2, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn
phòng vệ chính đáng
2.1, Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại một loại quan hệ dân sự, trong đó người xâm phạm đến tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp phápgây thiệt
hại phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra.
Ngoài những điều kiện về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, nguyên tắc
bồi thường thiệt hại.. tại các điều 584, 585, 586BLDA 2015 thì nếu căn cứ vào các điều kiện làm
phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì hành vi gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng không
bị coi hành vi trái pháp luật và do đó người thực hiện hành vi này không bị coi có lỗi. Tuy
nhiên, để xác định một hành vi gây thiệt hại được coi là phòng vệ chính đáng, cần phải chú ý:
-Thứ nhất: hành vi trái pháp luật xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng,
quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc xâm phạm tới lợi ích của chính bản thân người
phòng vệ chính đáng.
-Thứ hai: Hành vi trái pháp luật của người khác đang gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt
hại cho đối tượng bị xâm hại. Nếu thiệt hại đã xảy ra người bị thiệt hại mới hành vi
chống trả và gây thiệt hại ngược trở lại thì không thể coi là phòng vệ chính đáng.
-Thứ ba: Hành vi phòng vệ chính đáng phải gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâm hại
(trước tiên tính mạng, sức khoẻ; trong những trường hợp nhất định thể tài sản của
người hành vi xâm phạm). Nếu gây thiệt hại cho người không hành vi xâm hại thì
không coi là phòng vệ chính đáng mà có thể coi là gây thiệt hại do yêu cầu tình thế cấp thiết
nếu thoả mãn đủ các điều kiện nhất định.Thứ tư: Hành vi gây thiệt hại trong trường hợp
phòng vệ chính đáng phải cần thiết tương xứng với hành vi xâm hại. Nếu không cần
thiết hoặc không tương xứng thì người gây thiệt hại vẫn phải bồi thường thiệt hại.
-Như vậy, khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho lợi ích được pháp luật bảo vệ thì bản
thân người phòng vệ chính đáng không có lỗi, tính toán để có thể phòng vệ chính đáng. Chính
phòng vệ chính đáng không bị coi trái pháp luật, người phòng vệ chính đáng không bị
coi là có lỗi nên pháp luật dân sự quy định người phòng vệ chính đáng không phải bồi thường
thiệt hại.
Tuy nhiên, nếu người phòng vệ chính đáng gây thiệt hại thiệt hại đó hậu quả của hành vi
“vượt quá” giới hạn phòng vệ chính đáng thì người này phải bồi thường thiệt hại. Đoạn 2 Điều
594 BLDS quy định: “Người gây thiệt hại doợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi
thường cho người bị thiệt hại”.
-Hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng đây được hiểu khi bị người khác gây
thiệt hại, người phòng vệ chính đáng đã có hành vi gây thiệt hại ngược trở lại nhưng có sự sai
lầm trong việc đánh giá mức độ của sự tấn công, điều kiện hoàn cảnh của hành vi tấn công và
hành vi chống trả, do đó vượt quá giới hạn cần thiết để ngăn chặn hoặc đẩy lùi hành vi
hành vi gây thiệt hại ban đầu. Do đó hành vi của họ đã vượt quá giới hạn của phòng vệ chính
đáng. Việc vượt quá giới hạn đó bị coi là trái pháp luật, vì vậy họ phải bồi thường thiệt hại.
2.2 Các khoản bồi thường cụ thể
Thiệt hại điều kiện phát sinh nghĩa vụ bồi thường, Nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại chỉ thể
thực hiện được đầy đủ chính xác khi xác định” toàn bộ thiệt hại” bao nhiêu trên sở đó xác
định mức bồi thường.
