Câu 1: Sự thất bại của những phong trào yêu nước chống Pháp Việt
Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã đặt ra nhiệm vụ cho cách
mạng Việt Nam? Nhiệm vụ đó đã được Nguyễn Ái Quốc giải quyết như thế
nào? Việc lựa chọn con đường cách mạng sản ý nghĩa như thế nào
đối với cách mạng Việt Nam? (5 điểm)
Câu 2: Quá trình thực hiện đường lối đổi mới giai đoạn 1986-1996 đã để
lại những bài học kinh nghiệm gì? Trình bày những quan điểm của Đảng
nhằm đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 1996-
2001. Theo Anh/Chị quan điểm nào quan trọng nhất? sao? Hãy phân
tích quan điểm đó.(5 điểm)
BÀI LÀM
Câu 1. khi thực n Pháp xâm chiếm bắt đầu khai thác thuộc địa
cho đến năm 1945, tính chất hội Việt Nam đã nhiều biến đổi,
không đơn thuần một hội phong kiến còn thành hội thuộc địa
nửa phong kiến. Trong hội đó tồn tại hai mâu thuẫn bản, đó mâu
thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược mâu thuẫn giữa
người nông dân với địa chủ phong kiến, trong đó mâu thuẫn lớn nhất
mâu thuẫn n tộc. Do vậy, u cầu đặt ra cần hoá giải u thuẫn
do. Theo đó tự do một nước thuộc địa như Việt Nam trước hết đất đai
mục tiêu cao nhất dân chủ. Để đạt được điều này thì vấn đề đặt
ra phải chọn con đường cứu nước giải phóng dân tộc phát triển
hội sao cho đúng phù hợp với hoàn cảnh của hội Việt Nam trong
từng thời kỳ lịch sử.
Lịch sử dân tộc việt nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
đã liên tục nhiều đánh giá trái ngược nhau trên con đường giữ nước
giữa quân chủ, sản sản. Mỗi một con đường gồm hai bước kế tiếp
nhau đi từ giữ nước (độc lập dân tộc) xây dựng chủ nghĩa hội (đó
hướng tiến tới của dân tộc sau ngày thống nhất). Mỗi một con đường lại
ý nghĩa các đặc trưng riêng biệt nhưng đều cùng một nguyên tắc
bản, cụ thể phải biết địch ai; u cầu, mục đích, định hướng cách
mạng như thế o? Lãnh đạo cách mạng thể giai cấp nông dân,
sản, địa chủ hoặc một phần thấp giữa ba giai cấp ấy còn nh đạo cách
mạng thì cũng chỉ trên quan điểm của một giai cấp nào đấy nhưng lại
giai cấp tiến bộ tiêu biểu cho phương thức sản xuất mới.
Sau khi các thử nghiệm trên con đường cứu nước theo ý thức hệ
phong kiến bản tại Việt Nam thất bại thì lịch sử Việt Nam đã hướng
tới một con đường cứu nước mới con đường cách mạng sản được gắn
chặt với tên tuổi của nhà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh. Vậy, lịch
sử chọn con đường cứu nước xây dựng dân tộc theo hướng hội chủ
nghĩa phải căn cứ trên các sở thế nào? Cuộc đại chiến lần thứ nhất thể
hiện mâu thuẫn giữa dân tộc với đế quốc Mỹ đã kéo theo sự sụp đổ của
hội sản. Đã thành công - một chính phủ công nông xuất hiện cũng
chiến thắng của giai cấp sản khởi đầu kỷ nguyên mới - thời kỳ cách
mạng sản. Sự kiện ấy đã tạo nên một con đường mới cho những người
chủ đất thực hiện cuộc cách mạng để giải thoát gọi con đường sản.
Năm 1919, Lênin thành lập Quốc tế 3 tổ chức nhiệm vụ thúc
đẩy cách mạng thuộc địa, gắn kết ch mạng thuộc địa với cách mạng
sản toàn cầu tiếp tục lãnh đạo cuộc cách mạng thế giới. Năm 1920,
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác Lênin tiếp nhận ánh
sáng của Cách mạng tháng Mười, tham gia Quốc tế cộng sản. Lần đầu
Người nghiên cứu Chủ nghĩa Lênin đã nhận ra được thực tế con đường
cách mạng đúng con đường cách mạng sản. Trung Quốc đó, tia sáng
của Cách mạng tháng Mười Chủ nghĩa Mác Lênin đã rọi vào Việt Nam.
Trong vài năm sau ngày Quốc tế dân chủ thành lập, các chính đảng mới
của thế giới xuất hiện những nước bản phía Tây cũng như thuộc địa
tại phương Đông, trong số hai Đảng c động vào Việt Nam đầu tiên
Đảng cộng sản Pháp Đảng cộng sản Trung Quốc.
Sự lựa chọn con đường cứu nước theo khuynh hướng sản của lịch
sử dân tộc so với con đúng đắn, sáng tạo, thể hiện tính “ưu việt”
đường cứu nước theo khuynh hướng sản. tưởng sản vào nước ta
sau cách mạng tháng Mười một tưởng mới đối với Việt Nam thời
đại, chưa bộc lộ những hạn chế, những người tiếp thu tưởng sản
tiểu sản trí thức, họ xuất thân từ tầng lớp sản địa chủ những
hạn chế về giai cấp thời đại nhưng họ được sản hóa. s hội
của luồng tưởng sản giai cấp sản giai cấp lao động ra đời
trong công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp bị áp bức nặng nề, đại diện
cho lực lượng sản xuất tiến bộ, đó giai cấp cách mạng sức mạnh
to lớn, liên minh chặt chẽ với giai cấp nông n tạo ra khối liên minh công
nông vững chắc - một yếu tố quan trọng cho sự thắng lợi của cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
Câu 2. Đường lối đổi mới giai đoạn 1986-1996 đã để lại
những bài học kinh nghiệm:
Một là, trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo
trên sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc chủ nghĩa hội, vận
dụng sáng tạo phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tưởng Hồ Chí Minh,
kế thừa phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa n hóa nhân
loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam. Đây bài học
về “chủ động” “sáng tạo”.
Hai là, đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm "dân gốc",
lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân n, phát huy vai trò làm chủ, tinh
thần trách nhiệm, sức sáng tạo mọi nguồn lực của nhân dân; phát huy
sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Đây i học về “nhân dân” “phát
huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc”.
Ba là, đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, bước đi phù hợp; phải tôn
trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, m sát thực tiễn, coi
trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu luận, tập trung giải quyết kịp thời,
hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Đây bài học về đổi mới toàn
diện, đồng bộ, tôn trọng quy luật khách quan thực tiễn.
Bốn là, phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; kiên định độc
lập, tự chủ, đồng thời chủ động tích cực hội nhập quốc tế trên sở
bình đẳng, cùng lợi; kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại để xây dựng bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam hội chủ
nghĩa. Đây bài học về “lợi ích dân tộc” “phát huy sức mạnh tổng
hợp”.
Năm là, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ng cao năng
lực lãnh đạo sức chiến đấu của Đảng; y dựng đội ngũ n bộ, nhất
đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực phẩm chất, ngang tầm
nhiệm vụ; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc, các tổ chức chính trị - hội của cả hệ thống chính trị; tăng
cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Đây i học về “xây dựng
Đảng hệ thống chính trị”.
Trên con đường thực hiện mục tiêu nêu trên, Đại hội xác định: “Giai
đoạn từ nay đến năm 2000 bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển
mới - đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhiệm vụ của
nhân dân ta tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử
thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện đồng bộ, tiếp
tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo chế thị
trường sự quản của Nhà nước theo định hướng hội chủ nghĩa,
phấn đấu đạt vượt mục tiêu được đề ra trong Chiến lược ổn định
phát triển kinh tế - hội đến năm 2000: tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu
quả cao bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về hội,
bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống của nhân dân, ng cao
tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển
cao hơn vào đầu thế kỷ sau”.
Đại hội cũng đã nêu lên các định hướng phát triển các lĩnh vực chủ
yếu trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Về phát triển chuyển dịch cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, Đại hội nêu các quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại
hóa như sau:
- Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp c quốc tế, đa phương
hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Dựa vào nguồn lực trong nước
chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây dựng một nền
kinh tế mở, hội nhập với khu vực thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu,
đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất
hiệu quả.
-Công nghiệp hóa, hiện đại hóa sự nghiệp của toàn dân, của mọi
thành phần
kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước chủ đạo.
- Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố bản cho sự
phát triển nhanh bền vững. Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất
nước, không ngừng tăng tích lũy cho đầu phát triển. Tăng trưởng kinh
tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực
hiện tiến bộ công bằng hội, bảo vệ môi trường.
- Khoa học công nghệ động lực của công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại; tranh thủ đi
nhanh vào hiện đại những khâu quyết định.
- Lấy hiệu quả kinh tế - hội làm tiêu chuẩn bản để xác định
phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu công nghệ. Đầu chiều
sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có. Trong phát triển mới, ưu
tiên quy vừa nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi
vốn nhanh; đồng thời xây dựng một số công trình quy lớn thật cần
thiết hiệu quả. Tạo ra những mũi nhọn trong từng bước phát triển.
“Tập trung thích đáng nguồn lực cho các lĩnh vực, các địa bàn trọng
điểm; đồng ta, truyền thống hiếu học, trọng hiền tài, coi “hiền tài
nguyên khí quốc gia” đã được hình thành phát triển từ hàng ngàn năm
trước. Đến Hồ Chí Minh, tưởng của Người về “trồng người” “lợi ích
trăm năm” của dân tộc đã được Đảng ta nhận thức, quán triệt sâu sắc.
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta
hiện nay, đặc biệt, văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác đinh giáo
dục đào tạo “quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Giáo dục đào tạo được coi con đường
bản để phát triển nguồn lực con người, tăng cường năng lực nội sinh để
công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công.
Mặt khác, để phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cùng với việc phát triển giáo dục
đào tạo, Nhà nước ta rất quan tâm đến các vấn đề y tế, chăm sóc sức
khỏe, vấn đề dân số nâng cao chất lượng dân số.... những năm qua đã
đem lại những kết quả thiết thực, nâng cao một bước chất lượng dân số
nước ta.
Trong điều kiện ngày nay, nguồn lực con người yếu tố nội sinh
quan trọng nhất quyết định sự phát triển của một đất nước. Hơn lúc o
hết, Đảng Nhà nước ta cần quan tâm chăm lo hơn nữa vấn đề phát
triển toàn diện con người, đồng thời phải những chính sách thể hiện sự
quan tâm đặc biệt khai thác tốt nhất tiềm năng trí tuệ của đội ngũ lao
động chất xám để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.

Preview text:

Câu 1: Sự thất bại của những phong trào yêu nước chống Pháp ở Việt
Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã đặt ra nhiệm vụ gì cho cách
mạng Việt Nam? Nhiệm vụ đó đã được Nguyễn Ái Quốc giải quyết như thế
nào? Việc lựa chọn con đường cách mạng vô sản có ý nghĩa như thế nào
đối với cách mạng Việt Nam? (5 điểm)
Câu 2: Quá trình thực hiện đường lối đổi mới giai đoạn 1986-1996 đã để
lại những bài học kinh nghiệm gì? Trình bày những quan điểm của Đảng
nhằm đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 1996-
2001. Theo Anh/Chị quan điểm nào là quan trọng nhất? Vì sao? Hãy phân
tích quan điểm đó.(5 điểm) BÀI LÀM
Câu 1. khi thực dân Pháp xâm chiếm và bắt đầu khai thác thuộc địa
cho đến năm 1945, tính chất xã hội Việt Nam đã có nhiều biến đổi, nó
không đơn thuần là một xã hội phong kiến mà còn thành xã hội thuộc địa
nửa phong kiến. Trong xã hội đó tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản, đó là mâu
thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược và mâu thuẫn giữa
người nông dân với địa chủ phong kiến, trong đó mâu thuẫn lớn nhất là
mâu thuẫn dân tộc. Do vậy, yêu cầu đặt ra là cần hoá giải mâu thuẫn
bằng việc lật đổ chế độ cai trị thực dân và tay sai để giành lại độc lập tự
do. Theo đó tự do ở một nước thuộc địa như Việt Nam trước hết là đất đai
và mục tiêu cao nhất là dân chủ. Để đạt được điều này thì vấn đề đặt
ra là phải chọn con đường cứu nước giải phóng dân tộc và phát triển
xã hội sao cho đúng và phù hợp với hoàn cảnh của xã hội Việt Nam trong
từng thời kỳ lịch sử.
Lịch sử dân tộc việt nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
đã liên tục có nhiều đánh giá trái ngược nhau trên con đường giữ nước
giữa quân chủ, tư sản và vô sản. Mỗi một con đường gồm hai bước kế tiếp
nhau đi từ giữ nước (độc lập dân tộc) và xây dựng chủ nghĩa xã hội (đó là
hướng tiến tới của dân tộc sau ngày thống nhất). Mỗi một con đường lại có
ý nghĩa và các đặc trưng riêng biệt nhưng đều cùng một nguyên tắc cơ
bản, cụ thể là phải biết địch là ai; yêu cầu, mục đích, định hướng cách
mạng là như thế nào? Lãnh đạo cách mạng có thể là giai cấp nông dân, tư
sản, địa chủ hoặc là một phần thấp giữa ba giai cấp ấy còn lãnh đạo cách
mạng thì cũng chỉ ở trên quan điểm của một giai cấp nào đấy nhưng lại là
giai cấp tiến bộ tiêu biểu cho phương thức sản xuất mới.
Sau khi các thử nghiệm trên con đường cứu nước theo ý thức hệ
phong kiến và tư bản tại Việt Nam thất bại thì lịch sử Việt Nam đã hướng
tới một con đường cứu nước mới – con đường cách mạng vô sản được gắn
chặt với tên tuổi của nhà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Vậy, lịch
sử chọn con đường cứu nước và xây dựng dân tộc theo hướng xã hội chủ
nghĩa phải căn cứ trên các cơ sở thế nào? Cuộc đại chiến lần thứ nhất thể
hiện mâu thuẫn giữa dân tộc với đế quốc Mỹ đã kéo theo sự sụp đổ của xã
hội tư sản. Đã thành công - một chính phủ công nông xuất hiện cũng là
chiến thắng của giai cấp vô sản và khởi đầu kỷ nguyên mới - thời kỳ cách
mạng vô sản. Sự kiện ấy đã tạo nên một con đường mới cho những người
chủ đất thực hiện cuộc cách mạng để giải thoát gọi là con đường vô sản.
Năm 1919, Lênin thành lập Quốc tế 3 – tổ chức có nhiệm vụ thúc
đẩy cách mạng thuộc địa, gắn kết cách mạng thuộc địa với cách mạng vô
sản toàn cầu và tiếp tục lãnh đạo cuộc cách mạng thế giới. Năm 1920,
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và tiếp nhận ánh
sáng của Cách mạng tháng Mười, tham gia Quốc tế cộng sản. Lần đầu
Người nghiên cứu Chủ nghĩa Lênin đã nhận ra được thực tế con đường
cách mạng đúng là con đường cách mạng vô sản. Trung Quốc đó, tia sáng
của Cách mạng tháng Mười và Chủ nghĩa Mác – Lênin đã rọi vào Việt Nam.
Trong vài năm sau ngày Quốc tế dân chủ thành lập, các chính đảng mới
của thế giới xuất hiện ở những nước tư bản phía Tây cũng như thuộc địa
tại phương Đông, trong số có hai Đảng tác động vào Việt Nam đầu tiên là
Đảng cộng sản Pháp và Đảng cộng sản Trung Quốc.
Sự lựa chọn con đường cứu nước theo khuynh hướng vô sản của lịch
sử dân tộc là đúng đắn, sáng tạo, thể hiện tính “ưu việt” so với con
đường cứu nước theo khuynh hướng tư sản. Tư tưởng vô sản vào nước ta
sau cách mạng tháng Mười là một tư tưởng mới đối với Việt Nam và thời
đại, nó chưa bộc lộ những hạn chế, những người tiếp thu tư tưởng vô sản
là tiểu tư sản trí thức, họ xuất thân từ tầng lớp tư sản và địa chủ có những
hạn chế về giai cấp và thời đại nhưng họ được vô sản hóa. Cơ sở xã hội
của luồng tư tưởng vô sản là giai cấp vô sản – là giai cấp lao động ra đời
trong công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp bị áp bức nặng nề, đại diện
cho lực lượng sản xuất tiến bộ, đó là giai cấp cách mạng và có sức mạnh
to lớn, liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân tạo ra khối liên minh công
nông vững chắc - một yếu tố quan trọng cho sự thắng lợi của cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
Câu 2. Đường lối đổi mới giai đoạn
1986-1996 đã để lại
những bài học kinh nghiệm:
Một là, trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo
trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận
dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam. Đây là bài học
về “chủ động” và “sáng tạo”.
Hai là, đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm "dân là gốc", vì
lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh
thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân; phát huy
sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Đây là bài học về “nhân dân” và “phát
huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc”.
Ba là, đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; phải tôn
trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi
trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời,
hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Đây là bài học về đổi mới toàn
diện, đồng bộ, tôn trọng quy luật khách quan và thực tiễn.
Bốn là, phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; kiên định độc
lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở
bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Đây là bài học về “lợi ích dân tộc” và “phát huy sức mạnh tổng
hợp”. Năm là, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là
đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm
nhiệm vụ; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của cả hệ thống chính trị; tăng
cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Đây là bài học về “xây dựng
Đảng và hệ thống chính trị”.
Trên con đường thực hiện mục tiêu nêu trên, Đại hội xác định: “Giai
đoạn từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển
mới - đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhiệm vụ của
nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử
thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp
tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
phấn đấu đạt và vượt mục tiêu được đề ra trong Chiến lược ổn định và
phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000: tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu
quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội,
bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống của nhân dân, nâng cao
tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển
cao hơn vào đầu thế kỷ sau”.
Đại hội cũng đã nêu lên các định hướng phát triển các lĩnh vực chủ
yếu trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, Đại hội nêu các quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau:
- Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương
hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Dựa vào nguồn lực trong nước là
chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây dựng một nền
kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu,
đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả.
-Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần
kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo.
- Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự
phát triển nhanh và bền vững. Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất
nước, không ngừng tăng tích lũy cho đầu tư phát triển. Tăng trưởng kinh
tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường.
- Khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại; tranh thủ đi
nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định.
- Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định
phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ. Đầu tư chiều
sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có. Trong phát triển mới, ưu
tiên quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi
vốn nhanh; đồng thời xây dựng một số công trình quy mô lớn thật cần
thiết và có hiệu quả. Tạo ra những mũi nhọn trong từng bước phát triển.
“Tập trung thích đáng nguồn lực cho các lĩnh vực, các địa bàn trọng
điểm; đồng ta, truyền thống hiếu học, trọng hiền tài, coi “hiền tài là
nguyên khí quốc gia” đã được hình thành và phát triển từ hàng ngàn năm
trước. Đến Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người về “trồng người” vì “lợi ích
trăm năm” của dân tộc đã được Đảng ta nhận thức, quán triệt sâu sắc.
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
hiện nay, đặc biệt, văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác đinh giáo
dục và đào tạo là “quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Giáo dục và đào tạo được coi là con đường
cơ bản để phát triển nguồn lực con người, tăng cường năng lực nội sinh để
công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công.
Mặt khác, để phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cùng với việc phát triển giáo dục và
đào tạo, Nhà nước ta rất quan tâm đến các vấn đề y tế, chăm sóc sức
khỏe, vấn đề dân số và nâng cao chất lượng dân số.... những năm qua đã
đem lại những kết quả thiết thực, nâng cao một bước chất lượng dân số nước ta.
Trong điều kiện ngày nay, nguồn lực con người là yếu tố nội sinh
quan trọng nhất quyết định sự phát triển của một đất nước. Hơn lúc nào
hết, Đảng và Nhà nước ta cần quan tâm chăm lo hơn nữa vấn đề phát
triển toàn diện con người, đồng thời phải có những chính sách thể hiện sự
quan tâm đặc biệt và khai thác tốt nhất tiềm năng trí tuệ của đội ngũ lao
động chất xám để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.