Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TOÁN KINH TẾ BÀI THẢO LUẬN ĐỀ TÀI:
TRÌNH BÀY HIỂU BIẾT CỦA ANH/ CHỊ VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.
PHÂN TÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẾN CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC GIAI ĐOẠN 2020 – 2022
HỌC PHẦN: Nhập môn tài chính - tiền tệ (EFIN2811)
MÃ LỚP HỌC PHẦN: 232_EFIN2811_08 GVGD: Lê Thanh Huyền NHÓM THỰC HIỆN: 4 MÃ SỐ ĐỀ: 2
HỌC KÌ 2, NĂM HỌC 2023 – 2024
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ NHÓM 4 STT Họ và tên Mã sinh viên Nhiệm vụ Nhóm tự Đánh giá của đánh giá giảng viên I: 4.1 và 4.3, word, 31
Nguyễn Thị Thu Huyền 23D400017 9.8 thuyết trình A, C 32 Trần Thị Thúy Huyền 23D400059 I: 1 và 3 9 I: 4.1 và 33 Vương Ngọc Huyền 23D400060 4.2, thuyết 8.4 trình 34 Nguyễn Minh Hùng 23D400018 I: 2 và 3, powerpoint 8.6 35
Nguyễn Thị Lan Hương 23D400019 I: 1 và 2 9 36 Vũ Thị Minh Hường 23D400062 I: 4.2 và 4.3 9.1 37 Nguyễn Sơn Khang 23D400063 II: 2 và 3 9 38 Bùi Anh Khoa 23D400064 II: 1 và 4 8.9 39 Phạm Ngọc Khuê 23D400020 II: 3 và 4, powerpoint 9.5 40 Ngô Bảo Linh 23D400065 II: 1 và 2 (nộp muộn) 8.7
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM (LẦN 1)
Học phần: Nhập môn tài chính – tiền tệ
Giảng viên: Lê Thanh Huyền Lớp HP: 232_EFIN2811_08 Nhóm: 4
I. Thời gian và địa điểm 1. Địa điểm: Google meeting 2.
Thời gian: 15h ngày 7 tháng 2 năm 2024
II. Danh sách thành viên tham gia nhóm 4 STT Họ và tên MSV Lớp HC Chữ kí 31 Nguyễn Thị Thu Huyền 23D400017 K59V1 32 Trần Thị Thúy Huyền 23D400059 K59V2 33 Vương Ngọc Huyền 23D400060 K59V2 34 Nguyễn Minh Hùng 23D400018 K59V1 35 Nguyễn Thị Lan Hương 23D400019 K59V1 36 Vũ Thị Minh Hường 23D400062 K59V2 37 Nguyễn Sơn Khang 23D400063 K59V2 38 Bùi Anh Khoa 23D400064 K59V2 39 Phạm Ngọc Khuê 23D400020 K59V1 40 Ngô Bảo Linh 23D400065 K59V2
III. Thành viên tham dự
- Có mặt : Nguyễn Thị Thu Huyền, Vương Ngọc Huyền , Nguyễn Thị Lan Hương, Vũ
Thị Minh Hường, Nguyễn Sơn Khang , Bùi Anh Khoa , Phạm Ngọc Khuê
- Vắng : Trần Thị Thúy Huyền , Nguyễn Minh Hùng IV. Nội dung cuộc họp
1. Đề tài : Trình bày hiểu biết của bạn về chi ngân sách nhà nước .Phân tích sự tác
động của các yếu tố đến chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2020-2022
2. Nhóm trưởng phân công nhiệm vụ : STT Họ và tên MSV Nhiệm vụ 31 Nguyễn Thị Thu Huyền 23D400017 I: 4.1 và 4.3 32 Trần Thị Thúy Huyền 23D400059 I :1 và 3 33 Vương Ngọc Huyền 23D400060 I: 4.1 và 4.2 34 Nguyễn Minh Hùng 23D400018 I: 2 và 3 35 Nguyễn Thị Lan Hương 23D400019 I : 1 và 2 36 Vũ Thị Minh Hường 23D400062 I: 4.2 và 4.3 37 Nguyễn Sơn Khang 23D400063 II :2 và 3 38 Bùi Anh Khoa 23D400064 II : 1 và 4 39 Phạm Ngọc Khuê 23D400020 II : 3 và 4 40 Ngô Bảo Linh 23D400065 II: 1 và 2
Buổi họp kết thúc vào lúc 16h cùng ngày Nhóm trưởng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM (LẦN 2)
Học phần: Nhập môn tài chính – tiền tệ
Giảng viên: Lê Thanh Huyền Lớp HP: 232_EFIN2811_08 Nhóm: 4 I.
Thời gian và địa điểm 1. Địa điểm: Google meeting 2.
Thời gian: 15h ngày 20 tháng 3 năm 2024 II.
Danh sách thành viên tham gia nhóm 4 STT Họ và tên MSV Lớp HC Chữ kí 31 Nguyễn Thị Thu Huyền 23D400017 K59V1 32 Trần Thị Thúy Huyền 23D400059 K59V2 33 Vương Ngọc Huyền 23D400060 K59V2 34 Nguyễn Minh Hùng 23D400018 K59V1 35 Nguyễn Thị Lan Hương 23D400019 K59V1 36 Vũ Thị Minh Hường 23D400062 K59V2 37 Nguyễn Sơn Khang 23D400063 K59V2 38 Bùi Anh Khoa 23D400064 K59V2 39 Phạm Ngọc Khuê 23D400020 K59V1 40 Ngô Bảo Linh 23D400065 K59V2
III. Thành viên tham dự
- Có mặt : Nguyễn Thị Thu Huyền, Trần Thị Thúy Huyền ,Vương Ngọc Huyền ,
Nguyễn Minh Hùng Nguyễn Thị Lan Hương, Vũ Thị Minh Hường, Nguyễn Sơn
Khang , Bùi Anh Khoa , Phạm Ngọc Khuê - Vắng : 0 IV. Nội dung cuộc họp
1. Đề tài : Trình bày hiểu biết của bạn về chi ngân sách nhà nước .Phân tích sự tác
động của các yếu tố đến chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2020-2022
2. Nhóm trưởng phân công nhiệm vụ :
- Cả nhóm duyệt bản word , đánh giá điểm nhóm
- Nguyễn Minh Hùng và Phạm Ngọc Khuê làm powerpoint
- Vương Ngọc Huyền và Nguyễn Thị Thu Huyền thuyết trình
Buổi họp kết thúc vào lúc 15h45 cùng ngày Nhóm trưởng MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU.........................................................................................................1
B. PHÂN TÍCH ĐỀ TÀI THẢO LUẬN.....................................................................2
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về ngân sách nhà nước................................................2
1. Một số lý thuyết cơ bản về ngân sách nhà nước.............................................2
1.1. Khái niệm về ngân sách nhà nước................................................................2
1.2 Đặc điểm về NSNN.......................................................................................3
2. Mối quan hệ giữa thu – chi NSNN...................................................................5
3. Khái niệm, đặc điểm của chi NSNN.................................................................5
3.1. Khái niệm của chi NSNN.............................................................................5
3.2. Đặc điểm của chi NSNN...............................................................................5
3.3. Các yếu tố tác động đến chi NSNN..............................................................6
Chương 2: Liên hệ thực trạng của chi NSNN giai đoạn 2020 – 2022...................8
1. Các hoạt động của chi NSNN giai đoạn 2020 – 2022......................................8
1.1. Bối cảnh........................................................................................................8
1.2. Hoạt động chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2020-2022..............................9
1.2.1. Năm 2020: Kết quả thực hiện nhiệm vụ chi NSNN năm 2020...............9
1.2.2. Năm 2021: Kết quả thực hiện nhiệm vụ chi NSNN năm 2021.............10
1.2.3. Năm 2022: Kết quả thực hiện nhiệm vụ chi NSNN năm 2022.............11
2. Đánh giá về thực trạng chi NSNN giai đoạn 2020 – 2022.............................13
3. Ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động chi NSNN giai đoạn 2020 – 2022
..............................................................................................................................14
3.1 Bản chất chế độ xã hội.................................................................................15
3.2. Sự phát triển của lực lượng sản xuất...........................................................16
3.3. Khả năng tích lũy của nền kinh tế...............................................................17
3.4. Mô hình tổ chức bộ máy của Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính
trị, xã hội mà Nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ ....................................17
4. Kết luận (thành tựu, bất cập trong chi NSNN).............................................18
4.1 Thành tựu.....................................................................................................19
4.2. Bất cập........................................................................................................19
C. TỔNG KẾT...........................................................................................................21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................22 A. LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, nhà nước được ra đời trong những cuộc đấu tranh của xã
hội có giai cấp. Nó là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp. Khi đó, nhà nước xuất
hiện với tư cách là cơ quan có quyền lực công cộng để thực hiện các chức năng và
nhiệm vụ về nhiều mặt như quản lý hành chính,… Đồng thời thực hiện các chức năng
như chức năng kinh tế, chức năng trấn áp và các nhiệm vụ xã hội.
Để thực hiện được các chức năng và nhiệm vụ đó, Nhà nước cần phải có nguồn
lực tài chính – Ngân sách Nhà nước. Đó là cơ sở vật chất cho Nhà nước tồn tại và hoạt
động.Với hiện thực đổi mới nền kinh tế của đất nước, Việt Nam đã đạt được những
thành tựu kinh tế đáng nể, đã và đang chuyển sang nền kinh tế thị trường. Ngày nay,
kinh tế thị trường càng phát triển thì vị trí và vai trò của tài chính nhà nước ngày càng
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy, xây dựng nền tài chính tự chủ
vững mạnh là một trong những yêu cầu cơ bản cấp bách trong thời kì công nghiệp hóa
hiện đại hóa ở nước ta. Trong đó Ngân sách Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc gia.
Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của Ngân sách nhà nước, nhóm 4
chúng em đã cùng thảo luận và phân tích đề tài: “Trình bày hiểu biết của anh/ chị về
chi ngân sách nhà nước. Phân tích sự tác động của các yếu tố đến chi ngân sách nhà
nước giai đoạn 2020 – 2022”.
Trong quá trình thảo luận và thực hiện đề tài, do thời gian và kiến thức của
chúng em còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, chúng em hi
vọng nhận được sự đóng góp của cô và các bạn để đề tài thảo luận được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! 2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu , giới thiệu về ngân sách nhà nước, chi ngân sách nhà nước.
- Nghiên cứu thực trạng của hoạt động chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2020-2022
3. Đối tượng nghiên cứu : Chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2020 – 2022 4. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian : Hoạt động chi ngân sách nhà nước của Việt Nam - Thời gian : 2020-2022
5.Bố cục đề tài : Bài thảo luận được chia làm hai phần :
- Phần 1 : Cơ sở lý thuyết về ngân sách nhà nước
- Phần 2 : Thực trạng của chi NSNN giai đoạn 2020 – 2022 1
B. PHÂN TÍCH ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về ngân sách nhà nước
1. Một số lý thuyết cơ bản về ngân sách nhà nước
1.1. Khái niệm về ngân sách nhà nước
Ngân sách Nhà nước (NSNN) là một phạm trù kinh tế - lịch sử xuất hiện và tồn
tại gắn liền với sự ra đời, tồn tại, phát triển của nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ và sự
xuất hiện của Nhà nước. Lịch sử phát triển kinh tế cho thấy, khi Nhà nước hình thành,
để có được các phương tiện vật chất cần thiết đảm bảo sự tồn tại và thực hiện các chức
năng của mình, Nhà nước đã sử dụng quyền lực kinh tế chính trị để buộc các thành
viên trong xã hội phải đóng góp hình thành nguồn quỹ cho Nhà nước. Trong điều kiện
nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ, Nhà nước đã sử dụng hình thức đóng góp và chi tiêu
bằng tiền tệ để tạo sự thuận tiện, linh hoạt cho cả người dân và Nhà nước, khi đó, thuật
ngữ tài chính Nhà nước hình thành. Tuy nhiên, cho đến khi giai cấp tư sản xuất hiện,
để có được không gian kinh tế tài chính thông thoáng và hợp lý hơn, giai cấp tư sản đã
đấu tranh chống lại chế độ thuế khóa vô lý, tùy tiện, chế độ chỉ tiêu thiếu rõ ràng, thiếu
sự tách bạch giữa chi tiêu của Nhà nước với chi tiêu của gia đình quan lại, vua chúa
phong kiến. Kết quả của cuộc đấu tranh này trên lĩnh vực thuế khóa và chi tiêu của
Nhà nước đã đưa đến sự thay đổi lớn trong quản lý tài chính Nhà nước. Từ đó, thuật
ngữ "Ngân sách Nhà nước" được hình thành. Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ các
khoản thu chi của Nhà nước được thể chế hóa bằng pháp luật.
Ngân sách Nhà nước được xem là khâu chủ đạo của hệ thống tài chính thể hiện
những quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội và gắn liền với
việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Sự hình thành và sử dụng các
nguồn tài chính thuộc NSNN có tác động quan trọng và chi phối đến sự vận hành của
toàn bộ hệ thống tài chính.
Thuật ngữ "Ngân sách Nhà nước" đã xuất hiện và được sử dụng từ rất lâu trong
lịch sử phát triển kinh tế - xã hội. Ngày nay, ở các nước, Quốc hội thực hiện quyền lập
pháp về NSNN, Chính phủ đảm nhận quyền hành pháp về NSNN và ở đâu có Nhà
nước thì ở đó có hoạt động NSNN. Tuy nhiên, cho đến hiện nay, vẫn tồn tại những
quan niệm khác nhau về NSNN, trong đó phổ biến là ba quan điểm: quan điểm thứ
nhất cho rằng, NSNN là bản dự toán thu chi tài chính của Nhà nước trong một khoảng
thời gian nhất định, thường là một năm. Quan điểm thứ hai cho rằng, NSNN là quỹ
tiền tệ tập trung của Nhà nước. Quan điểm thứ ba cho rằng, NSNN là những quan hệ
kinh tế phát sinh giữa Nhà nước với xã hội trong quá trình Nhà nước huy động và sử
dụng các nguồn tài chính khác nhau. 2
Các quan niệm kể trên về NSNN đã cố gắng mô tả hình thức tồn tại và những
khía cạnh vật chất của NSNN song chưa đầy đủ, chưa thể hiện được những nội dung
kinh tế - xã hội hàm chứa trong nó.
Trong thực tế, nếu nhìn về quy trình hình thành Ngân sách thì NSNN là một
bản dự toán thu chi tài chính của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định do
Chính phủ lập ra, đệ trình Quốc hội phê chuẩn và giao lại cho Chính phủ tổ chức thực hiện.
Nếu xét về hình thức hoạt động thì NSNN là những hoạt động thu chi tài chính
của Nhà nước được tiến hành trên phạm vi cả nước. Các nguồn thu và khoản chi của
NSNN luôn được dự kiến trước để đảm bảo tính chủ động trong hoạt động, đồng thời
đảm bảo tính cân đối giữa thu và chi. Xét về nội dung quan hệ kinh tế chứa đựng trong
hoạt động NSNN, các hoạt động thu chi của NSNN phản ánh quan hệ kinh tế - chính
trị - xã hội giữa Nhà nước với các tổ chức và cá nhân trong xã hội trong quá trình Nhà
nước tạo lập và sử dụng quỹ NSNN nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
mình. Bản thân Nhà nước không phải là chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình sản
xuất và tạo ra của cải xã hội, song Nhà nước lại tham gia và chi phối đến quá trình
phân phối của cải xã hội dưới hình thái giá trị dựa trên quyền lực của mình để hình
thành và sử dụng quỹ NSNN.
Chính vì vậy, hoạt động NSNN thực chất là một hình thức phân phối nguồn tài
chính trong nền kinh tế dựa trên quyền lực Nhà nước nên nó có tác động và chi phối
đến mọi chủ thể kinh tế - xã hội. Ngân sách Nhà nước không chỉ biểu hiện các quan hệ
kinh tế nhất định, mà còn có sự thể hiện vật chất hóa. Sự vật chất hóa các quan hệ
Ngân sách được biểu hiện ở quỹ tiền tệ của Nhà nước. Như vậy, đằng sau các con số
phản ánh khối lượng thu chi của Ngân sách là quá trình phân phối hiện thực. Đó chính
là tính hai mặt của một phạm trù kinh tế - mặt chất lượng và mặt số lượng.
Từ sự phân tích những đặc điểm trên, có thể khái quát thành khái niệm Ngân
sách Nhà nước như sau: Ngân sách Nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới
hình thái giá trị phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ
tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính
quốc gia nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
1.2 Đặc điểm về NSNN
Ngân sách Nhà nước là khâu chủ đạo của hệ thống tài chính quốc gia, phản ánh
các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng nguồn tài
chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng của Nhà nước. Các quan hệ tài
chính thuộc NSNN có phạm vi rộng lớn, bao gồm: 3
- Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với dân cư, được biểu hiện trong các hình
thức hoạt động như dân cư nộp thuế, phí cho Nhà nước; Nhà nước trợ cấp cho dân cư
thuộc các đối tượng chính sách xã hội;...
- Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế, được biểu hiện trong
các hình thức hoạt động như các tổ chức kinh tế nộp thuế, phí cho Nhà nước; Nhà
nước đầu tư vốn, nắm giữ cổ phần của các doanh nghiệp;...
- Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các tổ chức xã hội, được biểu hiện thông
qua các hoạt động như Nhà nước cấp kinh phí cho các đơn vị hành chính, sự nghiệp
công lập; các đơn vị này nộp các khoản thu sự nghiệp cho NSNN;...
Mặc dù phạm vi của quan hệ tài chính thuộc NSNN rất rộng lớn và có liên quan
đến mọi chủ thể trong xã hội, song chúng đều có những đặc điểm chung là:
- Việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế chính
trị của Nhà nước, liên quan đến việc thực hiện các chức năng của Nhà nước và được
Nhà nước tiến hành trên những cơ sở pháp lý nhất định.
- Các hoạt động thu chi của NSNN gắn chặt với sở hữu Nhà nước, chứa đựng
nội dung kinh tế - xã hội nhất định, chứa đựng những quan hệ lợi ích nhất định và
được biểu hiện khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia. Trong
các quan hệ lợi ích đó, thì lợi ích quốc gia, lợi ích tổng thể luôn được đặt lên hàng đầu
và chi phối các mặt lợi ích khác.
- Quỹ tiền tệ thuộc NSNN cũng có những đặc trưng chung như các quỹ tiền tệ
khác, đó là được tạo lập trên cơ sở các quan hệ tài chính. Song đặc trưng riêng biệt của
NSNN với tư cách một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước là nó được chia thành nhiều
quỹ nhỏ có tác dụng riêng rồi mới được chi dùng cho những mục đích đã xác định trước.
- Hoạt động thu chi của NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả
trực tiếp là chủ yếu. Nguyên tắc này được thể chế hóa thành những quy định pháp lý
cụ thể gắn với từng khoản thu chi nhất định. Điều này vừa tạo sự ràng buộc trách
nhiệm của các chủ thể liên quan vừa tạo tính chủ động trong quản lý và sử dụng các khoản thu chi NSNN. Vai trò:
- Là công cụ huy động nguồn tài chính để đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu và
thực hiện sự cân đối thu chi tài chính của Nhà nước.
- Là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế – xã hội:
Định hướng sản xuất kinh doanh, xác lập cơ cấu kinh tế hợp lí của nền kinh tế quốc dân.
Điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, kiểm soát lạm phát.
Điều tiết thu nhập nhằm đảm bảo công bằng xã hội. 4
- Là công cụ kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế - xã hội.
2. Mối quan hệ giữa thu – chi NSNN
Thu và chi là hai yếu tố cơ bản của ngân sách: Thu NSNN bao gồm các nguồn
thu như thuế, lệ phí, doanh thu từ tài sản nhà nước, vay nợ và các nguồn tài trợ khác.
Chi NSNN bao gồm các khoản chi cho các lĩnh vực như giáo dục, y tế, quốc phòng, cơ
sở hạ tầng, an ninh xã hội và các chương trình xã hội khác.
Thu NSNN tạo ra nguồn vốn để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của chính phủ.
Khi thu nhập tăng, chính phủ có thêm nguồn vốn để đầu tư vào các lĩnh vực phục vụ
cộng đồng và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, nếu chi tiêu vượt quá thu nhập, chính phủ
sẽ phải tìm kiếm các nguồn tài trợ khác như vay nợ hoặc cắt giảm một số khoản chi.
Khi thuế được thu vào, nó cung cấp nguồn tài chính để đáp ứng các khoản chi tiêu của chính phủ.
NSNN thu lệ phí và thu phí từ các hoạt động và dịch vụ như giấy phép, giấy tờ,
phí sử dụng đất, phí bảo hiểm, phí xây dựng, phí giao thông và nhiều loại lệ phí khác.
Sự tăng giảm thu lệ phí và thu phí có thể ảnh hưởng đến nguồn thu và do đó ảnh
hưởng đến mức độ chi tiêu của NSNN.
Việc thu và chi không cân đối có thể dẫn đến thiếu hụt ngân sách khi chi vượt
quá thu, hoặc tạo ra thặng dư ngân sách khi thu vượt quá chi. Cân đối ngân sách giúp
đảm bảo sự ổn định và bền vững của tài chính công, tránh các vấn đề tài khóa và tạo
điều kiện thuận lợi để chính phủ thực hiện chính sách và dự án.
Mối quan hệ giữa thu và chi NSNN có tác động trực tiếp đến kinh tế và xã hội
của một quốc gia. Mức thu và chi ảnh hưởng đến tổng cầu, tăng trưởng kinh tế, mức
sống của người dân, đầu tư công, tạo việc làm và phát triển bền vững. Quản lý hiệu
quả thu và chi NSNN là quan trọng để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội của một quốc gia
3. Khái niệm, đặc điểm của chi NSNN
3.1. Khái niệm của chi NSNN
Chi Ngân sách Nhà nước là quá trình phân phối và sử dụng quỹ Ngân sách Nhà
nước nhằm trang trải các chi phí cho bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng của Nhà nước về mọi mặt.
3.2. Đặc điểm của chi NSNN
Trong mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn lịch sử, chi Ngân sách Nhà nước mang
những nội dung kinh tế và cơ cấu khác nhau, song chúng đều có những đặc điểm chung như sau:
- Chi Ngân sách Nhà nước gắn với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh
tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước phải đảm đương trong thời kỳ. Nhà nước với bộ máy 5
càng lớn, đảm đương nhiều nhiệm vụ thì mức độ và phạm vi chi của Ngân sách Nhà
nước càng lớn. Tuy nhiên, nguồn thu NSNN có thể huy động được trong từng thời kỳ
là có hạn, điều này buộc Nhà nước phải lựa chọn để xác định rõ phạm vi chi NSNN.
Nhà nước không thể bao cấp tràn lan mà phải tập trung nguồn tài chính vào những
phạm vi nhất định và thực hiện những nhiệm vụ cụ thể của Nhà nước trong từng thời kỳ.
- Chi NSNN gắn liền với quyền lực của Nhà nước. Quốc hội là cơ quan quyền
lực cao nhất của Nhà nước và là chủ thể duy nhất quyết định nội dung, cơ cấu và mức
độ các khoản chi của Ngân sách Nhà nước trong từng thời kỳ. Bởi vì cơ quan đó quyết
định các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia, cơ quan đó thể hiện ý chí,
nguyện vọng của toàn dân tộc. Chính phủ là cơ quan hành pháp, có nhiệm vụ tổ chức,
quản lý, điều hành các khoản thu chi NSNN đã được Quốc hội phê chuẩn.
- Hiệu quả chi của Ngân sách Nhà nước được xem xét trên tầm vĩ mô. Điều đó
có nghĩa là hiệu quả các khoản chi của Ngân sách Nhà nước phải được xem xét một
cách toàn diện dựa trên cơ sở của việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội, an
ninh, quốc phòng,... mà Nhà nước đã đề ra.
- Các khoản chi của Ngân sách Nhà nước mang tính chất không hoàn trả trực
tiếp là chủ yếu. Tính không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở chỗ là các ngành, các
cấp, các tổ chức, cá nhân nhận được vốn, kinh phí, khoản hỗ trợ,... từ Ngân sách Nhà
nước cấp thì không phải ghi nợ và
không phải hoàn trả lại một cách trực tiếp cho
Ngân sách. Mặt khác, không phải mọi khoản thu với mức độ, số lượng của những địa
chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới các khoản chi của Ngân sách Nhà nước. Đây là điểm
khác biệt của chi NSNN với các việc cấp tín dụng, đóng bảo hiểm,... Tuy vậy, Nhà
nước cũng có những khoản chi mang tính chất hoàn trả như việc cho vay ưu đãi có
hoàn trả gốc và lãi để giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo,...
- Các khoản chi của Ngân sách Nhà nước là một bộ phận cấu thành luồng vận
động tiền tệ trong nền kinh tế nên nó thường có những tác động đến sự vận động của
các phạm trù giá trị khác như giá cả, tiền lương, lãi suất, tỷ giá hối đoái,... Do đó, việc
nhận thức rõ mối quan hệ này sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc kết hợp chặt chẽ
giữa chính sách Ngân sách với chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập, chính sách lãi
suất,... để thực hiện các mục tiêu của kinh tế vĩ mô (như tăng trưởng kinh tế, kiềm chế
lạm phát, tạo công ăn việc làm, ổn định giá cả, cân bằng cán cân thanh toán,...).
3.3. Các yếu tố tác động đến chi NSNN
Để đánh giá sự tích cực, tiến bộ Ngân sách của một quốc gia người ta thường
xem xét cơ cấu và nội dung thu chi của nó. Nội dung, cơ cấu các khoản chi NSNN là
sự phản ánh những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm đương trong
từng giai đoạn lịch sử. 6
Cơ cấu chi Ngân sách nhà nước được hiểu là hệ thống các khoản chi Ngân sách
bao gồm các khoản chi và tỉ trọng của nó. Hệ thống này đất đa dạng phong phú và
luôn biến động theo tình hình kinh tế, xã hội, chính trị. Nội dung, cơ cấu chi Ngân
sách Nhà nước trong từng thời kỳ chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau bao gồm:
- Bản chất chế độ xã hội: Chế độ xã hội quyết định đến bản chất, định hướng
phát triển kinh tế - xã hội cũng như những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà
nước, cho nên lẽ đương nhiên nội dung, cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước chịu sự ràng
buộc của chế độ xã hội. Các quốc gia có chế độ xã hội khác nhau thì nội dung, cơ cấu
chi Ngân sách Nhà nước cũng khác nhau. Ở các nước phát triển, xã hội văn minh thì tỉ
trọng chi ngân sách cho các mục tiêu phúc lợi xã hội như giáo dục, đào tạo, y tế, chăm
sóc sức khỏe cộng đồng phúc lợi xã hội cao hơn các nước khác. Ở Việt Nam, trong
những năm gần đây, cơ cấu chi ngân sách nhà nước Việt Nam có sự chuyển biến theo
xu hướng chung trên thế giới, tỉ trọng chi cho giáo dục và y tế ngày càng được nâng cao.
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất phát triển sẽ kéo
theo đó là nhu cầu vốn để phát triển kinh tế tăng lên, khi đó, Nhà nước với vai trò là cơ
quan quản lý vĩ mô nền kinh tế phải có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu này, từ đó ảnh
hưởng đến nội dung và cơ cấu chi NSNN. Lực lượng sản xuất phát triển sẽ tác động
làm tăng thu cho Ngân sách Nhà nước, tạo khả năng và điều kiện cho việc hình thành
nội dung, cơ cấu chi phù hợp với nhu cầu phát triển. Bên cạnh đó, sự phát triển của lực
lượng sản xuất xã hội cũng đặt ra những yêu cầu thay đổi nội dung, cơ cấu chi ngân
sách nhà nước trong từng thời kỳ.
- Khả năng tích lũy của nền kinh tế: Thu nhập của các tổ chức và cá nhân
trong xã hội thường được phân chia và sử dụng vào các mục đích tích lũy và tiêu dùng.
Khi khả năng tích lũy trong nền kinh tế càng lớn thì khả năng chi đầu tư phát triển
kinh tế càng cao. Tuy nhiên, tỷ trọng đầu tư của Ngân sách Nhà nước cho phát triển
kinh tế còn phụ thuộc ở khả năng tập trung nguồn tích lũy vào Ngân sách Nhà nước và
chính sách chi NSNN trong từng thời kỳ nhất định.
Mô hình tổ chức bộ máy của Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã
hội mà Nhà nước đảm đương trong từng thời kì: Với mỗi mô hình tổ chức bộ máy Nhà
nước khác nhau thì nhu cầu chi tiêu nhằm duy trì quyền lực chính trị của bộ máy đó
cũng khác nhau. Nhìn chung, bộ máy quản lý Nhà nước càng gọn nhẹ thì càng tiết
kiệm được các khoản chi NSNN nhằm duy trì bộ máy đó.
Có thể nói, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nội dung, cơ cấu chi
Ngân sách Nhà nước có ý nghĩa quan trọng trong việc bố trí các khoản chi của nhà 7
Ngân sách Nhà nước một cách khách quan, phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã
hội trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước.
Chương 2: Liên hệ thực trạng của chi NSNN giai đoạn 2020 – 2022
1. Các hoạt động của chi NSNN giai đoạn 2020 – 2022 1.1. Bối cảnh
- Năm 2020: Năm 2020, dịch bệnh COVID-19 bùng phát trên phạm vi toàn
cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế
giới. Trong nước, dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, khó lường dẫn đến nhiều địa
phương phải thực hiện các biện pháp giãn cách trong quý II và III, giao thông, du
lịch bị đình trệ; hoạt động xuất, nhập khẩu bị tác động mạnh do đứt gãy chuỗi
thương mại quốc tế, làm tăng trưởng ở nhiều lĩnh vực chậm lại. Tỷ lệ thất nghiệp,
thiếu việc làm tăng, đời sống của một bộ phận người lao động gặp khó khăn. Cùng
với đó, hạn hán, xâm nhập mặn, mưa, lũ ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng và đời sống nhân dân.
- Năm 2021: Đại dịch COVID-19 tiếp tục tác động mạnh mẽ, sâu rộng đến mọi
mặt đời sống kinh tế - xã hội cả trong nước và trên thế giới. Đặc biệt, đợt dịch lần thứ
tư bùng phát đã ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế nước ta.. Sức chống chịu cũng như
nguồn lực của doanh nghiệp và người dân giảm mạnh, tạo sức ép rất lớn đến nguồn
thu ngân sách nhà nước (NSNN) và khả năng chi NSNN.
- Năm 2022: Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn sau đại dịch
COVID-19, hoạt động sản xuất - kinh doanh chưa phục hồi trở lại hoàn toàn như trước
khi xảy ra đại dịch, các vấn đề nội tại của nền kinh tế chưa được giải quyết, cuộc xung
đột địa chính trị tại Ukraine bất ngờ xảy ra đã làm cho tình hình kinh tế - xã hội trong
nước và quốc tế lại càng trở nên biến động phức tạp, khó lường.
Cuộc xung đột Nga - Ukraine đã có tác động rõ rệt đến việc điều hành chính
tiền tệ của nhiều quốc gia, do đã gây ra các cú sốc liên quan đến nguồn cung đối với
lương thực và năng lượng trên thế giới, làm giá năng lượng biến động không ổn định
theo xu hướng tăng, là một trong những nguyên nhân chính làm tăng mạnh lạm phát
và tác động tới lạm phát cơ bản, dẫn đến việc thắt chặt chính sách tiền tệ hơn nữa.
Nhiều Ngân hàng trung ương của các quốc gia lớn trên thế giới đã phản ứng với lạm
phát cao bằng cách tăng lãi suất, mà hệ quả của việc này lại gây ra suy thoái kinh tế.
Có thể thấy giá lương thực và năng lượng tăng gây ra khó khăn và bất ổn trên diện 8
rộng, không chỉ đe dọa đến tăng trưởng kinh tế mà còn ảnh hưởng tới ổn định xã hội ở
nhiều quốc gia. Nhìn dưới góc độ điều hành chính sách tài khóa, trong đó có điều hành
các chính sách thu, chi NSNN, cuộc xung đột này cũng gây ra các tác động không nhỏ.
1.2. Hoạt động chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2020-2022
1.2.1. Năm 2020: Kết quả thực hiện nhiệm vụ chi NSNN năm 2020
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo triển khai đồng bộ,
quyết liệt nhiều giải pháp, quản lý, điều hành chi NSNN năm 2020 chủ đô „ng, đảm bảo
chă „t chẽ, đúng chính sách, chế đô „, tăng cường kỷ luâ „t tài chính, nâng cao hiê „u quả sử
dụng NSNN. Theo đó, kết quả chi NSNN như sau:
Quyết toán chi NSNN là 1.709.524 tỷ đồng, giảm 64.242 tỷ đồng, bằng 96,4%
dự toán. Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện chi ngân sách bám sát
mục tiêu, dự toán được giao; rà soát, cắt giảm mạnh các khoản chi thường xuyên chưa
thực sự cần thiết, chậm triển khai; tập trung nguồn lực cho chi phòng, chống dịch
COVID-19 và hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng của dịch bệnh. Ngoài ra, một số nhiệm
vụ chi NSNN năm 2020 đạt thấp so với dự toán hoặc không thực hiện, phải hủy dự
toán theo quy định. Theo đó, quyết toán chi NSNN thấp hơn so dự toán.
- Quyết toán chi NSNN theo các lĩnh vực chi chủ yếu như sau:
a) Chi đầu tư phát triển: Quyết toán 576.432 tỷ đồng, đạt 115,5% dự toán, tăng 77.161 tỷ đồng.
b) Chi trả nợ lãi: Quyết toán 106.466 tỷ đồng, bằng 90,1% dự toán, chủ yếu do trong
điều hành đã bám sát tiến độ giải ngân vốn đầu tư để phát hành trái phiếu Chính phủ,
qua đó giảm số thực huy động trong năm, kết hợp với lãi suất phát hành thấp hơn dự
kiến, làm giảm chi phí vay cho ngân sách.
c) Chi thường xuyên (bao gồm cả nguồn cải cách tiền lương): quyết toán 1.013.449 tỷ
đồng, bằng 90,8% so với dự toán.
Năm 2020, NSNN đã chi 21.685 tỷ đồng cho công tác phòng, chống dịch và hỗ
trợ người dân bị ảnh hưởng của dịch COVID-19, góp phần kiểm soát hiệu quả dịch
bê „nh, đảm bảo an sinh xã hô „i.
Nhìn chung, trong năm 2020, công tác điều hành chi NSNN được thực hiện chủ
động, đảm bảo chặt chẽ, bám sát dự toán được giao; kỷ luật tài chính được tăng cường,
hiệu quả sử dụng NSNN có tiến bộ. Các nhiệm vụ chính trị quan trọng được đảm bảo,
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và từng địa phương và có thêm
nguồn lực xử lý kịp thời các nhiệm vụ quan trọng, cấp bách phát sinh về đầu tư hạ tầng
kinh tế - xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, đảm bảo an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh.
Quyết toán số bội chi NSNN là 216.406 tỷ đồng, giảm 18.394 tỷ đồng so với dự
toán đầu năm, bằng 3,44% GDP thực hiê „n, thấp hơn rất nhiều so với mức bội chi Quốc 9
hội cho phép điều chỉnh theo Nghị quyết số 128/2020/QH14 (5,41% GDP kế hoạch);
trong đó bội chi NSTW là 213.089 tỷ đồng, giảm 4.711 tỷ đồng so với dự toán, bội chi
NSĐP là 3.317 tỷ đồng, giảm 13.683 tỷ đồng so với dự toán.
Bảng 2.1.1: Thống kê dự toán và quyết toán chi NSNN năm 2020
1.2.2. Năm 2021: Kết quả thực hiện nhiệm vụ chi NSNN năm 2021
Dự toán chi NSNN là 1.687 nghìn tỷ đồng, ước thực hiê „n chi năm 2021 đạt
1.854,9 nghìn tỷ đồng, tăng 167,9 nghìn tỷ đồng (+10%) so với dự toán, trong đó:
a) Chi đầu tư phát triển
Dự toán chi là 477,3 nghìn tỷ đồng; thực hiê „n ước đạt 515,9 nghìn tỷ đồng, tăng
38,6 nghìn tỷ đồng (+8,1%) so với dự toán.
Mă „c dù trong bối cảnh chịu tác động của dịch bệnh, Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ đã quan tâm chỉ đạo các bô „, ngành, địa phương quyết liê „t đẩy nhanh tiến đô „
thực hiê „n và giải ngân vốn đầu tư công. Nhờ vậy, tính đến hết thời gian chỉnh lý quyết
toán ngân sách năm 2021 (31/01/2022), số vốn thực hiê „n giải ngân ước đạt 94,94% kế
hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, trong đó vốn trong nước đạt 102,75% kế hoạch, vốn
ngoài nước đạt 32,85% kế hoạch.
b) Chi trả nợ lãi
Dự toán chi là 110 nghìn tỷ đồng; thực hiê „n ước đạt gần 102,6 nghìn tỷ đồng,
giảm 7,5 nghìn tỷ đồng (-6,8%) so dự toán, chủ yếu do công tác phát hành trái phiếu
Chính phủ năm 2020 phù hợp với tiến đô „ thu ngân sách và giải ngân vốn đầu tư,
không để tồn đọng vốn vay; kết hợp với tranh thủ diễn biến thị trường thuận lợi, giảm 10
lãi suất phát hành bình quân phải trả lãi trong năm 2021 thấp hơn khi xây dựng dự
toán; đồng thời không phát sinh các khoản chênh lê „ch tỷ giá..
c) Chi thường xuyên
Dự toán chi là 1.036,7 nghìn tỷ đồng; thực hiện ước đạt 1.053,9 nghìn tỷ đồng,
tăng 17,1 nghìn tỷ đồng (+1,7%) so dự toán.
Công tác điều hành chi NSNN năm 2021 được thực hiê „n chủ đô „ng, chă „t chẽ,
đảm bảo đúng chính sách, chế đô „, cắt giảm những nhiê „m vụ chi chưa thực sự cần thiết,
châ „m triển khai, triê „t để tiết kiê „m chi thường xuyên gắn với sắp xếp lại bộ máy, tinh
giản biên chế, đổi mới khu vực sự nghiệp công; rà soát, sắp xếp các nhiệm vụ chi, tập
trung ưu tiên nguồn lực cho phòng, chống dịch COVID-19, đảm bảo an sinh xã hội,
ổn định đời sống nhân dân; đảm bảo cơ sở vật chất và các điều kiện cần thiết phục vụ
cho công tác bầu cử Quốc hội khóa XV và đại biểu Hô „i đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Chi NSNN 2021 Dự phòng ngân sách Chi bổ sung quỹ dự trù tài chính Chi thường xuyên Chi trả nợ lãi Chi đầu tư phát triển Tổng chi NSNN 0.00 500,000.00
1,000,000.00 1,500,000.00 2,000,000.00 Quyết toán 2021 Dự toán 2021
Bảng 2.1.2: Thống kê dự toán và quyết toán chi NSNN năm 2021
1.2.3. Năm 2022: Kết quả thực hiện nhiệm vụ chi NSNN năm 2022
Dự toán tổng chi NSNN Quốc hội quyết định là 1.816 nghìn tỷ đồng4, ước thực
hiê „n chi năm 2022 đạt 2.158,1 nghìn tỷ đồng, tăng 342,1 nghìn tỷ đồng (+18,8%) so với dự toán, trong đó:
a) Chi đầu tư phát triển 11
Dự toán chi là 557,5 nghìn tỷ đồng; thực hiện (bao gồm cả số vốn được chuyển
nguồn sang năm 2023) ước đạt 638,1 nghìn tỷ đồng, tăng 80,6 nghìn tỷ đồng (+14,5%) so với dự toán.
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều giải pháp, tổ chức các đoàn
công tác của Chính phủ chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, đôn đốc thực hiện, thúc đẩy giải
ngân vốn đầu tư công. Đến hết thời gian chỉnh lý quyết toán ngân sách năm 2022
(31/01/2023), số vốn thực hiê „n giải ngân ước đạt 81,02% kế hoạch5, đạt 93,42% kế
hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, trong đó vốn trong nước đạt 96,65% kế hoạch, vốn
ngoài nước đạt 42,47% kế hoạch.
b) Chi trả nợ lãi
Dự toán chi là 103,7 nghìn tỷ đồng; thực hiê „n ước đạt gần 94,8 nghìn tỷ đồng,
giảm 8,9 nghìn tỷ đồng (-8,6%) so dự toán, chủ yếu do công tác phát hành trái phiếu
Chính phủ phù hợp với tiến
đô „ thu ngân sách và giải ngân vốn đầu tư, giảm số dư nợ
vay và trả lãi so dự kiến tại thời điểm xây dựng dự toán NSNN năm 2022; đồng thời,
giải ngân vốn ODA (Hỗ trợ phát triển chính thức) đạt thấp, giảm chi trả lãi vay nước ngoài so dự toán.
c) Chi thường xuyên
Dự toán chi là 1.111,2 nghìn tỷ đồng; thực hiện ước đạt 1.101,9 nghìn tỷ đồng,
giảm 9,3 nghìn tỷ đồng (-0,8%) so dự toán.
Công tác điều hành chi NSNN năm 2021 được thực hiê „n chủ đô „ng, chă „t chẽ,
đảm bảo đúng chính sách, chế
đô „, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, cắt giảm những
nhiê „m vụ chi chưa thực sự cần thiết, châ „m triển khai, tập trung ưu tiên nguồn lực thực
hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, tăng cường công
tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, công khai tài chính - ngân sách, nâng cao kỷ luật, kỷ
cương, nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí NSNN và quản lý, sử dụng tài sản công.
Các nhiệm vụ chi được thực hiện theo dự toán, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội, quản lý nhà nước, khắc phục hậu quả thiên tai dịch bệnh, đảm bảo an sinh xã hội.
Cơ quan tài chính các cấp và hệ thống Kho bạc Nhà nước đổi mới công tác
quản lý, kiểm soát chặt chẽ chi NSNN; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin,
chuyển đổi số, triển khai dịch vụ công trực tuyến, giao nhận hồ sơ thanh toán điện tử,
đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa ngành tài chính, rút ngắn thời gian thanh toán,
tạo thuận lợi cho đơn vị sử dụng ngân sách.
Tóm lại, thực hiện chi NSNN năm 2022 ước đạt 2.158,1 nghìn tỷ đồng, tăng
342,1 nghìn tỷ đồng (+18,8%) so dự toán. Các hoạt động chi NSNN thực hiện theo dự
toán, đồng thời tăng cường nguồn lực cho đầu tư phát triển, hỗ trợ Chương trình phục
hồi và phát triển kinh tế - xã hội. 12 Chi NSNN 2022 Dự phòng ngân sách Chi bổ sung quỹ dự trù tài chính Chi thường xuyên Chi trả nợ lãi Chi đầu tư phát triển Tổng chi NSNN 0.00 500,000.00
1,000,000.00 1,500,000.00 2,000,000.00 2,500,000.00 Quyết toán 2022 Dự toán 2022
Bảng 2.1.3: Thống kê dự toán và quyết toán chi NSNN năm 2022
2. Đánh giá về thực trạng chi NSNN giai đoạn 2020 – 2022
Giai đoạn 2020-2022 là một năm rất khó khăn đối với nền kinh tế, với sự xuất
hiện của đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tế và đời
sống xã hội của người dân, đồng thời tác động tiêu cực tới thực hiện dự toán ngân sách
khi một số nguồn thu sụt giảm. Dịch COVID-19 đã đảo lộn nguyên tắc ngân sách, thu
không đủ bù chi, mọi khoản chi phải có trong dự toán và không ban hành bất cứ một
chính sách nào làm tăng chi ngân sách. Trong bối cảnh khó khăn, thách thức nhưng
giai đoạn 2020-2022 đã đạt được những kết quả bất ngờ trong hoạt động thu - chi ngân
sách. Về chi NSNN, giai đoạn 2020-2022 ước tính đạt 1.879 nghìn tỷ đồng, bằng 111,4% dự toán, trong đó:
- Chi đầu tư phát triển: Dự toán chi là 477,3 nghìn tỷ đồng; thực hiê „n ước đạt
515,9 nghìn tỷ đồng , tăng 38,6 nghìn tỷ đồng (+8,1%) so với dự toán.
Mă „c dù trong bối cảnh chịu tác động của dịch bệnh, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
đã quan tâm chỉ đạo các
bô „, ngành, địa phương quyết liê „t đẩy nhanh tiến đô „ thực hiê „n
và giải ngân vốn đầu tư công . Nhờ vậy, tính đến hết thời gian chỉnh lý quyết toán
ngân sách năm 2021 (31/01/2022), số vốn thực hiê „n giải ngân ước đạt 94,94% kế
hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, trong đó vốn trong nước đạt 102,75% kế hoạch, vốn
ngoài nước đạt 32,85% kế hoạch.
- Chi trả nợ lãi: dự toán chi là 110 nghìn tỷ đồng; thực hiê „n ước đạt gần 102,6
nghìn tỷ đồng, giảm 7,5 nghìn tỷ đồng (-6,8%) so dự toán, chủ yếu do công tác phát
hành trái phiếu Chính phủ năm 2020 phù hợp với tiến
đô „ thu ngân sách và giải ngân 13