Thời hạn nộp: sinh viên gửi bài cho lớp trưởng, không nhận bài nhân, lớp trưởng tập hợp
nộp cho thầy ngày 5/5/2025 vào email: ducminhtuan@gmail.com
Yêu cầu chung: Bài làm được đánh máy. Dung lượng bài làm: 2000–2500 từ (vượt quá
số từ sẽ bị trừ điểm). Những bài làm giống nhau hoặc từ 2 đoạn (mỗi đoạn 2 dòng trở
lên) copy nguyên văn từ tài liệu khác nhưng không dẫn nguồn trung thực đều nhận 0
điểm. Bài làm tham khảo tài liệu, trích dẫn nguồn chính xác, trung thực, đầy đủ
đúng quy định sẽ được đánh giá cao.
Hãy chọn MỘT án lệ chính thức tại Việt Nam (trích từ trang anle.toaan.gov.vn), sau đó:
Câu 1. Phân tích lập luận dựa trên quy tắc trong án lệ (Rule-based method) (3 điểm)
a. Xác định các quy phạm pháp luật (điều luật cụ thể) thẩm phán đã viện dẫn để đưa ra
phán quyết?
b. Trình bày cách thẩm phán đã sử dụng quy tắc đó để lập luận, tức là: từ quy phạm sau
đó áp dụng vào sự kiện, sau đó đưa ra kết luận pháp lý?
c. Nhận xét xem lập luận này chặt chẽ không, bỏ sót yếu tố nào không, liệu thể
đưa ra một kết luận khác nếu áp dụng quy tắc khác không?
Câu 2. Phân tích lập luận dựa trên tiền lệ (Case-based method) (3 điểm)
a. Kiểm tra xem thẩm phán trong án lệ viện dẫn đến vụ án, án lệ hay thực tiễn xét xử
nào trước đó không?
b. Nếu có: trình bày cách thẩm phán đã so sánh, đối chiếu suy luận dựa trên vụ việc
trước đó để đi đến kết luận trong vụ án hiện tại?
c. Nếu không có: phân tích do tại sao thẩm phán không sử dụng lập luận theo tiền lệ,
liệu điều đó ảnh hưởng đến tính hợp của bản án không?
d. Cuối
e.
f.
g. cùng: so sánh với một dụ án lệ quốc tế (Anh, Mỹ hoặc Đức) áp dụng Case-based
method nét, rút ra bài học cho Việt Nam?
Câu 3. Phân tích lập luận dựa trên chính sách (Policy-based method) (3 điểm)
a. Kiểm tra xem trong lập luận của thẩm phán yếu tố chính sách công, định hướng
phát triển, bảo vệ lợi ích hội, đạo đức công cộng… nào được viện dẫn hay không?
b. Nếu có: giải thích sao thẩm phán lại lựa chọn phương án đó để thúc đẩy hoặc bảo
vệ một chính sách pháp cụ thể?
c. Nếu không: đánh giá liệu việc thiếu vắng lập luận chính sách khiến bản án trở nên
quá máy móc, thiếu nhân văn hoặc không phù hợp bối cảnh hội không?
d. So sánh với một bản án nước ngoài nổi bật do chính sách?
Câu 4. Tiểu kết (1 điểm)
Viết một đoạn 300–400 từ trả lời câu hỏi: Trong ba phương pháp lập luận trên (quy tắc tiền
lệ chính sách), theo bạn phương pháp nào phù hợp nhất với hệ thống pháp Việt Nam hiện
nay? Tại sao? Nêu do, thể dựa trên thực tiễn xét xử, mục tiêu cải cách pháp hoặc
đặc điểm văn hóa pháp Việt Nam?
Bài làm:
ÁN LỆ SỐ 64/2023/AL
Về định khung hình phạt tình tiết định khung tăng nặng “có tổ chức” trong tội 'Bắt
cóc nhằm chiếm đoạt tài sản'
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm
2023 được công bố theo Quyết định số 364/QĐ-CA ngày 01 tháng 10 năm 2023 của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Câu 1: Phân tích lập luận dựa trên quy tắc trong án lệ (Rule-based method)
a. Xác định các quy phạm pháp luật (điều luật cụ thể) thẩm phán đã viện dẫn để đưa ra
phán quyết?
Trong phần Nhận định của Tòa án”, Thẩm phán trong Án lệ số 64/2023/AL đã viện dẫn các
quy phạm pháp luật cụ thể sau :
- Căn cứ điểm a,e khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự 2017 quy định về tội “Bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung hình phạt tổ chức” chiếm
đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”.
- Căn cứ tại các điểm b,s, khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự quy
định về “tình tiết giảm nhẹ”:
- Điều 51 quy định về “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”
- Điểm a khoản 1 Điều 52 quy định về Các tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự”
- Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
b. Từ quy phạm pháp luật nêu trên, thẩm phán căn cứ áp dụng vào sự kiện cụ thể như
sau:
Trong án lệ trên thể hiện lập luận của thẩm phán dựa trên suy luận bằng phương pháp
IRAC (issue rule- application- conclusion) một cách nét để đưa ra quyết định:
- Xác định vấn đề pháp (Issue): Thẩm phán xác định vấn đề pháp trong Án lệ số
64/2023/AL việc xác định tình tiết “có tổ chức” trong tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt i
sản”
- Rule ( Quy tắc): Theo quy định pháp luật Việt Nam ( như đã phân tích phần a )
- Application ( Áp dụng):
+ Căn cứ Điều 169 Bộ luật Hình sự để xác định các hành vi của các bị cáo N, Q, Đ, L,
T1, T2 đủ yếu tố cấu thành tội bắt c nhằm chiếm đoạt tài sản.
+ Điểm e khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự quy định về tội “Bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung hình phạt “chiếm đoạt
tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng thì bị phạt
từ 05 năm đến 12 năm. Do đó, việc bắt giữ anh Lưu Mạnh T để chiếm
đoạt số tiền 150.000.000 triệu đồng của các bị cáo phải chịu trách nhiệm
hình sự theo quy định của pháp luật.
+ Điểm a khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự 2017 quy định về hành vi
phạm tội tổ chức”:
Theo đó, bị cáo Trần Văn N người khởi xướng, trực tiếp chuẩn bị
các công cụ, phương tiện phạm tội như còng số 8, dây trói, xịt hơi cay...;
người lên kế hoạch, phân công nhiệm vụ cho các bị cáo khác (Q,Đ,L,T1,T2)
người thực hành, giúp sức tích cực cho N trong việc bắt giữ chọn địa
điểm nhốt, đánh anh T, nhằm gây áp lực để gia đình anh T phải chuyển
tiền theo yêu cầu của N. Hành vi của T đồng bọn kéo dài từ ngày
12/01/2019 đến ngày 19/01/2019.
+ Căn cứ tại các điểm b,s, khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
quy định về “tình tiết giảm nhẹ”:
Các bị cáo đều ra đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội
ăn năn hối cải, các bị cáo đã bồi thường cho bị hại 20.000.000 đồng bị
hại đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo. Do đó, các bị cáo
được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định pháp luật.
Bị cáo L, Q, T1 T2 bố, mẹ, ông, nội, ngoại được tặng thưởng
huân, huy chương kháng chiến nên được áp dụng thêm khoản 2 Điều
51eBộ luật Hình sự.
- Conclusion ( Kết luận ):
Nhận định của Tòa án:
+ Nhận thấy việc Tòa án cấp thẩm chỉ xét xử các bị cáo với 01 tình tiết
định khung tăng nặng chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến
dưới 200.000.000 đồng” điểm e khoản 2 Điều 169, áp dụng Điều 54 Bộ
luật Hình sự chưa xem xét tình tiết định khung tăng nặng “có tổ chức”
thiếu sót. Bởi mặc chưa chiếm đoạt được i sản trên thực tế, nhưng
mục đích chiếm đoạt được xác định căn cứ để định khung hình phạt.
+ Công nhận quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị áp dụng thêm tình tiết định khung tăng
nặng “có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình s
căn cứ, cần được chấp nhận.
+ Do sau khi xét xử thẩm, các bị xin giảm hình phạt nên không thẻ
xét xử phúc thẩm theo hướng tăng hình phạt, bất lợi cho các bị cáo.
vậy, cần chuyển hồ vụ án cho TAND tỉnh Bắc Ninh để xét xử thẩm lại
một cách toàn diện, khách quan tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội
của từng bị cáo quyết định mức hình phạt.
- Đồng thời phương pháp quy nạp thuộc nhóm phương pháp suy luận logic
đi từ sự hiểu biết về cái riêng để rút ra kết luận về cái chung, cũng
được Tòa án xử dụng trong phần “Nhận định của Tòa án”. Tòa án đã đi từ
những tình tiết cụ thể trong vụ việc để xác định hành vi phạm tội của các
bị cáo để đưa đến quyết định về tội danh hình phạt về tội “Bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “có tổ chức”
được quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 52 điểm a,e khoản 2 Điều 169 Bộ luật
Hình sự 2017 căn cứ đúng pháp luật
=> thể thấy, lập luận của thẩm phán thể hiện quá trình duy bắt
đầu từ dựa trên các quy phạm pháp luật sau đó áp dụng vào sự kiện cụ
thể của vụ án rồi cuối cùng đưa ra kết luận pháp về trách nhiệm hình sự
khung hình phạt.
c. Nhận xét xem lập luận này chặt chẽ không, bỏ sót yếu tố nào không, liệu thể
đưa ra một kết luận khác nếu áp dụng quy tắc khác không?
- Lập luận của thẩm phán trong án lệ này sự chặt chẽ , liên kết giữa quy phạm pháp luật
với sự kiện vụ án để đưa ra kết luận phù hợp như sau:
+ Thứ nhất, lập luận mang tính logic, ràng. Hội đồng Thẩm phán bác bỏ lập luận của Tòa
án cấp phúc thẩm trong việc xác định cấu thành tội phạm của các bị cáo bởi đây loại tội
phạm cấu thành hình thức nên không nhất thiết phải hậu quả xảy ra. Đồng thời chỉ ra sự
trong việc phân biệt các cụm từ số tiền chiếm đoạt” nhằm chiếm đoạt tài sản”
không căn cứ chứng minh. Điều này giúp củng cố lập luận trong việc áp dụng tình tiết
định khung tăng nặng “có tổ chức” dựa trên mục đích phạm tội.
+ Thứ hai, lập luận dựa trên căn cứ, minh chứng đầy đủ. Việc xác định tình tiết “có tổ chức”
được lập luận dựa trên sở phân tích chi tiết hành vi phối hợp, cấu kết chặt chẽ, phân công
nhiệm vụ thực hiện nhất quán theo chỉ đạo của bị cáo cầm đầu để chứng minh tính “có tổ
chức” của các bị cáo.
+ Thứ ba, lập luận phù hợp với pháp luật hiện hành. Dựa trên những quy định pháp luật cụ
thể của Bộ luật Hình s2017 áp dụng vào các tình tiết khách quan của vụ án nhằm xác định
những yếu tố cấu thành phạm tội, hành vi phân công, cấu kết bắt giữ, chiếm đoạt tài sản của
bị hại.
- Trên thực tế thể cân nhắc yếu tố về việc các bị cáo chưa hoàn thành việc chiếm đoạt
được tài sản để đưa ra mức xử phạt. Tuy nhiên, thẩm phán đã chỉ ra sự thiếu sót trong lập
luận của Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng các bị cáo trong vụ này chỉ bị truy cứu trách
nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 169 Bộ luật Hình sự với do các bị cáo chưa chiếm đoạt
số tiền 150.000.000 triệu đồng của gia đình anh T. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản tội
cấu thành hình thức. Hậu quả của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản người phạm tội
ý thức chiếm đoạt đã thực hiện hành vi bắt cóc người thì được coi tội phạm đã hoàn
thành. Việc người phạm tội đã thực tế chiếm đoạt được tài sản hay chưa không phải yếu tố
bắt buộc để cấu thành tội này. Do đó, theo tinh thần của Bộ luật Hình sự 2017, Hội đồng
Thẩm phán TANDTC cho rằng, việc tội phạm hoàn thành không phụ thuộc vào việc các bị
cáo đã chiếm đoạt được số tiền 150.000.000 đồng hay chưa phụ thuộc vào mục đích
chiếm đoạt của các bị cáo ngay từ khi thực hiện hành vi bắt giữ anh T. Đồng thời, Thẩm
phán bác bỏ lập luận phân sự khác nhau của hai cụm từ “nhằm chiếm đoạt tài sản” khoản
1 cụm từ “số tiền chiếm đoạt tài sản” khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình scủa Tòa án cấp
phúc thẩm không căn cứ
- Nếu áp dụng quy tắc pháp khác để lập luận không coi nh tiết tổ chức” tình tiết
tăng nặng khi chưa chiếm đoạt được tài sản hay coi hành vi chưa hoàn thành phạm chiếm
đoạt chưa đủ căn cứ định khung tăng nặng thì thể dẫn đến kết luận nhẹ hơn về hình
phạt. Tuy nhiên theo quy định pháp luật thực tiễn xét xử cùng những lập luận chặt chẽ,
khách quan, dựa trên căn cứ pháp luật quy định của Hội đồng Thẩm phán thì điều này được
coi không phù hợp với quy định hiện hành, thậm chí còn thiếu sót trong lập luận để giải
quyết vụ việc .
2. Phân tích lập luận dựa trên tiền lệ (Case-based method) (3 điểm)
Thẩm phán trong án lệ này chưa viện dẫn đến vụ án, án lệ hay thực tiễn xét xử nào
trước đó do tính mới mẻ của tình tiết này. Án lệ số 64 không viện dẫn đến vụ án, án lệ
trước đó chỉ dựa trên Quyết định của giám đốc thẩm số 15/2022/HS-GĐT ngày
04/10/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để đưa ra phán quyết.
Hơn hết, Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện củng cố hệ thống án lệ,
việc áp dụng án lệ để giải quyết vụ án hình sự chưa thực sự rộng rãi.
Nếu không có: phân tích do tại sao thẩm phán không sử dụng lập luận theo tiền lệ,
liệu điều đó ảnh hưởng đến tính hợp của bản án không?
a. Cuối cùng: so sánh với một dụ án lệ quốc tế (Anh, Mỹ hoặc Đức) áp dụng Case-
based method nét, rút ra bài học cho Việt Nam?
Tiểu
Hệ thống pháp luật Việt Nam không theo hệ thống pháp luật Common Law như Anh,
Mỹ , tuy nhiên hệ thống pháp luật Việt Nam nhiều đặc điểm tương tự hệ thống
Civil law. Trong đó pháp luật được xây dựng chủ yếu dựa trên các văn bản quy phạm
pháp luật tính quy tắc ràng, cho tiết do quan lập pháp ban hành. Bằng thực
tiễn xét xử cũng như những đặc điểm của hệ thống pháp luật Việt Nam thể thấy
phương pháp lập luận dựa trên quy tắc phù hợp nhất. Phương pháp này giúp tòa án
áp dụng một cách logic, ràng, phù hợp với đặc điểm pháp luật Việt Nam, hạn chế
sự tùy tiện trong xét xử. Khi lập luận cho quyết định của mình, các thẩm phán phải
căn cứ vào các quy định của pháp luật, không dựa vào các bản án đã xét xử. Tuy
nhiên, thực thế cho thấy, luật thành văn được xây dựng cẩn thận lưỡng đến
đâu thì cùng không thể dự đoán được hết những tình huống thể xảy ra trong tương
lai. Ngày nay, nhiều hành vi vi phạm pháp luật xảy ra một cách tinh vi, khó lường,
nhiều tình huống các nhà làm luật không dự liệu trước được. Khi xuất hiện những
tình tiết, vụ việc mới luật thành văn chưa quy định thì việc yêu cầu cần phải sửa
đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật mới để kịp thời điều chỉnh những tình huống
mới tất yếu. Tuy nhiên, việc này đòi hỏi phải thông qua trình tự, thủ tục xem xét lâu
dài. Do đó, theo Điều 2 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP đã quy định “Trường hợp
những vấn đề quy định chưa ràng, chưa điều luật cụ thể thì được lựa chọn áp
dụng án lệ nhằm thể hiện lẽ công bằng”; khoản 2 Điều 6 BLDS 2015 quy định
Trong trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy
định tại khoản 1 Điều của Bộ Luật Dân sự thì áp dụng các nguyên
tắc bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này
áp dụng án lệ, lẽ công bằng”. thể thấy, mặc vị trí áp dụng
án lệ trong hệ thống pháp Việt Nam không ưu tiên áp hàng đầu
như Anh hoặc chỉ coi một nguồn luật bổ sung để áp dụng
trong xét xử đã thể hiện sự kết hợp linh hoạt sự tiến bộ của hệ
thống pháp luật quốc tế, việc chính thức công nhận án lệ được coi
một bước đi quan trọng trong tiến trình cải cách pháp Việt Nam
theo tinh thần của Nghị quyết 48-NQ/TW 49-NQ/TƯ của Bộ Chính
trị. Như vậy, bằng việc áp dụng phương pháp lập luận theo quy tắc
chủ yếu kết hợp với việc áp dụng án lệ nguồn luật bổ sung đã
tạo ra một quy trình pháp công bằng, minh bạch, hiệu quả hơn
còn giúp cho thực tế xét xử của nền pháp Việt Nam.
-

Preview text:

Thời hạn nộp: sinh viên gửi bài cho lớp trưởng, không nhận bài cá nhân, lớp trưởng tập hợp
và nộp cho thầy ngày 5/5/2025 vào email: ducminhtuan@gmail.com
Yêu cầu chung: Bài làm được đánh máy. Dung lượng bài làm: 2000–2500 từ (vượt quá
số từ sẽ bị trừ điểm). Những bài làm giống nhau hoặc có từ 2 đoạn (mỗi đoạn 2 dòng trở
lên) copy nguyên văn từ tài liệu khác nhưng không dẫn nguồn trung thực đều nhận 0
điểm. Bài làm có tham khảo tài liệu, có trích dẫn nguồn chính xác, trung thực, đầy đủ
đúng quy định sẽ được đánh giá cao.

Hãy chọn MỘT án lệ chính thức tại Việt Nam (trích từ trang anle.toaan.gov.vn), sau đó:
Câu 1. Phân tích lập luận dựa trên quy tắc trong án lệ (Rule-based method) (3 điểm) Yêu cầu:
a. Xác định các quy phạm pháp luật (điều luật cụ thể) mà thẩm phán đã viện dẫn để đưa ra phán quyết?
b. Trình bày rõ cách thẩm phán đã sử dụng quy tắc đó để lập luận, tức là: từ quy phạm sau
đó áp dụng vào sự kiện, sau đó đưa ra kết luận pháp lý?
c. Nhận xét xem lập luận này có chặt chẽ không, có bỏ sót yếu tố nào không, và liệu có thể
đưa ra một kết luận khác nếu áp dụng quy tắc khác không?
Câu 2. Phân tích lập luận dựa trên tiền lệ (Case-based method) (3 điểm) Yêu cầu:
a. Kiểm tra xem thẩm phán trong án lệ có viện dẫn đến vụ án, án lệ hay thực tiễn xét xử nào trước đó không?
b. Nếu có: trình bày cách thẩm phán đã so sánh, đối chiếu và suy luận dựa trên vụ việc
trước đó để đi đến kết luận trong vụ án hiện tại?
c. Nếu không có: phân tích lý do tại sao thẩm phán không sử dụng lập luận theo tiền lệ,
và liệu điều đó có ảnh hưởng gì đến tính hợp lý của bản án không? d. Cuối e. f.
g. cùng: so sánh với một ví dụ án lệ quốc tế (Anh, Mỹ hoặc Đức) có áp dụng Case-based
method rõ nét, và rút ra bài học cho Việt Nam?
Câu 3. Phân tích lập luận dựa trên chính sách (Policy-based method) (3 điểm) Yêu cầu:
a. Kiểm tra xem trong lập luận của thẩm phán có yếu tố chính sách công, định hướng
phát triển, bảo vệ lợi ích xã hội, đạo đức công cộng… nào được viện dẫn hay không?
b. Nếu có: giải thích vì sao thẩm phán lại lựa chọn phương án đó để thúc đẩy hoặc bảo
vệ một chính sách pháp lý cụ thể?
c. Nếu không: đánh giá liệu việc thiếu vắng lập luận chính sách có khiến bản án trở nên
quá máy móc, thiếu nhân văn hoặc không phù hợp bối cảnh xã hội không?
d. So sánh với một bản án nước ngoài nổi bật vì lý do chính sách?
Câu 4. Tiểu kết (1 điểm)
Viết một đoạn 300–400 từ trả lời câu hỏi: Trong ba phương pháp lập luận trên (quy tắc – tiền
lệ – chính sách), theo bạn phương pháp nào phù hợp nhất với hệ thống tư pháp Việt Nam hiện
nay? Tại sao? Nêu rõ lý do, có thể dựa trên thực tiễn xét xử, mục tiêu cải cách tư pháp hoặc
đặc điểm văn hóa pháp lý Việt Nam? Bài làm:
ÁN LỆ SỐ 64/2023/AL
Về định khung hình phạt và tình tiết định khung tăng nặng “có tổ chức” trong tội 'Bắt
cóc nhằm chiếm đoạt tài sản'
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm
2023 và được công bố theo Quyết định số 364/QĐ-CA ngày 01 tháng 10 năm 2023 của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Câu 1: Phân tích lập luận dựa trên quy tắc trong án lệ (Rule-based method)
a. Xác định các quy phạm pháp luật (điều luật cụ thể) mà thẩm phán đã viện dẫn để đưa ra phán quyết?
Trong phần “ Nhận định của Tòa án”, Thẩm phán trong Án lệ số 64/2023/AL đã viện dẫn các
quy phạm pháp luật cụ thể sau :
- Căn cứ điểm a,e khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự 2017 quy định về tội “Bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “ có tổ chức” và “chiếm
đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”.
- Căn cứ tại các điểm b,s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự quy
định về “tình tiết giảm nhẹ”:
- Điều 51 quy định về “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”
- Điểm a khoản 1 Điều 52 quy định về “ Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự”
- Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
b. Từ quy phạm pháp luật nêu trên, thẩm phán căn cứ và áp dụng vào sự kiện cụ thể như sau:
Trong án lệ trên thể hiện rõ lập luận của thẩm phán dựa trên suy luận bằng phương pháp
IRAC (issue – rule- application- conclusion) một cách rõ nét để đưa ra quyết định:
- Xác định vấn đề pháp lý (Issue): Thẩm phán xác định rõ vấn đề pháp lý trong Án lệ số
64/2023/AL là việc xác định tình tiết “có tổ chức” trong tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”
- Rule ( Quy tắc): Theo quy định pháp luật Việt Nam ( như đã phân tích ở phần a ) - Application ( Áp dụng):
+ Căn cứ Điều 169 Bộ luật Hình sự để xác định các hành vi của các bị cáo N, Q, Đ, L,
T1, T2 là đủ yếu tố cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.
+ Điểm e khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự quy định về tội “Bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “chiếm đoạt
tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng thì bị phạt
tù từ 05 năm đến 12 năm. Do đó, việc bắt giữ anh Lưu Mạnh T để chiếm
đoạt số tiền 150.000.000 triệu đồng của các bị cáo phải chịu trách nhiệm
hình sự theo quy định của pháp luật.
+ Điểm a khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự 2017 quy định về hành vi
phạm tội “ có tổ chức”:
Theo đó, bị cáo Trần Văn N là người khởi xướng, trực tiếp chuẩn bị
các công cụ, phương tiện phạm tội như còng số 8, dây trói, xịt hơi cay...; là
người lên kế hoạch, phân công nhiệm vụ cho các bị cáo khác (Q,Đ,L,T1,T2)
là người thực hành, giúp sức tích cực cho N trong việc bắt giữ và chọn địa
điểm nhốt, đánh anh T, nhằm gây áp lực để gia đình anh T phải chuyển
tiền theo yêu cầu của N. Hành vi của T và đồng bọn kéo dài từ ngày
12/01/2019 đến ngày 19/01/2019.
+ Căn cứ tại các điểm b,s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
quy định về “tình tiết giảm nhẹ”:
Các bị cáo đều ra đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và
ăn năn hối cải, các bị cáo đã bồi thường cho bị hại 20.000.000 đồng và bị
hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo. Do đó, các bị cáo
được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định pháp luật.
Bị cáo L, Q, T1 và T2 có bố, mẹ, ông, bà nội, ngoại được tặng thưởng
huân, huy chương kháng chiến nên được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51eBộ luật Hình sự.
- Conclusion ( Kết luận ): Nhận định của Tòa án:
+ Nhận thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xét xử các bị cáo với 01 tình tiết
định khung tăng nặng “ chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến
dưới 200.000.000 đồng” ở điểm e khoản 2 Điều 169, áp dụng Điều 54 Bộ
luật Hình sự mà chưa xem xét tình tiết định khung tăng nặng “có tổ chức”
là thiếu sót. Bởi mặc dù chưa chiếm đoạt được tài sản trên thực tế, nhưng
mục đích chiếm đoạt được xác định là căn cứ để định khung hình phạt.
+ Công nhận quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị áp dụng thêm tình tiết định khung tăng
nặng “có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự là
có căn cứ, cần được chấp nhận.
+ Do sau khi xét xử sơ thẩm, các bị có xin giảm hình phạt nên không thẻ
xét xử phúc thẩm theo hướng tăng hình phạt, bất lợi cho các bị cáo. Vì
vậy, cần chuyển hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh Bắc Ninh để xét xử sơ thẩm lại
một cách toàn diện, khách quan tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội
của từng bị cáo mà quyết định mức hình phạt.
- Đồng thời phương pháp quy nạp thuộc nhóm phương pháp suy luận logic
– là đi từ sự hiểu biết về cái riêng để rút ra kết luận về cái chung, cũng
được Tòa án xử dụng trong phần “Nhận định của Tòa án”. Tòa án đã đi từ
những tình tiết cụ thể trong vụ việc để xác định hành vi phạm tội của các
bị cáo để đưa đến quyết định về tội danh và hình phạt về tội “Bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “có tổ chức”
được quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 52 và điểm a,e khoản 2 Điều 169 Bộ luật
Hình sự 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật
=> Có thể thấy, lập luận của thẩm phán thể hiện rõ quá trình tư duy bắt
đầu từ dựa trên các quy phạm pháp luật sau đó áp dụng vào sự kiện cụ
thể của vụ án rồi cuối cùng đưa ra kết luận pháp lý về trách nhiệm hình sự và khung hình phạt.
c. Nhận xét xem lập luận này có chặt chẽ không, có bỏ sót yếu tố nào không, và liệu có thể
đưa ra một kết luận khác nếu áp dụng quy tắc khác không?
- Lập luận của thẩm phán trong án lệ này có sự chặt chẽ , liên kết giữa quy phạm pháp luật
với sự kiện vụ án để đưa ra kết luận phù hợp như sau:
+ Thứ nhất, lập luận mang tính logic, rõ ràng. Hội đồng Thẩm phán bác bỏ lập luận của Tòa
án cấp phúc thẩm trong việc xác định cấu thành tội phạm của các bị cáo bởi đây là loại tội
phạm có cấu thành hình thức nên không nhất thiết phải có hậu quả xảy ra. Đồng thời chỉ ra sự
vô lý trong việc phân biệt các cụm từ “ số tiền chiếm đoạt” và “ nhằm chiếm đoạt tài sản” là
không có căn cứ chứng minh. Điều này giúp củng cố lập luận trong việc áp dụng tình tiết
định khung tăng nặng “có tổ chức” dựa trên mục đích phạm tội.
+ Thứ hai, lập luận dựa trên căn cứ, minh chứng đầy đủ. Việc xác định tình tiết “có tổ chức”
được lập luận dựa trên cơ sở phân tích chi tiết hành vi phối hợp, cấu kết chặt chẽ, phân công
nhiệm vụ và thực hiện nhất quán theo chỉ đạo của bị cáo cầm đầu để chứng minh tính “có tổ
chức” của các bị cáo.
+ Thứ ba, lập luận phù hợp với pháp luật hiện hành. Dựa trên những quy định pháp luật cụ
thể của Bộ luật Hình sự 2017 áp dụng vào các tình tiết khách quan của vụ án nhằm xác định
những yếu tố cấu thành phạm tội, hành vi phân công, cấu kết bắt giữ, chiếm đoạt tài sản của bị hại.
- Trên thực tế có thể cân nhắc yếu tố về việc các bị cáo chưa hoàn thành việc chiếm đoạt
được tài sản để đưa ra mức xử phạt. Tuy nhiên, thẩm phán đã chỉ ra sự thiếu sót trong lập
luận của Tòa án cấp phúc thẩm vì cho rằng các bị cáo trong vụ này chỉ bị truy cứu trách
nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 169 Bộ luật Hình sự với lý do các bị cáo chưa chiếm đoạt
số tiền 150.000.000 triệu đồng của gia đình anh T. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là tội
có cấu thành hình thức. Hậu quả của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là người phạm tội có
ý thức chiếm đoạt và đã thực hiện hành vi bắt cóc người thì được coi là tội phạm đã hoàn
thành. Việc người phạm tội đã thực tế chiếm đoạt được tài sản hay chưa không phải là yếu tố
bắt buộc để cấu thành tội này. Do đó, theo tinh thần của Bộ luật Hình sự 2017, Hội đồng
Thẩm phán TANDTC cho rằng, việc tội phạm hoàn thành không phụ thuộc vào việc các bị
cáo đã chiếm đoạt được số tiền 150.000.000 đồng hay chưa mà phụ thuộc vào mục đích
chiếm đoạt của các bị cáo ngay từ khi thực hiện hành vi bắt giữ anh T. Đồng thời, Thẩm
phán bác bỏ lập luận phân rõ sự khác nhau của hai cụm từ “nhằm chiếm đoạt tài sản” ở khoản
1 và cụm từ “số tiền chiếm đoạt tài sản” ở khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự của Tòa án cấp
phúc thẩm là không có căn cứ
- Nếu áp dụng quy tắc pháp lý khác để lập luận không coi tình tiết “ có tổ chức” là tình tiết
tăng nặng khi chưa chiếm đoạt được tài sản hay coi hành vi chưa hoàn thành phạm chiếm
đoạt là chưa đủ căn cứ định khung tăng nặng thì có thể dẫn đến kết luận nhẹ hơn về hình
phạt. Tuy nhiên theo quy định pháp luật và thực tiễn xét xử cùng những lập luận chặt chẽ,
khách quan, dựa trên căn cứ pháp luật quy định của Hội đồng Thẩm phán thì điều này được
coi là không phù hợp với quy định hiện hành, thậm chí là còn thiếu sót trong lập luận để giải quyết vụ việc .
2. Phân tích lập luận dựa trên tiền lệ (Case-based method) (3 điểm)
Thẩm phán trong án lệ này chưa viện dẫn đến vụ án, án lệ hay thực tiễn xét xử nào
trước đó do tính mới mẻ của tình tiết này. Án lệ số 64 không viện dẫn đến vụ án, án lệ
trước đó mà chỉ dựa trên Quyết định của giám đốc thẩm số 15/2022/HS-GĐT ngày
04/10/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để đưa ra phán quyết.
Hơn hết, Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và củng cố hệ thống án lệ,
việc áp dụng án lệ để giải quyết vụ án hình sự chưa thực sự rộng rãi.
Nếu không có: phân tích lý do tại sao thẩm phán không sử dụng lập luận theo tiền lệ,
và liệu điều đó có ảnh hưởng gì đến tính hợp lý của bản án không?
a. Cuối cùng: so sánh với một ví dụ án lệ quốc tế (Anh, Mỹ hoặc Đức) có áp dụng Case-
based method rõ nét, và rút ra bài học cho Việt Nam? Tiểu
Hệ thống pháp luật Việt Nam không theo hệ thống pháp luật Common Law như Anh,
Mỹ , tuy nhiên hệ thống pháp luật Việt Nam có nhiều đặc điểm tương tự hệ thống
Civil law. Trong đó pháp luật được xây dựng chủ yếu dựa trên các văn bản quy phạm
pháp luật có tính quy tắc rõ ràng, cho tiết do cơ quan lập pháp ban hành. Bằng thực
tiễn xét xử cũng như những đặc điểm của hệ thống pháp luật Việt Nam có thể thấy
phương pháp lập luận dựa trên quy tắc là phù hợp nhất. Phương pháp này giúp tòa án
áp dụng một cách logic, rõ ràng, phù hợp với đặc điểm pháp luật Việt Nam, hạn chế
sự tùy tiện trong xét xử. Khi lập luận cho quyết định của mình, các thẩm phán phải
căn cứ vào các quy định của pháp luật, mà không dựa vào các bản án đã xét xử. Tuy
nhiên, thực thế cho thấy, luật thành văn dù có được xây dựng cẩn thận và kĩ lưỡng đến
đâu thì cùng không thể dự đoán được hết những tình huống có thể xảy ra trong tương
lai. Ngày nay, nhiều hành vi vi phạm pháp luật xảy ra một cách tinh vi, khó lường,
nhiều tình huống mà các nhà làm luật không dự liệu trước được. Khi xuất hiện những
tình tiết, vụ việc mới mà luật thành văn chưa quy định thì việc yêu cầu cần phải sửa
đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật mới để kịp thời điều chỉnh những tình huống
mới là tất yếu. Tuy nhiên, việc này đòi hỏi phải thông qua trình tự, thủ tục xem xét lâu
dài. Do đó, theo Điều 2 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP đã quy định “Trường hợp
những vấn đề quy định chưa rõ ràng, chưa có điều luật cụ thể thì được lựa chọn áp
dụng án lệ nhằm thể hiện lẽ công bằng”; khoản 2 Điều 6 BLDS 2015 quy định “
Trong trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy
định tại khoản 1 Điều của Bộ Luật Dân sự thì áp dụng các nguyên
tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này
và áp dụng án lệ, lẽ công bằng”. Có thể thấy, mặc dù vị trí áp dụng
án lệ trong hệ thống tư pháp Việt Nam không ưu tiên áp hàng đầu
như Anh hoặc Mĩ mà chỉ coi là một nguồn luật bổ sung để áp dụng
trong xét xử đã thể hiện sự kết hợp linh hoạt sự tiến bộ của hệ
thống pháp luật quốc tế, việc chính thức công nhận án lệ được coi là
một bước đi quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam
theo tinh thần của Nghị quyết 48-NQ/TW và 49-NQ/TƯ của Bộ Chính
trị. Như vậy, bằng việc áp dụng phương pháp lập luận theo quy tắc
là chủ yếu kết hợp với việc áp dụng án lệ là nguồn luật bổ sung đã
tạo ra một quy trình pháp lý công bằng, minh bạch, hiệu quả hơn
mà còn giúp cho thực tế xét xử của nền tư pháp Việt Nam. -