Trẻ em gì? Người bao nhiêu tuổi thì được coi
trẻ em?
1. Trẻ em gì?
Về mặt sinh học, trẻ em con người giữa giai đoạn từ khi sinh ra tuổi
dậy thì. Trẻ em cũng thể được hiểu trong mối quan hệ gia đình với bố mẹ
(như con trai con gái bất kỳ độ tuổi nào) hoặc, với nghĩa ẩn dụ, hoặc
thành viên nhóm trong một gia tộc, bộ lạc, hay tôn giáo, cũng thể bị ảnh
hưởng mạnh mẽ bởi một thời gian, địa điểm cụ thể, hoặc hoàn cảnh, như
trong "một đứa trẻ tư" hay "một đứa trẻ của những năm sáu mươi ".
Hiệp ước về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa một đứa trẻ "mọi
con người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật thể áp dụng cho trẻ em, tuổi
trưởng thành được quy định sớm hơn." Hiệp nước này được 192 của 194
nước thành viên phê duyệt. Một số định nghĩa tiếng Anh của từ trẻ em bao
gồm thai nhi. Về mặt sinh học, một đứa trẻ là bất kỳ ai trong giai đoạn phát
triển của tuổi t ấu, giữa sinh trưởng thành. Trẻ em nhìn chung ít
quyền hơn người lớn được xếp vào nhóm không để đưa ra những quyết
định quan trọng, về mặt luật pháp phải luôn người giám hộ.
Pháp luật Việt Nam cũng định nghĩa về trẻ em tại Điều 1, Luật trẻ em năm
2016 như sau: "Trẻ em người dưới 16 tuổi."
Như vậy, theo định nghĩa của pháp luật Việt Nam, trẻ em được hiểu những
người dưới 16 tuổi.
2. Độ tuổi của trẻ em được thể hiện như thế nào trong văn bản
luật?
Theo điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 quy định: Trẻ em người dưới 16 tuổi.
Các luật văn bản hướng dẫn khác phải quy định thống nhất với Luật này
để thực thi thuận lợi.
Tuy nhiên, thực tế nhiều quy định về trẻ em nh nhau, gây khó khăn trong
việc vận dụng. Nghị định 146/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành, hướng dẫn Luật Bảo hiểm y tế, hướng dẫn thực hiện khám bệnh, chữa
bệnh, quản lý, sử dụng quyết toán kinh phí khám bệånh, chữa bệnh cho
trẻ em dưới u tuổi không phải trả tiền tại các sở y tế công lập quy định:
Điều 15. Thủ tục khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế
1. Người tham gia bảo hiểm y tế khi đến khám bệnh, chữa bệnh phải xuất
trình thẻ bảo hiểm y tế ảnh; trường hợp thẻ bảo hiểm y tế chưa ảnh thì
phải xuất trình một trong c giấy tờ tùy thân ảnh do quan, tổ chức
thẩm quyền cấp hoặc Giấy xác nhận của Công an cấp hoặc giấy tờ khác
xác nhận của sở giáo dục nơi quản học sinh, sinh viên; các giấy tờ
chứng minh nhân thân hợp pháp khác.
2. Tr em dưới 6 tuổi đến khám bệnh, chữa bệnh ch phải xuất trình thẻ bảo
hiểm y tế. Trường hợp trẻ chưa được cấp thẻ bảo hiểm y tế thì phải xuất trình
bản sao giấy chứng sinh hoặc bản sao giấy khai sinh; trường hợp phải điều trị
ngay sau khi sinh chưa giấy chứng sinh thì thủ trưởng sở khám
bệnh, chữa bệnh cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ của trẻ xác nhận
vào hồ bệnh án để làm căn cứ thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều
27 Nghị định này chịu trách nhiệm về việc xác nhận này.
Tại điều 39, Luật Phòng, chống nhiễm virút gây ra hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải người (HIV/AIDS) quy định, trẻ em từ đủ 6 tuổi đến dưới 16 tuổi
nhiễm HIV mới được tiếp cận thuốc kháng HIV. Quy định này về trẻ em phù
hợp với Luật Bảo vệ chăm sóc trẻ em, nhưng so với c quy định khác thì
chưa khớp.
Cụ thể, Bộ luật Dân sự năm 2015 không dùng thuật ngữ trẻ em dùng
thuật ngữ người chưa thành niên. Theo đó, Điều 20, Điều 21 B luật Dân sự
quy định, người từ đủ mười tám tuổi tr lên người thành niên. Người chưa
đủ mười m tuổi người chưa thành niên. Đồng thời, Bộ luật còn quy định
năng lực, hành vi n sự của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa
đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại
diện theo quy định của pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu
hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật quy định khác. Trong
trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tài sản
riêngngười chưa thành niên thuật ngữ trẻ em điều chỉnh những người
chưa đầy đủ năng lực hành vi dân sự không? bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì
thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự không cần phải sự
đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật quy
định khác. Người chưa đủ sáu tuổi không năng lực hành vi dân sự. Giao
dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp
luật xác lập, thực hiện.
Điều 5 Luật xử vi phạm hành chính năm 2012 quy định đối tượng bị xử lý vi
phạm hành chính gồm:
Điều 5. Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính
1. Các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi
phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi tr lên bị xử phạt vi phạm nh
chính về mọi vi phạm hành chính.
Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành
chính thì bị xử như đối với ng dân khác; trường hợp cần áp dụng hình
thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ
hoạt động thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề
nghị quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân thẩm quyền
xử lý;
b) Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính do
mình gây ra;
c) nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ,
vùng tiếp giáp lãnh hải, ng đặc quyền kinh tế thềm lục địa của nước
Cộng hoà hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam,
tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo
quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế nước
Cộng h hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên quy định khác.
2. Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử hành chính nhân được quy định
tại các điều 90, 92, 94 96 của Luật này.
Các biện pháp xử hành chính không áp dụng đối với người nước ngoài.
Ngay trong cùng một văn bản pháp luật cũng dùng tới 4 thuật ngữ: người
chưa thành niên, người thành niên, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16,
người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Theo những quy định trên thì trẻ em
người dưới 14 tuổi, như vậy mâu thuẫn với luật chuyên ngành Luật bảo
vệ chăm c trẻ em không?
Điều 12, Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, b sung năm 2017 quy định:
Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1. Người từ đủ 16 tuổi tr lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm,
trừ những tội phạm Bộ luật này quy định khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong
các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178,
248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 304 của
Bộ luật này.
Bộ luật Hình sự cũng sử dụng thuật ngữ người thành niên, (được hiểu trên 18
tuổi), người chưa thành niên ( được hiểu dưới 18 tuổi), người từ đủ 14 tuổi trở
lên, nhưng chưa đủ 16;Người từ đủ 16 tuổi trở lên. Vậy, dưới 14 tuổi gọi trẻ
em cũng không thống nhất với Luật Bảo vệ chăm sóc trẻ em.
Điều 30 Luật Giao thông đường bộ quy định, người điều khiển, người ngồi
trên xe tô, xe gắn máy chỉ được chở một người, trừ những trường hợp
sau thì được chở tối đa hai người: “… c) Trẻ em dưới 14 tuổi…” Quy định
như vậy thể hiểu trẻ em người dưới 14 tuổi. Điều 32 Luật Giao thông
đường bộ cũng quy định, người đi bộ trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường
đô thị, đường thường xuyên xe giới qua lại phải người lớn dắt; mọi
người trách nhiệm giúp đỡ trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường. Hoặc điều
Điều 60 quy định: a) Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy dung
tích xi-lanh dưới 50 cm3…
Như vậy, từ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy, còn dưới tuổi này không
được lái xe máy. Vậy, những người dưới 16 tuổi này được gọi trẻ em
không, hay dưới 14 tuổi mới gọi trẻ em?
Hiện nay, công ước quốc tế liên quan việc bảo vệ quyền con người, quyền
của phụ nữ trẻ em Việt Nam đã tham gia kết thành viên đều
quy định trẻ em người dưới 18 tuổi. Để thống nhất đ tuổi gọi tr em
trong các văn bản pháp luật nước ta, các quan chức năng cần soát,
hệ thống hóa các văn bản luật, đ xuất một độ tuổi thống nhất để sử dụng
các thuật ngữ pháp cho p hợp.
3. Quyền của trẻ em là gì?
Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ: các quyền công dân, trong đó các
quyền trẻ em phù hợp với điều kiện phát triển mới; quyền bổn phận của trẻ
em; trách nhiệm của các quan nhà nước, các tổ chức trong việc bảo vệ
quyền trẻ em. Hiến pháp coi quyền trẻ em một bộ phận của quyền con
người; đặt quyền bổn phận trẻ em trong mối quan hệ với quyền nghĩa
vụ của công dân coi đó một bộ phận không thể tách rời.
Quyền trẻ em tất cả những trẻ em cần để được sống lớn lên một
cách lành mạnh an toàn. đảm bảo cho trẻ em không chỉ người tiếp
nhận sự yêu thương chăm c của người lớn, các em những thành
viên tham gia tích cực vào quá trình phát triển. Việc bảo vệ, chăm sóc, giáo
dục, bảo đảm quyền trẻ em được sống an toàn, hạnh phúc bảo đảm cho
tương lai phát triển bền vững của đất nước.
4. Quyền của trẻ em bao gồm những quyền nào?
Nhà nước bằng pháp luật đảm bảo những quyền này cho trẻ em. Các quyền
của trẻ em được quy định tại Điều 12 đến điều 36 Luật trẻ em 2016 như sau:
- Quyền sống: Trẻ em quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt
nhất các Điều kiện sống phát triển.
- Quyền được khai sinh quốc tịch: Trẻ em quyền được khai sinh,
khai tử, họ, tên, quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính
theo quy định của pháp luật.
- Quyền được chăm sóc sức khỏe: Trẻ em quyền được chăm c tốt nhất
về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh khám
bệnh, chữa bệnh.
- Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng: Trẻ em quyền được chăm sóc, nuôi
dưỡng để phát triển toàn diện.
- Quyền được giáo dục, học tập phát triển năng khiếu: Trẻ em quyền
được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện phát huy tốt nhất tiềm năng
của bản thân. Trẻ em được bình đẳng về hội học tập giáo dục; được
phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh.
- Quyền vui chơi, giải trí: Trẻ em quyền vui chơi, giải trí; được bình đẳng
về hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du
lịch phù hợp với độ tuổi.
- Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc: Trẻ em quyền được tôn trọng đặc Điểm
giá trị riêng của bản thân p hợp với độ tuổi văn hóa dân tộc; được
thừa nhận các quan hệ gia đình. Trẻ em quyền dùng tiếng nói, chữ viết,
giữ n bản sắc, phát huy truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp
của dân tộc mình.
- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Trẻ em quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào phải được bảo đảm an toàn,
lợi ích tốt nhất của trẻ em.
- Quyền về tài sản: Trẻ em quyền sở hữu, thừa kế các quyền khác đối
với tài sản theo quy định của pháp luật.
- Quyền mật đời sống riêng tư: Trẻ em quyền bất khả xâm phạm về đời
sống riêng tư, mật nhân mật gia đình lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, mật thư tín,
điện thoại, điện tín các hình thức trao đổi thông tin riêng khác; được bảo
vệ chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư.
- Quyền được sống chung với cha, mẹ: Trẻ em quyền được sống chung
với cha, mẹ; được cả cha mẹ bảo vệ, chăm sóc giáo dục, trừ trường
hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc lợi ích tốt nhất của
trẻ em. Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp đ duy t mối liên hệ
tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không lợi ích tốt nhất của
trẻ em.
- Quyền được đoàn tụ, liên h tiếp xúc với cha, mẹ: Trẻ em quyền được
biết cha đẻ, mẹ đẻ, trừ trường hợp ảnh hưởng đến lợi ích tốt nhất của trẻ em;
được duy trì mối liên hệ hoặc tiếp xúc với cả cha mẹ khi tr em, cha, mẹ
trú các quốc gia khác nhau hoặc khi bị giam giữ, trục xuất; được tạo
Điều kiện thuận lợi cho việc xuất cảnh, nhập cảnh để đoàn tụ với cha, mẹ;
được bảo vệ không bị đưa ra nước ngoài trái quy định của pháp luật; được
cung cấp thông tin khi cha, mẹ bị mất tích.
- Quyền được chăm sóc thay thế nhận làm con nuôi: Trẻ em được chăm
sóc thay thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống ng
cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột trang sự
an toàn lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được nhận làm con nuôi theo
quy định của pháp luật về nuôi con nuôi.
- Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại nh dục: Trẻ em quyền được
bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục.
- Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động: Trẻ em quyền
được bảo vệ dưới mọi nh thức để không bị bóc lột sức lao động; không
phải lao động trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm theo quy định của pháp luật; không bị bố t công việc hoặc nơi
làm việc ảnh hưởng xấu đến nhân cách sự phát triển toàn diện của trẻ
em.
- Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc: Trẻ em quyền
được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn
hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em.
- Quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt:
Trẻ em quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị mua bán, bắt
cóc, đánh tráo, chiếm đoạt.
- Quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy: Trẻ em quyền được bảo vệ khỏi
mọi hình thức sử dụng, sản xuất, vận chuyển, mua, bán, tàng trữ trái phép
chất ma túy.
- Quyền được bảo vệ trong tố tụng xử lý vi phạm hành chính: Trẻ em
quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng xử vi phạm hành chính; bảo
đảm quyền được bào chữa tự bào chữa, được bảo vệ quyền lợi ích
hợp pháp; được trợ giúp pháp lý, được trình bày ý kiến, không bị tước quyền
tự do trái pháp luật; không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự,
nhân phẩm, xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm các hình thức xâm
hại khác.
- Quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung
đột trang: Trẻ em quyền được ưu tiên bảo vệ, trợ giúp dưới mọi hình
thức để thoát khỏi c động của thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung
đột trang.
- Quyền được bảo đảm an sinh hội: Trẻ em công dân Việt Nam được
bảo đảm an sinh hội theo quy định của pháp luật phù hợp với Điều kiện
kinh tế - hội nơi trẻ em sinh sống Điều kiện của cha, mẹ hoặc người
chăm sóc trẻ em.
- Quyền được tiếp cận thông tin tham gia hoạt động hội: Trẻ em
quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp; quyền tìm kiếm,
thu nhận các thông tin dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật
được tham gia hoạt động hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành,
nhu cầu, năng lực của trẻ em.
- Quyền được bày tỏ ý kiến hội họp: Trẻ em quyền được bày tỏ ý kiến,
nguyện vọng về các vấn đề liên quan đến trẻ em; được tự do hội họp theo
quy định của pháp luật p hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành sự phát
triển của trẻ em; được quan, tổ chức, sở giáo dục, gia đình, nhân
lắng nghe, tiếp thu, phản hồi ý kiến, nguyện vọng chính đáng.
- Quyền của trẻ em khuyết tật
Trẻ em khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em quyền của
người khuyết tật theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ, chăm sóc, giáo
dục đặc biệt để phục hồi chức năng, phát triển khả năng tự lực hòa nhập
hội.
- Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn
Trẻ em không quốc tịch trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo
vệ hỗ trợ nhân đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của
pháp luật Việt Nam Điều ước quốc tế Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt
Nam thành viên.
5. Quyền trẻ em ý nghĩa như thế nào?
Quyền trẻ em một bộ phận không thể thiếu của quyền con người. Công
ước Quốc tế về quyền trẻ em Luật quốc tế để bảo vệ quyền trẻ em, bao
gồm 54 điều khoản. Công ước đề ra các quyền bản của con người trẻ
em trên toàn thế giới đều được hưởng, được Liên hợp quốc thông qua
năm 1989. Hầu hết tất cả các các nước trên thế giới đồng tình phê chuẩn
Công ước Quốc tế về quyền trẻ em. Việt Nam nước đầu tiên châu Á
nước thứ 2 trên thế giới phê chuẩn công ước của Liên hiệp quốc về Quyền
trẻ em vào ngày 20 tháng 2 năm 1990. Hiện nay, c quyền của trẻ em được
quy định ràng đầy đủ trong quy định của Luật Trẻ em 2016.
Các quyền quy định trong Luật trẻ em 2016 được giành cho mọi trẻ em,
không phân biệt trẻ em trai, trẻ em gái, nguồn gốc hội, dân tộc, tôn giáo,
giàu hay nghèo, lành lặn hay khuyết tật... Tuy nhiên, trẻ em gái luôn được ưu
tiên, nhấn mạnh trong các chương trình hay dự án dành cho trẻ em do những
đặc điểm về giới tính những ràng buộc của phong tục tập quán. Điều này
góp phần nâng cao ý thức của người dân xóa bỏ vấn nạn phân biệt, bất
bình đẳng giới tưởng trọng nam khinh nữ.
Quyền trẻ em không làm giảm vai trò uy tín của cha mẹ đối với con cái,
ngược lại. Pháp luật về quyền trẻ em còn nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng
không thể thay thế của cha mẹ trong việc nuôi dạy, bảo vệ hướng dẫn con
cái. Các quy định cũng chỉ rằng Chính phủ phải tôn trong giúp đỡ gia
đình hoàn thành trách nhiệm cao quý đó.
Bên cạnh Nhà nước, cộng đồng thì Cha mẹ trách nhiệm hàng đầu, với khả
năng tài chính của mình, trong việc thực hiện c quyền trẻ em trước hết
trong gia đình. Trường hợp cha mẹ không kh năng chăm sóc hoặc khó
khăn về tài chính, cộng đồng hội phải trách nhiệm hỗ trợ trẻ em.

Preview text:

Trẻ em là gì? Người bao nhiêu tuổi thì được coi là trẻ em? 1. Trẻ em là gì?
Về mặt sinh học, trẻ em là con người ở giữa giai đoạn từ khi sinh ra và tuổi
dậy thì. Trẻ em cũng có thể được hiểu trong mối quan hệ gia đình với bố mẹ
(như con trai và con gái ở bất kỳ độ tuổi nào) hoặc, với nghĩa ẩn dụ, hoặc
thành viên nhóm trong một gia tộc, bộ lạc, hay tôn giáo, nó cũng có thể bị ảnh
hưởng mạnh mẽ bởi một thời gian, địa điểm cụ thể, hoặc hoàn cảnh, như
trong "một đứa trẻ vô tư" hay "một đứa trẻ của những năm sáu mươi ".
Hiệp ước về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa một đứa trẻ là "mọi
con người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổi
trưởng thành được quy định sớm hơn." Hiệp nước này được 192 của 194
nước thành viên phê duyệt. Một số định nghĩa tiếng Anh của từ trẻ em bao
gồm thai nhi. Về mặt sinh học, một đứa trẻ là bất kỳ ai trong giai đoạn phát
triển của tuổi thơ ấu, giữa sơ sinh và trưởng thành. Trẻ em nhìn chung có ít
quyền hơn người lớn và được xếp vào nhóm không để đưa ra những quyết
định quan trọng, và về mặt luật pháp phải luôn có người giám hộ.
Pháp luật Việt Nam cũng có định nghĩa về trẻ em tại Điều 1, Luật trẻ em năm
2016 như sau: "Trẻ em là người dưới 16 tuổi."
Như vậy, theo định nghĩa của pháp luật Việt Nam, trẻ em được hiểu là những người dưới 16 tuổi.
2. Độ tuổi của trẻ em được thể hiện như thế nào trong văn bản luật?
Theo điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 quy định: Trẻ em là người dưới 16 tuổi.
Các luật và văn bản hướng dẫn khác phải quy định thống nhất với Luật này
để thực thi thuận lợi.
Tuy nhiên, thực tế nhiều quy định về trẻ em vênh nhau, gây khó khăn trong
việc vận dụng. Nghị định 146/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành, hướng dẫn Luật Bảo hiểm y tế, hướng dẫn thực hiện khám bệnh, chữa
bệnh, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí khám bệånh, chữa bệnh cho
trẻ em dưới sáu tuổi không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập quy định:
Điều 15. Thủ tục khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế
1. Người tham gia bảo hiểm y tế khi đến khám bệnh, chữa bệnh phải xuất
trình thẻ bảo hiểm y tế có ảnh; trường hợp thẻ bảo hiểm y tế chưa có ảnh thì
phải xuất trình một trong các giấy tờ tùy thân có ảnh do cơ quan, tổ chức có

thẩm quyền cấp hoặc Giấy xác nhận của Công an cấp xã hoặc giấy tờ khác
có xác nhận của cơ sở giáo dục nơi quản lý học sinh, sinh viên; các giấy tờ
chứng minh nhân thân hợp pháp khác.
2. Trẻ em dưới 6 tuổi đến khám bệnh, chữa bệnh chỉ phải xuất trình thẻ bảo
hiểm y tế. Trường hợp trẻ chưa được cấp thẻ bảo hiểm y tế thì phải xuất trình
bản sao giấy chứng sinh hoặc bản sao giấy khai sinh; trường hợp phải điều trị
ngay sau khi sinh mà chưa có giấy chứng sinh thì thủ trưởng cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh và cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ của trẻ ký xác nhận
vào hồ sơ bệnh án để làm căn cứ thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều
27 Nghị định này và chịu trách nhiệm về việc xác nhận này.
Tại điều 39, Luật Phòng, chống nhiễm virút gây ra hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải người (HIV/AIDS) quy định, trẻ em từ đủ 6 tuổi đến dưới 16 tuổi
nhiễm HIV mới được tiếp cận thuốc kháng HIV
. Quy định này về trẻ em phù
hợp với Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em, nhưng so với các quy định khác thì chưa khớp.
Cụ thể, Bộ luật Dân sự năm 2015 không dùng thuật ngữ trẻ em mà dùng
thuật ngữ người chưa thành niên. Theo đó, Điều 20, Điều 21 Bộ luật Dân sự
quy định, người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa
đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên. Đồng thời, Bộ luật còn quy định
năng lực, hành vi dân sự của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa
đủ mười tám tuổi
khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại
diện theo quy định của pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu
hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác. Trong
trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản
riêngngười chưa thành niên
và thuật ngữ trẻ em có điều chỉnh những người
chưa đầy đủ năng lực hành vi dân sự không? bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì
có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự
đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác. Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự. Giao
dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp
luật xác lập, thực hiện.
Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính gồm:
Điều 5. Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính
1. Các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi
phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành
chính về mọi vi phạm hành chính.
Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành
chính thì bị xử lý như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình
thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ
hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề
nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử lý;
b) Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra;
c) Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ,
vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam,
tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo
quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
2. Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là cá nhân được quy định
tại các điều 90, 92, 94 và 96 của Luật này.
Các biện pháp xử lý hành chính không áp dụng đối với người nước ngoài.
Ngay trong cùng một văn bản pháp luật cũng dùng tới 4 thuật ngữ: người
chưa thành niên, người thành niên, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16, và
người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Theo những quy định trên thì trẻ em là
người dưới 14 tuổi, như vậy có mâu thuẫn với luật chuyên ngành là Luật bảo
vệ và chăm sóc trẻ em không?
Điều 12, Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm,
trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong
các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178,
248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.
Bộ luật Hình sự cũng sử dụng thuật ngữ người thành niên, (được hiểu trên 18
tuổi), người chưa thành niên ( được hiểu dưới 18 tuổi), người từ đủ 14 tuổi trở
lên, nhưng chưa đủ 16;Người từ đủ 16 tuổi trở lên. Vậy, dưới 14 tuổi gọi là trẻ
em cũng không thống nhất với Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em.
Điều 30 Luật Giao thông đường bộ quy định, người điều khiển, người ngồi
trên xe mô tô, xe gắn máy chỉ được chở một người, trừ những trường hợp
sau thì được chở tối đa hai người: “… c) Trẻ em dưới 14 tuổi…” Quy định
như vậy có thể hiểu trẻ em là người dưới 14 tuổi. Điều 32 Luật Giao thông
đường bộ cũng quy định, người đi bộ là trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường
đô thị, đường thường xuyên có xe cơ giới qua lại phải có người lớn dắt; mọi
người có trách nhiệm giúp đỡ trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường. Hoặc điều
Điều 60 quy định: a) Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung
tích xi-lanh dưới 50 cm3…
Như vậy, từ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy, còn dưới tuổi này không
được lái xe máy. Vậy, những người dưới 16 tuổi này có được gọi là trẻ em
không, hay dưới 14 tuổi mới gọi là trẻ em?
Hiện nay, công ước quốc tế liên quan việc bảo vệ quyền con người, quyền
của phụ nữ và trẻ em mà Việt Nam đã tham gia ký kết và là thành viên đều
quy định trẻ em là người dưới 18 tuổi. Để thống nhất độ tuổi gọi là trẻ em
trong các văn bản pháp luật ở nước ta, các cơ quan chức năng cần rà soát,
hệ thống hóa các văn bản luật, đề xuất một độ tuổi thống nhất để sử dụng
các thuật ngữ pháp lý cho phù hợp.
3. Quyền của trẻ em là gì?
Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ: các quyền công dân, trong đó có các
quyền trẻ em phù hợp với điều kiện phát triển mới; quyền và bổn phận của trẻ
em; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức trong việc bảo vệ
quyền trẻ em. Hiến pháp coi quyền trẻ em là một bộ phận của quyền con
người; đặt quyền và bổn phận trẻ em trong mối quan hệ với quyền và nghĩa
vụ của công dân và coi đó là một bộ phận không thể tách rời.
Quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có để được sống và lớn lên một
cách lành mạnh và an toàn. Nó đảm bảo cho trẻ em không chỉ là người tiếp
nhận sự yêu thương và chăm sóc của người lớn, mà các em là những thành
viên tham gia tích cực vào quá trình phát triển. Việc bảo vệ, chăm sóc, giáo
dục, bảo đảm quyền trẻ em được sống an toàn, hạnh phúc là bảo đảm cho
tương lai phát triển bền vững của đất nước.
4. Quyền của trẻ em bao gồm những quyền nào?
Nhà nước bằng pháp luật đảm bảo những quyền này cho trẻ em. Các quyền
của trẻ em được quy định tại Điều 12 đến điều 36 Luật trẻ em 2016 như sau:
- Quyền sống: Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt
nhất các Điều kiện sống và phát triển.
- Quyền được khai sinh và có quốc tịch: Trẻ em có quyền được khai sinh,
khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính
theo quy định của pháp luật.
- Quyền được chăm sóc sức khỏe: Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất
về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh.
- Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng: Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi
dưỡng để phát triển toàn diện.
- Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu: Trẻ em có quyền
được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng
của bản thân. Trẻ em được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được
phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh.
- Quyền vui chơi, giải trí: Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí; được bình đẳng
về cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du
lịch phù hợp với độ tuổi.
- Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc: Trẻ em có quyền được tôn trọng đặc Điểm
và giá trị riêng của bản thân phù hợp với độ tuổi và văn hóa dân tộc; được
thừa nhận các quan hệ gia đình. Trẻ em có quyền dùng tiếng nói, chữ viết,
giữ gìn bản sắc, phát huy truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình.
- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Trẻ em có quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào và phải được bảo đảm an toàn,
vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
- Quyền về tài sản: Trẻ em có quyền sở hữu, thừa kế và các quyền khác đối
với tài sản theo quy định của pháp luật.
- Quyền bí mật đời sống riêng tư: Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời
sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín,
điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo
vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư.
- Quyền được sống chung với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được sống chung
với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường
hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của
trẻ em. Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ
và tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
- Quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được
biết cha đẻ, mẹ đẻ, trừ trường hợp ảnh hưởng đến lợi ích tốt nhất của trẻ em;
được duy trì mối liên hệ hoặc tiếp xúc với cả cha và mẹ khi trẻ em, cha, mẹ
cư trú ở các quốc gia khác nhau hoặc khi bị giam giữ, trục xuất; được tạo
Điều kiện thuận lợi cho việc xuất cảnh, nhập cảnh để đoàn tụ với cha, mẹ;
được bảo vệ không bị đưa ra nước ngoài trái quy định của pháp luật; được
cung cấp thông tin khi cha, mẹ bị mất tích.
- Quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi: Trẻ em được chăm
sóc thay thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng
cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự
an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em được nhận làm con nuôi theo
quy định của pháp luật về nuôi con nuôi.
- Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục: Trẻ em có quyền được
bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục.
- Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động: Trẻ em có quyền
được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bóc lột sức lao động; không
phải lao động trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm theo quy định của pháp luật; không bị bố trí công việc hoặc nơi
làm việc có ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển toàn diện của trẻ em.
- Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc: Trẻ em có quyền
được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn
hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em.
- Quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt:
Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị mua bán, bắt
cóc, đánh tráo, chiếm đoạt.
- Quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy: Trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi
mọi hình thức sử dụng, sản xuất, vận chuyển, mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính: Trẻ em có
quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; bảo
đảm quyền được bào chữa và tự bào chữa, được bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp; được trợ giúp pháp lý, được trình bày ý kiến, không bị tước quyền
tự do trái pháp luật; không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự,
nhân phẩm, xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm lý và các hình thức xâm hại khác.
- Quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung
đột vũ trang: Trẻ em có quyền được ưu tiên bảo vệ, trợ giúp dưới mọi hình
thức để thoát khỏi tác động của thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang.
- Quyền được bảo đảm an sinh xã hội: Trẻ em là công dân Việt Nam được
bảo đảm an sinh xã hội theo quy định của pháp luật phù hợp với Điều kiện
kinh tế - xã hội nơi trẻ em sinh sống và Điều kiện của cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em.
- Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội: Trẻ em có
quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp; có quyền tìm kiếm,
thu nhận các thông tin dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật và
được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành,
nhu cầu, năng lực của trẻ em.
- Quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp: Trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến,
nguyện vọng về các vấn đề liên quan đến trẻ em; được tự do hội họp theo
quy định của pháp luật phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và sự phát
triển của trẻ em; được cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân
lắng nghe, tiếp thu, phản hồi ý kiến, nguyện vọng chính đáng.
- Quyền của trẻ em khuyết tật
Trẻ em khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em và quyền của
người khuyết tật theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ, chăm sóc, giáo
dục đặc biệt để phục hồi chức năng, phát triển khả năng tự lực và hòa nhập xã hội.
- Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn
Trẻ em không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo
vệ và hỗ trợ nhân đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của
pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
5. Quyền trẻ em có ý nghĩa như thế nào?
Quyền trẻ em là một bộ phận không thể thiếu của quyền con người. Công
ước Quốc tế về quyền trẻ em là Luật quốc tế để bảo vệ quyền trẻ em, bao
gồm 54 điều khoản. Công ước đề ra các quyền cơ bản của con người mà trẻ
em trên toàn thế giới đều được hưởng, và được Liên hợp quốc thông qua
năm 1989. Hầu hết tất cả các các nước trên thế giới đồng tình và phê chuẩn
Công ước Quốc tế về quyền trẻ em. Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và
nước thứ 2 trên thế giới phê chuẩn công ước của Liên hiệp quốc về Quyền
trẻ em vào ngày 20 tháng 2 năm 1990. Hiện nay, các quyền của trẻ em được
quy định rõ ràng và đầy đủ trong quy định của Luật Trẻ em 2016.
Các quyền quy định trong Luật trẻ em 2016 được giành cho mọi trẻ em,
không phân biệt trẻ em trai, trẻ em gái, nguồn gốc xã hội, dân tộc, tôn giáo,
giàu hay nghèo, lành lặn hay khuyết tật.. Tuy nhiên, trẻ em gái luôn được ưu
tiên, nhấn mạnh trong các chương trình hay dự án dành cho trẻ em do những
đặc điểm về giới tính và những ràng buộc của phong tục tập quán. Điều này
góp phần nâng cao ý thức của người dân và xóa bỏ vấn nạn phân biệt, bất
bình đẳng giới và tư tưởng trọng nam khinh nữ.
Quyền trẻ em không làm giảm vai trò và uy tín của cha mẹ đối với con cái,
ngược lại. Pháp luật về quyền trẻ em còn nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng
không thể thay thế của cha mẹ trong việc nuôi dạy, bảo vệ và hướng dẫn con
cái. Các quy định cũng chỉ rõ rằng Chính phủ phải tôn trong và giúp đỡ gia
đình hoàn thành trách nhiệm cao quý đó.
Bên cạnh Nhà nước, cộng đồng thì Cha mẹ có trách nhiệm hàng đầu, với khả
năng tài chính của mình, trong việc thực hiện các quyền trẻ em trước hết ở
trong gia đình. Trường hợp cha mẹ không có khả năng chăm sóc hoặc khó
khăn về tài chính, cộng đồng và xã hội phải có trách nhiệm hỗ trợ trẻ em.
Document Outline

  • Trẻ em là gì? Người bao nhiêu tuổi thì được coi là
    • 1. Trẻ em là gì?
    • 2. Độ tuổi của trẻ em được thể hiện như thế nào tr
    • 3. Quyền của trẻ em là gì?
    • 4. Quyền của trẻ em bao gồm những quyền nào?
    • 5. Quyền trẻ em có ý nghĩa như thế nào?