Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KHÁCH SẠN - DU LỊCH BÀI THẢO LUẬN:
Học phần: Triết học Mác - Lênin
Đề bài: Trình bày nội dung quy luật mâu thuẫn và vận dụng nội dung quy luật vào
trong đời sống lĩnh vực học tập mỗi người.
GVHS: Phương Kỳ Sơn Nhóm: 07 Lớp HP: HÀ NỘI - 2022 BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ
Trong Bút ký triết học V.I.Lênin đã chỉ ra vị trí quan trọng đó khi viết
rằng: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự
thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng”
LỜI CẢM ƠN
Tục ngữ đã có câu “Không thầy đố mày làm nên”. Những bài học, những tri thức mà
chúng em có được đều nhờ vào sự yêu thương, chăm sóc của cha mẹ, sự chỉ bảo tận
tâm của thầy cô, sự quan tâm của ban lãnh đạo nhà trường. Trước hết, khi trở thành
một phần của mái nhà chung Đại học Thương Mại, trong thời gian học tậo năm đầu
tiên tại trường được sự giảng dạy của quý thầy cô, đặc biệt bọn em may mắn được
nhận sự giảng dạy của thầy Phương Kỳ Sơn đã giúp chúng em ohần nào có được
những kiến thức quý báu để hoàn thành được bài thảo luận này. Chúng em xin được
bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới công lao nghiên cứu vĩ đại của C.Mác về Quy luật mâu thuẫn.
Bài thảo luận với nội dung Quy luật mâu thuẫn và vận dụng quy luật vào trong đời
sống học tập của sinh viên và bản thân mình được hoàn thành bởi nhóm 7 lớp học
phần 2170MLNP0221 Trường Đại học Thương Mại. Trong quá trình tìm hiểu, nghiên
cứu nhóm chúng em đã có những tiếp thu, học hỏi những nội dung từ “Giáo trình Triết
học Mác-Lênin” của nhà xuất bản chính trị quốc gia Sự Thật. Chúng em xin chân
thành cảm ơn nhóm tác giả đã biên soạn giáo trình.
Và đặc biệt chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS
Phương Kì Sơn – Giảng viên cao cấp khoa lý luận chính trị trường đại học Thương
Mại. Thầy đã luôn tận tâm chỉ bảo, giảng dạy, truyền đạt cho chúng em những kiến
thức đầy ý nghĩa. Chúng em thật may mắn khi được học tập dưới sự giảng dạy của
thầy, nhờ có thầy nên chúng em đã được tiếp cận một phương pháp giảng dạy đầy mới
mẻ với bao ví dụ thực tế. Chính phương pháp dạy mới mẻ và những ví dụ thực tiễn đã
giúp chúng em dễ dàng hơn trong việc tiếp thu tri thức.
Do vấn đề thời gian và trình độ tìm hiểu của nhóm chúng em nên sẽ không thể tránh
khỏi những thiếu xót. Chúng em mong thầy và các bạn sẽ góp ý để bài thảo luận của
chúng em được hoàn thiên hơn.
Một lần nữa, chúng em xin chân thành cảm ơn Thầy Phương Kỳ Sơn và các thầy cô
trong khoa Lý Luận Chính Trị; kính chúc thầy cô sức khoẻ. Kính chúc thầy hạnh phúc
và thành công hơn nữa trong sự nghiệp “trồng người”. Kính chúc thầy luôn dồi dào
sức khỏe để tiếp tục dìu dắt nhiều thế hệ học trò đến những bến bờ tri thức.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, …,tháng 3, năm 2022. LỜI CAM ĐOAN
Nhóm 7 xin được cam đoan đề tài thảo luận được tiến hành công khai dựa trên sự nỗ
lực và phấn đấu của các thành viên trong nhóm, dưới sự hướng dẫn của giảng viên
cao cấp môn Triết học – PGS.TS Phương Kỳ Sơn.
Các kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực, không sao chép nguyên bản từ bất
kỳ tại liệu nào trước đó. Nếu phát hiện sao chép nguyên bản một tài liệu nào nhóm xin
chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! 1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1.Tầm quan trọng của đề tài với môn học
- Triết học Mác - Lênin nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và
tư duy, nó cung cấp cho con người một cách nhìn khoa học đối với hiện thực khách
quan và khẳng định vai trò, vị trí của con người trong hoạt động nhận thức và cải tạo
thế giới. Từ đó, giúp họ có thái độ đúng đắn, khoa học đối với hiện thực, có phương
hướng chính trị vững vàng, có khả năng nhận biết, phân tích và giải quyết các vấn đề
mới nảy sinh trong thực tiễn xã hội trên tinh thần thế giới quan Mác - Lênin.
- Triết học Mác - Lênin còn góp phần xây dựng nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa
cho sinh viên, xây dựng trong họ những quan niệm đúng đắn về cuộc đời, về ý nghĩa
và mục đích của cuộc sống. Cụ thể là, triết học Mác - Lênin giúp sinh viên hiểu được
mục đích cao nhất của con người là xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh; trong đó, mọi người đều có một cuộc sống đầy đủ về vật chất và tinh thần. Đó
là một xã hội mà "sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự
do của tất cả mọi người".
- Triết học Mác - Lênin góp phần từng bước xây dựng và bồi dưỡng nhân sinh quan
cộng sản chủ nghĩa cho sinh viên thông qua việc trang bị cho họ những kiến thức cơ
bản về lý luận cách mạng xã hội, về bản chất và chức năng của nhà nước, về con
người và các quan hệ xã hội của con người, về giai cấp, dân tộc, về xu hướng phát
triển tất yếu của xã hội... Đồng thời, từng bước xây dựng cho sinh viên cách nhìn, lối
sống cũng như cách vận dụng những định hướng giá trị xã hội đã được nhận thức vào
thực tiễn cuộc sống. Chẳng hạn, từ tri thức về những quy luật chung nhất của tự nhiên,
xã hội và tư duy, cung cấp cho sinh viên một cách nhìn khoa học đối với hiện thực
khách quan và khẳng định vai trò, vị trí của con người trong việc nhận thức và cải tạo
thế giới. Hoặc là, khi phân tích kết cấu của mỗi hình thái kinh tế - xã hội, với tất cả
các quy luật tác động và chi phối nó, C.Mác đã kết luận: Sự thay thế của các hình thái
kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên. Chính những kết luận như vậy tự nó
đã mang đến cho mỗi sinh viên một niềm tin vào sự phát triển. Từ đó giúp họ có thái
độ đúng đắn, khoa học đối với hiện thực cũng như khả năng phân tích và giải quyết
các vấn đề mới nảy sinh trên tinh thần thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng.
- Mặt khác, việc giáo dục triết học Mác - Lênin còn giúp sinh viên có năng lực nhận
diện rõ và đấu tranh chống lại những quan điểm trái với những nguyên lý của chủ
nghĩa xã hội khoa học, trái với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng; kiên
quyết đấu tranh chống lại chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa giáo điều, đứng vững trong
cuộc đấu tranh phòng chống "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.
1.2. Cách thức hình thành, cách thức thực hiện đề tài:
Đề tài được thực hiện qua ba buổi họp nhóm và sự tìm kiếm thông tin, tài liệu từ các
thành viên trong nhóm. Mỗi thành viên thực hiện tốt nhiệm vụ của bản thân dưới sự
phân công và quản lí của nhóm trưởng và thư ký. Đề tài gồm hai chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung về quy luật mâu thuẫn, nội dung quy luật mâu thuẫn + Các khái niệm
+ Các mặt đối lập của mâu thuẫn vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau
+ Sự đấu tranh và chuyển hoá của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự phát triển.
+ Ý nghĩa phương pháp luận
- Chương 2: Vận dụng quy luật mâu thuẫn vào đời sống học tập mỗi người
1.3. Mục đích của đề tài:
- Quy luật mâu thuẫn là một trong những quy luật cơ bản trong phép biện chứng
duy vật và biện chứng duy vật lịch sử khằng định về: mọi sự vật hay hiện tượng
ở trong tự nhiên đều có sự tồn tại và mâu thuẫn bên trong. Quy luật mâu thuẫn
còn được gọi là quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
- Quy luật mâu thuẫn là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật,
là hạt nhân của phép biện chứng duy vật vì nó vạch ra nguồn gốc động lực của
sự vận động phát triển của thế giới khách quan. Vì vậy mục đích của đề tài là
giúp chúng ta hiểu rằng mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến,
nó tồn tại ở tất cả các sự vật và hiện tượng, ở mọi giai đoạn tồn tại và phát triển
của sự vật, hiện tượng, nhưng ở các sự vật khác nhau, ở các giai đoạn phát triển
khác nhau của một sự vật, ở mỗi lĩnh vực, mỗi yếu tố cấu thành một sự vật sẽ có
những mâu thuẫn khác nhau. Giải quyết mâu thuẫn là để phát triển, nhưng phải
giải quyết mâu thuẫn khi có đủ điều kiện chín muồi, không nên giải quyết mâu
thuẫn một cách vội vàng khi chưa có điều kiện, cũng không thể cho việc giải
quyết mâu thuẫn diễn ra một cách tự phát, phải cố gắng tạo điều kiện thúc đẩy
sự chín muồi của mâu thuẫn và điều kiện giải quyết. Phải có biện pháp giải
quyết thích hợp với từng mâu thuẫn. 2. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUY LUẬT MÂU THUẪN,
NỘI DUNG QUY LUẬT MÂU THUẪN 2.1. Các khái niệm
Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến. Mâu thuẫn là mối liên hệ tác động
qua lại giữa các mặt đối lập trong cùng một sự vật.
Mặt đối lập là những mặt, những thuộc tính có xu hứơng phát triển ngược chiều nhau,
tồn tại trong cùng một sự vật hiện tượng tác động biện chứng với nhau làm cho sự vật phát triển.
Ví dụ: Ví dụ: Trong hoạt động bài tiết thì con người có hai hoạt động đối lập nhau:
hoạt động ăn, hoạt động bài tiết. Mặc dù chúng đối lập nhau nhưng lại không thể tách
rời nhau và phụ thuộc vào nhau, từ đó cho thất hai hoạt động này có sự thống nhất với
nhau. Còn đối với sinh vật sẽ có mặt đồng hóa và dị hóa, đối lập nhau.
Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến
Mâu thuẫn là khách quan có nghĩa là mâu thuẫn là cái vốn có ở mọi sự vật hiện tượng.
Mâu thuẫn hình thành phát triển là do cấu trúc tự thân bên trong của sự vật quy định
nó không phụ thuộc vào bất kỳ một lực lượng siêu tự nhiên nào và không phụ thuộc
vào ý chí chủ quan của con người.
Mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến có nghĩa là mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các lĩnh
vực tự nhiên, xã hội và tư duy. Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật xuất hiện cho đến khi
kết thúc. Mâu thuẫn tồn tại ở mọi không gian, thời gian, mọi giai đoạn phát triển. Mâu
thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành. Trong mỗi sự vật không phải chỉ
có một mâu thuẫn mà có thể có nhiều mâu thuẫn vì sự trong cùng một lúc có thể có nhiều mặt đối lập.
Trong những điều kiện cụ thể khác nhau, mâu thuẫn thể hiện ra dưới nhiều hình thức
đa dạng và phong phú khác nhau:
+ Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
+ Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
+ Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu+ Mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng.
Cần chú ý: Trong tư duy thông thường khi nói đến hai mặt đối lập là nói lên mâu
thuẫn. Còn trong tư duy biện chứng, không phải hai mặt đối lập nào cũng tạo nên mâu
thuẫn mà chỉ những mặt đối lập tác động biện chưngs với nhau tạo nên sự vật hiện
tượng và tạo lên sự phát triển mới được gọi là mâu thuẫn- mâu thuẫn biện chứng.
2.2. Các mặt đối lập của mâu thuẫn vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau
Sự thống nhất của các mặt đối lập là mối liên hệ hữu cơ, nương tựa, ràng buộc
quy định lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau của các mặt đối lập. Không có
sự thống nhất của các mặt đối lập thì không tạo ra sự vật.
Theo nghĩa hẹp sự thống nhất là sự đồng nhất, phù hợp ngang nhau của hai mặt
đối lập đó là trạng thái cân bằng của mâu thuẫn.
Sự thống nhất của các mặt đối lập là tạm thời tương đối, nghĩa là nó chỉ tồn tại
trong một thời gian nhất định, đó chính là trạng thái đứng im, ổn định tương đối
của sự vật, tính tương đối của sự thống nhất của các mặt đối lập làm cho thế
giới vật chất phân hoá thành các bộ phận các sự vật đa dạng phực tạp, gián đoạn.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập là sự bài trừ gạt bỏ phủ định biện chứng lẫn
nhau của các mặt đối lập (Sự đấu tranh hiểu theo nghĩa tác động ảnh hưởng lẫn
nhau của các mặt đối lập chứ không phải theo nghĩa đen)
Sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối vĩnh viễn. Nó diễn ra liên tục trong
suốt quá trình tồn tại của sự vật kể cả trong trang thái sự vật ổn định cũng như
khi chuyển hoá nhảy vọt về chất. Sự đấu tranh của các mặt đối lập tạo lên tính
chất tự thân, liên tục của sự vận động phát triển của sự vật. Cũng vì vậy muốn
thay đổi sự vật tì phải tăng cường sự đấu tranh. Tính tuyệt đối của đấu tranh gắn
với sự tự thân vận động, phát triển diễn ra không ngừng của sự vật, hiện tượng.
Về vấn đề này C.Mác viết: “Cái cấu thành bản chất của sự vận động biện
chứng, chính là sự cùng nhau tồn tại của hai mặt mâu thuẫn, sự đấu tranh giữa
hai mặt ấy và sự dung hợp của hai mặt ấy thành một phạm trù mới”. Còn V.I.
Lênin chú ý nhiều hơn đến tính tuyệt đối của “đấu tranh” đã viết: “Sự phát triển
là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập”.
Ví dụ: Trong hoạt động bài tiết của con người, có hai hoạt động đối lập nhau đó
là tiêu hóa và bài tiết. Tuy đối lập nhau nhưng chúng không thể tách rời mà phụ
thuộc vào nhau, qua đó cho thấy hai hoạt động này đối lập nhưng đồng thời
cũng là thống nhất với nhau.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình phức tạp diễn ra từ thấp đến
cao, tương ứng với 3 mức độ từ thấp đến cao:
+ Giai đoạn khác biệt: Lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác biệt,
nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau (khác nhau căn bản). Giai đoạn này
tương ứng với sự hình thành của sự vật (mang mâu thuẫn). Sự khác biệt đó càng
ngày càng phát triển, tăng lên và đi đến đối lập.
+ Giai đoạn đối lập (Tương ứng với giai đoạn phát triển của sự vật mang mâu
thuẫn). Lúc này các mặt đối lập đấu tranh gay gắt, tiêu hao lực lượng của nhau;
bài trừ, phủ định lẫn nhau… Tác động này buộc các mặt đối lập đều phải tăng
cường và điều chỉnh lực lượng của mình, làm cho mỗi mặt đều phát triển hơn.
Do đó, thúc đẩy sự vật phát triển nhanh chóng.
+ Giai đoạn xung đột: Khi mâu thuẫn phát triển đến đỉnh điểm, hai mặt đối lập
xung đột gay gắt với nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ đó mà thể thống
nhất cũ (tương ứng với sự vật mang mâu thuẫn cũ) bị phá vỡ và được thay thế
bằng thể thống nhất mới, tức mâu thuẫn mới (tương ứng với sự vật mới, cao
hơn, phức tạp hơn…). Lúc này, sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế.
Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt đối lập
quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động và làm cho mâu thuẫn phát triển.
Ví dụ : Trong hoạt động kinh tế thì sản xuất và tiêu dùng phát triển theo những
chiều hướng trái ngược với nhau. Sản xuất chính là việc tạo ra của cải vật chất,
sản phẩm để có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Còn tiêu dùng là
mục đích cuối cùng của việc sản xuất, tất cả những sản phẩm được sản xuất ra
đều cần có người tiêu dùng.
Sản xuất là việc tạo ra sản phẩm và là đối tượng có thể cung cấp cho việc tiêu
dùng. Nếu như không có quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm tiêu dùng thì sẽ không thể có tiêu dùng.
Sản xuất quy định phương thức tiêu dùng, tạo ra đối tượng cho tiêu dùng, đây
không phải là đối tượng nói chúng mà là đối những đối tượng nhất định do bản
thân sản xuất làm môi giới cho người tiêu dùng.
Do đó sản xuất không chỉ là đối tượng của tiêu dùng mà nó còn quyết định về
phương thức tiêu dùng. Sản xuất cung cấp các sản phẩm cho tiêu dùng và tạo ra
nhu cầu cho người tiêu dùng. Điều này có nghĩa là chỉ khi sản xuất ra một loại
sản phẩm nào đó thì mới tạo ra nhu cầu tiêu dùng đối với sản phẩm đó.
Do vậy có thể thấy được rằng sản xuất và tiêu dùng chính là sự thống nhất của
hai mặt đối lập, chúng có tính chất tương đồng và có mối liên hệ mật thiết, chặt
chẽ với nhau từ đó tạo điều kiện cho nhau cùng chuyển hóa, cùng phát triển.
Như vậy, thống nhất của các mặt đối lập là tương đối và là điều kiện của sự tồn
tại, còn đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc và động lực của sự phát
triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới. Bởi vì, đấu tranh của các mặt
đối lập có tác dụng loại trừ những mặt, những nhân tố yếu kém, lỗi thời, những
nhân tố không còn khả năng phát triển. Đấu tranh của các mặt đối lập còn sinh
ra những nhân tố mới cao hơn, phức tạp hơn. Khi mâu thuẫn được giải quyết,
sự vật mới, với những nhân tố mới cao hơn, phức tạp hơn chiến thắng, thay thế
sự vật cũ..., làm cho các sự vật, hiện tượng phát triển, thay thế nhau từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp.

2.3 Sự đấu tranh và chuyển hoá của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự phát triển.
Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc và động lực của sự vận động và phát triển. Bởi vì:
+ Đấu tranh của các mặt đối lập loại bỏ những nhân tố yếu kém, lỗi thời, không
còn khả năng phát triển.
+ Đấu tranh của các mặt đối lập sinh ra những nhân tố mới, cao hơn, phức tạp hơn, hoàn thiện hơn.
+ Khi mâu thuẫn được giải quyết: Cái cũ mất đi và cái mới, cao hơn, phức tạp
hơn, hoàn thiện hơn… ra đời thay thế cho nó.
Đấu tranh của các mặt đối lập gây ra những biến đổi của các mặt đối lập khi
cuộc đấu tranh của các mặt đối lập trỏ lên quyết liệt và có điều kiện chín muồi
thì sự thống nhất của hai cũ bị phá huỷ, các mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau. Sự
chuyển hoá của các mặt đối lập chính là lúc mâu thuẫn được giải quyết, sự vật
cũ bị mất đi, sự vật mới xuất hiện. Các mặt đối lập có thể chuyển hoá lẫn nhau với ba hình thức.
- Các mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau mặt đối lập này thành mặt đối lập kia và
ngược lại nhưng ở trình độ cao hơn về phương diện vật chất của sự vật. Ví dụ:
mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản biểu hiện thành cuộc cách mạng vô sản lật độ
giai cấp tư sản, cả hai mặt đối lập đều mất đi và chuyển hoá thành mặt đối lập mới.
- Cả hai mặt đối lập đều mất đi và chuyển hoá thành mặt đối lập mới. Ví dụ:
Giải quyết mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ (chế độ phong kiến) xã hội lại
xuất hiện mâu thuẫn mới là mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản (Chế độ TBCN).
- Các mặt đối lập thâm nhập vào nhau, cải biến lẫn nhau.
Trong sự vật mới lại có mâu thuẫn mới, các mặt đối lập trong mâu thuẫn mới lại
đấu tranh với nhau, làm cho sự vật ấy lại chuyển hoá thành sự vật khác tiến bộ
hơn, cứ như vậy mà các sự vật hiện tượng thường xuyên biến đổi và phát triển
không ngừng, vì vậy, mâu thuẫn là nguồn gốc động lực của mọi quá trình vận
động phát triển của sự vật hiện tượng. Mối quan hệ giữa các khái niệm của quy
luật chỉ ra rằng, mâu thuẫn giữa các mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng là
nguyên nhân, giải quyết mâu thuẫn đó là động lực của sự vận động, phát triển.
Bởi vậy, sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng là tự thân. Khái quát lại,
nội dung của quy luật thống nhất và đấu tranh các mặt đối lập là: Mọi đối tượng
đều bao gồm những mặt, những khuynh hướng, lực lượng... đối lập nhau tạo
thành những mẫu thuẫn trong chính nó; sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt
đối lập này là nguyên nhân, động lực bên trong của sự vận động và phát triển,
làm cho cái cũ mất đi và cái mới ra đời.
Ví dụ: Trong kháng chiến chống Pháp, nhân dân ta có mâu thuẫn gay gắt với
thực dân Pháp, khi mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm, tạo cho ta động lực đứng lên
đấu tranh (vận động) và kết quả cuối cùng là nhà nước Việt Nam độc lập (phát
triển), tự do dân chủ ra đời
Từ đó, mâu thuẫn giữa các mặt đối lập được giải quyết bằng cách:
+ Hai mặt đối lập chuyển hóa vai trò vị trí cho nhau, tạo nên mâu thuẫn mới;
+ Cả hai mặt đối lập đều mất đi và được thay thế bằng những mặt đối lập mới
cao hơn từ đó sinh ra mâu thuẫn mới, cái mới ra đời.
2.4. Ý nghĩa phương pháp luận
Việc nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập có ý
nghĩa phương pháp luận quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn:
- Vì mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến, nên trong nhận thận thức
và thực tiễn phải tôn trọng mâu thuẫn, tức là không được lẩn tránh mâu thuẫn
cũng như không được tạo ra mâu thuẫn.
- Vì mâu thuẫn là động lực của sự phát triển nên muốn thúc đẩy sự phát triển
phải nhận thức được mâu thuẫn và tìm cách giải quyết mâu thuẫn, phải tạo ra
điều kiện thúc đẩy sự đấu tranh của các mặt đối lập theo chiều hướng phát triển.
- Vì mọi mâu thuẫn đều có quá trình phát sinh, phát triển và biến hoá.
- Vì sự vật khác nhau thì mâu thuẫn khác nhau, mỗi mâu thuẫn lại có những đặc
điểm riêng của nó. Do đó phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể và tìm
cách giải quyết mâu thuẫn.