dàn nhạc”. 10 tuổi ngồi trong dàn nhạc
hoàng cung.
Trên đường đi biểu diễn châu Âu như London, Paris. Ông đã sáng tác các thể loại
như sonate, rondo, vũ khúc và phôi phai viết giao gưởng và nghiên cứu nhạc kịch
Ý. Lúc này ông đc đánh giá là thần đồng thiên tài âm nhạc. Nhung vẫn làm thuê
cho lãnh chúa.
13 tuổi sang Ý biểu dễn và dự kỳ thi của viện hàn lâm âm nahjc Bolonho. Bài thi
quy định 3 tiếng ông hoàn thành trong 30p với chất lượng rất cao. Và được phong
tặng viện sĩ viện hàn lâm âm nhạc lúc 14 tuổi
Mozart cùng nagyf càng nổi tiếng và vỡ nhạc kịch đầu tay được biểu diễn thành
công rực rỡ nhưng cũng là thời điểm lãnh chúa con gọi ông về.
21 tuổi ông snag Pháp với mẹ và mẹ ông mất trên đường đi. Vượt lên đau khổ
ông cho rả đời một loại tác phẩm như giao hưởng Paris
23 tuôi trở lại quê hương nhưng bị lãnh chúa đôi xữ tàn tệ nên Ong xin thôi việc
đề sông cuộc đời nghệ sĩ tự do.
10 năm cuối cuộc đời Ông sống ở Viene. Đậy là giai đoạn nghệ thuật của Ong đạt
đinh cao và gặp Haydn, nghe Beethoven biểu diễn và cưới vợ.
Sáng tác cuối cùng của Ông là nhạc kịch Cây sáo thần và Requiem
Ông đột ngột qua đời ở tuổi 35 vào ngày 5/12/1791. Đám tang Ông diễn ra trong
mùa đông giá lạnh và chỉ có vài người bạn đưa tiễn, Trên đường ra nghĩa trang
gặp bão tuyết nên được chỗn vào hồ chôn công cộng và mất xác.
Đặc điểm âm nhạc nổi bật
Âm nhạc cua Ông mang chất Bel canto của nước Ý, chất thanh tú ý nhị của nước
Pháp.
Âm nhạc của Ông hiện thực, bảo vệ sự tất thắng của chân lý, đề cao về nhân đạo
tình yêu cao thượng. Bên cạnh đó Ông cũng có những tác phẩm mang tính chất
giải trí (Divertis - sement) đó là các Serenade, Menuet, Country dance (vũ khúc
Anh nhịp 2/4 hoặc 6/8), Valse...
Âm nhạc dân gian nước Áo và Châu Âu được Ông sử dụng độc đáo.
Nhiều chủ đề mang âm hưởng dân ca dân vũ (Conserto piano dmoll)
Tác phẩm của ông luôn thống nhất giữa nội dung và hình thức nên rất tự
nhiên, không gượng gạo dễ đi vào lòng người.
Giai điệu sáng sủa, đơn giản, giàu hình tượng. Giai điệu dân gian đã trở nên tuyệt
diệu, có tính chất nghệ thuật cao, có nhiều sầu nội tâm phong phú. Giai điệu của
Mozart có những nét bán cung (Chromatique) (sonate piano cmoll) và xác định
theo điệu trưởng thứ rõ ràng.
Tính kịch và trữ tình quyện vào nhau (Symphony No 41)
Các nhân tô trong giai điệu của Ông mang tính kịch và tương phân.
Âm nhạc vuống vắn cân đối trong các chủ đề.
Ông tiếp thụ phức điệu của J.S.Bach và phát triển theo phong cách chủ nghĩa cô
điển Viene. Chủ đề phức điệu giàu hình tượng, có cá tỉnh, sức sống gần gủi với
mọi người và xây dung theo hướng hoa thanh chủ điệu.
Vê hòà thanh, Mozart vận dung công năng T-S-D một cách sáng tạo kết hợp xen
kẻ giữa các hợp âm chính phụ, chuyên điệu mạnh mẻ, chuyển điệu điệu xa đã tạo
cho giai điệu đây sức sông và lôi cuôn.
Âm nhạc của Ông với âm hình tiết tấu đa dạng tạo nên tính sinh động trong âm
nhạc của Ông.
II. Sáng tác nhạc kịch & Requiem
1. Sáng tác nhạc kịch
Mozart đã hoàn thành cuộc cải cách và đưa ra được quan điểm thâm mỹ của
mình. Do vậy, Mozart là một trong những nhà soạn kịch - hiện thực vĩ đại nhất
của lịch sử nhạc kịch.
Mozart đã hướng tới các thể loại khác nhau của nhạc kịch trong các vờ nhạc kịch
của mình.
Nhạc sĩ đã khắc phục tính sơ đồ, trong việc xây dựng của các thể loại nhạc kịch
truyền thống.
Mozart coi âm nhạc là nên tảng của nhạc kịch. Tuy nhiên nội dung kịch phải đạt
tới sự thông nhât giữa âm nhạc và kịch. Am nhạc có kết câu chặt chẽ, thông nhất,
có hình tượng.
Ông đã tổng hợp những đường nét của séria và baffa để tiếp nhận những thể loại
mới, sinh động hơn; cũng như giữa bi kịch và hài kịch được hòa trộn trong sự
thống nhất kịch đầy đủ.
Ông đã tăng cường nội dung có tính nhân văn, tâm lý của nhạc kịch;. Mozart đã
sử dụng các hình thức thanh nhạc đa dạng, để thể hiện được cá tính của các nhân
vật: aria, hát nói, ca khuc, romance, cavatina, độc thoại kịch, aria hài hước và lôi
nói nhanh, song ca, hợp ca. đồng ca; và cũng không từ chối aria với kỹ thuật điêu.
Vai trò dàn nhạc trong nhạc kich Mozart là mới.
Khúc ouverture có vài trò quan trọng trong các nhạc kịch của Mozart.
Ouverture của nhạc kịch Cuộc bắt cóc khỏi hoàng cung gồm ba phần. Phần thứ
nhất, có đặc điểm hành khúc, sinh động; phân hai có môc liên quan với chủ đề
của nhạc kịch, chủ đề trữ tình, chậm được hình thành từ giai điệu aria của nhân
vật chính Belmont, nhưng ở điệu thứ; phần hai là nhắc lại nguyên dạng phần một.
2. Requiem
Requiem la tác phẩm cuối cùng trong thể loại cantate - oratorio của Mozart,
nhưng chưa kịp hoàn thành và người học trò của Mozart tiếp tục sự dờ dang của
người thây và được biểu diễn ở Vienne năm 1792. Bản tổng phô bị thất lạc mãi
bôn mươi năm sau người ta mới tìm thấy.
Requiem được viết trên lời tôn giáo truyền thống bằng tiếng Latinh. Điều ấy
không cản trở Mozart tạo nên âm nhạc tràn đầy cảm xúc nhân văn sâu sắc, thể
hiện những tình cảm nội tâm của con người. Nội dung cơ bàn, điên hình cho
requiem là thê loại messa đau khô, bi thương. Nhưng, các chương riêng biệt
không phụ thuộc vào nội dụng lời, Mozart tạo cho nó có tính kịch, trữ tình liên
quan tới nỗi đau khổ sâu sắc.
Bản requiem gồm 12 chương.
Nội dung buồn - bị thương ở chương 1 của bản requiem (Requiem aeternam),
gồm phần Adagio và Allegro. Tính kịch của fuga tương phân của nỗi buồn trong
Adagio:

Preview text:

A.Vivaldi (1678 – 1741)

  • Không chỉ là người biểu diễn Violon nổi tiếng mà còn là nhà soạn nhạc, chỉ huy và sư phạm. Sáng tác của ông không chỉ cho Violon và hoạt động âm nhạc không chỉ trong phạm vi nước Ý của mình.
  • Vivaldi là nhà soạn nhạc opéra, ngoài opéra (39) ông còn có những cantat thể tục (23), aria và những tác phẩm nghi lễ. Sáng tác nhạc đàn gồm: giao hưởng (23), Sonate (73), Trio-sonate, concertosolo (447), và concerto grosso (46).
  • Các concerto cho các nhạc cụ khác nhau: Violon, Viole, sáo, hautbois, fagott, Cor, Trompette, mandoline... Ông là người định hình cho liên khúc concerto ba chương: Allegro, Largo, Allegro. Trong rất nhiều concerto, nổi bật hai chủ đề và các đoạn chen với đặc điểm của phần phát triển. Các dấu hiệu này của Sonate allegro cổ điển, được khẳng định trong sáng tác của Vivaldi, là tiền đề cho phong cách Sonate allegro cổ điển.
  • Vivaldi còn yêu thích nhạc có tiêu đề như Bão tố trên biển cả, Thôn dã, Đêm, Bốn mùa... Nội dung tiêu đề trong "Bốn mùa" của ông là một quá trình của thiên nhiên, là liên khúc gồm bốn concerto - grosso; là những bức tranh thiên nhiên thơ mộng, miêu tả các mùa trong năm.
  • Âm nhạc của ông, nổi bật với ngôn ngữ âm nhạc sinh động, biểu cảm. Tính chất trữ tình trong các chương chậm, tính chất rực rỡ, lôi cuốn trong các chương kết nhanh và thường đem tới những đường nét có tính vũ khúc dân gian Ý.

D.Scarlatti (1685 - 1757)

  • Là nhà soạn nhạc Ý độc đáo nhất lúc bấy giờ. Ông sinh ở Napoli, con trai của A. Scarlatti. Từ nhỏ là người chơi đàn organ và cembalo nổi tiếng.
  • Ông là tác giả của nhiều thể loại âm nhạc khác nhau: opéra, oratorio, cantana và aria, của âm nhạc nhà thờ và những concerto cho nhạc dân. Nổi bật nhất là 550 tăn cho đàn Clavir với ý nghĩa là nhà đối mới. Ông đã phát triển hoàn thiện loại Sonate clavir một chương và tạo ra tình độc đáo điển hình nhưng vẫn khiêm tốn gọi là những bài tập cho đàn Clavir. Trong các sonate của Scarlatti trước hết được viết ở điệu trưởng (khoảng 400) và ở tốc độ nhanh (còn ở tốc độ châm khoảng 80 bản). Các bản Sonate của Scarlatti trong phong cách chủ điều, song cũng sử dụng phương pháp mô phỏng
  • Ông là người khai thác hợp âm 6 bậc II giảng. Còn gọi là Napoli
  • Ông mở ra thời kỳ bước ngoặt của dân nhạc, nêu ra nguyên tắc phối khi mới và khai thác khả năng biểu diễn của bộ dây
  1. Lully (1632-1687)
  • Sinh ra tại Ý nhưng từ còn rất nhỏ đã sang Pháp sinh sống. Ông có năng khiếu âm nhạc đặc biệt. Vừa biết chơi đàn Violon, chỉ huy, nhấy mùa, sáng tác và là người lãnh đạo dàn nhạc hoàng gia. Ông là người sáng lập nghệ thuật opéra Pháp.
  • Lully đã tạo nên ý nghĩa lớn lao đặc biệt cho dàn nhạc của opéra. Dàn nhạc phong phú hơn và có vai trò độc lập trong các cảnh sinh hoạt, các cảnh đồng quê, chiến trận và các màn múa. Nhạc kịch của Lully có khúc mở đầu với hình thức ba phần ABC hoặc ba phần có tải hiện ABA, bắt đầu ở tốc độ chậm, sau đó và nhanh và lại tái hiện ở tốc độ chậm. Overture của Lully có tên gọi Overture Pháp và có vai trò lớn cho phong cách nhạc đàn.
  • Ông sáng tạo Opera Ballet. (Ca vũ kịch)

J.P.Rameau (1683-1764)

  • Trong nghệ thuật của Rameau đã kết liền truyền thống với đường nét phong cách mới rococo và quan điểm “ánh sáng"
  • Rameau còn là nhà lý luận âm nhạc nổi tiếng, đặc biệt trong lĩnh vực hoà âm. Trong công trình lý thuyết hoà âm của mình, ông đã có nhân thức duy vật về âm thanh Rameau đã đặt cơ sở cho cấu trúc hợp âm ba, các dạng đảo của nó đồng thời khẳng định các chức năng cơ bản: chủ, hạ ác và ác được trình bày trong công trình về hoà âm năm 1722.
  • Từ đầu thế kỷ XVIII, Ông là một trong những người đại diện cho trường phải clavecin Pháp và hoàn thiện phong cách này, Rameau đã sáng tác các tác phẩm cho dân clavecin trong các thể loại điển hình cho âm nhạc clavecin Pháp như những tiều phẩm có tiêu đề, rondo và các điệu nhẩy, Rameau còn sáng tác những khúc nhạc nhi các nhạc sĩ clavecin khác của Pháp, trong đó miêu tả tâm trạng tâm lý và những chân dung phụ nữ hoặc các cảnh thiên nhiên. Nghệ thuật clavecin của Rameau là rõ ràng hơn về màu sắc và nội dung, về hình tượng so với các nhạc sĩ clavecin cũng thời

Georo Friech Handel (1685 - 1759)

Cuộc đời và sự nghiệp:

Thời kỳ ở Hai (1685-1703) Hambourg (1703-1706)

Thời kỳ ở Ý (1706 - 1710)

Thời kỳ ở Anh (1717 - 1759)

Thời kỳ ở Hall (1685-1703) Hambourg (1703-1706)

- Handel sinh ngày 23 tháng 2 năm 1685 tại Hall

- Handel học luật tại trường đại học tổng hợp, và học văn hoà âm nhạc Đức với nhà soạn nhạc, nghệ sĩ đàn organ nổi tiếng W. Zachow

- Handel quyết định rời thành phố quê hương Hall vào năm 1703 đến Hambourg nơi có trường phải nhạc kịch duy nhất của Đức để học tập thêm.

Thời kỳ ở Ý (1706 - 1710)

- Năm 1706 Handel sang Ý - đất nước có nền văn hoà nhạc kịch cao.

- Học hỏi các thành tựu âm nhạc Ý về sự phong phủ của các hình thức thanh nhạc, về phong cách biểu hiện giai điệu trong nhạc kịch, về các thể loại đa dạng cho nhạc đàn.

- Năm 1710, Handel trở về Tổ quốc, làm việc tại Hanover cho đến năm 1716, và trong thời gian này hai lần đến thăm Anh dựng tác phẩm cũng như sang Paris để tìm hiểu nhạc kịch.

Thời kỳ ở Anh (1717-1759)

- Khắc phục dần những quan niệm nhạc kịch Ý và tỉnh hiện thực của thẩm mỹ.

- Chuyển từ opéra sang oratorio, trong đó nhạc sĩ đã thể hiện đầy dù các khát vọng sáng tạo của mình.

- Nghiên cứu,học tập truyền thống âm thạc Anh. Handel có một vị trí của nhà soạn nhạc dân tộc Anh.

- Có thể cho rằng, những công sức của Handel dành cho việc cải cách nghệ thuật opéra đã không thực hiện được và không để lại những dấu ấn lịch sử lớn nhất trong sự phát triển của nghệ thuật opéra.

- Trong lĩnh vực Oratorio Handel lại gặt hái những thành công lớn.

- Xã hội Anh lúc ấy, sống động bằng âm nhạc của Handel, là một phần không thể thiếu trong các ngày lễ trang trọng của nhân dân; cho đến cuối đời vẫn một lòng phục vụ cho nghệ thuật của nhân dân Anh. Tài năng của Handel còn thể hiện trong hai tập concerto cho đàn organ, những sáng tác cho đàn clavir và âm nhạc thính phòng. Trong năm 1739 ông còn hoàn thành 12 concerto grosso. Những tác phẩm cuối cùng của Handel trong lĩnh vực nhạc đàn là giành cho các thính chú dân chủ.

- Handel là một trong những nhà cổ điển vĩ đại của thế kỷ XVIII. Ông từ trần ngày 14/4/1759 và nhân dân Anh đã tiễn đưa Handel theo nghỉ lễ của một nghệ sĩ dân tộc vĩ đại và được chôn cất tại nghĩa trang lớn nhất ở London.

Tác phẩm dàn nhạc nổi bật.

1. Nhạc nước (Water Music)

(Ông viết tặng vua George 1 của nước Anh khi tổ chức một bữa tiệc thượng lưu trên sông Thames)

Bộ 3 tổ khúc cho dàn nhạc mang kỷ hiệu HWV 348-350, lần lượt ở các điệu thức Fa trường, Rê trường và Sol trường.

2. Âm nhạc cho lễ hội Pháo hoa hoàng gia giọng Rê trưởng, HWV. 351

  • (Nhà vua của vương quốc Anh George II đã đề nghị Handel sáng tác một tác phẩm nhân dịp kỷ niệm một năm ngày ký hiệp ước Aix-la-Chapelle kết thúc cuộc chiến tranh Kế vị Áo. Lúc đầu tác phẩm viết chủ yếu cho bộ hơi theo yêu cầu của vua, sau ông sửa đổi thêm dần đây khi biểu diễn ở phòng hoà nhạc)

Nghệ thuật Opera

  • Những sáng tác của Handel cho opera gồm 40 tác phẩm, đc viết trong thời kì khó khăn của lịch sử nghệ thuật nhạc kịch. Ông là nhạc hiện đại cỉa thể loại Opera hài hước mới.
  • Handel tìm toig con đường hiện thực trong nhạc kịch, nhưng ko đạt đc theo ý muốn, mà phải chờ tới vai trò người kế tiếp trong công cuộc cải cách Gluck.
  • Tuy nhiên, phải đánh giá cao rằng nhạc kịch của Handel có tầm ảnh hưởng cao hơn với những người cùng thời kì.
  • Nhiều tác phẩm của ông đc sáng tác trên các tác phẩm của các nhà thờ cổ đại và đương thười nhưng những tác phảm của ồn ko thể xếp vào phạm vi Seria mà ông sáng tạo nên một thể loại Opera mới mẻ.
  • Nhân vật của ông mang tính chất rập khuôn trong Opera Seria - vua, nhà cầm quyền, hiệp sĩ
  • Trên sân khấu ko phát triển hoạt động kịch mà chỉ phát triển sự kiện đối với tâm lí nhân vật. Nên nó mnag nghệ thuật kịch “của trạng thái” hơn là nghệ thuật phát triển.
  • Một số tiết mục hợp xướng trong một số vở đc đánh giá cao, giữu vai trò lớn trong các cảnh kết.
  • Các đoạn Aria thường ở thể loại 2 đoạn hoặc aria da capo trong đó có sự tương phản mạnh.
  • Ông hỗn hợp hát nói aria, gặp cả sự xung đột trong song cả đầy sức biểu hiện ở các bè có nhiều cá tính hoặc là song ca hòa hợp trữ tình như tác phẩm dưới.
  • Hợp xướng được ông xây dựng đa dạng và đc đánh giá cao. Giữu vai trò lớn trong các cảnh kết và thường mang tính chất anh hùng - trữ tình.

Sáng tác Oratonio

  • Ông thất bại Opera nhưng lại rất thành công với Oratonia.
  • Giữa lúc buồn bã với Opera thì ông viết Oratonio “Đấng cứu thế” viết rong 14 ngày lại được khán giả hoan nghênh và tán thưởng. Từ đấy ông quyết định chuyển từ Opera qua Oratonio và hiến thân toàn bộ. Lúc này ông đã 60
  • Về kịch bản ông thường lấy câu chuyện kinh thánh để nói lên thời đại.
  • Về hình thức oong đã nhạc kịch hóa Oratonio, chứa đựng nội dung lớn lao chưa từng có . Oratonio chưa làm được 3 màn chứ ko phải 2 màn nhưu trước, được trình diễn trên sân khấu nhà hát chứ ko phải phòng hòa nhạc.
  • Dàn nhạc của ông luôn luôn có vai trò hỗ trợ đắc lực cho phần hát và độc lập
  • Chủ đề khác nhau của oratonio Handel khẳng định tính đa dạng bề hình tượng và tính độc đáo của thể loại. Chúng cho phép trong dàn ý, trữ tình - kịch tính, hoặc anh hùng - sử thi.
  • hợp xướng là một trong những mặt đổi mới của Handel trong thanh xướng kịch. Hợp xướng là đại diện cho các tư tưởng anh hùng cơ bản và những hình tượng của nhân dân và khát vọng cao cả của họ. Nhưunxg hợp xướng đồ sộ khẳng định cả đặc điểm to lớn của oratonio.
  • Fuga là một trong những hình thức hợp xướng biểu hiện mạnh nhất.
  • Vai trò dàn nhạc tron các nhạc kịch của Handel rất được đề cao. Ông sử dụng phương tiện dàn nhạc ko chỉ đệm cho các aria, hát nói, mà còn tạo cho dàn nhạc có vai trò độc lập trong các ouverture trang trọng phong cách Pháp và những cảnh gây hiệu quả sân khấu.

Giới thiệu Oratonio Samson

  • Viết theo sự tích lấy từ kinh thánh (đây ko phải là tác phẩm tôn giáo viết cho nhà thờ, mà ông mượn chuyện xưa để nói về hiện tại)
  • Tác phẩm ngợi ca lòng dũng cảm và sự hi sinh cao cả của vị anh hùng, mang lại hạnh phúc cho nhân dân độc lập cho dân tộc

Overture gồm 3p:

Phần 1: nghiêm trang hùng vĩ

Chủ đề âm nhạc gầm 4 nhịp mở đầu chuển bị ko khí chung với tiết tấu hành khúng khang trương. Chủ đề 8 phần tiếp theo

Phần 2: cấu trúc Fuga

Chủ đề going tiếng kèn xông trận thôi thúc vang lên ở bè cao (3 nhịp đầu) - bè trung (3 nhịp tiếp) - Bè trầm (3 nhịp)

Phần 3: là khúc nhạc Minuet (sau này hiệu đính đc cắt

Aria Samson: các quãng bốn đi lên nhưu lời kêu gọi, tiết tấu khẩn trương thúc giục.

Sáng tác khí nhạc & nhạc đàn

  • Đóng góp quan trọng trong sự hình thành phong cachs khí nhạc nữa đầu thế kỉ 18.
  • Hoàn chỉnh phong cách cổ điển của một số thể loại tiêu biểu như Sonate, tổ khúc, concerto grosso, biến tấu và biến tấu cổ.
  • Khí nhạc của ông gắn liền vơus nghệ thuật Opera và Oratonio
  • Ông là người biểu diễn đàn phiếm điệu luyện lạ thường và ứng tác xuất sắc
  • Các tác phẩm khí nahjc của ông gồm 4 nhóm: organo, clavir, dàn nahjc và thính phòng

Sáng tác Clavir

Tổng hợp các trường phái Đức, Ý, Pháp và Anh.

Tác phẩm man tính chất giai diệu dân ca và hình thức theo phong cách chủ điệu với nền tảng hòa âm rõ ràng.

Dưới tác động của opera ông đã thay đổi cấu trúc và nội dung hình tượng của thể loại tổ khúc.

Ông mở rộng hình thức khác nhaỷ múa như Prelude, Ouverture, Variation, Fuga. Nó gần với Opera với giai điệu anh hùng nhiệt tình.

Bản tổ khúc số 10 dmool có mqh với opera seria với gia điệu Sarabanda từ chất liệu aria.

Aria ai oán của Alminera trong nhạc kịch Rinado hình thành chương và chủ đề cho biến tấu trong tổ khúc 11.dmoll

Johann Sebastian Bach(1685 - 1750)

  • Ông là nhạc sĩ xĩ đại trong mọi thời đại
  • Dòng họ ông có 7 đời sống bằng nghề âm nhạc vè có trên 200 nhạc sĩ biểu diễn nổi tiếng ở nước Đức. Ông là ngôi sao chói lọi nhất, người ta gọi “Bach vĩ đại”
  • Suốt đời ông chỉ sống ở Đức, cuộc sống khá nghèo nàn, ông phải sáng tác, chỉ huy dàn nhạc và dạy nhạc.
  • Ông mất ngày 28/6/1750 trong sự quên lãng của người đời.
  • Sự nghiệp của ông mãi sau 100 năm mới được phát hiện và khám phá với một tầm vóc hùng vĩ và chói sáng
  • Beethoven từng nói “Bach ko phải là một dòng suối và Bach là một đại dương”
  • Toàn bộ tác phẩm của ông là bản tổng kết sinh động những thành tựu của âm nhạc thế giới từ cổ đại cho đến đương thời và cả cho âm nhạc thời hiện đại
  • Ông là người đặt nền móng cho mọi loại trường phải, mọi loại chuyên ngành trong âm nhạc
  • Các trường phái âm nhạc trên thế giới trái ngược nhau về quan điểm, về phong cách, về phương pháp, sáng tác đều coi Bach là sư tổ của mình
  1. Cuộc đời và sự nghiệp
  • Bach sinh ngày 31/3/1685 tại thành phố nhỏ Eisenach. Mồ côi cha mẹ từ sớm nên Bach được nuôi dạy bởi người anh trai Johann Christoph, nhạc sĩ đàn organ và clavencin ở thành phố Ohrdruf
  • Ngay từ những năm tháng học ở trường trung học tại thành phố Ohrdruf =, Bach đã mâu thuẫn với hệ thống giáo dục già cỗi, lỗi thời của hệ thống giáo dục Đức lúc bấy giờ
  • Bach đã phát hiện ra nghệ thuật to lớn của Palestrina, Oralando de Lassus, Schutz,...
  • Từ năm 15 tuổi, Bach đã là thành viên hát trong một dàn hợp xướng Luneburg và sau này là nhạc sĩ - nghệ sĩ đàn organ ở nhà thờ.
  • 18 tuổi bắt đầu nhận lương nhờ đàn Violon trong dàn nhạc của công tước.
  • Năm 20 tuổi ông chuyển đến Weimar và chơi Organ trong dàn nhạc cung đình. Giai đoạn này ông trưởng thành về sáng tác và biểu diễn điêu luyện.
  • Năm 1717 vè chống lại cách xử sự bất công của nhà chức trách nên đã đệ đơn xin thôi việc và hậu quả bị bỏ tù.
  • Những năm cuối từ 1723 - 1750 Bach đã sống ở Leipxip, nahjc sĩ đã sáng tạo ko mệt mỏi và đạt tới đỉnh cao trong sự nghiệp của mình.
  • Bach đã có mqh với trường nahjc ở đây và nhiều sáng tác của nhạc sĩ được viết theo thành phần biểu diễn của dàn nahjc này.
  • Cùng với các khuynh hướng dân chủ trong văn hóa, ở Leipxip vẫn còn tồn tại các trật tự xã hội cũ. Bach lại một lần nữa xung đột với tổ chức văn hóa, như năm 1717 ở Weimar, tuy lần này ông không phải rời khỏi thành phố nhưung sáng tác của nahjc sĩ ko đc ấn hành, tất cả chỉ còn ở dạng viết tay, và cuộc sống chật vật, đói nghèo triền miên
  • Bach mất ngày 28/6/1750 trong sự quên lãng

Âm nhạc

  • Âm nhạc của Bach dù viết cho loại đàn nào hoặc viết cho hát cũng đều mang âm hưởng của organ và hợp xướng. Hai chính chất này trong âm nhạc Bach gần như làm sống dậy các tòa kiến trúc đồ sộ, những bức điêu khắc tuyệt vời các bức tranh vẽ trong nhà thờ... Phần âm nhạc đã tạo nên linh hồn cho các công trình tuyệt tác ấy.

Sáng tác

Organ:

  • Các sáng tác của Bach cho đàn organ đã phát triển truyền thống của phong cách organ Đức. Ông đã khắc phục các chức năng giới hạn của nt liên quan trước hết với nhà thờ.
  • Tư duy Phức điệu của Bach được thể hiện trong các thể loại khác nhau như cho đàn organ: toccata, fantaisie, prelude, fuga, passacaille... cả các cải biên hợp xướng cho organ chiếm vị trí đáng kể.
  • Trong liên khúc toccata, fantaisie, prelude với fuga Bach đã thể hiện là người điêu luyện bậc thầy của các hình thức tương phản
  • Một số tác phẩm cho đàn organ được viết với mục đích sư phạm (dành cho con trai của Bach). Gồm 46 preludes trên cơ sở của các giai điệu hợp xướng, được cải biên ngẫu hứng.
  • Nhiều cải biên của Bach như sau concerto cho đàn organ mà một phần trong dựa trên concerto của Vivaldi
  • Những tp organ kinh điển của Bach được viết trong các hình thức, thể loại cổ, mà ở phần một đã điểm các tp của ông cho nhạc cụ này

Clavir

  • Là sự tổng hợp phức tạp của âm nhạc đàn clavir của Đức, Pháp, Ý
  • Nhưng sáng tác cho đàn Clavir của Bach có sức mạnh bi hùng và sự tự do ngẫu hứng của phong cách organ của ông có cấu trúng hòa âm rõ ràng, giai điệu phong phú và tính rực rõ của âm nhạc violin Ý
  • Phức điệu của Bach tiếp nhận sự biểu hiện đặt biệt trong sáng tác cho clavecin. Trong đó đã nêu lên sự hoàn thiện của phong cách cũng nhưu hình thức phức điệu phức tạp nhất là Fuga
  • Sáng tác cho đàn clavecin của Bach là đa dnagj về hình tượng, thể loại; thể hiện hai hiệu quả chính. Tính thân thiết - thính phòng trong inventipn, tổ khúc và trong một số prelude và fuga. Còn tron concerto là dàn ý sáng tạo vưới khuôn khổ lớn hơn; phức tạp hơn với tính chất điêu luyện ngẫu - hứng trong cấu trúc phức điêu.

+ tổ khúc

  • Thể loại tổ khúc của Bach cho đàn clavecin lại ko đi theo con đường truyền thống như 6 tổ khúc Pháp và 6 tổ khúc Anh viết năm 1722. tổ khúc dần mất đi mối liên quan đấn ngọn nguồn phong tục đầu tiên. Từ nền tảng phong tục chỉ còn giữ lại những đặc điểm về những dấu hiệu tiết tấu nhịp điệu riêng biệt của các điệu nhảy và nguyên tắc của sự tương phản. Bach đã đổi mới những nguyên tắc này.
  • Tổ khúc của Bach có khuynh hướng sử dụng phức điệu ở các chương, đặt biệt là chương guige, trong nhiều trường hợp là fuga

+ bình quân luật

  • Hai tập bình quân luật của Bach cho đàn clavecin là một công trình khoa học để chứng minh cho một phát minh, đồng thời là tác phẩm nghệ thuật vĩ đại, đã đúc kết những tinh túy nhất về âm nhạc của Bach. Tập I viết năm 1722, còn tập II viết năm 1744. hai tập “bình quân” cũng với tập “nghệ thuật fuga” viết năm 1750 là những tập đồ sộ, vĩ đại trong sự nghiệp âm nhạc của Bach.
  • Thời ấy các loại đàn phím bấm như organ và clavecin đc xây dựng theo hệ thống âm thanh tuyệt đối. Hệ thống này chia 1 cung thành 9 comma. Như vậy đô thăng cao hơn rê giáng 1 comma. Muốn biểu diễn chuẩn xác những bản như thế, phải có một laoij đàn phím với hai phím đen; một hàng, dành cho các âm thanh có dấu thăng; một hàng khác , dành cho các âm có dấu giáng. Trên thực tế , tai người nge khó phân biếtuwj sai lệch một nửa comma. Bach đã thay vào bằng hệ thống bình quân.
  • Bach chia đều một cung thành 2 phần bằng nhau nên chỉ cần một hàng phím đen cho các âm thanh có thăng hoặc giáng. Như vậy Đô lên Rê chia làm 2 và Đô thăng và Rê giáng có chung cao độ. 1 quãng 8 chia làm 12 bán cung và 6 cung.
  • Bach đã viết hai tập “Bình quân” , mỗi tập gồm cặp Prelude và Fuga vào tất cả 24 giọng, điệu khác nhau của âm nhạc, từ ko có dấu hóa nào đến nhiều nhất là 7 dấu hóa.
  • Sự chuyển giọng, điệu lần lượt của các cặp theo bán cung hóa để chứng minh cho tính chất bình đẳng giữa các nửa cung. Đồng thời, Bach còn nhấn mạnh ý nghĩa hai mặt của mỗi giọng điệu. Các cặp thuộc giọng thứ đều xếp xen kẽ vào nhau những cặp thuộc giọng trưởng cùng tên với chúng. Trong sự sắp xếp, Bach còn quan tâm tới sự tương phản về tính chất của các fuga.

Thính phòng và dàn nhạc

Thanh nhạc và nhạc đàn

Joseph Haydn(1732 - 1809)

  1. Sơ lượt
  • Joseph Haydn (1732-1809) là nhà soạn nhạc người Áo, được gọi là “cha đẻ của symphony” và “cha đẻ của string quartet" nhờ vào sự phát triển và cải tiến các thể loại này. Haydn có phong cách âm nhạc mang tính cách mạng, với sự hòa hợp tuyệt vời giữa cấu trúc rõ ràng và sự tự do sáng tạo trong âm nhạc. Các tác phẩm của ông thường mang tính vui tươi, lạc quan và hài hước thể hiện sự tỉnh tế và sự hiểu biết sâu sắc về âm nhạc. Haydn cũng là người đầu tiên áp dụng những quy tắc cấu trúc trong việc xây dựng các tác phẩm phức tạp mà vẫn giữ được tỉnh dễ tiếp cân cho người nghe.
  • J. Haydn sinh ở Rohrau trong một gia đình đông con. Bố của nhạc sĩ có giọng hát Tenor đẹp và biết chơi nhiều nhạc cụ khác nhau và Haydn có được những năm tháng đẹp đề tuổi thơ ở vùng quê có nền âm nhạc phong phú này. Sau đó, Haydn đã tới Vienne.
  • Haydn không được học có hệ thống, mà kiến thức âm nhạc của ông tiếp thu từ thành tựu của quá khứ và trực rực tiếp trong thực hành nghề nghiệp. Ông còn học từ các sáng tác giao hưởng của những nhà soạn nhạc Ý và Vienne sớm.
  • Năm 1751, ông đã viết một trong những sáng tác đầu tiên của mình đó là nhạc kịch theo phong cách hát trò có tiêu đề "Con quỹ thọt mới", được trình diễn tại một trong những sân khẩu thành Vienne nhưng không để lại ấn tượng. Từ giữa những năm 50, Haydn bắt đầu thế hiện rõ năng lực trong lĩnh vực nhạc dân.
  • Năm, 1755, Haydn tham gia trong một nhóm nhạc hòa tấu với tư cách là một nhạc công. Đồ có tiết mục trình bày cho nhóm, Haydn dã viết 20 tử tấu dây. Từ 1759, nhạc sĩ làm việc cho ông hoàng Morzin, phụ trách dàn nhạc gồm 12 thành viên.
  • Những năm này, một trong những sự kiện đáng chú ý trong đời nhạc sĩ là tình bạn giữa ông với Mozart trong các chuyến lưu diễn ở Vienne. Mozart coi Haydn như một người thầy; còn Haydn ca ngợi Mozart là thiên tài lớn.
  • Những năm từ 1791 - 1801, có nhiều thay đổi lớn trong cuộc đời nhạc sĩ. Ông được giải phóng khỏi cuộc đời làm thuê và trở thành nhà sáng tác hoàn toàn tự do. Haydn tới Luân Đôn, được nhân dân Anh đón tiếp nồng nhiệt qua các trình diễn tác phẩm của mình cà đã thúc đẩy ông sáng tác những tác phẩm mới. Ở Luân Đôn, Haydn đã viết 12 “Giao hưởng Luân Đôn”, do ông chỉ huy trước công chúng Anh. Ông tiếp nhận danh hiệu ở khắp nơi: Tiên sĩ của Trường Đại học Oxford và Viện sĩ của các nhạc Viện hàn lâm khoa học - nghệ thuật Stockholm, Amsterdam, Paris.
  • Tại Anh, Haydn đã viết nhạc kịch mới “Orfée ed Euridice” (1791). chuyến đi thứ 2 đến Anh 1794, Haydn đã suy nghĩ cho nhưunxg sáng tác loại thanh nhạc - nhạc đàn kết hợp đồ sộ của mình. Trở về đất nước, ông đã sáng tác năm 1799 bản oratonio “Đấng sáng tạo muôn loài” và năm 1801 là “Bốn mùa”. những tác phẩm này kết thúc sự nghiệp vĩ đại của nhà soạn nhạc cổ điển.
  • Haydn mất tại Vienne ngày 31/5/1809 trong căn nhà nhỏ ở ngoại thành, khi quân đội Napoléon chiếm Vienne lần thứ hai.

II. SÁNG TÁC GIAO HƯỞNG

  • Haydn là nhà soạn nhạc đầu tiên đã đưa vào giao hưởng nội dung tư tưởng có ý nghĩa. Ông đã đạt tới sự tổng hợp giữa nội dung và hình thức, tạo sự hoàn thiện về nghệ thuật của phong cách sonate - giao hưởng.
  • Haydn viết hơn 100 bản giao hưởng trong đó 12 bản giao hưởng "Luân Đôn" là nổi tiếng nhất.
  • Giao hưởng của Haydn khác hẳn với các hình thức giao hưởng sớm trước ông, còn mang đặc điểm của loại tổ khúc, kết cấu chưa chặt chẽ, âm nhạc phức điệu, hình tượng chưa rõ nét...
  • Trong những bản giao hưởng, ông đã sử dụng liên khúc sonate một cách sáng tạo, ngoài chương Menuetto thêm vào đó những chương: ba đoạn phúc, biến tấu, rondo,... trong mối tương quan chặt chẽ cả về tính chất âm nhạc cũng như cấu trúc, tốc độ, điệu tính từng chương.

Sơ đồ liên khúc sonate

Chương I - Sonate(Allegro) - diễn tả đấu tranh căng thẳng, lý trí.

Chương II - Tự do - diễn tả nội tâm trữ tình hay bi thương

Chương III - Menuet hay Skerzo - nghỉ ngơi, vui tươi hay châm biếm

Chương IV - Sonate hay Rondo - Sonate - tổng hợp các chương - kết luận

(Menuet: Vũ khúc đình Pháp nhịp 3/4, Skerzo: châm biếm, tinh nghịch)

  • Ông vận dụng sự tương phản về tốc độ cũng như tính chất để nhấn mạnh nội dung âm nhạc của từng chương và hình tượng của các chủ đề chính và phu trong chương sonate.
  • Dân ca dan vũ là linh hồn trong giao hưởng của ông.
  • Haydn ko ưa dùng tiêu đề cho giao hưởng cũng như cho âm nhạc thính phòng. Tuy nhiên, ta thấy có vài tiêu đề xuất hiện trong giao hưởng là do các nhạc sĩ đương thời đặt cho nó. (Săn bắn, đồng hồ, gà, buổi sáng, buổi trưa,...)
  • Trong giao hưởng 39. ông học Mozart đưa Clarinet và giao hưởng.
  • Có thể chia giao hưởng của ông thành bốn giai đoạn:

- Giai đoạn 1: 1761 - 1772 những bản giao hưởng ấy còn mang nặng tính chất nhạc giải trí, phục vụ cho sinh hoạt có phong cách thính phòng.

- Giai đoạn 2: giai đoạn này ông sáng tác trong những năm làm việc cực nhọc tại lãnh điệu bá tước Esterhazy. Những bản giao hưởng số 44, 45 và 49 viết ở điệu thứ, âm nhạc tràn đầy tình cảm bi ai; trái với phong cách điểu hình của ông là lạc quan yêu đời, khôi hài, giản dị, trong sáng.

- Giai đoạn thứ 3: và những bản giao hưởng viết tronh những năm 80 của tk như 6 bản “Giao hưởng Paris”, lần đầu tiên Haydn đưa nội dung với ý nghãi xã hội rộng hơn và khẳng định giao hưởng là tác phẩm độc lập, được thể hiện trong tính thống nhất bốn chương của liên khúc; mỗi chương có nội dung độc lập, hoàn thiện.

- Giai đoạn thứ 4: cũng là giai đoạn cuối là những bản giao hưởng Luân Đôn, đỉnh cao trong sáng tác giao hưởng của Haydn.

  • Haydn qui định rõ ràng thành phần dàn nhạc như sau:

- Bộ gỗ: Flute, Oboi, Clarinet, Fagot.

- Bộ Đồng: Cor, Trumpet

- Bộ gõ: 2 timpani

- Bộ dây: Violin1, 2. Viola, Cello, Contrasbass.

  • Đây là một bước tiến trong quá trình hoàn thiện thể loại giao hưởng của trưởng phái cổ điển Vienne.

Biến chế cổ điển Vienne thường gồm:

- 10 violon 1, 8 violon 2 6 viola, 6 cello, 4 contrebasse (bộ dây),

III. SÁNG TÁC THÍNH PHÒNG

1. Sáng tác thính phòng, son mi

  • Tứ tấu có ý nghĩa lớn nhất trong sự hình thành của phong cách thính phòng cổ điển. Trong lịch sử của tứ tấu, Haydn đã đưa ra vai trò vốn có như giao hưởng. Tứ tấu dây thể hiện sự cách tân nhất của nhà cổ điển Vienne vĩ đại.
  • Những năm 70, những tứ tấu của ông có ý nghĩa lớn như giao hưởng, phong phú bởi tính thể loại, nội dung tư tưởng của tác phẩm. Đó là liên khúc gồm những chương nhạc tương phản chủ đề; Đặt biệt, ở các chương kết của tác phẩm.
  • Haydn đem fuga vào tứ cấu và còn xuất hiện ở các bản sau như 32 - Cdur, số 35 - fmoll, số 36 - Adur. Chương menuet của tứ cấu op.76 số 2 được viết theo thủ pháp canon.
  • Những tứ cấu viết trong những năm 80 và 90 dã khẳng định những đường nét điển hình trong phong cách tứ cấu Haydn như 6 bản “tứ cấu Nga” nổi bật là tính chủ đề rõ hơn, sự tương phản được khẳng định giữa 2 chủ đề và thường làchủ đề với tính phong tục, dân gian.
  • Hình tượng rõ nhất của chủ đề thể hiện trong một vài tứ cấu; như tứ cấu op.64 số 5 có tiêu đề “Chim sơn ca” bởi chủ đề một của sonate allegro vang lên ở tầm cữ cao của violon và cho ta cảm giác như tiếng hót của sơn ca

106 bản giao hưởng

90+ tứ tấu đàn dây

62 bản sonata dành cho piano

32 bản tam tấu piano

  • Theo một ước tính, ông đã sáng tác hơn 340 giờ nhạc, nhiều hơn Mozart, Beethoven, Handel hay Bach. Ông được ghi nhận là người phát minh ra tứ tấu đàn dây như chúng ta biết, và là kiến trúc sư chính của các định dạng cổ điển. Ông đã dạy cho những nhà soạn nhạc vĩ đại trong tương lai Beethoven là học trò được ông đánh giá cao nhất.
  1. Sáng tác cho đàn phím
  • Những sáng tác của Haydn cho đàn phím gồm sonate, biến tấu, rondo. Sáng tác cho đàn phím của Haydn ko có ý nghĩa lịch sử lớn như giao hưởng và tứ cấu nhưng ở lĩnh vực này nhạc sĩ đã tạo nên những tác phẩm với giá trị nghệ thuật cao.
  • Haydn đã viết khoảng 53 sonate. Những bản sonate viết trong những năm 80 là phong phú về nội dung, trưởng thnahf về phong cách thể hiện qua chất liệu chủ đề tương phản và hoàn thiện sonate allegro...
  • Các bản sonate D dur, e moll, và hai bản sonate đồ sộ điệu tính Es dur là những điển hình cho mẫu mực cổ điển.
  • Bản sonate D dur là liên khúc ba chương với sự tương phản nhấn mạnh giữa chương chậm, bi thương gần với sarabande cổ với hai chương đầu và cuối sinh động.
  1. Concerto
  • Haydn có một số bản concerto cho đàn phím, violon, violoncelle và các nhạc cụ hơi. Ở lĩnh vực này, ông đã mở ra thời đại của concerto cổ điển. Song, nguyên tắc của sự phát triển giao hưởng và sự thi thố hờ tấu giữa bè solo và dàn nhạc được phát triển đầy đủ trong tất cả các bản concerto. Các bản concerto của Haydn có ba chương với hai phần trình bày trong chương một và chương kết là nhanh với tính chất nhảy múa. Nhưungx tác phẩm nổi bật trong lĩnh vực này là concerto cho violoncello Ddur, và cho Piano Ddur.

Christophe Willibald Gluck (1714-1787)

  1. Cuộc đời và sự nghiệp
  • Những năm tháng ở Tiệp, Ý, Anh và Vienne là thời kỳ hình thành cải cách đầu tiên.
  • Gluck sinh ở vùng giáp với Tiệp, thuộc nước Đức, thời nhỏ, ông sống trong vùng rừng núi Bohème tươi đẹp.
  • Từ năm 1726, Gluck đến một thành phố của Tiệp để tiếp thu nền học vấn âm nhạc tại đây; đồng thời còn hát trong hợp xướng nhà thờ. Đến năm 1732, Gluck tới Praha để nâng cao trình độ âm nhạc và đã học với một nhà phức điệu nổi tiếng nhất của Tiệp. Đến 22 tuổi, ông được công nhận là nhạc sĩ dưới ảnh hưởng của nền văn hóa phong phú của thủ đô Tiệp. Với tài chơi đàn organ và còn là nhà sư phạm âm nhạc, giỏi về hòa thanh, đối vị, nên được người đời mệnh danh là “Bach của Tiệp”.
  • Sau một năm dừng lại ở Vienne Gluck đã chuyển đến Itala để có thể tìm hiểu, học tập các nhạc sĩ viết opera nổi tiếng, mặc dầu ông đã biết đến opera đến opera ý trong thời gian ở Vienne. 4 năm sống ở Milan, dưới sự dẫn dắt của nhà soạn nhạc, nghệ sĩ đàn organ, nhà chỉ huy G.B.Sammartini - một trong những nhà giao hưởng ý đầu tiên. Gluck đã hoàn thiện nghệ thuật và kỹ thuật sáng tác nói chung và cho nhạc kịch nói riêng. Những vở nhạc kịch đầu, Gluck viết trên kịch bản của Metastasio, trở thành nhà sáng tác nhạc kịch nối tiếng ở Milan và nhiều thành phố khác của ý. Tuy nhiên, những vở viết trong thời gian này theo phong cách sérva truyền thống.
  • Năm 1746, Gluck sang Anh và vẫn tiếp tục viết nhạc kịch truyền thống với những vở nổi tiếng như ArtamenaSự thất bại của những người khổng lồ.
  • Sau Anh, đến 1754, Gluck đi thăm Dresden, Praha, Napoli, Hambourg, Copenhagen, vừa chỉ huy, sáng tác, dàn dựng các vở nhạc kịch mới của mình; ông đã viết hơn 50 vở.
  • Sau chuyến chu du nhiều nước, Gluck trở về Vienne và vẫn sáng tác nhạc kịch theo phong cách sêrie, đồng thời ông đã hướng tới những khuynh hướng sáng tạo mới, đến nhạc kịch hài hước và vũ kịch Pháp. Chính ciệc sáng tác thể loại nhạc kịch mới đã giải phóng những công thức truyền thống trước đây và giúp Gluck tìm đến phương pháp hiện thực. Vũ kịch giữ vai trò quan trọng trong con đường cải cách nhạc kịch của Gluck. Thời kỳ này những vỡ vũ kịch nổi tiếng của ông như Don Juan, Hoàng tử Trung Hoa, Alexandre.
  • Thời kì cải cách được thể hiện qua 3 vở đầu tiên là Orfeo và Euridice dựng năm 1762, Alceste dựng năm 1767 và Paride ed Elena dựng năm 1770. Ba vở cải cách này biểu diễn ở Vienne, đã thể hiện rõ tài năng của Gluck cũng như quan điểm thẩm mỹ của ông.
  • Con đường vở nhạc kịch cải cách ở Paris đã biểu hiện đầy đủ nhất sự tìm tòi sáng tạo của Gluck. Nhạc kịch của ông đã có cổ vũ trực tiếp cho Paris đang sục sôi tinh thần cách mạng. Gluck đòi hỏi sự chân thật của nghệ thuật trong biểu diễn và cả trong kịch bản. Ông còn sửa chữa lại các vỡ như Orfeo, Alceste,... để phù hợp với sân khấu Paris, biểu hiện bằng tiếng Pháp bè của Orfeo cho giọng Tenor (con khi ở Vienne cho castra - alto) và có mở rộng thêm các màn múa.
  • Ở Paris, nhạc sĩ đã viết những nhạc kịch cải cách cuối cùng của mình là Armide (1777), Iphigenie en Tauride (1779); và cũng trong cùng năm là vở Tiếng vọng và câu thùy tiên, nhưng lại xa vời những vở cacir cách và ko thành công. Những năm cuối đời, Gluck trở lại Vienne nhưng lại chuyên tâm sáng tác các cac khúc, Gluck tạo ra trường phái nhạc kịch mới có ảnh hưởng tới nhiều nhạc sĩ cùng thời và các nhạc sĩ ở nhiều nước trong thế kỉ XIX với số lượng gần 100 nhạc kịch các loại.
  1. Những nguyên tác cải cách nhạc kịch của Gluck
  • Gluck chiếm vị trí có ý nghĩa nhất trong lịch sử sân khấu nhạc kịch. Quan điểm thẩm mỹ và cộng cuộc cải cách nhạc kịch của ông đã mở ra một thời kỳ mới của nghệ thuật nhạc kịch.
  • Tránh những dư thừa đã có trong nhạc kịch Ý. Đấy là sự lạm dụng kỷ thuật thanh nhạc làm cho nhạc kịch ngô nghê.
  • Âm nhạc phải luôn đi đôi với ngôn ngữ văn học, phải kết hợp âm nhạc với lời ca. Âm nhạc phải phục vụ cho kịch. Sự tổng hợp giữa âm nhạc và kịch là nền tảng trong cải cách của Gluck. Âm nahjc và ngôn ngữ văn học phải quyện lại với nhau, âm nhạc và lời ca phải kết hợp chặt chẽ. Âm nhạc phải góp phần chi kịch phù hợp với tình tiết của kịch, là phương tiện để miêu tả các khía cạnh nội tâm của các nhân vật.
  • Aria phải phù hợp nội dung tâm lý nhân vật, tránh phô trương kỹ thuật thanh nhạc. Thoát ra khỏi sự nghiêm chỉnh và công thức, giai điệu chung chung như trước đây. Aria trong nhạc kịch của Gluck là đơn giản, cách hát, màu sắc đạt đỉnh cao; khẳng định các tâm trạng của nhân vật và tình huống kịch.
  • Múa ko phải giải trí vui mắt mà phải có nội dung liên quan đến tình tiết nhạc kịch.
  • Các khúc nhạc Ouverture phải có nội dung, hình tượng của nhạc kịch. Phaiir gợi trước tính chân thật của cảnh trí sẽ diễn ra trước khán giả.
  • Ông đã liên kết hát nói, aria, hợp xướng và múa trong các cảnh kịch lớn và có dàn ý sáng tạo toàn diện đồ sộ.
  • Mối liên quan của quan điểm thẩm mĩ của Gluck với chủ nghĩa cổ điển đc thể hiện trong việc sử dụng của chủ đề cổ đại và việc lý giải các nhân vật trong nhạc kịch. Những nguyên tắc tư tưởng - thẩm mĩ mới này, đòi hỏi sự thay đổi trong kịch bản, trong các hình thức thanh nhạc, hợp xướng, và dàn nhạc của nhạc kịch.
  1. Giới thiệu nhạc kịch ORFEO & EURIDICE
  • Nội dung: chủ đề nhạc kịch Orfeo rút ra từ câu chuyện thần thoại Hy Lạp nổi tiếng. Nói về một danh ca tẻ tuổi tên là Orfeo. Anh có vợ là Euridice chẳng may bị rắn cắn chết, Thần Amore chỉ cho anh đường đi tìm vợ nơi âm phủ với điều kiện không được nhìn mặt vợ ko nàng ra đi mãi mãi. Với tài nghệ của mình chàng đã vượt qua gian nan nơi âm phủ với nhiều gian truân. Sua khi cứu được người vợ bằng tiếng đàn và giọng hát tuyệt vời của mình chàng trở về dượng thế. Người vợ thắc mắc sao chàng quả lạnh lùng. Trong một phút yếu mềm chàng đã nhìn mặt vợ mình và nàng ra đi với quỷ thần. Chàng đau khổ nhưng thần Amore đã giúp vợ chồng sống lại và có cuộc sống hạnh phúc.

Wolfgang Amadeus Mozart (1756 - 1791)

  • Mozart là trường hợp đặt biệt trong lịch sử âm nhạc thế giới.
  • Ông là nhạc sĩ, thần đồng - thiên tài âm nhạc.
  • Nhạc sĩ Tchaikovsky từng nói: “Tôi khẳng định sâu sắc rằng Mozart là đỉnh cao nhất mà cái đẹp trong âm nhạc có thể đạt tới”.
  • “Âm nhạc Beethoven là nghệ thuật vị nhân sinh” Hăng hái, sôi nổi, khí thế anh hùng. Còn “Âm nhạc Mozart là nghệ thuật vị nt” tế nhin đẹp đẽ giàu chất thơ.
  • Ông sống vỏn vẹn 35 năm với một cuộc sống đầy nhọc nahwnf đau khổ của một thiên tài những đã để lại cho kho tàng thế giới khoảng 626 tác phẩm, đủ mọi thể loại. Và thể loại nào cũng đạt đến sự hoàn hảo tuyệt đối và như nhau.
  1. Cuộc đời và sự nghiệp
  • Mozart sinh vào ngày 27 tháng giêng năm 1756 tại Salzbourg - thành phố cổ ở Tây Nam Áo, nơi có nhiều điệu dân ca, dân vũ phong phú và là trung tâm của những sinh hoạt tôn giáo.
  • Ngay từ nhỏ đã phát lộ nằn nhiếu âm nahjc thần kỳ. 3 tuổi đã nghe chuẩn xác cao độ âm thanh, lên 4 tuổi đã bắt đầu ngẫu hứng các khúc nhạc tự nghĩ. Sớm thấy năng khiếu của con, cha ông đã cho Mozart học violon và đàn phím.
  • 7 tuổi đã viết 4 bản sonate, 8 tuổi Mozart đã soạn bản nhạc giao hưởng đầu tiên (k16) cho tất cả các laoij nhạc cụ của dàn nhạc”. 10 tuổi ngồi trong dàn nhạc hoàng cung.
  • Trên đường đi biểu diễn châu Âu như London, Paris. Ông đã sáng tác các thể loại như sonate, rondo, vũ khúc và phôi phai viết giao gưởng và nghiên cứu nhạc kịch Ý. Lúc này ông đc đánh giá là thần đồng thiên tài âm nhạc. Nhung vẫn làm thuê cho lãnh chúa.
  • 13 tuổi sang Ý biểu dễn và dự kỳ thi của viện hàn lâm âm nahjc Bolonho. Bài thi quy định 3 tiếng ông hoàn thành trong 30p với chất lượng rất cao. Và được phong tặng viện sĩ viện hàn lâm âm nhạc lúc 14 tuổi
  • Mozart cùng nagyf càng nổi tiếng và vỡ nhạc kịch đầu tay được biểu diễn thành công rực rỡ nhưng cũng là thời điểm lãnh chúa con gọi ông về.
  • 21 tuổi ông snag Pháp với mẹ và mẹ ông mất trên đường đi. Vượt lên đau khổ ông cho rả đời một loại tác phẩm như giao hưởng Paris
  • 23 tuôi trở lại quê hương nhưng bị lãnh chúa đôi xữ tàn tệ nên Ong xin thôi việc đề sông cuộc đời nghệ sĩ tự do.
  • 10 năm cuối cuộc đời Ông sống ở Viene. Đậy là giai đoạn nghệ thuật của Ong đạt đinh cao và gặp Haydn, nghe Beethoven biểu diễn và cưới vợ.
  • Sáng tác cuối cùng của Ông là nhạc kịch Cây sáo thần và Requiem
  • Ông đột ngột qua đời ở tuổi 35 vào ngày 5/12/1791. Đám tang Ông diễn ra trong mùa đông giá lạnh và chỉ có vài người bạn đưa tiễn, Trên đường ra nghĩa trang gặp bão tuyết nên được chỗn vào hồ chôn công cộng và mất xác.

Đặc điểm âm nhạc nổi bật

  • Âm nhạc cua Ông mang chất Bel canto của nước Ý, chất thanh tú ý nhị của nước Pháp.
  • Âm nhạc của Ông hiện thực, bảo vệ sự tất thắng của chân lý, đề cao về nhân đạo tình yêu cao thượng. Bên cạnh đó Ông cũng có những tác phẩm mang tính chất giải trí (Divertis - sement) đó là các Serenade, Menuet, Country dance (vũ khúc Anh nhịp 2/4 hoặc 6/8), Valse...
  • Âm nhạc dân gian nước Áo và Châu Âu được Ông sử dụng độc đáo.
  • Nhiều chủ đề mang âm hưởng dân ca dân vũ (Conserto piano dmoll)
  • Tác phẩm của ông luôn thống nhất giữa nội dung và hình thức nên rất tự
  • nhiên, không gượng gạo dễ đi vào lòng người.
  • Giai điệu sáng sủa, đơn giản, giàu hình tượng. Giai điệu dân gian đã trở nên tuyệt diệu, có tính chất nghệ thuật cao, có nhiều sầu nội tâm phong phú. Giai điệu của Mozart có những nét bán cung (Chromatique) (sonate piano cmoll) và xác định theo điệu trưởng thứ rõ ràng.
  • Tính kịch và trữ tình quyện vào nhau (Symphony No 41)
  • Các nhân tô trong giai điệu của Ông mang tính kịch và tương phân.
  • Âm nhạc vuống vắn cân đối trong các chủ đề.
  • Ông tiếp thụ phức điệu của J.S.Bach và phát triển theo phong cách chủ nghĩa cô điển Viene. Chủ đề phức điệu giàu hình tượng, có cá tỉnh, sức sống gần gủi với mọi người và xây dung theo hướng hoa thanh chủ điệu.
  • Vê hòà thanh, Mozart vận dung công năng T-S-D một cách sáng tạo kết hợp xen kẻ giữa các hợp âm chính phụ, chuyên điệu mạnh mẻ, chuyển điệu điệu xa đã tạo cho giai điệu đây sức sông và lôi cuôn.
  • Âm nhạc của Ông với âm hình tiết tấu đa dạng tạo nên tính sinh động trong âm nhạc của Ông.
  1. Sáng tác nhạc kịch & Requiem
  2. Sáng tác nhạc kịch
  • Mozart đã hoàn thành cuộc cải cách và đưa ra được quan điểm thâm mỹ của mình. Do vậy, Mozart là một trong những nhà soạn kịch - hiện thực vĩ đại nhất của lịch sử nhạc kịch.
  • Mozart đã hướng tới các thể loại khác nhau của nhạc kịch trong các vờ nhạc kịch của mình.
  • Nhạc sĩ đã khắc phục tính sơ đồ, trong việc xây dựng của các thể loại nhạc kịch truyền thống.
  • Mozart coi âm nhạc là nên tảng của nhạc kịch. Tuy nhiên nội dung kịch phải đạt tới sự thông nhât giữa âm nhạc và kịch. Am nhạc có kết câu chặt chẽ, thông nhất, có hình tượng.
  • Ông đã tổng hợp những đường nét của séria và baffa để tiếp nhận những thể loại mới, sinh động hơn; cũng như giữa bi kịch và hài kịch được hòa trộn trong sự thống nhất kịch đầy đủ.
  • Ông đã tăng cường nội dung có tính nhân văn, tâm lý của nhạc kịch;. Mozart đã sử dụng các hình thức thanh nhạc đa dạng, để thể hiện được cá tính của các nhân vật: aria, hát nói, ca khuc, romance, cavatina, độc thoại kịch, aria hài hước và lôi nói nhanh, song ca, hợp ca. đồng ca; và cũng không từ chối aria với kỹ thuật điêu.
  • Vai trò dàn nhạc trong nhạc kich Mozart là mới.
  • Khúc ouverture có vài trò quan trọng trong các nhạc kịch của Mozart.
  • Ouverture của nhạc kịch Cuộc bắt cóc khỏi hoàng cung gồm ba phần. Phần thứ nhất, có đặc điểm hành khúc, sinh động; phân hai có môc liên quan với chủ đề của nhạc kịch, chủ đề trữ tình, chậm được hình thành từ giai điệu aria của nhân vật chính Belmont, nhưng ở điệu thứ; phần hai là nhắc lại nguyên dạng phần một.
  1. Requiem
  • Requiem la tác phẩm cuối cùng trong thể loại cantate - oratorio của Mozart, nhưng chưa kịp hoàn thành và người học trò của Mozart tiếp tục sự dờ dang của người thây và được biểu diễn ở Vienne năm 1792. Bản tổng phô bị thất lạc mãi bôn mươi năm sau người ta mới tìm thấy.
  • Requiem được viết trên lời tôn giáo truyền thống bằng tiếng Latinh. Điều ấy không cản trở Mozart tạo nên âm nhạc tràn đầy cảm xúc nhân văn sâu sắc, thể hiện những tình cảm nội tâm của con người. Nội dung cơ bàn, điên hình cho requiem là thê loại messa đau khô, bi thương. Nhưng, các chương riêng biệt không phụ thuộc vào nội dụng lời, Mozart tạo cho nó có tính kịch, trữ tình liên quan tới nỗi đau khổ sâu sắc.
  • Bản requiem gồm 12 chương.
  • Nội dung buồn - bị thương ở chương 1 của bản requiem (Requiem aeternam), gồm phần Adagio và Allegro. Tính kịch của fuga tương phân của nỗi buồn trong Adagio: