Chu trách nhim xut bn và ni dung:
GIÁM ĐỐC - TNG BIÊN TP
PGS.TS. PHM MINH TUN
Biên tp ni dung: TS. VÕ VĂN BÉ
TS. HOÀNG MNH THNG
ĐINH ÁI MINH
ThS. NGUYN VIT HÀ
Trình bày bìa: PHM DUY THÁI
Chế bn vi tính: NGUYN THU THO
Đọc sách mu: ÁI MINH
BÍCH LIU
Số đăng ký kế hoch xut bn: …-2021/CXBIPH/..-…/CTQG.
Số quyết định xut bn: …-QĐ/NXBCTQG, ngày ../../2021.
Nộp lưu chiu: tháng .. năm 2021.
Mã ISBN: 978-604-57-….-..
5
CHÚ DN CA NHÀ XUT BN
Để phc v công tác nghiên cu, ging dy và hc tp các
môn khoa hc Mác - Lênin, tháng 6-2004, Nhà xut bn Chính
tr quc gia S tht xut bn cun sách Tuyên ngôn ca Đảng
cng sn vi toàn văn tác phm và các Li ta ca C. Mác,
Ph. Ăng-ghen viết cho các ln xut bn bng tiếng Đức, tiếng
Nga, tiếng Anh... ti Đức, Thy Sĩ, Anh, Italia trước đây. Li
gii thi
u tác phm Tuyên ngôn ca Đảng cng sn do nhà cách
mng lão thành, nhà báo Hoàng Tùng viết.
Nhng trích dn, phiên âm tên người, địa danh, v.v. trong
cun sách này được dn theo b sách C. Mác và Ph. Ăng-ghen
Toàn tp do Nhà xut bn Chính tr quc gia S tht xut bn.
Đáp ng nhu cu ca bn đọc, nhân k nim 170 năm ngày ra
đời ca tác phm quan trng này, Nhà xut bn xut bn ln th
ba cun sách Tuyên ngôn c
a Đảng cng sn theo bn in năm 2004.
Xin trân trng gii thiu cun sách cùng bn đọc.
Tháng 12 năm 2017
NHÀ XUT BN CHÍNH TR QUC GIA S THT
6
7
LI GII THIU
Tuyên ngôn ca Đảng cng sn, do Các Mác và Phri-
đrích Ăng-ghen son tho, trình bày nn tng lý lun và
mc đích ca ch nghĩa cng sn. Toàn b hc thuyết
mang tên Mác là mt công trình khoa hc đồ s do hai ông
xây dng trên na thế k, t năm 1843 đến năm 1895.
Các Mác sinh ngày 5 tháng Năm 1818 ti thành ph Tơ-ria,
min sông Ranh nước Ph. Hc lut hc, s hc, triết hc.
Năm 1841, bo v thành công lun án tiến sĩ triết hc.
Không mun nhn chc phó giáo sư trường đại hc Bon vì
trường này lc hu, đã bãi chc giáo sư ca Phoiơbc là mt
nhà triết hc li lc. Ông làm ngh viết báo để phc v l
phi, phc v con người.
Phri-đrích Ăng-ghen sinh ngày 28 tháng Mười mt 1820
Bácmen nước Ph, cách quê Mác không xa. H
c gn xong
trường trung hc, phi chuyn sang hc ngh kinh doanh
theo nghip nhà. Đến tui phi làm nghĩa v quân s,
đóng Béclin, ông xin hc d thính trường đại hc mang
tên thành ph mà Mác đã hc.
Không hn mà nên, c Mác và Ăng-ghen đều ham mê
triết hc và tham gia phái t ca ch nghĩa Hêghen ri
cùng nghiên cu say mê Phoiơbc nhưng c hai đều chưa
8
gii đáp được nh
ng vn đề mà hai ông mun biết đó là
nguyên nhân và gii pháp ca xã hi bt công. Mt là con
mt lut sư, mt là con mt ch tư sn; c hai đều t b
con đường ca gia đình, cng hiến cuc đời cho nhân loi,
say mê nghiên cu khoa hc, tiếp xúc vi qun chúng lao
động. Ngay t khi còn nhà trường, hai ông đã t rõ s
thông minh, sc so, hc nhiu lĩnh v
c, nhiu ngôn ng,
có kiến thc bách khoa, có tài làm thơ, son nhc, hi ha.
Hai người gp nhau t năm 1843, và đến năm 1844,
khi hai người đều viết báo và phương hướng tư tưởng đã
hình thành, s cng tác ca hai người chính thc bt đầu.
Hai ông viết chung vi nhau mt tác phm đánh du bước
ngot dt khoát v tư tưởng, đến năm 1883, khi Mác mt,
Ăng-ghen tiếp t
c s nghip ca bn mình và ca mình
đến cui năm 1895.
Phát kiến cơ bn ca Mác và Ăng-ghen v ch nghĩa
duy vt bin chng, ch nghĩa duy vt lch s, bn cht
ca ch nghĩa tư bn, nn tng tư tưởng khoa hc ca hc
thuyết cng sn ch nghĩa đã được xác định trong nhng
n
ăm 40 ca thế k XIX.
Thi đại ca Mác và Ăng-ghen, cũng tc là thi đại
xut hin và truyn bá hc thuyết Mác. T nhng năm
1840 đến nhng năm 1890, là giai đon đầu ch nghĩa tư
bn ln lượt xut hin my nước châu Âu và Bc M.
Cách mng tư sn Anh năm 1646, cách mng M năm
1776, cách mng Pháp nă
m 1789... cũng là giai đon đầu
ca cuc cách mng k thut ln th nht vi s ra đời
ca máy hơi nước đầu tiên năm 1785. Cuc cách mng
7
LI GII THIU
Tuyên ngôn ca Đảng cng sn, do Các Mác và Phri-
đrích Ăng-ghen son tho, trình bày nn tng lý lun và
mc đích ca ch nghĩa cng sn. Toàn b hc thuyết
mang tên Mác là mt công trình khoa hc đồ s do hai ông
xây dng trên na thế k, t năm 1843 đến năm 1895.
Các Mác sinh ngày 5 tháng Năm 1818 ti thành ph Tơ-ria,
min sông Ranh nước Ph. Hc lut hc, s hc, triết hc.
Năm 1841, bo v thành công lun án tiến sĩ triết hc.
Không mun nhn chc phó giáo sư trường đại hc Bon
trường này lc hu, đã bãi chc giáo sư ca Phoiơbc là mt
nhà triết hc li lc. Ông làm ngh viết báo để phc v l
phi, phc v con người.
Phri-đrích Ăng-ghen sinh ngày 28 tháng Mười mt 1820
Bácmen nước Ph, cách quê Mác không xa. H
c gn xong
trường trung hc, phi chuyn sang hc ngh kinh doanh
theo nghip nhà. Đến tui phi làm nghĩa v quân s,
đóng Béclin, ông xin hc d thính trường đại hc mang
tên thành ph mà Mác đã hc.
Không hn mà nên, c Mác và Ăng-ghen đều ham
triết hc và tham gia phái t ca ch nghĩa Hêghen ri
cùng nghiên cu say mê Phoiơbc nhưng c hai đều chưa
8
gii đáp được nh
ng vn đề mà hai ông mun biết đó là
nguyên nhân và gii pháp ca xã hi bt công. Mt là con
mt lut sư, mt là con mt ch tư sn; c hai đều t b
con đường ca gia đình, cng hiến cuc đời cho nhân loi,
say mê nghiên cu khoa hc, tiếp xúc vi qun chúng lao
động. Ngay t khi còn nhà trường, hai ông đã t rõ s
thông minh, sc so, hc nhiu lĩnh v
c, nhiu ngôn ng,
có kiến thc bách khoa, có tài làm thơ, son nhc, hi ha.
Hai người gp nhau t năm 1843, và đến năm 1844,
khi hai người đều viết báo và phương hướng tư tưởng đã
hình thành, s cng tác ca hai người chính thc bt đầu.
Hai ông viết chung vi nhau mt tác phm đánh du bước
ngot dt khoát v tư tưởng, đến năm 1883, khi Mác mt,
Ăng-ghen tiếp t
c s nghip ca bn mình và ca mình
đến cui năm 1895.
Phát kiến cơ bn ca Mác và Ăng-ghen v ch nghĩa
duy vt bin chng, ch nghĩa duy vt lch s, bn cht
ca ch nghĩa tư bn, nn tng tư tưởng khoa hc ca hc
thuyết cng sn ch nghĩa đã được xác định trong nhng
n
ăm 40 ca thế k XIX.
Thi đại ca Mác và Ăng-ghen, cũng tc là thi đại
xut hin và truyn bá hc thuyết Mác. T nhng năm
1840 đến nhng năm 1890, là giai đon đầu ch nghĩa tư
bn ln lượt xut hin my nước châu Âu và Bc M.
Cách mng tư sn Anh năm 1646, cách mng M năm
1776, cách mng Pháp nă
m 1789... cũng là giai đon đầu
ca cuc cách mng k thut ln th nht vi s ra đời
ca máy hơi nước đầu tiên năm 1785. Cuc cách mng
9
cơ khí kéo dài, đến thi Mác - Ăng-ghen mi được thc
hin rng rãi my nước nói trên. Trong thi gian tích t
tư bn, để công nghip hoá, giai cp tư sn bóc lt cc k
tàn nhn giai cp vô sn chính quc, đẩy mnh chiến
tranh thuc địa, phá v chế độ phong kiến các nước lc
hu, biến các nước này thành thuc địa để khai thác tài
nguyên, s
c lao động, m rng th trường. Người da đen
châu Phi b bán sang Bc M làm nô l. Người bn địa
châu M, châu Úc b đẩy lùi; đất nước h biến thành thuc
địa ca ch nghĩa tư bn. Tr lượng vàng to ln châu M
b khai thác. Đây là mt thi k căng thng ác lit có tính
toàn cu: xung đột vô sn - tư sn
nước tư bn ch
nghĩa, xung đột vũ trang gia my nước tư bn ch nghĩa
vi phn còn li ca thế gii.
Giai cp vô sn là lc lượng ni bt trong xã hi tư
bn. Chính hm ra và s dng máy móc li b máy móc,
lúc đầu h hiu như vy, làm cho kit sc điêu đứng vì lao
động cc nhc, tin lươ
ng ít i. H ni dy phá máy, bãi
công, bt đầu ch tng nhà máy, v sau c giai cp đứng
dy đấu tranh chng giai cp tư sn. Đấy là hin tượng
mi chưa tng thy trong lch s. S đàn áp ca giai cp
thng tr cc k dã man.
Các dân tc ln nh châu Á, châu Phi, châu M (tr
Hoa K) đều b thôn tính bng vũ l
c, k c nhng dân tc
ln đã tng có nn văn hoá rc r ta sáng toàn cu như
Trung Hoa, n Độ, các nước Arp. Gia lúc Tuyên ngôn ca
Đảng cng sn được công b, nước Pháp ca cuc Cách
mng năm 1789, chun b tiến công xâm lược Vit Nam.
10
Hc thuyết ca Các Mác và Phri-đrích Ăng-ghen ra đời
trong cơn khng hong v xã h
i và tư tưởng thi by gi.
Trc tiếp kế tha và điu chnh, phát trin nhng đỉnh
cao ca triết hc, tiêu biu là triết hc c đin Đức vi hai
nhân vt đứng đầu là Hêghen và Phoiơbc, ca kinh tế
hc Anh là Xmít Ricácđô, ca ch nghĩa cng sn, ch
nghĩa xã hi không tưởng tiêu biu nht là ca Xanh -
Ximông, Phuriê và Ôoen, hai nhà trí thc tr, xông vào
cuc sng để tìm cho ra chân lý, làm ngun gc nhn
thc ca con người, ngun gc đau kh, bt công xã hi.
Bng con đường phê phán nhng hc thuyết đang ph
biến, nghiên cu khoa hc, tiếp xúc, quan sát, phân tích
cuc sng xã hi, trong ba năm 1844 đến 1847, Mác và
Ăng-ghen nm được cái chìa khoá để tìm hiu nhng quy
lut vn động ca vũ tr, xã hi, con người. Nh
ư Mác nói:
ông mun đi xa hơn, không phi gii thích thế gii bng
cách này hay cách khác, vn đề quan trng là ci to nó.
Phi phê phán thế gii đang tn ti và phê phán c bng
vũ khí.
T b ch nghĩa duy tâm bin chng ca Hêghen và
ch nghĩa duy vt siêu hình ca Phoiơbc nhưng nh lĩnh
hi được phn khoa hc ca các triết hc đó, hai ông xây
dng mt triết hc hoàn chnh hoàn toàn mi, nói cách
khác, đã xác lp được cơ s khoa hc ca tư duy triết hc -
ch nghĩa duy vt bin chng, tc là đạt được thành tu
mà loài người đã chun b my nghìn năm vi hàng trăm
trường phái khác nhau mà chưa thành công. T khoa hc
tư duy, tc là tìm ra các quy lut vn động khách quan
9
cơ khí kéo dài, đến thi Mác - Ăng-ghen mi được thc
hin rng rãi my nước nói trên. Trong thi gian tích t
tư bn, để công nghip hoá, giai cp tư sn bóc lt cc k
tàn nhn giai cp vô sn chính quc, đẩy mnh chiến
tranh thuc địa, phá v chế độ phong kiến các nước lc
hu, biến các nước này thành thuc địa để khai thác tài
nguyên, s
c lao động, m rng th trường. Người da đen
châu Phi b bán sang Bc M làm nô l. Người bn địa
châu M, châu Úc b đẩy lùi; đất nước h biến thành thuc
địa ca ch nghĩa tư bn. Tr lượng vàng to ln châu M
b khai thác. Đây là mt thi k căng thng ác lit có tính
toàn cu: xung đột vô sn - tư sn
nước tư bn ch
nghĩa, xung đột vũ trang gia my nước tư bn ch nghĩa
vi phn còn li ca thế gii.
Giai cp vô sn là lc lượng ni bt trong xã hi tư
bn. Chính h làm ra và s dng máy móc li b máy móc,
lúc đầu h hiu như vy, làm cho kit sc điêu đứng vì lao
động cc nhc, tin lươ
ng ít i. H ni dy phá máy, bãi
công, bt đầu ch tng nhà máy, v sau c giai cp đứng
dy đấu tranh chng giai cp tư sn. Đấy là hin tượng
mi chưa tng thy trong lch s. S đàn áp ca giai cp
thng tr cc k dã man.
Các dân tc ln nh châu Á, châu Phi, châu M (tr
Hoa K) đều b thôn tính bng vũ l
c, k c nhng dân tc
ln đã tng có nn văn hoá rc r ta sáng toàn cu như
Trung Hoa, n Độ, các nước Arp. Gia lúc Tuyên ngôn ca
Đảng cng sn được công b, nước Pháp ca cuc Cách
mng năm 1789, chun b tiến công xâm lược Vit Nam.
10
Hc thuyết ca Các Mác và Phri-đrích Ăng-ghen ra đời
trong cơn khng hong v xã h
i và tư tưởng thi by gi.
Trc tiếp kế tha và điu chnh, phát trin nhng đỉnh
cao ca triết hc, tiêu biu là triết hc c đin Đức vi hai
nhân vt đứng đầu là Hêghen và Phoiơbc, ca kinh tế
hc Anh là Xmít và Ricácđô, ca ch nghĩa cng sn, ch
nghĩa xã hi không tưởng tiêu biu nht là ca Xanh -
Ximông, Phuriê và Ôoen, hai nhà trí thc tr, xông vào
cuc sng để tìm cho ra chân lý, làm rõ ngun gc nhn
thc ca con người, ngun gc đau kh, bt công xã hi.
Bng con đường phê phán nhng hc thuyết đang ph
biến, nghiên cu khoa hc, tiếp xúc, quan sát, phân tích
cuc sng xã hi, trong ba năm 1844 đến 1847, Mác và
Ăng-ghen nm được cái chìa khoá để tìm hiu nhng quy
lut vn động ca vũ tr, xã hi, con người. Nh
ư Mác nói:
ông mun đi xa hơn, không phi gii thích thế gii bng
cách này hay cách khác, vn đề quan trng là ci to nó.
Phi phê phán thế gii đang tn ti và phê phán c bng
vũ khí.
T b ch nghĩa duy tâm bin chng ca Hêghen và
ch nghĩa duy vt siêu hình ca Phoiơbc nhưng nh lĩnh
hi được phn khoa hc ca các triết hc đó, hai ông xây
dng mt triết hc hoàn chnh hoàn toàn mi, nói cách
khác, đã xác lp được cơ s khoa hc ca tư duy triết hc -
ch nghĩa duy vt bin chng, tc là đạt được thành tu
mà loài người đã chun b my nghìn năm vi hàng trăm
trường phái khác nhau mà chưa thành công. T khoa hc
tư duy, tc là tìm ra các quy lut vn động khách quan
11
ph biến ca vn vt, hai nhà sáng lp hc thuyết mi
li xác lp nn tng khoa hc cho các ngành tri thc
khác: lch s phát trin xã hi loài người, nhng quy lut
vn động ca các hình thái kinh tế, đi sâu vào hình thái
kinh tế - xã hi tư bn ch nghĩa, và nhiu lĩnh vc tri
thc khác.
Thay đổi thế gii là s nghip cách mng ca qun
chúng. Nh
ng hoài bão ca các nhà tư tưởng ci cách xã hi
trước Mác, nói chung, không đề xut nhng cuc cách mng
ca qun chúng trong nhng phm vi rng ln ca tng
nước hoc c thế gii, mà bng nhiu con đường khác nhau
ca tng nhóm người, không phân bit giàu nghèo, lao động
chung, hưởng th chung như nhau, không có hin tượng
người áp bc, bóc lt người. Khi đặt tên chính đảng đầu tiên
ca giai cp vô s
n, Mác và Ăng-ghen không dùng khái
nim xã hi ch nghĩa vì lúc y các cuc th nghim ca
Ôoen, Phuriê đã tht bi, nhiu t chc táp nham ra đời
cũng gi là xã hi ch nghĩa. Dùng khái nim cng sn ch
nghĩa, các nhà sáng lp mun khng định tinh thn ci to
tn gc xã hi tư bn xác định chiu hướng phát trin ca
lch s, phác ha nh
ng nét ln ca mt xã hi tương lai là
thành công vĩ đại ca các nhà sáng lp hc thuyết Mác.
Trong nhng điu kin lch s lúc đó, dù là các bc thiên
tài, cũng không th đi xa hơn.
Trong quá trình tiếp tc nghiên cu khoa hc, Mác và
Ăng-ghen đi vào hot động thc tin. Đầu năm 1846, cùng
vi my người đồng chính kiến, hai ông thành lp y ban
thông tin quc tế Th đ
ô Bruyxen, nước B nhm thiết
12
lp mi quan h gia nhng người xã hi ch nghĩa các
nước, thông báo cho nhiu người biết v phong trào xã
hi ch nghĩa nước Đức. Trong thi gian ngn, y ban
đã làm được mt công vic to ln: quy t được nhng
người cách mng các nước Anh, Pháp, Đức; t chc
được nhiu tiu ban thông tin Luân Đôn, Pari, L
ơ
Havrơ, Côpenhagen... y ban đã tr thành trung tâm tư
tưởng và chính tr ca phong trào cng sn.
Trong s nhng t chc công nhân quc tế, Mác và
Ăng-ghen đặc bit quan tâm nhng công nhân Đức tp hp
trong Liên đoàn nhng người chính nghĩa. Hai ông chân
thành giúp đỡ t chc này, vch rõ khuynh hướng sai lm
ca nó. Cui tháng Giêng 1847, y ban lãnh đạo đồng minh
mi hai ông gia nhp và tham gia ci t t chc này. Đại h
i
hp tháng Sáu 1847 Luân Đôn, Mác Ăng-ghen đóng
góp nhng ý kiến cơ bn cho bn d tho điu lnhng
tư tưởng cơ bn cho bn d tho Cương lĩnh. Đại hi quyết
định: Liên đoàn s tr thành mt đảng có t chc, dân ch,
các ban lãnh đạo được la chn, có trách nhim báo cáo và
b bãi min. Đại hi hng nă
m là cơ quan lãnh đạo cao
nht. Điu l đòi hi mi thành viên phi t nguyn đi theo
ch nghĩa cng sn, phc tùng nhng ngh quyết đã được
đề ra mt cách dân ch.
Đại hi quyết định gi tên là Liên đoàn nhng người
cng sn.
Đại hi ln th nht y quyn cho Ăng-ghen son tho
nhng tín
điu cng sn ch nghĩa, gi là Nhng nguyên
lý ca ch nghĩa cng sn.
11
ph biến ca vn vt, hai nhà sáng lp hc thuyết mi
li xác lp nn tng khoa hc cho các ngành tri thc
khác: lch s phát trin xã hi loài người, nhng quy lut
vn động ca các hình thái kinh tế, đi sâu vào hình thái
kinh tế - xã hi tư bn ch nghĩa, và nhiu lĩnh vc tri
thc khác.
Thay đổi thế gii là s nghip cách mng ca qun
chúng. Nh
ng hoài bão ca các nhà tư tưởng ci cách xã hi
trước Mác, nói chung, không đề xut nhng cuc cách mng
ca qun chúng trong nhng phm vi rng ln ca tng
nước hoc c thế gii, mà bng nhiu con đường khác nhau
ca tng nhóm người, không phân bit giàu nghèo, lao động
chung, hưởng th chung như nhau, không có hin tượng
người áp bc, bóc lt người. Khi đặt tên chính đảng đầu tiên
ca giai cp vô s
n, Mác và Ăng-ghen không dùng khái
nim xã hi ch nghĩa vì lúc y các cuc th nghim ca
Ôoen, Phuriê đã tht bi, nhiu t chc táp nham ra đời
cũng gi là xã hi ch nghĩa. Dùng khái nim cng sn ch
nghĩa, các nhà sáng lp mun khng định tinh thn ci to
tn gc xã hi tư bn xác định chiu hướng phát trin ca
lch s, phác ha nh
ng nét ln ca mt xã hi tương lai là
thành công vĩ đại ca các nhà sáng lp hc thuyết Mác.
Trong nhng điu kin lch s lúc đó, dù là các bc thiên
tài, cũng không th đi xa hơn.
Trong quá trình tiếp tc nghiên cu khoa hc, Mác
Ăng-ghen đi vào hot động thc tin. Đầu năm 1846, cùng
vi my người đồng chính kiến, hai ông thành lp y ban
thông tin quc tế Th đ
ô Bruyxen, nước B nhm thiết
12
lp mi quan h gia nhng người xã hi ch nghĩa các
nước, thông báo cho nhiu người biết v phong trào xã
hi ch nghĩa nước Đức. Trong thi gian ngn, y ban
đã làm được mt công vic to ln: quy t được nhng
người cách mng các nước Anh, Pháp, Đức; t chc
được nhiu tiu ban thông tin Luân Đôn, Pari, L
ơ
Havrơ, Côpenhagen... y ban đã tr thành trung tâm tư
tưởng và chính tr ca phong trào cng sn.
Trong s nhng t chc công nhân quc tế, Mác và
Ăng-ghen đặc bit quan tâm nhng công nhân Đức tp hp
trong Liên đoàn nhng người chính nghĩa. Hai ông chân
thành giúp đỡ t chc này, vch rõ khuynh hướng sai lm
ca nó. Cui tháng Giêng 1847, y ban lãnh đạo đồng minh
mi hai ông gia nhp và tham gia ci t t chc này. Đại h
i
hp tháng Sáu 1847 Luân Đôn, Mác và Ăng-ghen đóng
góp nhng ý kiến cơ bn cho bn d tho điu l và nhng
tư tưởng cơ bn cho bn d tho Cương lĩnh. Đại hi quyết
định: Liên đoàn s tr thành mt đảng có t chc, dân ch,
các ban lãnh đạo được la chn, có trách nhim báo cáo và
b bãi min. Đại hi hng nă
m là cơ quan lãnh đạo cao
nht. Điu l đòi hi mi thành viên phi t nguyn đi theo
ch nghĩa cng sn, phc tùng nhng ngh quyết đã được
đề ra mt cách dân ch.
Đại hi quyết định gi tên là Liên đoàn nhng người
cng sn.
Đại hi ln th nht y quyn cho Ăng-ghen son tho
nhng tín
điu cng sn ch nghĩa, gi là Nhng nguyên
lý ca ch nghĩa cng sn.
13
Tháng Mười mt 1847, Đại hi ln th hai ca Liên
đoàn, cũng hp Luân Đôn, vi s tham gia ca đại biu
các nước Anh, Pháp, Đức, B, Thy Sĩ..., Mác và Ăng-ghen
được y nhim son tho cương lĩnh để đại hi tho lun,
thông qua. Hai ông li được y ban y quyn công b cương
lĩnh dưới hình thc mt tuyên ngôn. Tháng Hai 1848, bn
Tuyên ngôn c
a Đảng cng sn được xut bn công khai
bng nhiu ngôn ng các nước châu Âu.
Hoàn cnh ra đời ca chính Đảng cng sn ch nghĩa
hin đại và bn Tuyên ngôn ca Đảng là như thế. Lênin
đánh giá rng: "Cun sách nh y có giá tr bng nhiu
b sách".
Tht vy, bn Tuyên ngôn ca Đảng cng sn đã khái
quát nhng thành tu to l
n cuc cách mng tư tưởng ca
loài người. Ln đầu tiên trong lch s tư tưởng thành văn,
triết hc, s hc xut hin mt quan nim khoa hc có h
thng v lch s phát trin xã hi loài người qua các chế độ
chính tr, kinh tế, v nhng động lc ca lch s, v quá
trình chế độ tư bn ch ngh
ĩa thay thế chế độ phong kiến,
nht là quá trình hình thành và nhng mâu thun ca
hình thái kinh tế - xã hi tư bn và nguy cơ s tan rã tt
yếu ca nó. Tuyên ngôn là mt phát đại bác c ln nã vào
ch nghĩa tư bn. Còn đối vi loài người, đối vi khoa hc,
đánh du mt bước ngot ln trong lch s tư tưởng, s
phát trin ca trí tu con ngườ
i. Quan nim duy vt bin
chng, duy vt lch s được quán trit sâu sc trong toàn
b tác phm. Phương pháp phê phán khoa hc th hin
sinh động t đầu đến cui.
14
Đúng như Mác nói: T trước đến nay người ta đi tìm
chân lý bng cách gii thích mt cách khác nhau nhưng
chưa ai đưa ra được mt gii pháp có cơ s khoa hc ci
to thế gii, chưa tng xu
t hin hc thuyết nào phân
tích, tng kết nhng quy lut vn động ca lch s, m x,
khái quát xã hi tư bn ch nghĩa t mi khía cnh ca
nó, và ch rõ nhng lc lượng xã hi s ci to thế gii tư
bn ch nghĩa.
Các nhà s hc truyn thng không xut phát t đời
sng kinh tế, xã h
i để phân tích nhng quan h chính tr,
văn hoá. Chương I ca Tuyên ngôn phân tích quan h gia
hai giai cp cơ bn ca xã hi tư bn ch nghĩa dưới ánh
sáng mt quan nim thế gii, phương pháp khoa hc làm
sáng t nhng mâu thun, nhng quy lut vn động ca
hình thái kinh tế - xã hi tư bn ch nghĩa. Cũng dưới ánh
sáng thế gii quan, phương pháp lun duy vt bi
n chng,
và bng hình thc lun chiến, làm rõ nhng quan nim
khác nhau v mt lot vn đề quan trng v lý lun và thc
tin gia khoa hc và ngy bin, chân lý và phi lý.
Nhng điu trng yếu sau đây được khng định:
Nhng quan đim lý lun ca nhng người cng sn tuyt
nhiên không da trên nhng ý nim, nhng nguyên lý do
mt nhà ci cách th
ế gii nào đó phát minh; Nhng
nguyên lý y ch là khái quát nhng điu kin thc ti ca
mt cuc đấu tranh giai cp, đấu tranh xã hi hin có, ca
mt phong trào lch s đang din ra trước mt chúng ta;
Vic xoá b nhng quan h s hu đã có t trước đến nay
không phi là đặc trưng ca ch nghĩa cng sn.
13
Tháng Mười mt 1847, Đại hi ln th hai ca Liên
đoàn, cũng hp Luân Đôn, vi s tham gia ca đại biu
các nước Anh, Pháp, Đức, B, Thy Sĩ..., Mác và Ăng-ghen
được y nhim son tho cương lĩnh để đại hi tho lun,
thông qua. Hai ông li được y ban y quyn công b cương
lĩnh dưới hình thc mt tuyên ngôn. Tháng Hai 1848, bn
Tuyên ngôn c
a Đảng cng sn được xut bn công khai
bng nhiu ngôn ng các nước châu Âu.
Hoàn cnh ra đời ca chính Đảng cng sn ch nghĩa
hin đại và bn Tuyên ngôn ca Đảng là như thế. Lênin
đánh giá rng: "Cun sách nh y có giá tr bng nhiu
b sách".
Tht vy, bn Tuyên ngôn ca Đảng cng sn đã khái
quát nhng thành tu to l
n cuc cách mng tư tưởng ca
loài người. Ln đầu tiên trong lch s tư tưởng thành văn,
triết hc, s hc xut hin mt quan nim khoa hc có h
thng v lch s phát trin xã hi loài người qua các chế độ
chính tr, kinh tế, v nhng động lc ca lch s, v quá
trình chế độ tư bn ch ngh
ĩa thay thế chế độ phong kiến,
nht là quá trình hình thành nhng mâu thun ca
hình thái kinh tế - xã hi tư bn và nguy cơ s tan rã tt
yếu ca nó. Tuyên ngôn là mt phát đại bác c ln nã vào
ch nghĩa tư bn. Còn đối vi loài người, đối vi khoa hc,
đánh du mt bước ngot ln trong lch s tư tưởng, s
phát trin ca trí tu con ngườ
i. Quan nim duy vt bin
chng, duy vt lch s được quán trit sâu sc trong toàn
b tác phm. Phương pháp phê phán khoa hc th hin
sinh động t đầu đến cui.
14
Đúng như Mác nói: T trước đến nay người ta đi tìm
chân lý bng cách gii thích mt cách khác nhau nhưng
chưa ai đưa ra được mt gii pháp có cơ s khoa hc ci
to thế gii, chưa tng xu
t hin hc thuyết nào phân
tích, tng kết nhng quy lut vn động ca lch s, m x,
khái quát xã hi tư bn ch nghĩa t mi khía cnh ca
nó, và ch rõ nhng lc lượng xã hi s ci to thế gii tư
bn ch nghĩa.
Các nhà s hc truyn thng không xut phát t đời
sng kinh tế, xã h
i để phân tích nhng quan h chính tr,
văn hoá. Chương I ca Tuyên ngôn phân tích quan h gia
hai giai cp cơ bn ca xã hi tư bn ch nghĩa dưới ánh
sáng mt quan nim thế gii, phương pháp khoa hc làm
sáng t nhng mâu thun, nhng quy lut vn động ca
hình thái kinh tế - xã hi tư bn ch nghĩa. Cũng dưới ánh
sáng thế gii quan, phương pháp lun duy vt bi
n chng,
và bng hình thc lun chiến, làm rõ nhng quan nim
khác nhau v mt lot vn đề quan trng v lý lun và thc
tin gia khoa hc và ngy bin, chân lý và phi lý.
Nhng điu trng yếu sau đây được khng định:
Nhng quan đim lý lun ca nhng người cng sn tuyt
nhiên không da trên nhng ý nim, nhng nguyên lý do
mt nhà ci cách th
ế gii nào đó phát minh; Nhng
nguyên lý y ch là khái quát nhng điu kin thc ti ca
mt cuc đấu tranh giai cp, đấu tranh xã hi hin có, ca
mt phong trào lch s đang din ra trước mt chúng ta;
Vic xoá b nhng quan h s hu đã có t trước đến nay
không phi là đặc trưng ca ch nghĩa cng sn.
15
Chế độ s hu tri qua nhng thay đổi liên tiếp, nhng
ci biến liên tiếp trong lch s. Cách mng Pháp chng
hn, đã xoá b chế độ s hu phong kiến, để thay bng chế
độ s hu tư sn. Đặc trưng ca ch nghĩa cng sn không
phi là xoá b chế độ s hu nói chung, mà là xoá b chế
độ
s hu tư sn. Nhưng chế độ tư hu hin thi, chế độ s
hu tư sn li là biu hin cui cùng và hoàn b nht ca
phương thc sn xut và chiếm hu da trên cơ s nhng
đối kháng giai cp, trên cơ s nhng người này bóc lt
nhng người kia! (hoc thiu s bóc lt đa s
- chú thích
năm 1888 ca Ăng-ghen) và do trình độ k thut sn xut
quyết định như Mác nói: cái máy xay gió đẻ ra chế độ
phong kiến, cái máy hơi nước đẻ ra chế độ tư bn...
"Ch nghĩa cng sn không tước b ca ai cái kh năng
chiếm hu nhng sn phm xã hi c. Ch nghĩa cng sn
ch tước b quyn dùng s chi
ếm hu y để nô dch lao
động ca người khác {...}. Hãy xoá b tình trng người bóc
lt người thì tình trng dân tc này bóc lt dân tc khác
cũng s b xoá b"
1*
.
Và hay biết bao khi nói v quyn lc nhà nước:
"Khi nhng đối kháng giai cp đã mt đi trong tiến
trình ca s phát trin và toàn b sn xut đã tp trung
trong tay nhng cá nhân đã liên hp li vi nhau, thì quyn
lc công cng cũng mt tính cht chính tr ca nó"
2*
.
1* Xem cun này, tr. 103-104, 108.
2* Xem cun này, tr.112.
16
Thay cho xã hi tư sn cũ, vi nhng giai cp và đối
kháng giai cp ca nó, xut hin mt liên hip, trong đó
"s phát trin t do ca mi người là điu kin cho s
phát trin t do ca tt c mi người"
1*
. Đó là tóm tt
nhng nguyên tc quan trng nht ni dung hc thuyết
cách mng cng sn ch nghĩa khoa hc. Và bn Tuyên
ngôn cũng có th gi là tuyên ngôn khoa hc và cách mng
ln đầu tiên xut hin trong lch s loài người.
Mác và Ăng-ghen nhiu ln nói vi chúng ta rng, hc
thuyết khoa hc ca hai ông không bao gi là chân lý
muôn thu. Chân lý ch có trong cuc sng thường xuyên
vn động nh
ư nước không ngng chy, mây không ngng
trôi, ch có chân lý y là không bao gi thay đổi. Có người
hi ông v xã hi tương lai, ông nói: nhng con người ca
ngày mai s không ngc nghếch như chúng tôi và các anh.
Mác và Ăng-ghen nhiu ln viết li ta cho các ln
xut bn Tuyên ngôn ca Đảng cng sn. Trong li ta
viết năm 1872 cho bn tiếng Đức, hai ông viết: "Mc du
hoàn cnh đã thay
đổi nhiu trong hai mươi lăm năm qua,
nhưng cho đến nay, xét v đại th, nhng nguyên lý tng
quát trình bày trong "Tuyên ngôn" này vn còn hoàn toàn
đúng. đôi ch, có mt vài chi tiết cn phi xem li.
Chính ngay "Tuyên ngôn" cũng đã gii thích rõ rng bt
c đâu và bt c lúc nào, vic áp dng nhng nguyên lý
đó cũng phi tu theo hoàn cnh lch s đương thi, và do
1* Xem cun này, tr. 113.
15
Chế độ s hu tri qua nhng thay đổi liên tiếp, nhng
ci biến liên tiếp trong lch s. Cách mng Pháp chng
hn, đã xoá b chế độ s hu phong kiến, để thay bng chế
độ s hu tư sn. Đặc trưng ca ch nghĩa cng sn không
phi là xoá b chế độ s hu nói chung, mà xoá b chế
độ
s hu tư sn. Nhưng chế độ tư hu hin thi, chế độ s
hu tư sn li là biu hin cui cùng và hoàn b nht ca
phương thc sn xut và chiếm hu da trên cơ s nhng
đối kháng giai cp, trên cơ s nhng người này bóc lt
nhng người kia! (hoc thiu s bóc lt đa s
- chú thích
năm 1888 ca Ăng-ghen) và do trình độ k thut sn xut
quyết định như Mác nói: cái máy xay gió đẻ ra chế độ
phong kiến, cái máy hơi nước đẻ ra chế độ tư bn...
"Ch nghĩa cng sn không tước b ca ai cái kh năng
chiếm hu nhng sn phm xã hi c. Ch nghĩa cng sn
ch tước b quyn dùng s chi
ếm hu y đểdch lao
động ca người khác {...}. Hãy xoá b tình trng người bóc
lt người thì tình trng dân tc này bóc lt dân tc khác
cũng s b xoá b"
1*
.
Và hay biết bao khi nói v quyn lc nhà nước:
"Khi nhng đối kháng giai cp đã mt đi trong tiến
trình ca s phát trin và toàn b sn xut đã tp trung
trong tay nhng cá nhân đã liên hp li vi nhau, thì quyn
lc công cng cũng mt tính cht chính tr ca nó"
2*
.
1* Xem cun này, tr. 103-104, 108.
2* Xem cun này, tr.112.
16
Thay cho xã hi tư sn cũ, vi nhng giai cp và đối
kháng giai cp ca nó, xut hin mt liên hip, trong đó
"s phát trin t do ca mi người là điu kin cho s
phát trin t do ca tt c mi người"
1*
. Đó là tóm tt
nhng nguyên tc quan trng nht ni dung hc thuyết
cách mng cng sn ch nghĩa khoa hc. Và bn Tuyên
ngôn cũng có th gi là tuyên ngôn khoa hc và cách mng
ln đầu tiên xut hin trong lch s loài người.
Mác và Ăng-ghen nhiu ln nói vi chúng ta rng, hc
thuyết khoa hc ca hai ông không bao gi là chân lý
muôn thu. Chân lý ch có trong cuc sng thường xuyên
vn động nh
ư nước không ngng chy, mây không ngng
trôi, ch có chân lý y là không bao gi thay đổi. Có người
hi ông v xã hi tương lai, ông nói: nhng con người ca
ngày mai s không ngc nghếch như chúng tôi và các anh.
Mác và Ăng-ghen nhiu ln viết li ta cho các ln
xut bn Tuyên ngôn ca Đảng cng sn. Trong li ta
viết năm 1872 cho bn tiếng Đức, hai ông viết: "Mc du
hoàn cnh đã thay
đổi nhiu trong hai mươi lăm năm qua,
nhưng cho đến nay, xét v đại th, nhng nguyên lý tng
quát trình bày trong "Tuyên ngôn" này vn còn hoàn toàn
đúng. đôi ch, có mt vài chi tiết cn phi xem li.
Chính ngay "Tuyên ngôn" cũng đã gii thích rõ rng bt
c đâu và bt c lúc nào, vic áp dng nhng nguyên lý
đó cũng phi tu theo hoàn cnh lch s đương thi, và do
1* Xem cun này, tr. 113.
17
đấy, không nên quá câu n vào nhng bin pháp cách
mng nêu ra cui chương II. Đon này, ngày nay mà viết
li thì v nhiu mt, cũng phi viết khác đi. Vì đại công
nghip đã có nhng bước tiến hết sc to ln trong hai
mươi lăm năm qua và giai cp công nhân cũng đạt được
nhng tiến b song song trong vic phát trin t chc
đảng, do có nhng kinh nghim thc tin, tr
ước hết là ca
Cách mng tháng Hai, sau na và nht là ca Công xã
Pa-ri ln đầu tiên đã đem chính quyn li cho giai cp vô
sn trong hai tháng, cho nên hin nay, cương lĩnh này có
mt s đim đã cũ"
1*
.
Ngày nay mt nn văn minh mi đã xut hin và m
đường cho s phát trin vi nhp độ dn dp, làm đảo ln
tt c. Ăng-ghen đã nói: đứng trước nhng phát kiến m
ra thi đại, bn thân bin chng pháp cũng phi thay mi
hình thc ca nó, ta hiu thêm ni dung mi; tc là nn
tng khoa hc ca tư duy, vn ph
i gi vng.
Thi đại ca Mác và Ăng-ghen đã trôi qua trên mt thế
k. Nhng biến đổi ln din ra vi nhp độ chóng mt, din
mo thế gii hoàn toàn thay đổi so vi hàng triu năm trước
đây, k c thế k trước, thế k cách mng công nghip, cách
mng tư sn xoá b trt t phong kiến đã tn ti hàng
nghìn năm. Thi đại Mác, khoa hc mi đạt được ba phát
kiến ln. Ngày nay, hu như hàng ngày khoa hc đều tìm
ra nhng bí mt mi ca vũ tr và con người.
1* Xem cun này, tr. 39.
18
Có người nói rng, ngày nay con người đã biết 80% bí
mt ca vũ tr, k c thế gii vĩ mô ln vi mô. Khoa hc
đã bão hoà, vic quan trng là đưa vào cuc sng nhng
thành tu đã đạt được. Nhn xét y không phi không có
ch đúng nhưng chưa được hoc khó được chng minh.
Điu mà Mác và Ăng-ghen d báo hin nhiên đã tr thành
hin thc: trí tu
đã tr thành sc sn xut trc tiếp ca
ci vt cht và văn hoá.
Nhng nhà tương lai hc chưa ai dám d báo rng xã
hi loài người và con người s t chc nn sn xut và cuc
sng như thế nào khi ch cn my phn trăm lc lượng lao
động có th tha mãn mi nhu cu cuc sng ca c loài
ng
ười (không phi là khoa hc vin tưởng). V lý thuyết thì
có th như vy, nhưng vn đề chưa gii đáp ni là ai làm,
ai hưởng th, ai làm ch ca ci xã hi. Người ta li phi
tìm đến ông Mác, mà ông không th tr li như cách đây
hơn mt trăm năm mươi năm trước, nhưng nhng quan
nim cơ bn ca ông, thì không th bác b. Nhiu v
n đề
mi xut hin t thi đại mi cn được nghiên cu và làm
sáng t. Như chúng ta đã biết, ngay khi còn sng, các nhà
sáng lp ch nghĩa Mác đã thy nhng phn nhn định
hoc đề xut ca mình đã không phù hp vi s thay đổi
ca tình hình, nht là nhng phn có tính cương lĩnh, bin
pháp như Ăng-ghen đã nói năm 1895 trước khi ông qua
đờ
i. Ngay phn nn tng cơ bn ca hc thuyết, biết bao
giá tr mi cn được làm phong phú thêm t nhng thành
tu ca khoa hc t nhiên đến lý lun, thc tin ca công
cuc chuyn hoá t hình thái kinh tế - xã hi đang tn ti
17
đấy, không nên quá câu n vào nhng bin pháp cách
mng nêu ra cui chương II. Đon này, ngày nay mà viết
li thì v nhiu mt, cũng phi viết khác đi. Vì đại công
nghip đã có nhng bước tiến hết sc to ln trong hai
mươi lăm năm qua và giai cp công nhân cũng đạt được
nhng tiến b song song trong vic phát trin t chc
đảng, do có nhng kinh nghim thc tin, tr
ước hết là ca
Cách mng tháng Hai, sau na và nht là ca Công xã
Pa-ri ln đầu tiên đã đem chính quyn li cho giai cp vô
sn trong hai tháng, cho nên hin nay, cương lĩnh này có
mt s đim đã cũ"
1*
.
Ngày nay mt nn văn minh mi đã xut hin và m
đường cho s phát trin vi nhp độ dn dp, làm đảo ln
tt c. Ăng-ghen đã nói: đứng trước nhng phát kiến m
ra thi đại, bn thân bin chng pháp cũng phi thay mi
hình thc ca nó, ta hiu thêm ni dung mi; tc là nn
tng khoa hc ca tư duy, vn ph
i gi vng.
Thi đại ca Mác và Ăng-ghen đã trôi qua trên mt thế
k. Nhng biến đổi ln din ra vi nhp độ chóng mt, din
mo thế gii hoàn toàn thay đổi so vi hàng triu năm trước
đây, k c thế k trước, thế k cách mng công nghip, cách
mng tư sn xoá b trt t phong kiến đã tn ti hàng
nghìn năm. Thi đại Mác, khoa hc mi đạt được ba phát
kiến ln. Ngày nay, hu như hàng ngày khoa hc đều tìm
ra nhng bí mt mi ca vũ tr và con người.
1* Xem cun này, tr. 39.
18
Có người nói rng, ngày nay con người đã biết 80% bí
mt ca vũ tr, k c thế gii vĩ mô ln vi mô. Khoa hc
đã bão hoà, vic quan trng là đưa vào cuc sng nhng
thành tu đã đạt được. Nhn xét y không phi không có
ch đúng nhưng chưa được hoc khó được chng minh.
Điu mà Mác và Ăng-ghen d báo hin nhiên đã tr thành
hin thc: trí tu
đã tr thành sc sn xut trc tiếp ca
ci vt cht và văn hoá.
Nhng nhà tương lai hc chưa ai dám d báo rng xã
hi loài người và con người s t chc nn sn xut và cuc
sng như thế nào khi ch cn my phn trăm lc lượng lao
động có th tha mãn mi nhu cu cuc sng ca c loài
ng
ười (không phi là khoa hc vin tưởng). V lý thuyết thì
có th như vy, nhưng vn đề chưa gii đáp ni là ai làm,
ai hưởng th, ai làm ch ca ci xã hi. Người ta li phi
tìm đến ông Mác, mà ông không th tr li như cách đây
hơn mt trăm năm mươi năm trước, nhưng nhng quan
nim cơ bn ca ông, thì không th bác b. Nhiu v
n đề
mi xut hin t thi đại mi cn được nghiên cu và làm
sáng t. Như chúng ta đã biết, ngay khi còn sng, các nhà
sáng lp ch nghĩa Mác đã thy nhng phn nhn định
hoc đề xut ca mình đã không phù hp vi s thay đổi
ca tình hình, nht là nhng phn có tính cương lĩnh, bin
pháp như Ăng-ghen đã nói năm 1895 trước khi ông qua
đờ
i. Ngay phn nn tng cơ bn ca hc thuyết, biết bao
giá tr mi cn được làm phong phú thêm t nhng thành
tu ca khoa hc t nhiên đến lý lun, thc tin ca công
cuc chuyn hoá t hình thái kinh tế - xã hi đang tn ti

Preview text:

Chịu trách nhiệm xuất bản và nội dung:
GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN Biên tập nội dung: TS. VÕ VĂN BÉ TS. HOÀNG MẠNH THẮNG ĐINH ÁI MINH ThS. NGUYỄN VIỆT HÀ Trình bày bìa: PHẠM DUY THÁI Chế bản vi tính: NGUYỄN THU THẢO Đọc sách mẫu: ÁI MINH BÍCH LIỄU
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: …-2021/CXBIPH/..-…/CTQG.
Số quyết định xuất bản: …-QĐ/NXBCTQG, ngày ../../2021.
Nộp lưu chiểu: tháng .. năm 2021. Mã ISBN: 978-604-57-….-..
CHÚ DẪN CỦA NHÀ XUẤT BẢN
Để phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập các
môn khoa học Mác - Lênin, tháng 6-2004, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản
với toàn văn tác phẩm và các Lời tựa của C. Mác,
Ph. Ăng-ghen viết cho các lần xuất bản bằng tiếng Đức, tiếng
Nga, tiếng Anh... tại Đức, Thụy Sĩ, Anh, Italia trước đây. Lời
giới thiệu tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản do nhà cách
mạng lão thành, nhà báo Hoàng Tùng viết.
Những trích dẫn, phiên âm tên người, địa danh, v.v. trong
cuốn sách này được dẫn theo bộ sách C. Mác và Ph. Ăng-ghen
Toàn tập
do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản.
Đáp ứng nhu cầu của bạn đọc, nhân kỷ niệm 170 năm ngày ra
đời của tác phẩm quan trọng này, Nhà xuất bản xuất bản lần thứ
ba cuốn sách Tuyên ngôn của Đảng cộng sản theo bản in năm 2004.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc. Tháng 12 năm 2017
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT 5 6
giải đáp được những vấn đề mà hai ông muốn biết đó là
nguyên nhân và giải pháp của xã hội bất công. Một là con
một luật sư, một là con một chủ tư sản; cả hai đều từ bỏ
con đường của gia đình, cống hiến cuộc đời cho nhân loại, LỜI GIỚI THIỆU
say mê nghiên cứu khoa học, tiếp xúc với quần chúng lao
động. Ngay từ khi còn ở nhà trường, hai ông đã tỏ rõ sự
thông minh, sắc sảo, học nhiều lĩnh vực, nhiều ngôn ngữ,
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, do Các Mác và Phri-
có kiến thức bách khoa, có tài làm thơ, soạn nhạc, hội họa.
đrích Ăng-ghen soạn thảo, trình bày nền tảng lý luận và
Hai người gặp nhau từ năm 1843, và đến năm 1844,
mục đích của chủ nghĩa cộng sản. Toàn bộ học thuyết
khi hai người đều viết báo và phương hướng tư tưởng đã
mang tên Mác là một công trình khoa học đồ sộ do hai ông
hình thành, sự cộng tác của hai người chính thức bắt đầu.
xây dựng trên nửa thế kỷ, từ năm 1843 đến năm 1895.
Hai ông viết chung với nhau một tác phẩm đánh dấu bước
Các Mác sinh ngày 5 tháng Năm 1818 tại thành phố Tơ-ria,
ngoặt dứt khoát về tư tưởng, đến năm 1883, khi Mác mất,
miền sông Ranh nước Phổ. Học luật học, sử học, triết học.
Ăng-ghen tiếp tục sự nghiệp của bạn mình và của mình
Năm 1841, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ triết học. đến cuối năm 1895.
Không muốn nhận chức phó giáo sư ở trường đại học Bon vì
Phát kiến cơ bản của Mác và Ăng-ghen về chủ nghĩa
trường này lạc hậu, đã bãi chức giáo sư của Phoiơbắc là một
duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, bản chất
nhà triết học lỗi lạc. Ông làm nghề viết báo để phục vụ lẽ
của chủ nghĩa tư bản, nền tảng tư tưởng khoa học của học
phải, phục vụ con người.
thuyết cộng sản chủ nghĩa đã được xác định trong những
Phri-đrích Ăng-ghen sinh ngày 28 tháng Mười một 1820 năm 40 của thế kỷ XIX.
ở Bácmen nước Phổ, cách quê Mác không xa. Học gần xong
Thời đại của Mác và Ăng-ghen, cũng tức là thời đại
trường trung học, phải chuyển sang học nghề kinh doanh
xuất hiện và truyền bá học thuyết Mác. Từ những năm
theo nghiệp nhà. Đến tuổi phải làm nghĩa vụ quân sự,
1840 đến những năm 1890, là giai đoạn đầu chủ nghĩa tư
đóng ở Béclin, ông xin học dự thính trường đại học mang
bản lần lượt xuất hiện ở mấy nước châu Âu và Bắc Mỹ.
tên thành phố mà Mác đã học.
Cách mạng tư sản Anh năm 1646, cách mạng Mỹ năm
Không hẹn mà nên, cả Mác và Ăng-ghen đều ham mê
1776, cách mạng Pháp năm 1789... cũng là giai đoạn đầu
triết học và tham gia phái tả của chủ nghĩa Hêghen rồi
của cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất với sự ra đời
cùng nghiên cứu say mê Phoiơbắc nhưng cả hai đều chưa
của máy hơi nước đầu tiên năm 1785. Cuộc cách mạng 7 8
giải đáp được những vấn đề mà hai ông muốn biết đó là
nguyên nhân và giải pháp của xã hội bất công. Một là con
một luật sư, một là con một chủ tư sản; cả hai đều từ bỏ
con đường của gia đình, cống hiến cuộc đời cho nhân loại, LỜI GIỚI THIỆU
say mê nghiên cứu khoa học, tiếp xúc với quần chúng lao
động. Ngay từ khi còn ở nhà trường, hai ông đã tỏ rõ sự
thông minh, sắc sảo, học nhiều lĩnh vực, nhiều ngôn ngữ,
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, do Các Mác và Phri-
có kiến thức bách khoa, có tài làm thơ, soạn nhạc, hội họa.
đrích Ăng-ghen soạn thảo, trình bày nền tảng lý luận và
Hai người gặp nhau từ năm 1843, và đến năm 1844,
mục đích của chủ nghĩa cộng sản. Toàn bộ học thuyết
khi hai người đều viết báo và phương hướng tư tưởng đã
mang tên Mác là một công trình khoa học đồ sộ do hai ông
hình thành, sự cộng tác của hai người chính thức bắt đầu.
xây dựng trên nửa thế kỷ, từ năm 1843 đến năm 1895.
Hai ông viết chung với nhau một tác phẩm đánh dấu bước
Các Mác sinh ngày 5 tháng Năm 1818 tại thành phố Tơ-ria,
ngoặt dứt khoát về tư tưởng, đến năm 1883, khi Mác mất,
miền sông Ranh nước Phổ. Học luật học, sử học, triết học.
Ăng-ghen tiếp tục sự nghiệp của bạn mình và của mình
Năm 1841, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ triết học. đến cuối năm 1895.
Không muốn nhận chức phó giáo sư ở trường đại học Bon vì
Phát kiến cơ bản của Mác và Ăng-ghen về chủ nghĩa
trường này lạc hậu, đã bãi chức giáo sư của Phoiơbắc là một
duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, bản chất
nhà triết học lỗi lạc. Ông làm nghề viết báo để phục vụ lẽ
của chủ nghĩa tư bản, nền tảng tư tưởng khoa học của học
phải, phục vụ con người.
thuyết cộng sản chủ nghĩa đã được xác định trong những
Phri-đrích Ăng-ghen sinh ngày 28 tháng Mười một 1820 năm 40 của thế kỷ XIX.
ở Bácmen nước Phổ, cách quê Mác không xa. Học gần xong
Thời đại của Mác và Ăng-ghen, cũng tức là thời đại
trường trung học, phải chuyển sang học nghề kinh doanh
xuất hiện và truyền bá học thuyết Mác. Từ những năm
theo nghiệp nhà. Đến tuổi phải làm nghĩa vụ quân sự,
1840 đến những năm 1890, là giai đoạn đầu chủ nghĩa tư
đóng ở Béclin, ông xin học dự thính trường đại học mang
bản lần lượt xuất hiện ở mấy nước châu Âu và Bắc Mỹ.
tên thành phố mà Mác đã học.
Cách mạng tư sản Anh năm 1646, cách mạng Mỹ năm
Không hẹn mà nên, cả Mác và Ăng-ghen đều ham mê
1776, cách mạng Pháp năm 1789... cũng là giai đoạn đầu
triết học và tham gia phái tả của chủ nghĩa Hêghen rồi
của cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất với sự ra đời
cùng nghiên cứu say mê Phoiơbắc nhưng cả hai đều chưa
của máy hơi nước đầu tiên năm 1785. Cuộc cách mạng 7 8
cơ khí kéo dài, đến thời Mác - Ăng-ghen mới được thực
Học thuyết của Các Mác và Phri-đrích Ăng-ghen ra đời
hiện rộng rãi ở mấy nước nói trên. Trong thời gian tích tụ
trong cơn khủng hoảng về xã hội và tư tưởng thời bấy giờ.
tư bản, để công nghiệp hoá, giai cấp tư sản bóc lột cực kỳ
Trực tiếp kế thừa và điều chỉnh, phát triển những đỉnh
tàn nhẫn giai cấp vô sản chính quốc, đẩy mạnh chiến
cao của triết học, tiêu biểu là triết học cổ điển Đức với hai
tranh thuộc địa, phá vỡ chế độ phong kiến ở các nước lạc
nhân vật đứng đầu là Hêghen và Phoiơbắc, của kinh tế
hậu, biến các nước này thành thuộc địa để khai thác tài
học Anh là Xmít và Ricácđô, của chủ nghĩa cộng sản, chủ
nguyên, sức lao động, mở rộng thị trường. Người da đen ở
nghĩa xã hội không tưởng tiêu biểu nhất là của Xanh -
châu Phi bị bán sang Bắc Mỹ làm nô lệ. Người bản địa
Ximông, Phuriê và Ôoen, hai nhà trí thức trẻ, xông vào
châu Mỹ, châu Úc bị đẩy lùi; đất nước họ biến thành thuộc
cuộc sống để tìm cho ra chân lý, làm rõ nguồn gốc nhận
địa của chủ nghĩa tư bản. Trữ lượng vàng to lớn ở châu Mỹ
thức của con người, nguồn gốc đau khổ, bất công xã hội.
bị khai thác. Đây là một thời kỳ căng thẳng ác liệt có tính
Bằng con đường phê phán những học thuyết đang phổ
toàn cầu: xung đột vô sản - tư sản ở nước tư bản chủ
biến, nghiên cứu khoa học, tiếp xúc, quan sát, phân tích
nghĩa, xung đột vũ trang giữa mấy nước tư bản chủ nghĩa
cuộc sống xã hội, trong ba năm 1844 đến 1847, Mác và
với phần còn lại của thế giới.
Ăng-ghen nắm được cái chìa khoá để tìm hiểu những quy
Giai cấp vô sản là lực lượng nổi bật trong xã hội tư
luật vận động của vũ trụ, xã hội, con người. Như Mác nói:
bản. Chính họ làm ra và sử dụng máy móc lại bị máy móc,
ông muốn đi xa hơn, không phải giải thích thế giới bằng
lúc đầu họ hiểu như vậy, làm cho kiệt sức điêu đứng vì lao
cách này hay cách khác, vấn đề quan trọng là cải tạo nó.
động cực nhọc, tiền lương ít ỏi. Họ nổi dậy phá máy, bãi
Phải phê phán thế giới đang tồn tại và phê phán cả bằng
công, bắt đầu chỉ ở từng nhà máy, về sau cả giai cấp đứng vũ khí.
dậy đấu tranh chống giai cấp tư sản. Đấy là hiện tượng
Từ bỏ chủ nghĩa duy tâm biện chứng của Hêghen và
mới chưa từng thấy trong lịch sử. Sự đàn áp của giai cấp
chủ nghĩa duy vật siêu hình của Phoiơbắc nhưng nhờ lĩnh
thống trị cực kỳ dã man.
hội được phần khoa học của các triết học đó, hai ông xây
Các dân tộc lớn nhỏ ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ (trừ
dựng một triết học hoàn chỉnh hoàn toàn mới, nói cách
Hoa Kỳ) đều bị thôn tính bằng vũ lực, kể cả những dân tộc
khác, đã xác lập được cơ sở khoa học của tư duy triết học -
lớn đã từng có nền văn hoá rực rỡ tỏa sáng toàn cầu như
chủ nghĩa duy vật biện chứng, tức là đạt được thành tựu
Trung Hoa, Ấn Độ, các nước Arập. Giữa lúc Tuyên ngôn của
mà loài người đã chuẩn bị mấy nghìn năm với hàng trăm
Đảng cộng sản được công bố, nước Pháp của cuộc Cách
trường phái khác nhau mà chưa thành công. Từ khoa học
mạng năm 1789, chuẩn bị tiến công xâm lược Việt Nam.
tư duy, tức là tìm ra các quy luật vận động khách quan 9 10
cơ khí kéo dài, đến thời Mác - Ăng-ghen mới được thực
Học thuyết của Các Mác và Phri-đrích Ăng-ghen ra đời
hiện rộng rãi ở mấy nước nói trên. Trong thời gian tích tụ
trong cơn khủng hoảng về xã hội và tư tưởng thời bấy giờ.
tư bản, để công nghiệp hoá, giai cấp tư sản bóc lột cực kỳ
Trực tiếp kế thừa và điều chỉnh, phát triển những đỉnh
tàn nhẫn giai cấp vô sản chính quốc, đẩy mạnh chiến
cao của triết học, tiêu biểu là triết học cổ điển Đức với hai
tranh thuộc địa, phá vỡ chế độ phong kiến ở các nước lạc
nhân vật đứng đầu là Hêghen và Phoiơbắc, của kinh tế
hậu, biến các nước này thành thuộc địa để khai thác tài
học Anh là Xmít và Ricácđô, của chủ nghĩa cộng sản, chủ
nguyên, sức lao động, mở rộng thị trường. Người da đen ở
nghĩa xã hội không tưởng tiêu biểu nhất là của Xanh -
châu Phi bị bán sang Bắc Mỹ làm nô lệ. Người bản địa
Ximông, Phuriê và Ôoen, hai nhà trí thức trẻ, xông vào
châu Mỹ, châu Úc bị đẩy lùi; đất nước họ biến thành thuộc
cuộc sống để tìm cho ra chân lý, làm rõ nguồn gốc nhận
địa của chủ nghĩa tư bản. Trữ lượng vàng to lớn ở châu Mỹ
thức của con người, nguồn gốc đau khổ, bất công xã hội.
bị khai thác. Đây là một thời kỳ căng thẳng ác liệt có tính
Bằng con đường phê phán những học thuyết đang phổ
toàn cầu: xung đột vô sản - tư sản ở nước tư bản chủ
biến, nghiên cứu khoa học, tiếp xúc, quan sát, phân tích
nghĩa, xung đột vũ trang giữa mấy nước tư bản chủ nghĩa
cuộc sống xã hội, trong ba năm 1844 đến 1847, Mác và
với phần còn lại của thế giới.
Ăng-ghen nắm được cái chìa khoá để tìm hiểu những quy
Giai cấp vô sản là lực lượng nổi bật trong xã hội tư
luật vận động của vũ trụ, xã hội, con người. Như Mác nói:
bản. Chính họ làm ra và sử dụng máy móc lại bị máy móc,
ông muốn đi xa hơn, không phải giải thích thế giới bằng
lúc đầu họ hiểu như vậy, làm cho kiệt sức điêu đứng vì lao
cách này hay cách khác, vấn đề quan trọng là cải tạo nó.
động cực nhọc, tiền lương ít ỏi. Họ nổi dậy phá máy, bãi
Phải phê phán thế giới đang tồn tại và phê phán cả bằng
công, bắt đầu chỉ ở từng nhà máy, về sau cả giai cấp đứng vũ khí.
dậy đấu tranh chống giai cấp tư sản. Đấy là hiện tượng
Từ bỏ chủ nghĩa duy tâm biện chứng của Hêghen và
mới chưa từng thấy trong lịch sử. Sự đàn áp của giai cấp
chủ nghĩa duy vật siêu hình của Phoiơbắc nhưng nhờ lĩnh
thống trị cực kỳ dã man.
hội được phần khoa học của các triết học đó, hai ông xây
Các dân tộc lớn nhỏ ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ (trừ
dựng một triết học hoàn chỉnh hoàn toàn mới, nói cách
Hoa Kỳ) đều bị thôn tính bằng vũ lực, kể cả những dân tộc
khác, đã xác lập được cơ sở khoa học của tư duy triết học -
lớn đã từng có nền văn hoá rực rỡ tỏa sáng toàn cầu như
chủ nghĩa duy vật biện chứng, tức là đạt được thành tựu
Trung Hoa, Ấn Độ, các nước Arập. Giữa lúc Tuyên ngôn của
mà loài người đã chuẩn bị mấy nghìn năm với hàng trăm
Đảng cộng sản được công bố, nước Pháp của cuộc Cách
trường phái khác nhau mà chưa thành công. Từ khoa học
mạng năm 1789, chuẩn bị tiến công xâm lược Việt Nam.
tư duy, tức là tìm ra các quy luật vận động khách quan 9 10
phổ biến của vạn vật, hai nhà sáng lập học thuyết mới
lập mối quan hệ giữa những người xã hội chủ nghĩa các
lại xác lập nền tảng khoa học cho các ngành tri thức
nước, thông báo cho nhiều người biết về phong trào xã
khác: lịch sử phát triển xã hội loài người, những quy luật
hội chủ nghĩa ở nước Đức. Trong thời gian ngắn, Ủy ban
vận động của các hình thái kinh tế, đi sâu vào hình thái
đã làm được một công việc to lớn: quy tụ được những
kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, và nhiều lĩnh vực tri
người cách mạng ở các nước Anh, Pháp, Đức; tổ chức thức khác.
được nhiều tiểu ban thông tin ở Luân Đôn, Pari, Lơ
Thay đổi thế giới là sự nghiệp cách mạng của quần
Havrơ, Côpenhagen... Ủy ban đã trở thành trung tâm tư
chúng. Những hoài bão của các nhà tư tưởng cải cách xã hội
tưởng và chính trị của phong trào cộng sản.
trước Mác, nói chung, không đề xuất những cuộc cách mạng
Trong số những tổ chức công nhân quốc tế, Mác và
của quần chúng trong những phạm vi rộng lớn của từng
Ăng-ghen đặc biệt quan tâm những công nhân Đức tập hợp
nước hoặc cả thế giới, mà bằng nhiều con đường khác nhau
trong Liên đoàn những người chính nghĩa. Hai ông chân
của từng nhóm người, không phân biệt giàu nghèo, lao động
thành giúp đỡ tổ chức này, vạch rõ khuynh hướng sai lầm
chung, hưởng thụ chung như nhau, không có hiện tượng
của nó. Cuối tháng Giêng 1847, Ủy ban lãnh đạo đồng minh
người áp bức, bóc lột người. Khi đặt tên chính đảng đầu tiên
mời hai ông gia nhập và tham gia cải tổ tổ chức này. Đại hội
của giai cấp vô sản, Mác và Ăng-ghen không dùng khái
họp tháng Sáu 1847 ở Luân Đôn, Mác và Ăng-ghen đóng
niệm xã hội chủ nghĩa vì lúc ấy các cuộc thử nghiệm của
góp những ý kiến cơ bản cho bản dự thảo điều lệ và những
Ôoen, Phuriê đã thất bại, nhiều tổ chức táp nham ra đời
tư tưởng cơ bản cho bản dự thảo Cương lĩnh. Đại hội quyết
cũng gọi là xã hội chủ nghĩa. Dùng khái niệm cộng sản chủ
định: Liên đoàn sẽ trở thành một đảng có tổ chức, dân chủ,
nghĩa, các nhà sáng lập muốn khẳng định tinh thần cải tạo
các ban lãnh đạo được lựa chọn, có trách nhiệm báo cáo và
tận gốc xã hội tư bản xác định chiều hướng phát triển của
bị bãi miễn. Đại hội hằng năm là cơ quan lãnh đạo cao
lịch sử, phác họa những nét lớn của một xã hội tương lai là
nhất. Điều lệ đòi hỏi mỗi thành viên phải tự nguyện đi theo
thành công vĩ đại của các nhà sáng lập học thuyết Mác.
chủ nghĩa cộng sản, phục tùng những nghị quyết đã được
Trong những điều kiện lịch sử lúc đó, dù là các bậc thiên
đề ra một cách dân chủ.
tài, cũng không thể đi xa hơn.
Đại hội quyết định gọi tên là Liên đoàn những người
Trong quá trình tiếp tục nghiên cứu khoa học, Mác và cộng sản.
Ăng-ghen đi vào hoạt động thực tiễn. Đầu năm 1846, cùng
Đại hội lần thứ nhất ủy quyền cho Ăng-ghen soạn thảo
với mấy người đồng chính kiến, hai ông thành lập Ủy ban
những tín điều cộng sản chủ nghĩa, gọi là Những nguyên
thông tin quốc tế ở Thủ đô Bruyxen, nước Bỉ nhằm thiết
lý của chủ nghĩa cộng sản. 11 12
phổ biến của vạn vật, hai nhà sáng lập học thuyết mới
lập mối quan hệ giữa những người xã hội chủ nghĩa các
lại xác lập nền tảng khoa học cho các ngành tri thức
nước, thông báo cho nhiều người biết về phong trào xã
khác: lịch sử phát triển xã hội loài người, những quy luật
hội chủ nghĩa ở nước Đức. Trong thời gian ngắn, Ủy ban
vận động của các hình thái kinh tế, đi sâu vào hình thái
đã làm được một công việc to lớn: quy tụ được những
kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, và nhiều lĩnh vực tri
người cách mạng ở các nước Anh, Pháp, Đức; tổ chức thức khác.
được nhiều tiểu ban thông tin ở Luân Đôn, Pari, Lơ
Thay đổi thế giới là sự nghiệp cách mạng của quần
Havrơ, Côpenhagen... Ủy ban đã trở thành trung tâm tư
chúng. Những hoài bão của các nhà tư tưởng cải cách xã hội
tưởng và chính trị của phong trào cộng sản.
trước Mác, nói chung, không đề xuất những cuộc cách mạng
Trong số những tổ chức công nhân quốc tế, Mác và
của quần chúng trong những phạm vi rộng lớn của từng
Ăng-ghen đặc biệt quan tâm những công nhân Đức tập hợp
nước hoặc cả thế giới, mà bằng nhiều con đường khác nhau
trong Liên đoàn những người chính nghĩa. Hai ông chân
của từng nhóm người, không phân biệt giàu nghèo, lao động
thành giúp đỡ tổ chức này, vạch rõ khuynh hướng sai lầm
chung, hưởng thụ chung như nhau, không có hiện tượng
của nó. Cuối tháng Giêng 1847, Ủy ban lãnh đạo đồng minh
người áp bức, bóc lột người. Khi đặt tên chính đảng đầu tiên
mời hai ông gia nhập và tham gia cải tổ tổ chức này. Đại hội
của giai cấp vô sản, Mác và Ăng-ghen không dùng khái
họp tháng Sáu 1847 ở Luân Đôn, Mác và Ăng-ghen đóng
niệm xã hội chủ nghĩa vì lúc ấy các cuộc thử nghiệm của
góp những ý kiến cơ bản cho bản dự thảo điều lệ và những
Ôoen, Phuriê đã thất bại, nhiều tổ chức táp nham ra đời
tư tưởng cơ bản cho bản dự thảo Cương lĩnh. Đại hội quyết
cũng gọi là xã hội chủ nghĩa. Dùng khái niệm cộng sản chủ
định: Liên đoàn sẽ trở thành một đảng có tổ chức, dân chủ,
nghĩa, các nhà sáng lập muốn khẳng định tinh thần cải tạo
các ban lãnh đạo được lựa chọn, có trách nhiệm báo cáo và
tận gốc xã hội tư bản xác định chiều hướng phát triển của
bị bãi miễn. Đại hội hằng năm là cơ quan lãnh đạo cao
lịch sử, phác họa những nét lớn của một xã hội tương lai là
nhất. Điều lệ đòi hỏi mỗi thành viên phải tự nguyện đi theo
thành công vĩ đại của các nhà sáng lập học thuyết Mác.
chủ nghĩa cộng sản, phục tùng những nghị quyết đã được
Trong những điều kiện lịch sử lúc đó, dù là các bậc thiên
đề ra một cách dân chủ.
tài, cũng không thể đi xa hơn.
Đại hội quyết định gọi tên là Liên đoàn những người
Trong quá trình tiếp tục nghiên cứu khoa học, Mác và cộng sản.
Ăng-ghen đi vào hoạt động thực tiễn. Đầu năm 1846, cùng
Đại hội lần thứ nhất ủy quyền cho Ăng-ghen soạn thảo
với mấy người đồng chính kiến, hai ông thành lập Ủy ban
những tín điều cộng sản chủ nghĩa, gọi là Những nguyên
thông tin quốc tế ở Thủ đô Bruyxen, nước Bỉ nhằm thiết
lý của chủ nghĩa cộng sản. 11 12
Tháng Mười một 1847, Đại hội lần thứ hai của Liên
Đúng như Mác nói: Từ trước đến nay người ta đi tìm
đoàn, cũng họp ở Luân Đôn, với sự tham gia của đại biểu
chân lý bằng cách giải thích một cách khác nhau nhưng
các nước Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Thụy Sĩ..., Mác và Ăng-ghen
chưa ai đưa ra được một giải pháp có cơ sở khoa học cải
được ủy nhiệm soạn thảo cương lĩnh để đại hội thảo luận,
tạo thế giới, chưa từng xuất hiện học thuyết nào phân
thông qua. Hai ông lại được Ủy ban ủy quyền công bố cương
tích, tổng kết những quy luật vận động của lịch sử, mổ xẻ,
lĩnh dưới hình thức một tuyên ngôn. Tháng Hai 1848, bản
khái quát xã hội tư bản chủ nghĩa từ mọi khía cạnh của
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản được xuất bản công khai
nó, và chỉ rõ những lực lượng xã hội sẽ cải tạo thế giới tư
bằng nhiều ngôn ngữ các nước châu Âu. bản chủ nghĩa.
Hoàn cảnh ra đời của chính Đảng cộng sản chủ nghĩa
Các nhà sử học truyền thống không xuất phát từ đời
hiện đại và bản Tuyên ngôn của Đảng là như thế. Lênin
sống kinh tế, xã hội để phân tích những quan hệ chính trị,
đánh giá rằng: "Cuốn sách nhỏ ấy có giá trị bằng nhiều
văn hoá. Chương I của Tuyên ngôn phân tích quan hệ giữa bộ sách".
hai giai cấp cơ bản của xã hội tư bản chủ nghĩa dưới ánh
Thật vậy, bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đã khái
sáng một quan niệm thế giới, phương pháp khoa học làm
quát những thành tựu to lớn cuộc cách mạng tư tưởng của
sáng tỏ những mâu thuẫn, những quy luật vận động của
loài người. Lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng thành văn,
hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa. Cũng dưới ánh
triết học, sử học xuất hiện một quan niệm khoa học có hệ
sáng thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng,
thống về lịch sử phát triển xã hội loài người qua các chế độ
và bằng hình thức luận chiến, làm rõ những quan niệm
chính trị, kinh tế, về những động lực của lịch sử, về quá
khác nhau về một loạt vấn đề quan trọng về lý luận và thực
trình chế độ tư bản chủ nghĩa thay thế chế độ phong kiến,
tiễn giữa khoa học và ngụy biện, chân lý và phi lý.
nhất là quá trình hình thành và những mâu thuẫn của
Những điều trọng yếu sau đây được khẳng định:
hình thái kinh tế - xã hội tư bản và nguy cơ sự tan rã tất
Những quan điểm lý luận của những người cộng sản tuyệt
yếu của nó. Tuyên ngôn là một phát đại bác cỡ lớn nã vào
nhiên không dựa trên những ý niệm, những nguyên lý do
chủ nghĩa tư bản. Còn đối với loài người, đối với khoa học,
một nhà cải cách thế giới nào đó phát minh; Những
nó đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử tư tưởng, sự
nguyên lý ấy chỉ là khái quát những điều kiện thực tại của
phát triển của trí tuệ con người. Quan niệm duy vật biện
một cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh xã hội hiện có, của
chứng, duy vật lịch sử được quán triệt sâu sắc trong toàn
một phong trào lịch sử đang diễn ra trước mắt chúng ta;
bộ tác phẩm. Phương pháp phê phán khoa học thể hiện
Việc xoá bỏ những quan hệ sở hữu đã có từ trước đến nay
sinh động từ đầu đến cuối.
không phải là đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản. 13 14
Tháng Mười một 1847, Đại hội lần thứ hai của Liên
Đúng như Mác nói: Từ trước đến nay người ta đi tìm
đoàn, cũng họp ở Luân Đôn, với sự tham gia của đại biểu
chân lý bằng cách giải thích một cách khác nhau nhưng
các nước Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Thụy Sĩ..., Mác và Ăng-ghen
chưa ai đưa ra được một giải pháp có cơ sở khoa học cải
được ủy nhiệm soạn thảo cương lĩnh để đại hội thảo luận,
tạo thế giới, chưa từng xuất hiện học thuyết nào phân
thông qua. Hai ông lại được Ủy ban ủy quyền công bố cương
tích, tổng kết những quy luật vận động của lịch sử, mổ xẻ,
lĩnh dưới hình thức một tuyên ngôn. Tháng Hai 1848, bản
khái quát xã hội tư bản chủ nghĩa từ mọi khía cạnh của
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản được xuất bản công khai
nó, và chỉ rõ những lực lượng xã hội sẽ cải tạo thế giới tư
bằng nhiều ngôn ngữ các nước châu Âu. bản chủ nghĩa.
Hoàn cảnh ra đời của chính Đảng cộng sản chủ nghĩa
Các nhà sử học truyền thống không xuất phát từ đời
hiện đại và bản Tuyên ngôn của Đảng là như thế. Lênin
sống kinh tế, xã hội để phân tích những quan hệ chính trị,
đánh giá rằng: "Cuốn sách nhỏ ấy có giá trị bằng nhiều
văn hoá. Chương I của Tuyên ngôn phân tích quan hệ giữa bộ sách".
hai giai cấp cơ bản của xã hội tư bản chủ nghĩa dưới ánh
Thật vậy, bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đã khái
sáng một quan niệm thế giới, phương pháp khoa học làm
quát những thành tựu to lớn cuộc cách mạng tư tưởng của
sáng tỏ những mâu thuẫn, những quy luật vận động của
loài người. Lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng thành văn,
hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa. Cũng dưới ánh
triết học, sử học xuất hiện một quan niệm khoa học có hệ
sáng thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng,
thống về lịch sử phát triển xã hội loài người qua các chế độ
và bằng hình thức luận chiến, làm rõ những quan niệm
chính trị, kinh tế, về những động lực của lịch sử, về quá
khác nhau về một loạt vấn đề quan trọng về lý luận và thực
trình chế độ tư bản chủ nghĩa thay thế chế độ phong kiến,
tiễn giữa khoa học và ngụy biện, chân lý và phi lý.
nhất là quá trình hình thành và những mâu thuẫn của
Những điều trọng yếu sau đây được khẳng định:
hình thái kinh tế - xã hội tư bản và nguy cơ sự tan rã tất
Những quan điểm lý luận của những người cộng sản tuyệt
yếu của nó. Tuyên ngôn là một phát đại bác cỡ lớn nã vào
nhiên không dựa trên những ý niệm, những nguyên lý do
chủ nghĩa tư bản. Còn đối với loài người, đối với khoa học,
một nhà cải cách thế giới nào đó phát minh; Những
nó đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử tư tưởng, sự
nguyên lý ấy chỉ là khái quát những điều kiện thực tại của
phát triển của trí tuệ con người. Quan niệm duy vật biện
một cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh xã hội hiện có, của
chứng, duy vật lịch sử được quán triệt sâu sắc trong toàn
một phong trào lịch sử đang diễn ra trước mắt chúng ta;
bộ tác phẩm. Phương pháp phê phán khoa học thể hiện
Việc xoá bỏ những quan hệ sở hữu đã có từ trước đến nay
sinh động từ đầu đến cuối.
không phải là đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản. 13 14
Chế độ sở hữu trải qua những thay đổi liên tiếp, những
Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối
cải biến liên tiếp trong lịch sử. Cách mạng Pháp chẳng
kháng giai cấp của nó, xuất hiện một liên hiệp, trong đó
hạn, đã xoá bỏ chế độ sở hữu phong kiến, để thay bằng chế
"sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự
độ sở hữu tư sản. Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không
phát triển tự do của tất cả mọi người"1*. Đó là tóm tắt
phải là xoá bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xoá bỏ chế
những nguyên tắc quan trọng nhất nội dung học thuyết
độ sở hữu tư sản. Nhưng chế độ tư hữu hiện thời, chế độ sở
cách mạng cộng sản chủ nghĩa khoa học. Và bản Tuyên
hữu tư sản lại là biểu hiện cuối cùng và hoàn bị nhất của
ngôn cũng có thể gọi là tuyên ngôn khoa học và cách mạng
phương thức sản xuất và chiếm hữu dựa trên cơ sở những
lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử loài người.
đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột
Mác và Ăng-ghen nhiều lần nói với chúng ta rằng, học
những người kia! (hoặc thiểu số bóc lột đa số - chú thích
thuyết khoa học của hai ông không bao giờ là chân lý
năm 1888 của Ăng-ghen) và do trình độ kỹ thuật sản xuất
muôn thuở. Chân lý chỉ có trong cuộc sống thường xuyên
quyết định như Mác nói: cái máy xay gió đẻ ra chế độ
vận động như nước không ngừng chảy, mây không ngừng
phong kiến, cái máy hơi nước đẻ ra chế độ tư bản...
trôi, chỉ có chân lý ấy là không bao giờ thay đổi. Có người
"Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả năng
hỏi ông về xã hội tương lai, ông nói: những con người của
chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản
ngày mai sẽ không ngốc nghếch như chúng tôi và các anh.
chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao
Mác và Ăng-ghen nhiều lần viết lời tựa cho các lần
động của người khác {...}. Hãy xoá bỏ tình trạng người bóc
xuất bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. Trong lời tựa
lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác
viết năm 1872 cho bản tiếng Đức, hai ông viết: "Mặc dầu cũng sẽ bị xoá bỏ"1*.
hoàn cảnh đã thay đổi nhiều trong hai mươi lăm năm qua,
Và hay biết bao khi nói về quyền lực nhà nước:
nhưng cho đến nay, xét về đại thể, những nguyên lý tổng
"Khi những đối kháng giai cấp đã mất đi trong tiến
quát trình bày trong "Tuyên ngôn" này vẫn còn hoàn toàn
trình của sự phát triển và toàn bộ sản xuất đã tập trung
đúng. Ở đôi chỗ, có một vài chi tiết cần phải xem lại.
trong tay những cá nhân đã liên hợp lại với nhau, thì quyền
Chính ngay "Tuyên ngôn" cũng đã giải thích rõ rằng bất
lực công cộng cũng mất tính chất chính trị của nó"2*.
cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý
đó cũng phải tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do
1* Xem cuốn này, tr. 103-104, 108. 2* Xem cuốn này, tr.112. 1* Xem cuốn này, tr. 113. 15 16
Chế độ sở hữu trải qua những thay đổi liên tiếp, những
Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối
cải biến liên tiếp trong lịch sử. Cách mạng Pháp chẳng
kháng giai cấp của nó, xuất hiện một liên hiệp, trong đó
hạn, đã xoá bỏ chế độ sở hữu phong kiến, để thay bằng chế
"sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự
độ sở hữu tư sản. Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không
phát triển tự do của tất cả mọi người"1*. Đó là tóm tắt
phải là xoá bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xoá bỏ chế
những nguyên tắc quan trọng nhất nội dung học thuyết
độ sở hữu tư sản. Nhưng chế độ tư hữu hiện thời, chế độ sở
cách mạng cộng sản chủ nghĩa khoa học. Và bản Tuyên
hữu tư sản lại là biểu hiện cuối cùng và hoàn bị nhất của
ngôn cũng có thể gọi là tuyên ngôn khoa học và cách mạng
phương thức sản xuất và chiếm hữu dựa trên cơ sở những
lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử loài người.
đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột
Mác và Ăng-ghen nhiều lần nói với chúng ta rằng, học
những người kia! (hoặc thiểu số bóc lột đa số - chú thích
thuyết khoa học của hai ông không bao giờ là chân lý
năm 1888 của Ăng-ghen) và do trình độ kỹ thuật sản xuất
muôn thuở. Chân lý chỉ có trong cuộc sống thường xuyên
quyết định như Mác nói: cái máy xay gió đẻ ra chế độ
vận động như nước không ngừng chảy, mây không ngừng
phong kiến, cái máy hơi nước đẻ ra chế độ tư bản...
trôi, chỉ có chân lý ấy là không bao giờ thay đổi. Có người
"Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả năng
hỏi ông về xã hội tương lai, ông nói: những con người của
chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản
ngày mai sẽ không ngốc nghếch như chúng tôi và các anh.
chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao
Mác và Ăng-ghen nhiều lần viết lời tựa cho các lần
động của người khác {...}. Hãy xoá bỏ tình trạng người bóc
xuất bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. Trong lời tựa
lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác
viết năm 1872 cho bản tiếng Đức, hai ông viết: "Mặc dầu cũng sẽ bị xoá bỏ"1*.
hoàn cảnh đã thay đổi nhiều trong hai mươi lăm năm qua,
Và hay biết bao khi nói về quyền lực nhà nước:
nhưng cho đến nay, xét về đại thể, những nguyên lý tổng
"Khi những đối kháng giai cấp đã mất đi trong tiến
quát trình bày trong "Tuyên ngôn" này vẫn còn hoàn toàn
trình của sự phát triển và toàn bộ sản xuất đã tập trung
đúng. Ở đôi chỗ, có một vài chi tiết cần phải xem lại.
trong tay những cá nhân đã liên hợp lại với nhau, thì quyền
Chính ngay "Tuyên ngôn" cũng đã giải thích rõ rằng bất
lực công cộng cũng mất tính chất chính trị của nó"2*.
cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý
đó cũng phải tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do
1* Xem cuốn này, tr. 103-104, 108. 2* Xem cuốn này, tr.112. 1* Xem cuốn này, tr. 113. 15 16
đấy, không nên quá câu nệ vào những biện pháp cách
Có người nói rằng, ngày nay con người đã biết 80% bí
mạng nêu ra ở cuối chương II. Đoạn này, ngày nay mà viết
mật của vũ trụ, kể cả thế giới vĩ mô lẫn vi mô. Khoa học
lại thì về nhiều mặt, cũng phải viết khác đi. Vì đại công
đã bão hoà, việc quan trọng là đưa vào cuộc sống những
nghiệp đã có những bước tiến hết sức to lớn trong hai
thành tựu đã đạt được. Nhận xét ấy không phải không có
mươi lăm năm qua và giai cấp công nhân cũng đạt được
chỗ đúng nhưng chưa được hoặc khó được chứng minh.
những tiến bộ song song trong việc phát triển tổ chức
Điều mà Mác và Ăng-ghen dự báo hiển nhiên đã trở thành
đảng, do có những kinh nghiệm thực tiễn, trước hết là của
hiện thực: trí tuệ đã trở thành sức sản xuất trực tiếp của
Cách mạng tháng Hai, sau nữa và nhất là của Công xã
cải vật chất và văn hoá.
Pa-ri lần đầu tiên đã đem chính quyền lại cho giai cấp vô
Những nhà tương lai học chưa ai dám dự báo rằng xã
sản trong hai tháng, cho nên hiện nay, cương lĩnh này có
hội loài người và con người sẽ tổ chức nền sản xuất và cuộc
một số điểm đã cũ"1*.
sống như thế nào khi chỉ cần mấy phần trăm lực lượng lao
Ngày nay một nền văn minh mới đã xuất hiện và mở
động có thể thỏa mãn mọi nhu cầu cuộc sống của cả loài
đường cho sự phát triển với nhịp độ dồn dập, làm đảo lộn
người (không phải là khoa học viễn tưởng). Về lý thuyết thì
tất cả. Ăng-ghen đã nói: đứng trước những phát kiến mở
có thể như vậy, nhưng vấn đề chưa giải đáp nổi là ai làm,
ra thời đại, bản thân biện chứng pháp cũng phải thay mới
ai hưởng thụ, ai làm chủ của cải xã hội. Người ta lại phải
hình thức của nó, ta hiểu thêm nội dung mới; tức là nền
tìm đến ông Mác, mà ông không thể trả lời như cách đây
tảng khoa học của tư duy, vẫn phải giữ vững.
hơn một trăm năm mươi năm trước, nhưng những quan
Thời đại của Mác và Ăng-ghen đã trôi qua trên một thế
niệm cơ bản của ông, thì không thể bác bỏ. Nhiều vấn đề
kỷ. Những biến đổi lớn diễn ra với nhịp độ chóng mặt, diện
mới xuất hiện từ thời đại mới cần được nghiên cứu và làm
mạo thế giới hoàn toàn thay đổi so với hàng triệu năm trước
sáng tỏ. Như chúng ta đã biết, ngay khi còn sống, các nhà
đây, kể cả thế kỷ trước, thế kỷ cách mạng công nghiệp, cách
sáng lập chủ nghĩa Mác đã thấy những phần nhận định
mạng tư sản xoá bỏ trật tự phong kiến đã tồn tại hàng
hoặc đề xuất của mình đã không phù hợp với sự thay đổi
nghìn năm. Thời đại Mác, khoa học mới đạt được ba phát
của tình hình, nhất là những phần có tính cương lĩnh, biện
kiến lớn. Ngày nay, hầu như hàng ngày khoa học đều tìm
pháp như Ăng-ghen đã nói năm 1895 trước khi ông qua
ra những bí mật mới của vũ trụ và con người.
đời. Ngay phần nền tảng cơ bản của học thuyết, biết bao
giá trị mới cần được làm phong phú thêm từ những thành
tựu của khoa học tự nhiên đến lý luận, thực tiễn của công 1* Xem cuốn này, tr. 39.
cuộc chuyển hoá từ hình thái kinh tế - xã hội đang tồn tại 17 18
đấy, không nên quá câu nệ vào những biện pháp cách
Có người nói rằng, ngày nay con người đã biết 80% bí
mạng nêu ra ở cuối chương II. Đoạn này, ngày nay mà viết
mật của vũ trụ, kể cả thế giới vĩ mô lẫn vi mô. Khoa học
lại thì về nhiều mặt, cũng phải viết khác đi. Vì đại công
đã bão hoà, việc quan trọng là đưa vào cuộc sống những
nghiệp đã có những bước tiến hết sức to lớn trong hai
thành tựu đã đạt được. Nhận xét ấy không phải không có
mươi lăm năm qua và giai cấp công nhân cũng đạt được
chỗ đúng nhưng chưa được hoặc khó được chứng minh.
những tiến bộ song song trong việc phát triển tổ chức
Điều mà Mác và Ăng-ghen dự báo hiển nhiên đã trở thành
đảng, do có những kinh nghiệm thực tiễn, trước hết là của
hiện thực: trí tuệ đã trở thành sức sản xuất trực tiếp của
Cách mạng tháng Hai, sau nữa và nhất là của Công xã
cải vật chất và văn hoá.
Pa-ri lần đầu tiên đã đem chính quyền lại cho giai cấp vô
Những nhà tương lai học chưa ai dám dự báo rằng xã
sản trong hai tháng, cho nên hiện nay, cương lĩnh này có
hội loài người và con người sẽ tổ chức nền sản xuất và cuộc
một số điểm đã cũ"1*.
sống như thế nào khi chỉ cần mấy phần trăm lực lượng lao
Ngày nay một nền văn minh mới đã xuất hiện và mở
động có thể thỏa mãn mọi nhu cầu cuộc sống của cả loài
đường cho sự phát triển với nhịp độ dồn dập, làm đảo lộn
người (không phải là khoa học viễn tưởng). Về lý thuyết thì
tất cả. Ăng-ghen đã nói: đứng trước những phát kiến mở
có thể như vậy, nhưng vấn đề chưa giải đáp nổi là ai làm,
ra thời đại, bản thân biện chứng pháp cũng phải thay mới
ai hưởng thụ, ai làm chủ của cải xã hội. Người ta lại phải
hình thức của nó, ta hiểu thêm nội dung mới; tức là nền
tìm đến ông Mác, mà ông không thể trả lời như cách đây
tảng khoa học của tư duy, vẫn phải giữ vững.
hơn một trăm năm mươi năm trước, nhưng những quan
Thời đại của Mác và Ăng-ghen đã trôi qua trên một thế
niệm cơ bản của ông, thì không thể bác bỏ. Nhiều vấn đề
kỷ. Những biến đổi lớn diễn ra với nhịp độ chóng mặt, diện
mới xuất hiện từ thời đại mới cần được nghiên cứu và làm
mạo thế giới hoàn toàn thay đổi so với hàng triệu năm trước
sáng tỏ. Như chúng ta đã biết, ngay khi còn sống, các nhà
đây, kể cả thế kỷ trước, thế kỷ cách mạng công nghiệp, cách
sáng lập chủ nghĩa Mác đã thấy những phần nhận định
mạng tư sản xoá bỏ trật tự phong kiến đã tồn tại hàng
hoặc đề xuất của mình đã không phù hợp với sự thay đổi
nghìn năm. Thời đại Mác, khoa học mới đạt được ba phát
của tình hình, nhất là những phần có tính cương lĩnh, biện
kiến lớn. Ngày nay, hầu như hàng ngày khoa học đều tìm
pháp như Ăng-ghen đã nói năm 1895 trước khi ông qua
ra những bí mật mới của vũ trụ và con người.
đời. Ngay phần nền tảng cơ bản của học thuyết, biết bao
giá trị mới cần được làm phong phú thêm từ những thành
tựu của khoa học tự nhiên đến lý luận, thực tiễn của công 1* Xem cuốn này, tr. 39.
cuộc chuyển hoá từ hình thái kinh tế - xã hội đang tồn tại 17 18