Thiệt hại về tài sản
Điều 589 BLDS quy định về thiệt hại do tài sản bị xâm hại được bồi thường bao gồm tài sản “bị mất, bị
hủy hoại hoặc hư hỏng”, “lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút”, “chi phí
hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại”. Như vậy, thiệt hại về tài sản bao gồm thiệt hại trực
tiếp nhằm phục hồi tình trạng tài sản ban đầu của người bị thiệt hại thiệt hại gián tiếp liên quan đến
việc khai thác và sử dụng tài sản trong thời gian từ khi xảy ra thiệt hại đến khi bồi thường. Thiệt hại về tài
sản có thể tính toán được thành một số tiền nhất định bao gồm các khoản sau:
-Thiệt hại trực tiếp bao gồm:Thiệt hại do tài sản bị mất (có tính đến tình trạng tài sản, thời
giá thị trường tại thời điểm tài sản bị mất); - Tài sản bị hủy hoại những tài sản không thể
phục hồi chức năng ban đầu; tài sản bị hư hỏng là những chi phí hợp lý, cần thiết để phục hồi
tài sản, bảo đảm tính năng sử dụng ban đầu như trước khi bị thiệt hại; - Những chi phí phải
bỏ ra bao gồm chi phí để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại hoặc khắc phục thiệt hại. - - --
-Thiệt hại gián tiếp bao gồm: - Lợi ích gắn liền với việc khai thác tài sản (không thể khai
thác tài sản trong suốt thời gian sửa chữa, khắc phục thiệt hại); - Những hoa lợi, lợi tức chắc
chắn thu được nếu không thiệt hại xảy ra những chi phí cần thiết để hạn chế thiệt hại.
Việc bồi thường thiệt hại trực tiếp về tài sản thể thực hiện bằng các cách sau: bằng tiền,
bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc. Về nguyên tắc chung, các bên có thể thỏa thuận
cách thức, mức độ bồi thường như: sửa chữa hỏng, thay thế bằng tài sản khác giá trị
tương đương. Nếu không thể bồi thường bằng hiện vật thì giá trị tài sản sẽ được bồi thường
dựa trên giá trị thị trường của loại tài sản đó, tính đến khấu hao tài sản do đã sử dụng tài
sản.
-Ví dụ: Ông A thấy rằng có người đang ném đá vào cửa kính nhà mình. Vì quá tức giận, ông A
đã lấy súng ra và bắn vào chiếc xe máy của người đó, phá hủy hoàn toàn.Hành động của ông
A được coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, vì ông A đã dùng phương tiện quá mức
cần thiết.
Thiệt hại về sức khỏe: Sức khỏe của con người là vốn quý, khó thể xác định chính xác bằng
một khoản tiền. Vì vậy, bồi thường thiệt hại về sức khỏe thực chất có ý nghĩa là đền bù một phần
thiệt hại về vật chất, tạo điều kiện cho nạn nhân hay gia đình họ khắc phục khó khăn do tai nạn
gây nên trong một số trường hợp chỉ ý nghĩa một trợ cấp cho nạn nhân, gia đình nạn
nhân. Xác định thiệt hại về sức khỏe bao gồm:
-Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và các chức năng bị mất, bị
giảm sút (tiền thuốc, tiền viện phí và các dịch vụ chữa bệnh khác, tiền bồi dưỡng, tiền tàu xe
đi viện, tiền thay thế các bộ phận ginếu có). Nếu do yêu cầu chăm sóc nạn nhân thì chi phí
trực tiếp cho người phải chăm sóc nạn nhân theo yêu cầu của cơ sở chữa bệnh.
-Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của
người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung
bình của lao động cùng loại.
-Chi phí hợp phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong
thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên
chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
-Thu nhập bị giảm sút khoản chênh lệch giữa thu nhập trước khi xảy ra tai nạn sau khi
điều trị. Những thu nhập này phải là những thu nhập thường xuyên, hợp pháp thực tế của họ.
-Tổn thất về tinh thần nạn nhân phải gánh chịu một khái niệm trừu tượng. Hiện tại
không có mẫu số chung cho tất cả mọi người và không thể đo đếm thành tiền một cách chính
xác. Việc xác định tổn thất tinh thần khi sức khỏe bị xâm hại phụ thuộc vào từng cá nhân của
người bị thiệt hại (tình trạng gia đình, độ tuổi, nghề nghiệp, mức độ thiệt hại cả bộ phận
nào của thể bị thiệt hại...). Mức bồi thường đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa
thuận; nếu không thỏa thuận được t mức tối đa cho một người sức khỏe bị xâm phạm
không quá 50 lần mức tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định.
- dụ: Một người vợ bị chồng bạo hành, chồng dùng dao đe dọa. Trong lúc tự vệ, người vợ
đã giật được con dao và đâm chồng nhiều nhát, gây thương tích nặng.
+ Hành vi dùng dao đe dọa của người chồng là hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của
người vợ.
+ Người vợ có quyền phòng vệ để bảo vệ bản thân.
+ Tuy nhiên, việc đâm chồng nhiều nhát, gây thương tích nặng có thể bị coi là vượt quá giới
hạn phòng vệ chính đáng, đặc biệt nếu sau khi người chồng đã có dấu hiệu dừng lại.
+ Trong trường hợp này, người vợ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức
khỏe cho người chồng.
Thiệt hại donh mạng bị xâm hại: Tính mạng của con người giá không thể tính thành
tiền. vậy, bồi thường thiệt hại về tính mạng thực chất bồi thường vật chất phải bỏ ra liên
quan đến cái chết của người bị thiệt hại. Những chi phí phải bỏ ra bao gồm:
-Những chi phí hợp cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc nạn nhân trước khi chết, chi
phí hợp lý cho việc mai táng phù hợp với phong tục, tập quán.
-Tiền cấp dưỡng cho những người mà người chết có nghĩa vụ phải cấp dưỡng (con chưa thành
niên, con đã thành niên không có khả năng lao động...).
-Một khoản tiền khác để đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng
thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì ngườingười bị
thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng
khoản tiền này. Mức bồi thường đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu
không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người tính mạng bị xâm phạm không quá
100 lần mức tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định.
-dụ: A bị B tấn công bằng dao. Để tự vệ, A đã giật được con dao đâm trả B. Tuy nhiên,
sau khi B đã ngã xuống không còn khả năng tấn công, A vẫn tiếp tục đâm B, gây ra cái
chết cho B. Trong trường hợp này, hành vi của A đã vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Mặc dù ban đầu Aquyền tự vệ, nhưng khi B đã mất khả năng tấn công, việc A tiếp tục gây
ra cái chết cho B là không cần thiết và không tương xứng với hành vi xâm hại của B.
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm: Thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy
tín của cá nhân không thể xác định. Thực chất là xác định những tổn thất về vật chất do danh dự,
nhân phẩm, uy tín của nhân bị xâm phạm... nhằm phục hồi tình trạng ban đầu của người bị
xâm hại. Những chi phí đó bao gồm:
-Những chi phí phải bỏ ra thu nhập bị mất (thu nhập, chứng cứ, thời gian phải bỏ ra để
khiếu nại, đăng báo cải chính...).
-Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường một khoản tiền
để đắp tổn thất về tinh thần người bị xâm phạm phải gánh chịu. Mức bồi thường
đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho
một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá 10 lần mức tháng lương cơ
sở do Nhà nước quy định.
-dụ: A B là hàng xóm. Một ngày, A nghi ngờ B trộm của mình. A sang nhà B để nói
chuyện. Trong lúc tranh cãi, B có những lời lẽ xúc phạm đến A. A tức giận và đã đăng tải lên
mạng xã hội những thông tin sai lệch, bịa đặt về B, kèm theo đó là những lời lẽ lăng mạ, xúc
phạm nặng nề.
+ Hành động của A đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của B.
B bị nhiều người xa lánh, kỳ thị, thậm chí mất việc làm.
+ Trong trường hợp này, mặc B hành vi xúc phạm A trước, nhưng hành vi của A đã
vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Việc A đăng tải thông tin sai lệch, lăng mạ B trên
mạng xã hội là hành vi trái pháp luật, gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho B.
2.2.3, Xác định bồi thường thiệt hại
Việc bồi thường thiệt hại do hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được xác định như thế nào?
Có hai cách hiểu khác nhau xung quanh vấn đề này:
Cách hiểu thứ nhất:Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được coimột tình tiết giảm nhẹ
trong trách nhiệm hình sự nhưng không thể làm sở để giảm mức bồi thường thiệt hại trong
trách nhiệm dân sự, vì đó là các hành vi bất hợp pháp.
Cách hiểu thứ hai: Nếu gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì phải bồi
thường cho người bị thiệt hại với nguyên tắc thiệt hại bao nhiêu phải bồi thường bấy nhiêu. Tuy
nhiên, trong trường hợp này thì cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi nên cần xác
định trách nhiệm hỗn hợp đối với cả hai bên
Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này cần những sự chú ý nhất
định. Thông thường, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sau
đây: Có thiệt hại xảy ra; hành vi gây thiệt hại được coi là trái pháp luật; có mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; lỗi của người gây thiệt hại. Ngoài ra, về nguyên tắc, một
người chỉ phải chịu trách nhiệm về hành vi hậu quả do hành vi đó mang lại. Theo quy định của
pháp luật, nếu gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng thì hành vi đó không bị coi là trái
pháp luật, do vậy người thực hiện hành vi này không phải bồi thường. Nếu thực hiện hành vi vượt quá
giới hạn phòng vệ chính đáng thì hành vi này bị coi là trái pháp luật, do vậy người thực hiện hành vi
vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ.

Preview text:

2, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn
phòng vệ chính đáng
2.1, Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một loại quan hệ dân sự, trong đó người xâm phạm đến tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp mà gây thiệt
hại phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra.
Ngoài những điều kiện về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, nguyên tắc
bồi thường thiệt hại.. tại các điều 584, 585, 586BLDA 2015 thì nếu căn cứ vào các điều kiện làm
phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì hành vi gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng không
bị coi là hành vi trái pháp luật và do đó người thực hiện hành vi này không bị coi là có lỗi. Tuy
nhiên, để xác định một hành vi gây thiệt hại được coi là phòng vệ chính đáng, cần phải chú ý:
-Thứ nhất: Có hành vi trái pháp luật xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng,
quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc xâm phạm tới lợi ích của chính bản thân người phòng vệ chính đáng.
-Thứ hai: Hành vi trái pháp luật của người khác đang gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt
hại cho đối tượng bị xâm hại. Nếu thiệt hại đã xảy ra mà người bị thiệt hại mới có hành vi
chống trả và gây thiệt hại ngược trở lại thì không thể coi là phòng vệ chính đáng.
-Thứ ba: Hành vi phòng vệ chính đáng phải gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâm hại
(trước tiên là tính mạng, sức khoẻ; trong những trường hợp nhất định có thể là tài sản của
người có hành vi xâm phạm). Nếu gây thiệt hại cho người không có hành vi xâm hại thì
không coi là phòng vệ chính đáng mà có thể coi là gây thiệt hại do yêu cầu tình thế cấp thiết
nếu thoả mãn đủ các điều kiện nhất định.Thứ tư: Hành vi gây thiệt hại trong trường hợp
phòng vệ chính đáng phải là cần thiết và tương xứng với hành vi xâm hại. Nếu không cần
thiết hoặc không tương xứng thì người gây thiệt hại vẫn phải bồi thường thiệt hại.
-Như vậy, khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho lợi ích được pháp luật bảo vệ thì bản
thân người phòng vệ chính đáng không có lỗi, tính toán để có thể phòng vệ chính đáng. Chính
vì phòng vệ chính đáng không bị coi là trái pháp luật, người phòng vệ chính đáng không bị
coi là có lỗi nên pháp luật dân sự quy định người phòng vệ chính đáng không phải bồi thường thiệt hại.
Tuy nhiên, nếu người phòng vệ chính đáng gây thiệt hại mà thiệt hại đó là hậu quả của hành vi
“vượt quá” giới hạn phòng vệ chính đáng thì người này phải bồi thường thiệt hại. Đoạn 2 Điều
594 BLDS quy định: “Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi
thường cho người bị thiệt hại”.
-Hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng ở đây được hiểu là khi bị người khác gây
thiệt hại, người phòng vệ chính đáng đã có hành vi gây thiệt hại ngược trở lại nhưng có sự sai
lầm trong việc đánh giá mức độ của sự tấn công, điều kiện hoàn cảnh của hành vi tấn công và
hành vi chống trả, do đó vượt quá giới hạn cần thiết để ngăn chặn hoặc đẩy lùi hành vi có
hành vi gây thiệt hại ban đầu. Do đó hành vi của họ đã vượt quá giới hạn của phòng vệ chính
đáng. Việc vượt quá giới hạn đó bị coi là trái pháp luật, vì vậy họ phải bồi thường thiệt hại.
2.2 Các khoản bồi thường cụ thể
Thiệt hại là điều kiện phát sinh nghĩa vụ bồi thường, Nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại chỉ có thể
thực hiện được đầy đủ và chính xác khi xác định” toàn bộ thiệt hại” là bao nhiêu và trên cơ sở đó xác định mức bồi thường.
Thiệt hại về tài sản
Điều 589 BLDS quy định về thiệt hại do tài sản bị xâm hại được bồi thường bao gồm tài sản “bị mất, bị
hủy hoại hoặc hư hỏng”, “lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút”, “chi phí
hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại”. Như vậy, thiệt hại về tài sản bao gồm thiệt hại trực
tiếp nhằm phục hồi tình trạng tài sản ban đầu của người bị thiệt hại và thiệt hại gián tiếp liên quan đến
việc khai thác và sử dụng tài sản trong thời gian từ khi xảy ra thiệt hại đến khi bồi thường. Thiệt hại về tài
sản có thể tính toán được thành một số tiền nhất định bao gồm các khoản sau:
-Thiệt hại trực tiếp bao gồm:Thiệt hại do tài sản bị mất (có tính đến tình trạng tài sản, thời
giá thị trường tại thời điểm tài sản bị mất); - Tài sản bị hủy hoại là những tài sản không thể
phục hồi chức năng ban đầu; tài sản bị hư hỏng là những chi phí hợp lý, cần thiết để phục hồi
tài sản, bảo đảm tính năng sử dụng ban đầu như trước khi bị thiệt hại; - Những chi phí phải
bỏ ra bao gồm chi phí để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại hoặc khắc phục thiệt hại. - - --
-Thiệt hại gián tiếp bao gồm: - Lợi ích gắn liền với việc khai thác tài sản (không thể khai
thác tài sản trong suốt thời gian sửa chữa, khắc phục thiệt hại); - Những hoa lợi, lợi tức chắc
chắn thu được nếu không có thiệt hại xảy ra và những chi phí cần thiết để hạn chế thiệt hại.
Việc bồi thường thiệt hại trực tiếp về tài sản có thể thực hiện bằng các cách sau: bằng tiền,
bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc. Về nguyên tắc chung, các bên có thể thỏa thuận
cách thức, mức độ bồi thường như: sửa chữa hư hỏng, thay thế bằng tài sản khác có giá trị
tương đương. Nếu không thể bồi thường bằng hiện vật thì giá trị tài sản sẽ được bồi thường
dựa trên giá trị thị trường của loại tài sản đó, có tính đến khấu hao tài sản do đã sử dụng tài sản.
-Ví dụ: Ông A thấy rằng có người đang ném đá vào cửa kính nhà mình. Vì quá tức giận, ông A
đã lấy súng ra và bắn vào chiếc xe máy của người đó, phá hủy hoàn toàn.Hành động của ông
A được coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, vì ông A đã dùng phương tiện quá mức cần thiết.
Thiệt hại về sức khỏe: Sức khỏe của con người là vốn quý, khó có thể xác định chính xác bằng
một khoản tiền. Vì vậy, bồi thường thiệt hại về sức khỏe thực chất có ý nghĩa là đền bù một phần
thiệt hại về vật chất, tạo điều kiện cho nạn nhân hay gia đình họ khắc phục khó khăn do tai nạn
gây nên và trong một số trường hợp chỉ có ý nghĩa là một trợ cấp cho nạn nhân, gia đình nạn
nhân. Xác định thiệt hại về sức khỏe bao gồm:
-Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và các chức năng bị mất, bị
giảm sút (tiền thuốc, tiền viện phí và các dịch vụ chữa bệnh khác, tiền bồi dưỡng, tiền tàu xe
đi viện, tiền thay thế các bộ phận giả nếu có). Nếu do yêu cầu chăm sóc nạn nhân thì chi phí
trực tiếp cho người phải chăm sóc nạn nhân theo yêu cầu của cơ sở chữa bệnh.
-Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của
người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung
bình của lao động cùng loại.
-Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong
thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên
chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
-Thu nhập bị giảm sút là khoản chênh lệch giữa thu nhập trước khi xảy ra tai nạn và sau khi
điều trị. Những thu nhập này phải là những thu nhập thường xuyên, hợp pháp thực tế của họ.
-Tổn thất về tinh thần mà nạn nhân phải gánh chịu là một khái niệm trừu tượng. Hiện tại
không có mẫu số chung cho tất cả mọi người và không thể đo đếm thành tiền một cách chính
xác. Việc xác định tổn thất tinh thần khi sức khỏe bị xâm hại phụ thuộc vào từng cá nhân của
người bị thiệt hại (tình trạng gia đình, độ tuổi, nghề nghiệp, mức độ thiệt hại và cả bộ phận
nào của cơ thể bị thiệt hại...). Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa
thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm
không quá 50 lần mức tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định.
-Ví dụ: Một người vợ bị chồng bạo hành, chồng dùng dao đe dọa. Trong lúc tự vệ, người vợ
đã giật được con dao và đâm chồng nhiều nhát, gây thương tích nặng.
+ Hành vi dùng dao đe dọa của người chồng là hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người vợ.
+ Người vợ có quyền phòng vệ để bảo vệ bản thân.
+ Tuy nhiên, việc đâm chồng nhiều nhát, gây thương tích nặng có thể bị coi là vượt quá giới
hạn phòng vệ chính đáng, đặc biệt nếu sau khi người chồng đã có dấu hiệu dừng lại.
+ Trong trường hợp này, người vợ có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho người chồng.
Thiệt hại do tính mạng bị xâm hại: Tính mạng của con người là vô giá không thể tính thành
tiền. Vì vậy, bồi thường thiệt hại về tính mạng thực chất là bồi thường vật chất phải bỏ ra liên
quan đến cái chết của người bị thiệt hại. Những chi phí phải bỏ ra bao gồm:
-Những chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc nạn nhân trước khi chết, chi
phí hợp lý cho việc mai táng phù hợp với phong tục, tập quán.
-Tiền cấp dưỡng cho những người mà người chết có nghĩa vụ phải cấp dưỡng (con chưa thành
niên, con đã thành niên không có khả năng lao động...).
-Một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng
thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị
thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng
khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu
không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá
100 lần mức tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định.
-Ví dụ: A bị B tấn công bằng dao. Để tự vệ, A đã giật được con dao và đâm trả B. Tuy nhiên,
sau khi B đã ngã xuống và không còn khả năng tấn công, A vẫn tiếp tục đâm B, gây ra cái
chết cho B. Trong trường hợp này, hành vi của A đã vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Mặc dù ban đầu A có quyền tự vệ, nhưng khi B đã mất khả năng tấn công, việc A tiếp tục gây
ra cái chết cho B là không cần thiết và không tương xứng với hành vi xâm hại của B.
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm: Thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy
tín của cá nhân không thể xác định. Thực chất là xác định những tổn thất về vật chất do danh dự,
nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm... nhằm phục hồi tình trạng ban đầu của người bị
xâm hại. Những chi phí đó bao gồm:
-Những chi phí phải bỏ ra và thu nhập bị mất (thu nhập, chứng cứ, thời gian phải bỏ ra để
khiếu nại, đăng báo cải chính...).
-Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường một khoản tiền
để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người bị xâm phạm phải gánh chịu. Mức bồi thường bù
đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho
một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá 10 lần mức tháng lương cơ
sở do Nhà nước quy định.
-Ví dụ: A và B là hàng xóm. Một ngày, A nghi ngờ B trộm gà của mình. A sang nhà B để nói
chuyện. Trong lúc tranh cãi, B có những lời lẽ xúc phạm đến A. A tức giận và đã đăng tải lên
mạng xã hội những thông tin sai lệch, bịa đặt về B, kèm theo đó là những lời lẽ lăng mạ, xúc phạm nặng nề.
+ Hành động của A đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của B.
B bị nhiều người xa lánh, kỳ thị, thậm chí mất việc làm.
+ Trong trường hợp này, mặc dù B có hành vi xúc phạm A trước, nhưng hành vi của A đã
vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Việc A đăng tải thông tin sai lệch, lăng mạ B trên
mạng xã hội là hành vi trái pháp luật, gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho B.
2.2.3, Xác định bồi thường thiệt hại
Việc bồi thường thiệt hại do hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được xác định như thế nào?
Có hai cách hiểu khác nhau xung quanh vấn đề này:
Cách hiểu thứ nhất:Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được coi là một tình tiết giảm nhẹ
trong trách nhiệm hình sự nhưng không thể làm cơ sở để giảm mức bồi thường thiệt hại trong
trách nhiệm dân sự, vì đó là các hành vi bất hợp pháp.
Cách hiểu thứ hai: Nếu gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì phải bồi
thường cho người bị thiệt hại với nguyên tắc thiệt hại bao nhiêu phải bồi thường bấy nhiêu. Tuy
nhiên, trong trường hợp này thì cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi nên cần xác
định trách nhiệm hỗn hợp đối với cả hai bên
Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này cần có những sự chú ý nhất
định. Thông thường, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sau
đây: Có thiệt hại xảy ra; hành vi gây thiệt hại được coi là trái pháp luật; có mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; có lỗi của người gây thiệt hại. Ngoài ra, về nguyên tắc, một
người chỉ phải chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả do hành vi đó mang lại. Theo quy định của
pháp luật, nếu gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng thì hành vi đó không bị coi là trái
pháp luật, do vậy người thực hiện hành vi này không phải bồi thường. Nếu thực hiện hành vi vượt quá
giới hạn phòng vệ chính đáng thì hành vi này bị coi là trái pháp luật, do vậy người thực hiện hành vi
vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ.