TV 898
MỤC LỤC
1. Phân tích định nghĩa vật chất của V.I. Lênin và ý nghĩa khoa học của định
nghĩa này
2. Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức . Ý nghĩa phương
pháp luận ?
3. Phân tích nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và ý nghĩa phương pháp luận ?
4. Phân tích nội dung nguyên lý về sự phát triển và ý nghĩa phương pháp luận ?
5. Phân tích nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập . Ý
nghĩa phương pháp luận ?
6. Phân tích nội dung quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành
những sự thay đổi về chất và ngược lại. Ý nghĩa phương pháp luận đối với
hoạt động thực tiễn của bạn?
7. Phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định. Ý nghĩa PP luận?
8. Phân tích khái niệm thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức ?
9. Phân tích về quan hệ sx phù hợp với tính chất và trình độ ptr của LLSX?
10.Phân tích mqh biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ?
11. Phân tích quan điểm của CNDVLS về mối quan hệ của tồn tại xã hội và ý
thức xã hội ?
12. Phân tích quan điểm của Triết học Mác Lênin về vấn đề chân lý ?
13. Phân tích quan điểm của Triết học Mác Lênin về bản chất con người. Thực
chất của việc nghiên cứu bản chất con người là quá trình con người tự lấy
mình làm đối tượng nghiên cứu và trả lời cho câu hỏi con người là gì, vai trò
con người trong thế giới ntn?
NỘI DUNG
TV 898
Câu 1 Phân tích định nghĩa vật chất của V.I. Lênin và ý nghĩa khoa học của
định nghĩa này?
a. Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin
Định nghĩa này được V.I.Lênin nêu ra trong tác phẩm "Chủ nghĩa duy vật và chủ
nghĩa kinh nghiệm phê phán" (1908). Ông nêu:
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đem lại cho
con người trong cảm giác, được cảm giác sao chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác”
b. Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin
* Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan:
Vật chất là 1 phạm trù khái quát nhất, rộng nhất của lý luận nhận thức. Phải
được xem xét dưới góc độ triết học chứ ko phải dưới góc độ của các khoa học cụ
thể . Điều này sẽ giúp ta tránh khỏi sai lầm khi đồng nhất phạm trù vật chất trong
triết học với các khái niệm vật chất thường dùng trong các khoa học cụ thể hoặc
đời sống hàng ngày
Về mặt nhận thức luận, Lênin chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong quan
hệ với phạm trù đối lập của nó, đó là phạm trù ý thứuc
Khi định nghĩa vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan ,
Lênin đã bỏ qua những thuộc tính riêng lẻ, cụ thể, nhiều màu, nhiều vẻ của sv, htg,
mà nêu đặc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất có ở tất cả các sv. Htg trong thế giới
khách quan. Đó là đặc tính “ tồn tại với tư cách là thực tại khách quan “, tồn tại
ngoài ý thức con người và độc lập với ý thức. Đặc tính này để phân biệt vật chất
với cái ko phải là vật chất
Tính trừu tượng của phạm trù vật chất : Phạm trù vật chất khái quát đặc tính
chung nhất của mọi khách thể vật chất xét trong quan hệ với ý thức nên về hình
thức nó là cái trừu tượng. Vì thế ko đc đồng nhất vật chất với các dạng cụ thể của
nó giống như quan niệm của các nhà duy vật trước Mác
c. Ý nghĩa khoa học của định nghĩa vật chất của V.I.Lênin
- Giải quyết một cách đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường chủ
nghĩa duy vật biện chứng.
TV 898
- Khắc phục được những quan niệm trực quan, siêu hình, máy móc về vật chất của
chủ nghĩa duy vật trước Mác và những biến tướng khác của trào lưu triết học tư
sản hiện đại.
- Chống lại tất cả các quan điểm duy tâm và ra căn cứ vững chắc để nghiên cứu xã
hội.
- Khẳng định thế giới vật chất là khách quan và vô cùng, vô tận, luôn luôn vận
động và phát triển không ngừng nên nó đã có tác dụng định hướng, cổ vũ các nhà
khoa học khi phát hiện những nguyên tố nó đã có tác dụng định hướng, cổ vũ các
nhà khoa học đi sâu vào nghiên cứu thế giới vật chất, để ngày càng làm phog phú
thêm kho tàng tri thức
Câu 2. Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức . Ý nghĩa
phương pháp luận?
1 Khái niệm
a,Vật chất
- Là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đc đem lại cho con người trong
cảm giác , đc cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại , phản ánh và tồn tại ko lệ thuộc
vào cảm giác
- Phương thức tồn tại của vật chất là vận động. Tức mỗi dạng vật chất luôn không ngừng
vận động và thông qua các dạng vận động vật chất mới biểu hiện được sự tồn tại của
mình. Hình thức tồn tại của vật chất là ko gian và thời gian.
b. Ý thức
- Là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan của bộ óc con người, là hình
ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
- Nguồn gốc của ý thức bao gồm nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
2.2 MQH biện chứng giữa vật chất và ý thức
Triết học Mác – Lênin khẳng định trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì vật
chất có trước, vật chất quyết định ý thức và ý thức có tính độc lập tương đối và tác động
trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
a. Vật chất quyết định ý thức:
Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất là
nguồn gốc của ý thức; vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh đối với vật chất.
TV 898
Vật chất là tiền đề, nguồn gốc cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của ý thức. Ý thức là
sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người. Nguồn gốc của
ý thức đều bắt nguồn từ các dạng vật chất như: bộ óc con người, thế giới khách
quan, lao động, ngôn ngữ nên vật chất là nguồn gốc của ý thức. Là cơ sở cho ý
thức hình thành, tồn tại và phát triển.
Điều kiện vật chất như thế nào thì ý thức như thế đó: ví dụ ý thức là sự phản ánh
của thế giới vật chất nên nội dung của ý thức bị quyết định bởi vật chất và bị các
quy luật của thế giới vật chất chi phối.
Vật chất biến đổi thì ý thức biến đổi theo.
Vật chất là điều kiện để ý thức thành hiện thực: ý thức chỉ được thể hiện thông
qua các hoạt động vật chất như ngôn ngữ và hoạt động thực tiễn của con người.
b. Vai trò của ý thức đối với vật chất
Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có tính độc lập tương đối và có thể tác
động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Nhờ có ý thức
con người nhận thức được quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan.
Mọi hoạt động của con người đều bị ý thức chỉ đạo, ý thức trang bị cho vật chất
các tri thức về thực tại khách quan để xác định và xây dựng kế hoạch, phương pháp
phù hợp.
Ý thức tác động lại vật chất theo hai chiều hướng:
+ Tích cực: Nếu con người nhận thức đúng đắn, có tri thức khoa học, nghị lực, ý
chí hành động thì ý thức có thể trở thành động lực lực phát triển của vật chất.
+ Tiêu cực: Ý thức có thể là lực cản phá vỡ sự vận động và phát triển của vật chất
khi ý thức phản ánh sai, phản ánh xuyên tạc các quy luật vận động khách quan của
vật chất.
3. Ý nghĩa pp luận ?
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật
chất là nguồn gốc của ý thức, song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua
hoạt động thực tiễn của con người, vì vậy con người phải tôn trọng tính khách
quan, xuất phát từ thực tế khách quan, đồng thời phải phát huy tính năng động, chủ
quancủa mình trong hành động.
Ý thức có thể có ý định làm cho con người hoạt động đúng và thành công khi
phản ánh đúng đắn, sâu sắc thế giới khách quan. Ngược lại, ý thức, tư tưởng có thể
làm cho con người hoạt động sai và thất bại khi con người phản ánh sai thế giới
TV 898
khách quan. Vì vậy, phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức đồng thời
khắc phục bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ý lại hoặc bệnh chủ quan
duy ý chí.
Đảng ta đã chỉ rõ: Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế,
tôn trọng quy luật khách quan.
- Liên hệ đối với hoạt động thực tiễn của bản thân:
+ Phát huy năng động, sáng tạo qua ý thức trong việc học tập và công tác.
+ Chống bệnh chủ quan duy ý chí, có thái độ tích cực trong học tập và công tác.
Câu 3: Phân tích nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và ý nghĩa phương pháp
luận ?
1.Khái niệm:
Trong phép biện chứng:
+Khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự qui định, sự tác động và chuyển hóa lẫn
nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện
tượng trong thế giới;
+ Còn khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều
sự vật, hiện tượng trong thế giới, trong đó, những mối liên hệ phổ biến nhất là
những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng
nghiên cứu của phép biện chứng, đó là các mối liên hệ giữa : các mặt đối lập,
lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng...
Ví dụ:Trong cơ thể con người sự liên kết của các phân tử trong một chất.
2. Tính chất của các mối liên hệ:
- Tính khách quan
Các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan, sự
quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện
tượng (hoặc trong chính bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập
không phụ thuộc vào ý chí của con người.
Ví dụ: Mối liên hệ giữa con người và khí hậu.
- Tính Phổ Biến của Các Mối Liên Hệ
TV 898
Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào tồn tại tuyệt
đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng khác. Đồng thời cũng ko có bất cứ sv,htg
nào ko phải là 1 cấu trúc hệ thống , bao gồm những yếu tố cấu thành với những
mlh bên trong của nó
Ví dụ: Liên hệ giữa mặt trời và trái đất, giữa thực vật với động vật, con người -
tự nhiên - xã hội...
- Tính Đa Dạng, Phong Phú của Các Mối Liên Hệ
+ Các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau có những mối liên hệ cụ thể
khác nhau ,vai trò, vị trí khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó.
+ Cùng một mlh nhất định của sự vật, hiện tượng nhg trong những đk cụ thể khác
nhau , ở những giai đoạn khác nhau trong qtr vận động phát triển của sv cũng có
những tính chất và vai trò khác nhau.
- Quan điểm về tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ còn bao hàm quan
niệm về sự thể hiện của chúng trong không gian và thời gian cụ thể.
3. Phân Loại Các Mối Liên Hệ
- Các mối liên hệ được phân loại thành:
+ Mối liên hệ bên trong
Ví dụ : Quá trình đồng hóa và dị hóa trong cùng1 sv
+ Mlh bên ngoài
Ví dụ : như 1 học sinh được học trong môi trường tốt song ko thể khẳng định học
sinh đó giỏi đc mà còn phụ thuộc rất nhiều vào học sinh đó
+ Mlh bản chất
+ MLh không bản chất
Ngoài ra còn có các mlh khác như : mlh tất yếu và ngẫu nhiên...
4. Ý nghĩa pp luận
Trong nhận thức và thực tiễn phải có quan điểm toàn diện. Lênin cho rằng:
“Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các
mặt, tất cả các mối liên hệ và quan hệ giao tiếp” của sự vật đó”. Quan điểm toàn
diện yêu cầu khi nhận thức sự vật htg phải xem xét sự vật trong mối biện chứng
TV 898
giữa các mặt các bộ phận cấu thành sự vật và giữa sự vật đó với sự vật khác. Song
toàn diện không có nghĩa là dàn đều giữa các mlh mà phải tập trung vào những
mối liên hệ chủ yếu và bản chất chi phối, chúng ta mới nhận thức được đầy đủ sâu
sắc các mối liên hệ ở các sự vật hiện tượng cần nghiên cứu.
Trong nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể, quan điểm
lịch sử cụ thể yêu cầu khi nhận thức sự vật hiện tượng phải gắn với điều kiện lịch
sử ra đời tồn tại và phát triển của sự vật.
Liên hệ thực tế: Vận dụng NLMLHPB vào sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
hiện nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại vừa ra đời, vừa tạo ra thời
cơ vừa là thách thức . Nước ta có tranh thủ được thời cơ đó hay không trước hết và
chủ yếu phụ thuộc vào năng lực của Đảng, của nhà nước và nhân dân ta. Còn nếu e
ngại thách thức mà không dám tiếp nhận thì rất khó đi đến thành công.
Câu 4. Phân tích nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và ý nghĩa phương pháp
luận ?
b. Nguyên lý về sự phát triển
* Khái niệm phát triển:
Phát triển là quá trình vận động có quy luật của sự vật từ thấp đến cao, từ kém
hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn.
Phân biệt sự khác nhau giữa phát triển và vận động: Vận động là bao hàm mọi
biến đổi nói chung, còn phát triển biểu hiện tính quy luật, tính khuynh hướng của
vận động: vận động theo khuynh hướng tiến lên làm cho sự vật ngày càng hoàn
thiện hơn
* Các tính chất cơ bản của sự phát triển:
Tính khách quan: sự phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới là do việc
giải quyết mâu thuẫn vốn có ở bên trong tạo ra chứ không phụ thuộc vào ý thức
con người.
Tính phổ biến: mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy/ý thức
con người đều nằm trong khuynh hướng phát triển.
Tính đa dạng, phong phú: mỗi sự vật, hiện tượng ở mỗi lĩnh vực phát triển khác
nhau qua từng giai đoạn cụ thể thì sự phát triển có những đặc điểm khác nhau.
* Ý nghĩa phương pháp luận:
Cần có quan điểm phát triển khi nghiên cứu, xem xét các sự vật, hiện tượng.
TV 898
Quan điểm phát triển đòi hỏi chúng ta khi xem xét sự vật phải đặt nó trong
khuynh hướng tiến lên, cái mới, cái tiến bộ ra đời thay thế cái cũ. Tuy nhiên, cũng
phải nhận thấy rằng sự phát triển của sự vật không diễn ra theo đường thẳng mà
quanh co, phức tạp.
Quan điểm phát triển là cơ sở khoa học giúp chúng ta khắc phục tư tưởng bảo
thủ, trì trệ, ngại đổi mới trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Nghiên cứu các quá trình phát triển phải phân kỳ lịch sử phát triển của chúng vì
sự vật có những tính chất khác nhau trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau.
Câu 5 Phân tích nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập . Ý nghĩa phương pháp luận ?
Vị trí, vai trò:
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn) là hạt
nhân của phép biện chứng vì nó là nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật, hiện
tượng.
a. Khái niệm mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn
* Khái niệm "mâu thuẫn" và "mâu thuẫn biện chứng":
Khái niệm mặt đối lập dùng để chỉ những mặt, những khuynh hướng vận động
trái ngược nhau của sự vật hiện tượng.
Khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ giữa các mặt đối lập của một sự
vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau. Trong cách hiểu thông
thường, mâu thuẫn thường nhấn mạnh khía cạnh vận động trái ngược và xung đột
lẫn nhau của các mặt đối lập.
Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau
tạo thành mâu thuẫn biện chứng.
* Các tính chất chung của mâu thuẫn biện chứng:
Tính khách quan: Mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng trong thế giới tồn tại độc
lập, không phụ thuộc vào ý thức con người; mâu thuẫn là cái vốn có cơ bản bên
thân sự vật, hiện tượng.
Tính phổ biến: Mọi sự vật, hiện tượng trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư
duy đều tồn tại mâu thuẫn. Chỉ có sự khác nhau giữa mâu thuẫn đã phát hiện ra và
mâu thuẫn chưa phát hiện ra.
TV 898
Tính đa dạng: Mỗi sự vật, hiện tượng trong mỗi lĩnh vực khác nhau, qua từng
giai đoạn phát triển, mâu thuẫn có đặc điểm, vị trí, vai trò khác nhau đối với sự vận
động, phát triển của sự vật. Đó là mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản, mâu thuẫn
bên trong và bên ngoài, mâu thuẫn chủ yếu và thứ yếu...
b, Quá trình vận động của mâu thuẫn
Trong mâu thuẫn các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau:
Khái niệm thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ, nương tựa,
ràng buộc, làm tiền đề tồn tại cho nhau của các mặt đối lập. Sự thống nhất của các
mặt đối lập bao hàm sự đồng nhất của nó.
Khái niệm đấu tranh của các mặt đối lập dùng để chỉ khuynh hướng tác động
qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập.
Trong sự thống nhất, đấu tranh của các mặt đối lập, thì sự đấu tranh giữa chúng
là tuyệt đối còn sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối.
Sự phát triển và giải quyết mâu thuẫn:
Khi mới xuất hiện, mâu thuẫn biểu hiện ở sự khác biệt giữa hai thuộc tính, hai
yếu tố nào đó và dần dần phát triển thành hai mặt đối lập. Hai mặt đối lập đó tồn
tại trong cùng một sự vật, vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau.
Theo thời gian, sự khác nhau của hai mặt đối lập phát triển thành sự đối lập.
Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gay gắt và nếu gặp điều
kiện thích hợp thì hai mặt đối lập sẽ chuyển hóa lẫn nhau (mâu thuẫn được giải
quyết) làm cho sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời.
Sự vật mới ra đời lại nảy sinh mâu thuẫn mới và quá trình tác động, chuyển hóa
của mâu thuẫn mới lại tiếp diễn.
Bởi vậy, sự liên hệ, tác động, chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt đối lập là nguồn
gốc, động lực của sự vận động, phát triển.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Phải tìm nguồn gốc, động lực của sự phát triển ở mâu thuẫn bên trong sự vật,
hiện tượng.
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta phải biết phát hiện ra mâu
thuẫn, tôn trọng mâu thuẫn, nắm được bản chất, nguồn gốc và khuynh hướng vận
động, phát triển của sự vật để từ đó đưa ra những đường lối, chủ trương, biện pháp
phù hợp đối với việc cải tạo, biến đổi sự vật.
TV 898
Việc giải quyết mâu thuẫn phải xác định được vị trí, vai trò của từng loại mâu
thuẫn để có biện pháp giải quyết cụ thể với yêu cầu của hoạt động nhận thức và
thực tiễn.
Câu 6. Phân tích nội dung quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng
thành những sự thay đổi về chất và ngược lại. Ý nghĩa phương pháp luận đối
với hoạt động thực tiễn của bạn?
I. Khái niệm chất, lượng
Khái niệm chất:
Chất là tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất
hữu cơ của các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với sự vật, hiện tượng. Mọi
sự vật, hiện tượng đều có những thuộc tính cơ bản và ko cơ bản
Chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợp thành chất của sự vật, hiện tượng. Khi
những thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất của nó thay đổi. Mọi sự vật hiện tượng
không chỉ có một chất, mà còn nhiều chất, tùy thuộc vào các mối quan hệ cụ thể
của nó với những cái khác. Chất không tồn tại thuần túy tách rời sự vật, hiện
tượng, biểu hiện tính ổn định tương đối của nó.
Ví dụ: than chì và kim cương tuy đều do cacbon tạo thành nhưng lại có sự khác
biệt rất căn bản về chất. Sự khác nhau được quyết định bởi phương thức liên kết
của cacbon.
Khái niệm lượng:
Lượng là tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng về các phương
diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của
các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
Với khái niệm này cho thấy: Mọi sự vật, hiện tượng có thể tồn tại nhiều loại lượng
khác nhau, được xác định bằng các phương thức khác nhau phù hợp với từng loại
lượng cụ thể của sự vật, hiện tượng đó.
Như vậy Lượng và chất là hai phương diện khác nhau của cùng một sự vật, hiện
tượng hay một quá trình nào đó trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Hai phương diện
đó đều tồn tại khách quan.
TV 898
Tuy nhiên sự phân biệt giữa chất và lượng trong quá trình nhận thức về sự vật,
hiện tượng chỉ có ý nghĩa tương đối: có cái trong mối quan hệ này đóng vai trò là
chất nhưng trong mối quan hệ khác lại là lượng.
II. Nội dung quy luật
Về bản chất, sự vật, hiện tượng cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và
lượng. Hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng.
Sự thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn tới sự chuyển hóa về chất của sự vật, hiện
tượng. Ở một giới hạn nhất định, sự thay đổi về lượng chưa dẫn tới sự thay đổi về
chất. Giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm chất thay đổi được gọi là độ.
vậy, trong giới hạn của độ, sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó, chưa chuyển hóa
thành sự vật và hiện tượng khác.
Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định sẽ tất yếu dẫn đến những sự thay
đổi về chất. Giới hạn đó chính là điểm nút. Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm
nút, với những điều kiện nhất định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới. Đây
chính là bước nhảy trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn vận động, phát triển; đồng thời, đó cũng
là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá trình vận động,
phát triển liên tục của sự vật, hiện tượng. Ph.Ăngghen khái quát tính tất yếu
này: “Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ nhất định sẽ
chuyển hóa thành những sự khác nhau về chất”.
Khi chất mới ra đời lại có sự tác động trở lại lượng của sự vật. Chất mới tác
động tới lượng của sự vật, hiện tượng trên nhiều phương diện: làm thay đổi kết
cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
Tóm lại, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có sự thống nhất biện chứng giữa
hai mặt chất và lượng. Sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút tất yếu sẽ dẫn
đến sự thay đổi về chất thông qua bước nhảy; đồng thời, chất mới sẽ tác động trở
lại lượng, tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật, hiện tượng. Quá trình đó
liên tục diễn ra, tạo thành phương thức cơ bản, phổ biến của các quá trình vận
động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
III. Ý nghĩa phương pháp luận
Vì những thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng có khả năng tất yếu chuyển
hóa thành những thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng và ngược lại. Do đó, trong
hoạt động nhận thức và thực tiễn, tùy theo mục đích cụ thể, cần từng bước tích lũy
TV 898
về lượng để có thể làm thay đổi về chất. Đồng thời, cũng phải phát huy tác động
của chất mới theo hướng làm thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng.
Vì sự thay đổi về lượng chỉ có thể tới những biến đổi về chất của sự vật, hiện
tượng với điều kiện lượng phải được tích lũy tới giới hạn điểm nút, do đó, trong
công tác thực tiễn cần phải khắc phục tư tưởng nóng nảy,tả khuynh: Tả khuynh
chính là hành động bất chấp quy luật, chủ quan, duy ý chí, không tích lũy về lượng
mà chỉ chú trọng thực hiện những bước nhảy liên tục về chất. Mặt khác, tính tất
yếu quy luật khi lượng đã được tích lũy đến giới hạn điểm nút sẽ tất yếu có khả
năng diễn ra bước nhảy về chất của sự vật, hiện tượng. Vì thế cũng cần phải khắc
phục tư tưởng bảo thủ, hữu khuynh trong công tác thực tiễn. Hữu khuynh là sự
biểu hiện tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không dám thực hiện bước nhảy mặc dù lượng
đã tích lũy tới điểm nút và quan niệm phát triển chỉ đơn thuần là sự biến hóa về
lượng.
Nâng cao tính tích cực chủ động của chủ thể để thúc đẩy quá trình chuyển hoá
lượng đến chất một cách có hiệu quả nhất
Câu 7 Phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định. Ý nghĩa PP luận?
1. Khái niệm phủ định biện chứng và những đặc trưng cơ bản của nó
a, Khái niệm phủ định
- Phủ định , hiểu theo nghĩa chung nhất , là sự thay thế sự vật này bằng sự vật
khác trong qtr vận động phát triển’
b, Khái niệm phủ định biện chứng
Khái niệm phủ định biện chứng dùng để chỉ sự phủ định tự thân của sự vật hiện
tượng, tạo tiền đề cho lần phủ định sau, cho sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ.
Tính chất của phủ định biện chứng:
Tính khách quan: sự phủ định được thực hiện do việc giải quyết mâu thuẫn vốn
có bên trong sự vật quy định, hoàn toàn không phụ thuộc ý muốn chủ quan của con
người.
Tính kế thừa: phủ định biện chứng kế thừa có chọn lọc những tinh hoa, nhân tố
tích cực, tiến bộ của sự vật cũ và bỏ những yếu tố tiêu cực, bảo thủ, lạc hậu.
2. Phủ định của phủ định:
TV 898
Phủ định của phủ định là sự phủ định biện chứng kết thúc một chu kỳ vận động,
phát triển của sự vật hiện tượng, làm cho sự vật dường như quay trở lại cái cũ về
mặt hình thức, nhưng trên cơ sở cao hơn, tiến bộ hơn về nội dung.
Phủ định của phủ định có tính chất chu kỳ: đưa sự vật dường như quay trở lại
trạng thái cũ, nhưng thực tế là kết thúc một chu kỳ phát triển, mở ra một chu kỳ
phát triển mới, kế thừa một cách có chọn lọc các yếu tố của cái cũ, bổ sung những
yếu tố mới và đạt được sự thay đổi và tiến bộ nhất định về chất.
Hình thức "xoáy ốc": sự phát triển theo quy luật phủ định của phủ định: thông
qua những lần phủ định của phủ định nối tiếp nhau, sự vật phát triển không phải
theo đường thẳng hay vòng tròn (lặp lại cái cũ) mà theo đường "xoáy ốc" đi lên,
vừa thể hiện tính kế thừa và tính chu kỳ, vừa thể hiện tính tiến bộ về chất.
Như vậy, quy luật phủ định của phủ định chỉ ra hướng vận động, phát triển của
sự vật.
Khái quát nội dung quy luật: Phủ định của phủ định khái quát khuynh hướng
phát triển phổ biến của sự vật, hiện tượng theo đường "xoáy ốc" đi lên. Đường
"xoáy ốc" diễn tả tính chất biện chứng của sự phát triển, đó là tính kế thừa, tính
chu kỳ và tính tiến bộ về chất. Mỗi vòng khấu khâu của đường xoáy ốc như lặp lại
cái cũ về mặt hình thức, nhưng là sự tiến bộ cao hơn về nội dung. Sự nối tiếp của
các vòng khâu đó phản ánh quá trình phát triển vô tận từ thấp lên cao của các sự
vật hiện tượng.
3. Ý nghĩa phương pháp luận
Quy luật phủ định của phủ định là cơ sở khoa học giúp chúng ta nhận thức đúng
đắn về xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng. Quá trình phát triển đó không
diễn ra theo đường thẳng mà trải qua nhiều lần phủ định quanh co, phức tạp, nhất
là trong lĩnh vực xã hội.
Để cái mới ra đời thay thế cái cũ theo đúng quy luật của nó, chúng ta phải nhận
dạng được cái mới, ủng hộ cái mới và quan trọng hơn là tạo điều kiện cho cái mới
phát triển. Để thực hiện được điều này cũng cần khắc phục tư tưởng giáo điều, bảo
thủ, kìm hãm sự ra đời, phát triển của cái mới.
Phải có quan điểm biện chứng trong quá trình kế thừa của sự phát triển. Chúng
ta không phủ định hoàn toàn những cùng không kế thừa nguyên xi cái cũ mà chỉ kế
thừa những nhân tố tích cực, tiến bộ, hợp lý của cái cũ, phù hợp với sự phát triển
của cái mới.
TV 898
Câu 8 Phân tích khái niệm thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
?
1. Phạm trù thực tiễn
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất - cảm tính có mục đích, có tính lịch sử-
xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội
- Các tính chất cơ bản của thực tiễn
Tính lịch sử - xã hội: thực tiễn không phải là những hoạt động thuần túy mang
tính cá nhân mà luôn bị quy định bởi những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể, vì
vậy thực tiễn không bất biến mà thay đổi tùy vào hoàn cảnh lịch sử xã hội
mang tính bản năng của loài vật.
Tính mục đích: thực tiễn là hoạt động có ý thức, có tính mục đích, khác với
hoạt động mang tính bản năng của loài vật
Tính trực quan cảm tính: thực tiễn không phải toàn bộ hoạt động của con
người mà chỉ là những hoạt động vật chất - cảm tính, tức là những hoạt động
vật chất của con người có thể được phản ánh bằng các giác quan
- Các hình thức cơ bản của thực tiễn:
Hoạt động thực tiễn rất đa dạng với nhiều hình thức phong phú, song có ba
hình thức cơ bản:
Hoạt động sản xuất vật chất: là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của
thực tiễn. Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ lao
động tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất nhằm duy trì sự tồn tại và
phát triển của mình.
Hoạt động chính trị - xã hội: là hoạt động của các tổ chức cộng đồng người
khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những mối quan hệ xã hội để thúc đẩy xã
hội phát triển.
Hoạt động thực nghiệm khoa học: là những quá trình nghiên cứu khoa học
không chỉ xảy ra trong tư duy nhà nghiên cứu mà còn được thử nghiệm, thực
nghiệm và ứng dụng trong hiện thực và do đó có tính vật chất - cảm tính.
Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có chức năng khác nhau, song
chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Trong mối quan hệ
đó, hoạt động sản xuất vật chất là loại hoạt động có vai trò quyết định đối với
các loại hoạt động thực tiễn khác.
TV 898
2. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
- Thực tiễn là cơ sở của nhận thức
+ Nhận thức ngay từ đầu đều xuất phát từ thực tiễn, từ nhu cầu tồn tại và phát
triển của con người
+ Thông qua hoạt động thực tiễn, thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính
là cơ sở dữ liệu cho hoạt động nhận thức.
+ Thông qua hoạt động thực tiễn, con người tạo ra những công cụ ngày càng
tinh vi giúp nối dài khí quan vật chất của con người, giúp con người nhận thức thế
giới sâu sắc hơn.
- Thực tiễn là động lực của nhận thức: Thực tiễn luôn biến đổi, luôn đặt ra
những yêu cầu, nhiệm vụ mới cần được nhận thức và giải quyết
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức: Mục đích cuối cùng của nhận thức là
quay trở về phục vụ thực tiễn, định hướng và chỉ đạo thực tiễn.
- Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý: Thực tiễn đóng vai trò là tiêu chuẩn, thước
đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức, từ đó bổ sung, điều
chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức. Nhận thức của con người
phải được kiểm tra trong thực tiễn, nếu chưa hoàn thiện thì bổ sung, nếu sai
lầm thì bác bỏ. Trong thực tiễn con người phải chứng minh chân lý.
3.Ý nghĩa phương pháp luận
Phải luôn quán triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm thực tiễn yêu cầu việc
nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, phải coi trọng công
tác tổng kết thực tiễn. Việc nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi
với hành. Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí;
ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm.
Câu 9. Phân tích về quan hệ sx phù hợp với tính chất và trình độ ptr của
LLSX?
I.Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất:
1.1 Tính chất:
Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu sản xuất và lao động. Khi
nền sản xuất được thực hiện với những công cụ ở trình độ phổ thông, lực lượng sản
xuất chủ yếu mang tính chất cá nhân.
TV 898
Khi trình độ sản xuất đạt tới trình độ cơ khí hoá, lực lượng sản xuất đòi hỏi phải
được vận động cho sự hợp tác xã hội rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hoá. Tính
chất tự cấp tự túc cổ lập của nền sản xuất nhỏ lúc đó phải được thay thế bởi tính
chất xã hội hoá.
1.2 Trình độ của lực lượng sản xuất:
Trình độ của lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn của lịch sử loài người thể
hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loài người trong giai đoạn đó.
Khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất nói lên khả năng của con người
thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến tự nhiên
nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình.
Trình độ llsx thể hiện ở:
Trình độ công cụ lao động, trình độ quản lý xã hội trình độ ứng dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, kinh nghiệm và kỹ năng của con người và trình độ phân
công lao động.
Trên thực tế tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất không tách biệt nhau.
II.Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất,
sự tác động lẫn nhau
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện mối quan hệ mang tính chất
biện chứng trong đó LLSX quyết định QHSX và QHSX tác động trở lại LLSX.
LLSX đóng vai trò là nội dung vật chất còn QHSX đóng vai trò là hình thức xã
hội của quá trình sản xuất, chúng tồn tại trong sự quy định lẫn nhau và thống nhất
với nhau.
Tương ứng với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất đòi hỏi
phải có một quan hệ sản xuất phù hợp với nó trên cả ba phương diện: quan hệ sở
hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý quá trình sản xuất, quan
hệ trong phân phối kết quả của quá trình sản xuất. Chỉ có như vậy thì LLSX mới
được duy trì khai thác sử dụng. Bởi vì QHSX chỉ là hình thức kinh tế xã hội của
quá trình sản xuất, còn LLSX đóng vai trò là nội dung vật chất kỹ thuật cho quá
trình đó. Trong mối quan hệ nội dung hình thức thì nội dung quyết định hình thức,
hình thức là thể hiện của nội dung.
TV 898
Tuy nhiên với tư cách là hình thức kinh tế xã hội của quá trình sản xuất QHSX
luôn có tính độc lập tương đối và có khả năng tác động trở lại sự vận động, phát
triển của LLSX: có thể kìm hãm hoặc thúc đẩy sự phát triển của LLSX.
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất thì trở thành động cơ mở đường, thúc đẩy cho LLSX phát triển, ngược lại
QHSX lỗi thời không còn phù hợp tính chất và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất thì bộc lộ mâu thuẫn gay gắt trở thành bộ phận kìm hãm sự phát triển của
LLSX. Sự tác động kìm hãm chỉ có tính tạm thời vì cuối cùng nó sẽ bị thay thế
bằng một QHSX mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất.
Sở dĩ QHSX có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất vì nó
quyết định mục đích sx , quy định hệ thống quản lý sx và quản lý xã hội quy định
phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động đc hưởng. Do đó nó sẽ
có những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế sự phát triển của công cụ sản xuất
áp dụng thành tựu khoa học và sản xuất hợp tác phân công lao động.
Sự chuyển hóa thành mâu thuẫn của LLSX & QHSX
LLSX thường phát triển nhanh trong khi QHSX thuòng có xu hướng tương đối ổn
định , khi mà QHSX không còn phù hợp với nó nữa thì tạo thành chưởng ngại cho
sự phát triển của nó. Do đó nó nảy sinh mâu thuẫn giữa hai mặt của phương thức
sản xuất. Sự phát triển tất yếu sẽ dẫn đến việc xóa bỏ QHSX cũ thay thế bằng một
QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX. Việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ
thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là diệt vong cả một phương
thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của một phương thức sản xuất mới.
Câu 10. Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT?
1. Khái niệm:
Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của
một hình thái kinh tế - xã hội nhất định.
Cơ sở hạ tầng của xã hội cụ thể thường bao gồm: quan hệ sản xuất thống trị
trong nền kinh tế, quan hệ sản xuất tàn dc, quan hệ sản xuất mới có tồn tại dưới
dạng mầm mống tiền đề
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ các hệ thống kết cấu các hình thái ý thức xã
hội cùng với các thiết chế độ chính trị xã hội tương ứng được hình thành trên một
cơ sở hạ tầng nhất định.
TV 898
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những hình thái ý thức xã hội, chính trị, pháp
quyền, đạo đức, triết học, tôn giáo, nghệ thuật... với những thể chế tương ứng: nhà
nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể...
2. Mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT
Chủ nghĩa Mác Lênin đã khẳng định: CSHT và KTTT có quan hệ biện chứng
không tách rời nhau, trong đó cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định kiến trúc
thượng tầng.
Còn kiến trúc thượng tầng là phản ánh cơ sở hạ tầng, nhưng nó có vai trò tác
động trở lại to lớn với cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó.
Trong sự thống nhất biện chứng này, sự phát triển của cơ sở hạ tầng đóng vai trò
quyết định kiến trúc thượng tầng. Kiến trúc thượng tầng phải phù hợp với tính
chất trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng hay cơ sở hạ tầng nào thì kiến trúc
thượng tầng ấy.
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng xã hội:
CSHT là những quan hệ vật chất khách quan quy định mọi quan hệ khác: về
chính trị, tinh thần, tư tưởng của xã hội.
CSHT nào thì kiến trúc thượng tầng ấy, nói cách khác cơ sở hạ tầng sinh ra kiến
trúc thượng tầng, kiến trúc thượng tầng bao giờ cũng phản ánh một cơ sở hạ tầng
nhất định, và bảo vệ cho cơ sở hạ tầng đó nên không có kiến trúc thượng tầng
chung cho mọi xã hội.
CSHT quyết định kiến trúc thượng tầng về tính chất, nội dung và kết cấu: Tính
chất của kiến trúc thượng tầng đối kháng hay không đối kháng, nội dung của kiến
trúc thượng tầng nghèo nàn hay đa dạng, phong phú và hình thức của kiến trúc
thượng tầng gọn nhẹ hay phức tạp đều do cơ sở hạ tầng quyết định. Tính mâu
thuẫn trong cơ sở hạ tầng được thể hiện trong KTTT. Vai trò quyết định của cơ sở
hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng còn thể hiện ở chỗ những biến đổi căn bản
trong CSHT dẫn đến sự biến đổi căn bản trong KTTT. Mác viết: “Cơ sở kinh tế
thay đổi thì tất cả tất cả các kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị thay đổi đi ít nhiều
nhanh chóng.” Khi sở hạ tầng đã mất đi thì kiến trúc thượng tầng đó cũng bị mất
đi. Tuy vậy, những quan hệ tinh thần, tư tưởng của xã hội đó là KTTT cũng không
thống hoàn toàn thụ động mà có vai trò tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng sinh
ra nó.
Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng:
TV 898
Sự tác động tích cực của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng được thể
hiện ở chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là luôn luôn bảo vệ duy trì, củng
cố và hoàn thiện cơ sở hạ tầng sinh ra nó, đấu tranh xóa bỏ cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thượng tầng đã lỗi thời lạc hậu.
Thực chất trong xã hội đã có giai cấp đối kháng, kiến trúc thượng tầng bao đảm
sự thống trị chính trị và tư tưởng của giai cấp giữ địa vị thống trị trong kinh tế.
Trong các yếu tố cấu thành nên kiến trúc thượng tầng, nhà nước giữ vai trò
đặc biệt quan trọng và có tác dụng to lớn đối với cơ sở hạ tầng xã hội, là một lực
lượng vật chất trực tiếp tập trung sức mạnh kinh tế và chính trị của giai cấp thống
trị.
Cùng vs nhà nước , các yếu tố khác của KTTT cũng đã tác động đến CSHT =
nhiều hình thức khác nhau. Song thường thường những sự tác động đó phải thông
qua nhà nước, pháp luật, thiết chế tương ứng , chỉ qua đó chúng mới phát huy được
hết hiệu lực đối với CSHT, toàn xã hội
Câu 11. Phân tích quan điểm của CNDVLS về mối quan hệ của tồn tại xã hội
và ý thức xã hội ?
1. Khái niệm
Tồn tại xã hội hay còn gọi là điều kiện sinh hoạt vật chất và các điều kiện sinh
hoạt vật chất của xã hội.
Yếu tố cơ bản tạo thành tồn tại xã hội bao gồm phương thức sx ra của cải vật
chất của xã hội đó, các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên- hoàn cảnh địa lý vàcác
yếu tố dân cư. Các yếu tố đó tồn tại trong mqh thống nhất biện chứng, tác động lẫn
nhau , trong đó phương thức sx vật chất là yếu tố cơ bản nhất
Ý thức xã hội dùng để chỉ phương tiện sinh hoạt tinh thần của xã hội, nảy sinh
từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất
định
2. Mqh biện chứng giữa TTXH và YTXH
a, Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội vì ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại
xã hội phụ thuộc vào tồn tại xã hội.
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội như thế nào?
TV 898
Tồn tại xã hội là nguồn gốc khách quan, là cơ sở sự hình thành, ra đời của ý
thức xã hội.
Tồn tại xã hội quyết định nội dung, tính chất, đặc điểm của các hình thái ý
thức xã hội.
Tồn tại xã hội thay đổi thì kéo theo sự thay đổi của ý thức xã hội.
Khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo. Tuy nhiên,
mức độ và nhịp điệu thay đổi của các bộ phận ý thức xã hội diễn ra khác nhau, có
những bộ phận biến đổi nhanh,có những bộ phận biến đổi chậm
Trong xã hội có giai cấp, thì YTXH cũng mang tính giai cấp
b, Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
* Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội
- Lịch sử xã hội cho thấy, nhiều khi xã hội cũ mất đi, thậm chí là mất rất lâu,
nhưng ý thức xã hội do đó mà sinh ra vẫn tồn tại lâu dài. Tính toán tương đối độc
lập này được xác định đặc biệt trong lĩnh vực xã hội quản lý (trong hệ thống
truyền thống, tập quán, thói quen….).
- Lênin cho rằng, sức mạnh của tập quán được tạo ra qua nhiều thế kỷ là sức mạnh
ghê gớm nhất.
- Khuynh hướng lạc hậu của ý thức xã hội còn biểu hiện trong điều kiện của xã hội
chủ nghĩa. Nhiều hiện tượng ý thức có nguồn gốc sâu xa trong xã hội cũ vẫn tồn tại
trong xã hội mới…
- Nguyên nhân làm cho ý thức xã hội thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội:
- Thứ nhất, do sự tác động mạnh mẽ và nhiều mặt trong hoạt động thực tiễn của
con người.
- Thứ hai, do sức mạnh của thói quen, tập quán, truyền thống và do cả tính bảo thủ
của hình thái ý thức xã hội. Hơn nữa, những điều kiện tồn tại xã hội mới chưa đủ
để làm cho những thói quen, tập quán và truyền thống cũ hoàn toàn mất đi
- Thứ ba, do ý thức xã hội gắn liền với lợi ích của những tập đoàn người, của các
giai cấp nào đó trong xã hội. Các tập đoàn hay giai cấp lạc hậu thường níu kéo,
bám víu lấy những tư tưởng lạc hậu để bảo vệ và duy trì quyền lợi ích kỉ của họ, để
chống lại các lực lượng tiến bộ trong xã hội