



















Preview text:
ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
VIỆN KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN THẢO LUẬN
‘‘ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN 2021-2023’’
Giảng viên: Lê Thị Kim Nhung Nguyễn Minh Hiền
Bộ môn: Nhập môn tài chính tiền tệ LHP: 241_EFIN2811_07 Nhóm: 9 HÀ NỘI, 2024 DANH SÁCH THÀNH VIÊN STT MSV HỌ VÀ TÊN NHIỆM VỤ ĐÁNH GIÁ KÍ TÊN 1 23D150123 Phạm Yến Nhi 1.1 1.2.3 2 23D150033 Nguyễn Thị Nhung 2.1 Thuyết trình 3 23D150124 Nguyễn Thị Như Mở đầu Kết luận Word 4 23D150168
Nguyễn Thị Phương Oanh 1.4.1 1.4.2 5 23D150125 Hoàng Thị Phương 1.2.1 1.2.2 Thuyết trình 6 23D150126 Nông Thu Phương 2.2.1 2.2.2 Power Point 7 21D300179 Nguyễn Thị Hải Phượng 1.4.3 2.2.3 8 23D150127 Hà Minh Quang 3.1 3.2 Power Point 9 23D150170 Âu Thị Quế 2.3 10 21D107127 Trần Văn Quyết 1.3
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC
BIÊN BẢN HỌP NHÓM LẦN 1 - NHÓM 9
Thời gian: Từ 10:00-12:00 ngày 19/09/2024 Địa điểm: Zalo
Tham gia: 10/10 thành viên
Nội dung cuộc họp: Thảo luận về các vấn đề chính của đề tài
“Vai trò của bảo hiểm ở Việt Nam trong giai đoạn 2021-2023’’
Kết quả: Hình thành được dàn bài, các ý lớn của đề tài
Nhóm trưởng (Đã kí) Thư kí (Đã kí) Oanh Như
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC
BIÊN BẢN HỌP NHÓM LẦN 2 - NHÓM 9
Thời gian: Từ 20:00-22:00 ngày 19/09/2024 Địa điểm: Zalo
Tham gia: 10/10 thành viên
Nội dung cuộc họp: Mỗi thành viên trong nhóm tiến hành nhận nhiệm vụ làm nội dung,
word, powerpoint của đề tài
Kết quả: Ổn định nhiệm vụ và thành viên tiến hành nghiên cứu phần nhiệm vụ được giao
Nhóm trưởng (Đã kí) Thư kí (Đã kí) Oanh Như MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................................................1
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM.............................................................2
1.1 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm.................................................................................2
1.2 Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm..................................................................................3
1.2.1 Khái niệm về bảo hiểm...............................................................................................3
1.2.2 Đặc điểm của bảo hiểm...............................................................................................3
1.2.3 Các loại hình bảo hiểm phổ biến................................................................................5
1.3 Hình thức và đối tượng áp dụng bảo hiểm...........................................................................6
1.3.1 Các hình thức bảo hiểm..............................................................................................6
a) Căn cứ vào phương thức xử lý rủi ro........................................................................6
b) Căn cứ vào mục đích hoạt động...............................................................................6
1.3.2 Đối tượng bảo hiểm....................................................................................................7
a) Đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm thương mại........................................................7
b) Đối tượng bảo hiểm của hiểm xã hội.......................................................................8
1.4 Vai trò của bảo hiểm............................................................................................................8
1.4.1 Bảo hiểm góp phần ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống con người..................8
1.4.2 Bảo hiểm góp phần phòng tránh hạn chế rủi ro tổn thất.............................................9
1.4.3. Bảo hiểm góp phần cung ứng vốn cho phát triển KT-XH.......................................10
CHƯƠNG 2. VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2021-2023........10
2.1.Thực trạng thị trường bảo hiểm ở Việt Nam giai đoạn 2021-2023.....................................10
2.2.Vai trò của bảo hiểm đối với nền KT-XH Việt Nam giai đoạn 2021-2023........................16
2.2.1 Bảo hiểm góp phần ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống con người................16
2.2.2 Bảo hiểm góp phần phòng tránh hạn chế rủi ro tổn thất...........................................17
2.2.3 Bảo hiểm góp phần cung ứng vốn cho phát triển KT-XH........................................18
2.3. Đánh giá việc phát huy vai trò của bảo hiểm ở Việt Nam trong giai đoạn 2021-2023......19
2.3.1 Những thành công.....................................................................................................19
2.3.2 Những hạn chế..........................................................................................................21
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM
VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI...............................................................................22
3.1. Định hướng phát triển thị trường bảo hiểm ở Việt Nam....................................................22
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của bảo hiểm ở Việt Nam.......................................23
KẾT LUẬN..............................................................................................................................25
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................25 LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhanh chóng và hội nhập
sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, bảo hiểm trở thành một công cụ quan trọng để giảm
thiểu rủi ro và đảm bảo sự ổn định tài chính cho cả cá nhân, doanh nghiệp và toàn xã
hội. Các rủi ro về sức khỏe, tai nạn, thiên tai, hỏa hoạn và biến động kinh tế có thể xảy
ra bất cứ lúc nào, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và hoạt động sản xuất.
Trong tình huống đó, bảo hiểm không chỉ là công cụ chia sẻ và phân tán rủi ro, mà còn
đóng vai trò như một yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững
Việt Nam đang chứng kiến sự gia tăng nhận thức về bảo hiểm với sự phát triển của
các loại hình bảo hiểm như bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã
hội, và bảo hiểm doanh nghiệp. Tuy nhiên, tỷ lệ người dân và doanh nghiệp tham gia
bảo hiểm vẫn còn thấp so với tiềm năng. Nguyên nhân xuất phát từ nhiều yếu tố như sự
thiếu hiểu biết về lợi ích của bảo hiểm, mức độ phát triển của thị trường chưa đồng đều,
và một số hạn chế trong chính sách quản lý và giám sát
Do đó, việc nghiên cứu vai trò của bảo hiểm và xác định tầm quan trọng của nó
trong bối cảnh Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết. Đề tài này không chỉ giúp làm rõ
những lợi ích mà bảo hiểm mang lại, mà còn cung cấp cơ sở cho việc cải thiện chính
sách, tăng cường sự tham gia của người dân và doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy sự
phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm Việt Nam.
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM
1.1 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm
Trong đời sống xã hội, các chủ thể thường xuyên có mối quan hệ tác động qua
lại với tự nhiên và xã hội để tạo ra những sản phẩm, những giá trị cần thiết cho sự tồn
tại và phát triển của mình. Trong quá trình đó, những biến cố bất lợi xảy ra gây tổn
thất, thiệt hại cho quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống con người được gọi là những rủi ro.
Các rủi ro có thể xảy ra đối với các chủ thể trong nền kinh tế bao gồm: •
Đối với đời sống dân cư
Trong cuộc sống, con người vẫn phải phụ thuộc vào thiên nhiên. Sự biến đổi
của tự nhiên thường làm cho con người gặp phải những rủi ro khó lường trước như bão
lụt, hạn hán, động đất, hỏa hoạn, sóng thần... Mặc dù họ đã thực hiện các biện pháp
phòng chống, bảo vệ bằng cách đắp đê chống lụt, xây dựng hệ thống thủy nông, dự
báo thời tiết... nhưng các biến cố bất lợi đó vẫn có thể xảy ra và gây tổn thất thiệt hại.
Khi xảy ra các thiệt hại, họ phải tìm cách khắc phục thiệt hại, ổn định đời sống bằng
các biện pháp khác nhau như đi vay, xin cứu trợ, ... nhưng các biện pháp này có nhiều
hạn chế và mang tính tạm thời. Vì vậy, song song với các biện pháp phòng tránh rủi
ro, một biện pháp hữu hiệu là con người dành một phần thu nhập từ lao động của mình
tích lũy, đóng góp hình thành quỹ tiền tệ đủ lớn để có thể bù đắp kịp thời những thiệt
hại khi rủi ro xảy ra nhằm ổn định cuộc sống.
Ngoài ra, trong quá trình lao động sản xuất, con người có thể gặp phải những
rủi ro khách quan mang tính chất xã hội như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp... làm cho họ mất khả năng lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn, làm giảm
hoặc mất đi thu nhập của họ. Khi đó, họ cần có nguồn tài chính để bù đắp phần thu
nhập bị giảm và trang trải các chi phí phát sinh nhằm ổn định cuộc sống bản thân, gia
đình người lao động. Nhận thức được vấn đề này, từng cá nhân đã dành một phần thu
nhập của mình để lập nên quỹ dự trữ bảo hiểm. •
Đối với các đơn vị sản xuất, kinh doanh:
Các hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế cũng
luôn tiềm ẩn các rủi ro khó lường. Sự biến đổi bất lợi của tự nhiên như bão lụt, động
đất, sóng thần... có thể làm cho sản xuất ngưng trệ, gây tổn thất thiệt hại đến tài sản
của các chủ thể kinh doanh. Mặt khác, các hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ
thể còn chịu tác động của các rủi ro khác như mất trộm, mất cắp, tai nạn lao động, tai
nạn giao thông, ...Khi đó, cũng đòi hỏi phải có biện pháp tài chính để phòng ngừa và
bù đắp những tổn thất thiệt hại để ổn định sản xuất kinh doanh.
Ngoài các rủi ro mang tính chất tự nhiên và xã hội, các chủ thể kinh doanh còn
chịu tác động bởi các quy luật kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường như:
Quy luật giá cả, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Các quy luật này có thể mang 2
đến những cơ hội kinh doanh nhưng cũng có thể tiềm ẩn các rủi ro. Do đó cần thiết
phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa tài chính dưới các hình thức lập quỹ dự
phòng, tham gia các hình thức bảo hiểm. •
Đối với Nhà nước:
Để thực hiện chức năng của Nhà nước là phát triển kinh tế và ổn định xã hội thì
nhà nước phải có quỹ dự trữ để đảm bảo vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước
sẽ dùng quỹ này để can thiệp vào nền kinh tế mỗi khi có sự biến động bất lợi cho nền
kinh tế vĩ mô. Như vậy, sự tồn tại của bảo hiểm là một tất yếu khách quan đối với vai
trò quản lý vĩ mô của nhà nước.
Như vậy, việc tạo lập và sử dụng quỹ dự trữ bảo hiểm là một nhu cầu tất yếu,
nhằm phòng ngừa tạo nguồn bù đắp tổn thất và đảm bảo cho nền kinh tế - xã hội phát
triển bình thường trong điều kiện có những biến cố bất lợi xảy ra. Người ta thường ví
cuộc sống không có bảo hiểm giống như "cầu thang không có tay vịn". Bảo hiểm đã
thực sự đi vào từng lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội với các sản phẩm hết sức
phong phú, đa dạng. Ban đầu, các hoạt động bảo hiểm ra đời chủ yếu là do nhu cầu ổn
định sản xuất kinh doanh và đời sống con người, với chức năng chủ yếu là phòng
ngừa, tạo nguồn tài chính để khắc phục những rủi ro hoặc tai nạn bất ngờ. Ngày nay,
các tổ chức bảo hiểm còn hoạt động với vai trò như một tổ chức tài chính trung gian,
thực hiện chức năng thu hút các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội, góp phần đáp ứng
nhu cầu vốn của nền kinh tế.
1.2 Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm
1.2.1 Khái niệm về bảo hiểm
Bảo hiểm là phương thức xử lý rủi ro thông qua việc dự trữ để phòng rủi ro,
chuyển giao, phân tán rủi ro nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất và đời sống của
con người trong xã hội được diễn ra bình thường.
Bảo hiểm là một phạm trù tài chính gắn liền với các quan hệ kinh tế phát sinh
trong quá trình hình thành phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm. Các quan hệ phân phối
này dựa trên cơ sở ngang bằng giữa trách nhiệm và quyền lợi, nhân đạo vì lợi ích cuộc
sống và hoạt động kinh tế- xã hội của con người, góp phần ổn định sản xuất kinh
doanh và đời sống xã hội.
Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn với quá trình hình thành, phân phối và
sử dụng quỹ bảo hiểm nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố bảo hiểm, đảm bảo cho quá
trình tái sản xuất và đời sống của xã hội diễn ra bình thường.
=> Bảo hiểm là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá
trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm nhằm đảm bảo cho quá trình tái
sản xuất và đời sống của con người trong xã hội được ổn định và phát triển bình
thường trong điều kiện có những biến cố bất lợi xảy ra.
1.2.2 Đặc điểm của bảo hiểm 3
a) Bảo hiểm là một hình thức dự trữ tài chính nhằm bù đắp và khắc phục những
tổn thất thiệt hại đối với sản xuất kinh doanh và đời sống con người khi những
biến cố bất lợi xảy ra
Bảo hiểm đóng vai trò là một phương thức lập quỹ tiền tệ (quỹ bảo hiểm) để bù
đắp những thiệt hại do rủi ro (thiên tai, tai nạn...) hoặc do các sự kiện liên quan đến đời
sống con người (sự kiện chết, ốm đau...). Hình thức sơ khai của bảo hiểm mang tính
cộng đồng là lập quỹ tương trợ. Quỹ này do những người có quan hệ nghề nghiệp lập
ra để,giúp đỡ thành viên gặp rủi ro.
Hơn 4.000 năm trước Công nguyên, các thợ đá ở Ai Cập, các thương nhân
Trung Quốc đã biết liên kết cộng đồng để bảo hiểm thông qua việc lập các quỹ tương
trợ. Hình thức bảo hiểm nhằm mục đích thương mại đầu tiên xuất hiện ở Babylon vào
khoảng 1.700 năm trước Công nguyên. Khác với phương thức tổ chức và hoạt động
của các quỹ tương trợ, bảo hiểm nhằm mục đích thương mại, do các tổ chức chuyên
nghiệp thực hiện. Cùng với sự ra đời của các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp, phương
thức và kĩ thuật thực hiện kinh doanh bảo hiểm cũng ngày càng phát triển.
Ở Italia, Tây Ban Nha đầu thế kỉ XIV các bản hợp đồng hàng hải đã được thiết
lập. Ở Anh, từ cuối thế kỉ XVII bảo hiểm hàng hải được thực hiện như một nghiệp vụ
kinh doanh và đến đầu thế kỉ XVIII, nhiều nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm mới ra đời
như bảo hiểm hoả hoạn (cùng với sự phát triển các đô thị ở thế kỉ XVIII), bảo hiểm thân thể...
Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã thúc đẩy kinh doanh bảo hiểm
trở thành ngành kinh doanh dịch vụ với nhiều loại hình bảo hiểm (có tới 100 và được
chia thành ba loại lớn: bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm) và
mang lại lợi nhuận khổng lồ cho các nhà tư bản.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện
nguyên tắc nhà nước độc quyền kinh doanh bảo hiểm nên hoạt động bảo hiểm mang
tính thương mại gọi là bảo hiểm nhà nước. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhà
nước cho phép các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh kinh doanh bảo hiểm, do đó,
hoạt động kinh doanh bảo hiểm không thuần tuý mang tính nhà nước như trước. Hợp
đồng bảo hiểm được ký kết giữa bên bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm. Bên bảo
hiểm là bên nhận phí bảo hiểm và có trách nhiệm chỉ trả tiền bảo hiểm hoặc đền bù vật
chất bị tổn thất khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
b) Bảo hiểm vừa mang tính chất bồi hoàn vừa mang tính chất không bồi hoàn
Trong thời gian bảo hiểm, không có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì doanh nghiệp
bảo hiểm không phải trả tiền hay bồi thường bảo hiểm. Nếu có sự kiện bảo hiểm xảy
ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền hoặc bồi thường bảo hiểm.
Do tính bất ngờ của rủi ro bảo hiểm cả không gian, thời gian và quy mô nên
doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng các quỹ dự phòng để thực hiện cam kết của 4
mình trước bên tham gia bảo hiểm; Quỹ này được sử dụng để tham gia đầu tư tuy
nhiên bảo đảm tính thanh khoản cao; Số tiền bồi thường bảo hiểm trong một hợp đồng
nếu có thường rất lớn, lớn hơn nhiều lần số phí mà người tham gia bảo hiểm đã đóng.
(Do lợi ích các bên có xung đột trực diện thường xảy ra tranh chấp trong thực hiện hợp đồng).
Vì thế có thể dẫn đến các trường hợp trục lợi bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm
muốn bảo đảm và ổn định nguồn tài chính cho việc bù đắp tổn thất trong hoạt động
bảo hiểm thì phải thực hiện tốt nguyên tắc lấy số đông bù cho số ít; Trong trường hợp
có hợp đồng có giá trị lớn hoặc đối tượng bảo hiểm có nguy cơ dẫn đến rủi ro cao thì
doanh nghiệp bảo hiểm phải thực các biện pháp phân tán rủi ro như đồng bảo hiểm, tái
bảo hiểm; mặt khác để giảm bớt chi phí bồi thường các doanh nghiệp bảo hiểm phải
tăng cường các biện pháp đề phòng, ngăn ngừa và hạn chế tổn thất bảo hiểm.
1.2.3 Các loại hình bảo hiểm phổ biến
Trong cuộc sống ngày nay, bảo hiểm đã trở thành một phần không thể thiếu
trong việc quản lý rủi ro, bảo vệ cuộc sống và tài chính của con người. Với sự tăng
trưởng nhanh chóng của nền kinh tế, nhu cầu về bảo hiểm cũng gia tăng đáng kể. Hiện
nay, có rất nhiều loại hình bảo hiểm phổ biến, mỗi loại được thiết kế để phục vụ những
nhu cầu khác nhau của người dùng. Với sự đa dạng của các loại hình bảo hiểm hiện
có, việc hiểu rõ và lựa chọn đúng loại hình phù hợp với nhu cầu cá nhân là rất quan
trọng. Điều này không chỉ giúp bảo vệ tài sản và sức khỏe mà còn tạo ra sự an tâm và
ổn định trong cuộc sống. Dưới đây là một cái nhìn tổng quan về những loại hình bảo
hiểm phổ biến hiện nay.
Bảo hiểm y tế (BHYT): Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp
dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế để chăm sóc sức
khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện. Chế độ này được
thực hiện dựa trên các nguyên tắc đảm bảo chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT.
Bảo hiểm tiền gửi: Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người
được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia lâm vào
tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản.
Bảo hiểm xã hội (BHXH): Bảo hiểm xã hội là hình thức bảo hiểm do tổ chức
bảo hiểm xã hội tiến hành dựa trên cơ sở huy động sự đóng góp của các chủ thể liên
quan để tạo lập quỹ BHXH, phân phối và sử dụng chúng để bù đắp một phần thu nhập
cho người lao động và gia đình họ khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ người lao động.
Bảo hiểm nhân thọ: Bảo hiểm nhân thọ là loại bảo hiểm được mua để bảo vệ
con người. Bảo hiểm nhân thọ thường được mua để bảo đảm rằng tài chính gia đình
không gặp phải tình trạng rủi ro khi chẳng may mất đi trụ cột. Đây là loại bảo hiểm sẽ
hoàn tiền bồi thường ngay cả khi người hưởng bảo hiểm sống hoặc chết. 5
Bảo hiểm phi nhân thọ: Bảo hiểm phi nhân thọ là loại bảo hiểm được mua để
bảo vệ tài sản của người mua bảo hiểm. Bảo hiểm này bao gồm các khoản bồi thường
cho tài sản bị hư hỏng hoặc mất cắp gây ra bởi tai nạn, cháy nổ, trộm cắp,....
Bảo hiểm sức khỏe (BHSK): Bảo hiểm sức khỏe là loại hình bảo hiểm tự
nguyện, trong đó công ty bảo hiểm cam kết chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí điều
trị khi người được bảo hiểm gặp vấn đề sức khỏe như đau ốm, thương tật, tai nạn, hoặc
cần chăm sóc và phục hồi sức khỏe tại các cơ sở y tế được chỉ định.
1.3 Hình thức và đối tượng áp dụng bảo hiểm
1.3.1 Các hình thức bảo hiểm
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động bảo hiểm ngày càng đa dạng và
phong phú. Dựa trên các tiêu thức phân loại khác nhau, có nhiều hình thức bảo hiểm khác nhau:
a) Căn cứ vào phương thức xử lý rủi ro
Theo tiêu thức này, hoạt động bảo hiểm được chia thành các hoạt động tự bảo
hiểm và bảo hiểm thông qua các tổ chức bảo hiểm. •Tự bảo hiểm:
Là hình thức bảo hiểm mà tổ chức, cá nhân thành lập quỹ riêng để bù đắp tổn thất
có thể xảy ra với quá trình sản xuất và đời sống của mình. Việc tự bảo hiểm cho mình
thường được thực hiện khi họ có đủ khả năng tài chính.
Trong thực tế, hình thức tự bảo hiểm được biểu hiện thông qua việc tạo lập và sử
dụng quỹ dự trữ tập trung của nhà nước, quỹ dự phòng của các doanh nghiệp, quỹ dự trù của các hộ gia đình….
•Bảo hiểm thông qua các tổ chức bảo hiểm:
Là hình thức bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm sẽ chuyển giao, phân tán rủi
ro cho các tổ chức bảo hiểm, khi mà bản thân họ không muốn hoặc không đủ khả năng
để gánh chịu rủi ro thông qua trích nộp một phần thu nhập của mình cho các tổ chức bảo
hiểm dưới dạng phi bảo hiểm. Các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp trong phân tích rủi
ro, ước lượng mức độ rủi ro và phân tán rủi ro, đồng thời họ còn có trách nhiệm trong
việc bảo toàn và tăng trưởng quỹ để sử dụng chúng cho các mục tiêu dự phòng tài chính
và khắc phục hậu quả của rủi ro, cho nên hình thức bảo hiểm này là hình thức bảo hiểm
hoạt động có hiệu quả trên mọi phương diện của nền kinh tế.
Trong thực tế, hình thức bảo hiểm bày được biểu hiện thông qua các tổ chức bảo
hiểm chuyên nghiệp như các công ty bảo hiểm, tập đoàn bảo hiểm và tổ chức bảo hiểm.
b) Căn cứ vào mục đích hoạt động
Theo tiêu thức này, hoạt động bảo hiểm được chia thành bảo hiểm có mục đích
kinh doanh và bảo hiểm không có mục đích kinh doanh
•Bảo hiểm có mục đích kinh doanh: 6
Là hình thức bảo hiểm do các chủ thể tiến hành nhằm mục tiêu lợi nhuận. Chính
vì mục đích hoạt động của loại hình bảo hiểm này mà nó có các tên gọi khác nhau như:
bảo hiểm kinh doanh, bảo hiểm thương mại hay bảo hiểm rủi ro. Người bảo hiểm tìm
kiếm lợi ích kinh tế trên cơ sở thu phí bảo hiểm và cam kết thực hiện bồi thường hoặc
trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm và cam kết thực hiện bồi thường hoặc trả
tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thông qua một hợp đồng bảo hiểm.
Các tổ chức thực hiện hoạt động bảo hiểm với mục đích kinh doanh thường là
các công ty bảo hiểm cung ứng các sản phẩm dịch vụ bảo hiểm trên thị trường để tìm
kiếm lợi nhuận và phát triển. Hoạt động của các tổ chức này bị chi phối bởi quy luật
cạnh tranh của thị trường, vì vậy họ không những phải chú ý đến chất lượng dịch vụ, thị
hiếu, nhu cầu của khách hàng mà còn phải chú ý tới giá cả của sản phẩm dịch vụ cung cấp.
•Bảo hiểm không vì mục đích kinh doanh:
Là hình thức bảo hiểm do các chủ thể tiến hành không nhằm mục tiêu tạo ra lợi
nhuận. Mục đích chủ yếu của loại hình này là nhằm tương hỗ giữa các thành viên tham
gia. Với tư cách là tổ chức quản lý xã hội, quỹ tài chính tập trung, bảo hiểm xã hội hoạt
động không vì mục tiêu lợi nhuận, mà phục vụ cho chính sách xã hội, vì mục đích và
quyền lợi của người lao động có tham gia bảo hiểm xã hội. Cũng dựa trên nguyên tắc
đó, việc hình thành và sử dụng quỹ dự trù tập trung của Nhà nước, các quỹ tương hỗ,
quỹ dự trù trong các doanh nghiệp, các gia đình phục vụ cho mục tiêu an toàn, ổn định
sự phát triển của nền kinh tế, của từng doanh nghiệp, từng hộ gia đình hay cá nhân cũng
là những hình thức bảo hiểm không vì mục đích kinh doanh
1.3.2 Đối tượng bảo hiểm
a) Đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm thương mại •
Bảo hiểm tài sản:
- Là loại bảo hiểm có lịch sử phát triển lâu đời
- Đối tượng bảo hiểm của loại bảo hiểm này là Giá trị của cải vật chất thuộc mọi hình thức sở hữu
- Nhằm bồi thường, chi trả vật chất cho người tham gia bảo hiểm khi xảy ra các
sự cố bất ngờ như: thiên tai, hỏa hoạn, trộm cắp làm tài sản bị hư hỏng, mất mát hoặc tiêu hủy toàn bộ. •
Bảo hiểm con người
- Hay là bảo hiểm thân thể
- Đối tượng bảo hiểm là Sức khỏe, khả năng lao động và tính mạng con người
- Nhằm thỏa mãn nhu cầu chi trả về vật chất người tham gia bảo hiểm khi gặp
phải sự cố bất ngờ làm mất khả năng lao động, thiệt hại về sức khỏe hay tử vong. •
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: 7
- Đối tượng là phần nghĩa vụ hay trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm
- Nhằm giải phóng người tham gia bảo hiểm thoát khỏi yêu cầu bồi thường tổn
thất cho người khác do hành vi hoạt động của người tham gia bảo hiểm gây ra.
b) Đối tượng bảo hiểm của hiểm xã hội
Ở hầu hết các nước, BHXH thường mang tính bắt buộc với đối tượng có thu nhập
ổn định để giải quyết một số rủi ro chung. Phạm vi đối tượng BHXH chung nhất là thu
nhập của những người làm công ăn lương trong xã hội. Tuy nhiên phạm vi đối tượng
BHXH tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Một số quốc gia
ban hành chế độ BHXH chung cho tất cả các đối tượng lao động trong xã hội. Các nước
đang phát triển thường có đối tượng tham gia BHXH hẹp hơn, tập trung chủ yếu vào
những người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và những người làm công ăn lương ở
khu vực thành thị. Giới hạn mức lương được bảo hiểm tối thiểu là mức lương tối thiểu ở
quốc gia, còn mức lương tối đa là mức lương trung bình của quốc gia đó.
1.4 Vai trò của bảo hiểm
1.4.1 Bảo hiểm góp phần ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống con người
Trong bảo hiểm kinh doanh, khi các tổ chức bảo hiểm gặp phải những rủi ro,
trách nhiệm chi trả, bồi thường cho người được bảo hiểm là yêu cầu bắt buộc đối với
người bảo hiểm. Nhờ vào những khoản chi trả, bồi thường này mà các cơ sở sản xuất
kinh doanh có thể xây dựng lại cơ sở vật chất, mua lại các máy móc thiết bị đã bị hư
hỏng, mất mát,... để có thể tiếp tục hoạt động.
Trong bảo hiểm xã hội, nhờ vào các khoản trợ cấp, bồi thường trong trường
hợp ốm đau, tai nạn, không còn khả năng lao động hay mất việc làm,.... mà người lao
động có thể khắc phục khó khăn, ổn định đời sống, đồng thời góp phần giảm bớt gánh
nặng về mặt tài chính cho tổ chức sử dụng lao động. Trong trường hợp người lao động
bị chết, thân nhân của họ sẽ nhận được một khoản tiền hỗ trợ từ tổ chức bảo hiểm xã
hội. Khi về hưu tổ chức bảo hiểm xã hội sẽ chi trả lương hưu và hỗ trợ các chi phí y tế, chăm sóc sức khỏe,...
Trong mọi hoạt động bảo hiểm người tham gia bảo hiểm có thể khắc phục kịp
thời những tổn thất vật chất do rủi ro tai nạn gây ra một các nhanh chóng nhất, sớm hồi
phục sức khỏe, ổn định đời sống để tiếp tục quá trình học tập, lao động, sinh hoạt bình
thường. Như vậy, thông qua việc sử dụng quỹ bảo hiểm đã được tạo lập để bồi thường,
chi trả kịp thời, chính xác những tổn thất vật chất cho người tham gia bảo hiểm. Do
vậy, bảo hiểm đã góp phần ổn định sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống của người tham gia bảo hiểm. Ví dụ:
•Với một cá nhân: 8
Một người là trụ cột một gia đình với hai con nhỏ, thu nhập của anh khoảng 10
triệu đồng một tháng. Với rất nhiều công việc phải lo toan trong cuộc sống, anh nghĩ
rằng: Nếu không may có điều gì đó xảy ra, vợ con mình sẽ ra sao? Họ sống thế nào khi
khoản thu nhập của gia đình bị giảm? Bằng cách tham gia bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp
cho mình với số tiền bảo hiểm 100 triệu đồng, anh sẽ được an tâm về tinh thần, giải
tỏa những lo lắng đối với gia đình nếu không may những rủi ro thường trực xảy ra. •
Với một cơ sở sản xuất:
Nếu người giám đốc quan tâm, tham gia bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm hỗn hợp
cho cán bộ công nhân viên thì không chỉ lãnh đạo đơn vị mà mọi thành viên sẽ yên
tâm làm việc, phát triển sản xuất kinh doanh
1.4.2 Bảo hiểm góp phần phòng tránh hạn chế rủi ro tổn thất
Đứng trên giác độ lợi ích của các tổ chức bảo hiểm, việc tổ chức tốt các biện
pháp đề phòng, hạn chế tổn thất có hiệu quả sẽ giảm được khoản chi phí bồi thường,
trả tiền bảo hiểm, đảm bảo an toàn cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để tổ
chức tốt các biện pháp đề phòng, hạn chế rủi ro tổn thất, các tổ chức bảo hiểm đã theo
dõi, thống kê tỉnh hình tai nạn, tổn thất, xác định những nguyên nhân chủ yếu gây ra
tai nạn. Trên cơ sở đó, tổ chức bảo hiểm phối hợp với các cơ quan hữu quan để đề
xuất, hỗ trợ về tài chính và tổ chức thực hiện các biện pháp đề phòng có hiệu quả nhất,
nhằm giảm thấp nhất mức tổn thất có thể xảy ra.
Đứng trên giác độ người tham gia bảo hiểm, ngoài trách nhiệm phải đóng
góp đầy đủ phí bảo hiểm, họ còn phải thực hiện tốt trách nhiệm đề phòng hạn chế tổn
thất, thông báo tình hình và diễn biến tai nạn, tổn thất để có biện pháp ngăn chặn kịp
thời. Nếu không, để xảy ra tổn thất trầm trọng thì có thể bị giảm mức bồi thường hoặc
thậm chí tổ chức bảo hiểm có quyền từ chối nghĩa vụ bồi thường nếu rủi ro xảy ra
không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
Đối với bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, các tổ chức quản lý phải thường
xuyên kiểm tra an toàn trong các doanh nghiệp nhằm phòng tránh tai nạn xảy ra.
Trong trường hợp các đơn vị này thực hiện không tốt các biện pháp đảm bảo an toàn
lao động, vệ sinh dịch tễ thì có thể áp dụng các biện pháp xử phạt và truy tố trước pháp
luật. Tổ chức bảo hiểm xã hội còn hỗ trợ các đơn vị sử dụng lao động thực hiện các
biện pháp an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp, xây dựng các trại điều dưỡng nghỉ
ngơi để cải thiện, nâng cao sức khỏe cho người lao động.
Về phía Nhà nước, đảm bảo ổn định phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời
sống nhân dân là nhiệm vụ của bất cứ Nhà nước nào, vì vậy, việc hình thành và phát
triển các hình thức bảo hiểm là những giải pháp tích cực giúp cho Nhà nước giảm
được nguồn kinh phí dành để đầu tư cho các mục tiêu khác, đồng thời vẫn đảm bảo
được mục tiêu về phát triển kinh tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Ví dụ: Bão số 3 vừa qua đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Theo số liệu của
Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), đến ngày 7/10, ước tính thiệt hại và 9
chi trả quyền lợi bảo hiểm do bão số 3 và lũ lụt gây ra lên tới khoảng 11.627 tỷ đồng.
Hiện nay, các doanh nghiệp ngành bảo hiểm đang tiến hành rà soát, chi trả quyền lợi
bảo hiểm cho khách hàng bị ảnh hưởng, kịp thời hỗ trợ người dân và doanh nghiệp.
Điều này vừa giảm bớt khó khăn và giúp người dân và doanh nghiệp nhanh chóng
khôi phục sinh hoạt, sản xuất; vừa giảm áp lực nợ xấu cho các tổ chức tín dụng.
1.4.3. Bảo hiểm góp phần cung ứng vốn cho phát triển KT-XH
Trong nền kinh tế thị trường, bảo hiểm không chỉ là tấm lá chắn kinh tế cho quá
trình sản xuất kinh doanh và đời sống của con người trước những rủi ro, mà nó còn
hoạt động với tư cách là các tổ chức tài chính trung gian để đầu tư phát triển kinh tế -
xã hội. Các tổ chức bảo hiểm thường sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hình
thành từ thu phí bảo hiểm của mình để đầu tư, chính vì vậy mà các tổ chức bảo hiểm
được coi là một định chế tài chính trung gian, bên cạnh các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, ...
Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế cũng góp phần tạo ra một nguồn vốn quan
trọng thông qua việc thu phí bảo hiểm từ người lao động và người sử dụng lao động.
Khi chưa sử dụng đến, phần quỹ này sẽ được đầu tư trên thị trường tài chính, nhằm
bảo toàn và phát triển quỹ. Quỹ bảo hiểm xã hội còn là một nguồn tiết kiệm quan
trọng, tiết kiệm từ bảo hiểm xã hội là chênh lệch giữa thu và chi bảo hiểm xã hội, góp
phần quan trọng vào tiết kiệm của mỗi quốc gia.
CHƯƠNG 2. VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2021-2023
2.1.Thực trạng thị trường bảo hiểm ở Việt Nam giai đoạn 2021-2023 * Năm 2021:
- Theo Cục Quản lý, Giám sát bảo hiểm, mặc dù tình hình dịch Covid-19 diễn
biến phức tạp, còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng Cục đã hoàn thành tốt nhiệm vụ
năm 2021. Các chỉ tiêu quan trọng của thị trường bảo hiểm năm 2021 đều duy trì tăng trưởng 2 con số
- Tổng doanh thu phí bảo hiểm năm 2021 ước tăng 15,59%, tính tới cuối năm
2021, thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện có 76 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm
(trong đó có 31 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 19 doanh nghiệp bảo hiểm nhân
thọ, 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 24 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm) và 1 chi
nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài
- Tính tới cuối năm 2021, tổng tài sản của thị trường bảo hiểm ước đạt 710.002
tỷ đồng, tăng 23,86% so với cùng kỳ năm 2020. Các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở
lại nền kinh tế ước đạt 577.069 tỷ đồng, tăng 22,24% so với cùng kỳ năm 2020. Tổng
dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm năm 2021 ước đạt 455.606 tỷ đồng, tăng 24,89% so với cùng kỳ năm 2020
- Tổng nguồn vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp bảo hiểm ước đạt 152.484
tỷ đồng, tăng 19,34% so với cùng kỳ năm 2020. Tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt
214.958 tỷ đồng, tăng 15,59% so với cùng kỳ năm 2020. Chi trả quyền lợi bảo hiểm 10
ước đạt 49.561 tỷ đồng, tăng 1,68% so với cùng kỳ năm 2020.Trong năm 2021, tổng
số phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới bảo hiểm ước đạt 12.715 tỷ đồng, tăng 14,8% so
với năm 2020, trong đó: phí bảo hiểm gốc thu xếp qua môi giới ước đạt 7.499 tỷ đồng,
tăng 8,76% so với năm 2020; phí tái bảo hiểm thu xếp qua môi giới ước đạt 5.216 tỷ
đồng, tăng 24,7% so với năm 2020.
- Tổng doanh thu hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp môi giới bảo
hiểm năm 2021 ước đạt 990 tỷ đồng, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó:
Hoa hồng môi giới bảo hiểm năm 2021 ước đạt 941 tỷ đồng (tăng 14,83% so với cùng
kỳ năm 2020); tổng doanh thu phí dịch vụ ước đạt 32 tỷ đồng; doanh thu tài chính và
khác ước đạt 17 tỷ đồng.
- Theo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, mặc dù tình hình dịch Covid-19 diễn
biến phức tạp, gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng Cục đã hoàn thành tốt nhiệm vụ
năm 2021, từ công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, đến công tác phát triển thị
trường và nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm, cũng như nhiều nhiệm vụ khác.
- Dưới sự chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Tài chính, Cục đã thường xuyên tổ chức rà
soát, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ công tác để kịp thời điều chỉnh quy trình, quy
chế trong nội bộ đơn vị thuộc, trực thuộc hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt
đối với trường hợp vượt quá thẩm quyền.
- Trong bối cảnh Covid-19 phức tạp song công tác quản lý, giám sát được thực
hiê ‹n thường xuyên, kết hợp chă ‹t chẽ giữa giám sát từ xa, thường xuyên trao đổi, đối
thoại với doanh nghiệp dưới nhiều hình thức (họp trực tiếp, hội thảo, trao đổi qua
email,…) với bám sát thực tiễn diễn biến thị trường, thanh tra, kiểm tra nhằm đánh giá,
phát hiện các vướng mắc để có thể nắm bắt và có hướng điều chỉnh kịp thời những
phát sinh trong thực tiễn hoạt động kinh doanh bảo hiểm * Năm 2022
- Năm 2022, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều dấu hiệu khởi sắc. Kinh tế vĩ mô
cơ bản ổn định. Mặc dù chịu ảnh hưởng chung của các vấn đề về dịch bệnh, xung đột
giữa các nước trên thế giới nhưng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cả năm 2022 ước
đạt khoảng 8,02%. Áp lực lạm phát dự kiến ở mức vừa phải do đã có sự phối hợp điều
chỉnh giá dịch vụ, hàng hóa do nhà nước quản lý.
- Trong bối cảnh nêu trên, thị trường bảo hiểm tiếp tục ghi nhận sự phát triển
tích cực. Điều này được thể hiện qua hàng loạt các chỉ tiêu như: sự tăng trưởng về
doanh thu phí bảo hiểm, năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm, việc thực
hiện tốt chức năng chi trả quyền lợi bảo hiểm tăng cường các dịch vụ tiện ích chăm
sóc khách hàng, việc gia tăng tái đầu tư trở lại nền kinh tế, đóng góp vào sự phát triển
nền kinh tế xã hội, việc triển khai tích cực các loại hình bảo hiểm thực hiện chủ trương
chính sách của nhà nước…
- Năm 2022, tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 245.877 tỷ đồng, tăng trưởng
khoảng 15% so với năm 2021. Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực bảo hiểm
phi nhân thọ ước đạt 67.608 tỷ đồng (tăng trưởng khoảng 16,8% so với năm 2021), 11
lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ước đạt 178.269 tỷ đồng (tăng trưởng khoảng 11,8% so với năm 2021).
- Năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm ngày một tăng vững chắc.
Năm 2022, tổng tài sản của các doanh nghiệp bảo hiểm ước đạt 811.312 tỷ đồng (tăng
14,51% so với cùng kỳ năm 2021), trong đó các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
ước đạt 117.229 tỷ đồng, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ước đạt 694.083 tỷ
đồng. Tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm ước đạt
526.559 tỷ đồng (tăng 14,60% so với cùng kỳ năm 2021), trong đó các doanh nghiệp
bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 32.901 tỷ đồng, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
ước đạt 493.658 tỷ đồng.
- Về nguồn vốn chủ sở hữu, năm 2022 tổng nguồn vốn chủ sở hữu của các
doanh nghiệp bảo hiểm ước đạt 162.814 tỷ đồng (tăng 3,83% so với cùng kỳ năm
2021), trong đó các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 37.392 tỷ đồng, các
doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ước đạt 125.422 tỷ đồng.
- Trong năm 2022, các doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm
khoảng trên 64.000 tỷ đồng (tăng 23,29% so với cùng kỳ năm 2021), trong đó các
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 23.418 tỷ đồng, các doanh nghiệp bảo
hiểm nhân thọ ước đạt 40.600 tỷ đồng; đầu tư trở lại nền kinh tế khoảng trên 656 nghìn
tỷ đồng (tăng 12,56% so với cùng kỳ năm 2021), trong đó các doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ ước đạt 63.612 tỷ đồng, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ước đạt 592.811 tỷ đồng.
- Các doanh nghiệp bảo hiểm còn tích cực tài trợ xây dựng công trình đề phòng
hạn chế tai nạn giao thông, hỗ trợ nhân đạo, xây dựng nhà tình nghĩa, gây quỹ khuyến
học, xây dựng trường học và các hoạt động văn hóa thể thao lên tới hàng trăm tỷ
đồng.Tích cực triển khai bảo hiểm thực hiện chủ trương chính sách của nhà nước
thông qua các sản phẩm bảo hiểm hưu trí tự nguyện; bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, bảo
hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động
đầu tư xây dựng, bảo hiểm nông nghiệp…
- Về Bảo hiểm phi nhân thọ, Bảo hiểm sức khỏe chiếm tỷ trọng doanh thu phí
bảo hiểm lớn nhất (khoảng 33,2%) với doanh thu đạt 22.414 tỷ đồng tăng 24,3 % so
với cùng kỳ, bồi thường 7.222 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 32,2%.
+ Bảo hiểm xe cơ giới doanh thu đạt 18.101 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 26,8%
trong tổng doanh thu toàn thị trường, tăng 11,9% so với cùng kỳ, bồi thường 9.015 tỷ
đồng, tỷ lệ bồi thường 49,8%. Trong đó doanh thu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm
bắt buộc chủ xe cơ giới đạt 4.365 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 6,5%, tăng 10,6% so với
cùng kỳ, bồi thường 854 tỷ, tỷ lệ bồi thường 19,6%. Doanh thu bảo hiểm xe cơ giới tự
nguyện đạt 13.735 tỷ đồng, tăng 12,4 % so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 20,3%, bồi
thường 8.161 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 59,4 %.
+ Bảo hiểm tài sản thiệt hại doanh thu đạt 7.805 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 11,5%,
tăng 1.3% so với cùng kỳ, bồi thường 2.404 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 30,8% 12
+ Bảo hiểm cháy nổ doanh thu đạt 9.509 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 14,1%, tăng
trưởng 27,6% so với cùng kỳ, bồi thường 2.123 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 22,3%.
Doanh thu bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đạt 7.281 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 10,8%, tăng
21,9%, bồi thường 1.058 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 14,5%. Doanh thu bảo hiểm cháy
nổ tự nguyện đạt 2.228 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 3,3%, tăng 50,2% so với cùng kỳ, bồi
thường 1.064 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 47,8%.
+ Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển doanh thu đạt 3.183 tỷ đồng chiếm tỷ trọng
4,7%, tăng trưởng so với cùng kỳ 15,8%, bồi thường 759 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 23,9%.
+ Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu doanh thu đạt 2.801 tỷ
đồng chiếm tỷ trọng 4,1%, tăng trưởng 19,3%, bồi thường 1.051 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 37,5 %.
+ Các nghiệp vụ bảo hiểm khác gồm bảo hiểm trách nhiệm đạt 1.432 tỷ đồng
tăng trưởng 9% so với cùng kỳ; bảo hiểm hàng không 1.060 tỷ đồng, tăng 4,8%; bảo
hiểm tín dụng và rủi ro tài chính 845 tỷ đồng; tăng 11,3%; bảo hiểm thiệt hại kinh
doanh 375 tỷ đồng tăng 48,6%; bảo hiểm nông nghiệp đạt 41 tỷ đồng, giảm 31,9% so
với cùng kỳ; bảo hiểm bảo lãnh 36 tỷ đồng, tăng 24 % so với cùng kỳ.
- Về Bảo hiểm nhân thọ: số hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khai thác mới trong
năm 2022 đạt 3,4 triệu hợp đồng (giảm khoảng 4,2% so với số lượng hợp đồng khai
thác mới của năm 2021). Tổng phí bảo hiểm nhân thọ đạt 178.269 tỷ đồng, tăng
11,8%, trong đó phí bảo hiểm nhân thọ khai thác mới đạt 50.723 tỷ đồng, tăng khoảng
2,4% so với phí bảo hiểm nhân thọ khai thác mới năm 2021.
- Các dòng sản phẩm liên kết đầu tư tiếp tục là các sản phẩm chủ đạo mang lại
tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm lớn nhất (khoảng 85% phí bảo hiểm nhân thọ), tuy
nhiên, khẩu vị lựa chọn đầu tư của khách hàng cũng có những sự thay đổi. Các sản
phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư đơn vị (khách hàng chủ động lựa chọn các quỹ đầu tư
của doanh nghiệp bảo hiểm theo khẩu vị đầu tư của mình) có xu hướng tăng trưởng
mạnh, trong khi sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư chung (khách hàng hưởng kết quả
từ hoạt động kinh doanh đầu tư chung của doanh nghiệp bảo hiểm) có xu hướng sụt giảm.
- Năm 2022, khai thác mới xấp xỉ 1,24 triệu hợp đồng bảo hiểm liên kết đầu tư
chung (giảm khoảng 20% so với 2021) với phí khai thác mới đạt 21.841 tỷ đồng (giảm
khoảng 14%), trong khi dòng bảo hiểm liên kết đầu tư đơn vị đạt trên 747 nghìn hợp
đồng số hợp đồng khai thác mới (tăng 57% so với 2021) với doanh thu phí đạt khoảng
21,7 nghìn tỷ đồng (tăng trên 31%).
- Các sản phẩm bảo hiểm sức khỏe của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
cũng có sự tăng trưởng tốt, với trên 383 nghìn hợp đồng khai thác mới trong năm
2022, doanh thu phí đạt trên 642 tỷ đồng, tăng trưởng 15,4%. Trong năm 2022, các
doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chi trả quyền lợi bảo hiểm tổng cộng khoảng 40.600 tỷ đồng 13 * Năm 2023
- Năm 2023, tổng tài sản của ngành bảo hiểm ước đạt 913.336 tỷ đồng (tăng
11,12% so với cùng kỳ năm 2022), trong đó các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
ước đạt 126.837 tỷ đồng, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ước đạt 786.499 tỷ
đồng. Toàn ngành bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 757.652 tỷ đồng (tăng
12,56% so với cùng kỳ năm trước), trong đó các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
ước đạt 67.648 tỷ đồng; các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ước đạt 690.004 tỷ đồng.
- Tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm ước đạt 593.474 tỷ đồng (tăng 14,25% so
với cùng kỳ năm trước), trong đó các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt
32.412 tỷ đồng, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ước đạt 561.062 tỷ đồng… Tổng
nguồn vốn chủ sở hữu ước đạt 190.227 tỷ đồng (tăng 7,09% so với cùng kỳ năm
trước), trong đó các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 39.104 tỷ đồng, các
doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ước đạt 151.123 tỷ đồng. Các doanh nghiệp bảo hiểm
đã thực hiện giải quyết quyền lợi bảo hiểm ước đạt 80.976 tỷ đồng (tăng 32% so với cùng kỳ năm trước).
- Doanh thu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 71.064 tỷ, tăng 3% so
với năm 2022. Các nghiệp vụ có tỷ lệ tăng doanh thu cao so với năm 2022 lần lượt là:
bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính, tăng 11,5%; bảo hiểm tài sản thiệt hại, tăng
11,1%; bảo hiểm tàu (bao gồm: bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ
tàu và bảo hiểm bảo vệ và bồi thường - P&I), tăng 5,9%; bảo hiểm nông nghiệp, tăng
0,7%; bảo hiểm sức khỏe (tăng 0,3%). Cụ thể như sau:
+ Bảo hiểm sức khỏe đạt doanh thu 23.802 tỷ đồng, tăng 0,3% so với cùng kỳ,
bồi thường 8.236 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 34,6%.
+ Bảo hiểm xe cơ giới doanh thu đạt 17.754 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng
kỳ, bồi thường 9.315 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 52,5%. Doanh thu bảo hiểm bảo hiểm
bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đạt 4.342 tỷ đồng, giảm 0,6% so với cùng
kỳ, bồi thường 948 tỷ, tỷ lệ bồi thường 21,8%. Doanh thu bảo hiểm xe cơ giới tự
nguyện đạt 13.412 tỷ đồng, giảm 2.4% so với cùng kỳ, bồi thường 8.366 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 62,4%.
+ Bảo hiểm tài sản thiệt hại có doanh thu đạt 19.742 tỷ đồng, tăng 11,1 % so
với cùng kỳ, bồi thường 3.838 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 19,4%. Trong đó: doanh thu
bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đạt 7.240 tỷ đồng, giảm 0,6% so với cùng kỳ, bồi thường
872 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 12,1%; doanh thu bảo hiểm cháy nổ tự nguyện đạt 2.804
tỷ đồng, tăng 25,8% so với cùng kỳ, bồi thường 698 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 24,9%
+ Bảo hiểm tàu (bao gồm: bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ
tàu và bảo hiểm P&I) doanh thu đạt 2.967 tỷ đồng, tăng trưởng 5,9%, bồi thường
1.059 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 35,7%.
+ Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển doanh thu đạt 2.840 tỷ đồng, giảm 10,8% so
với cùng kỳ, bồi thường 939 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường 33,1%.
+ Các nghiệp vụ bảo hiểm khác bao gồm: bảo hiểm trách nhiệm đạt 1.795 tỷ 14
đồng tăng trưởng 25.2%; bảo hiểm hàng không 2.840 tỷ đồng, giảm 10,8%; bảo hiểm
tín dụng và rủi ro tài chính 942 tỷ đồng, tăng 11,5%; bảo hiểm nông nghiệp đạt 42 tỷ
đồng, tăng 0,7% so với cùng kỳ; bảo hiểm bảo lãnh 32 tỷ đồng, giảm 12,5% so với cùng kỳ.
- Tổng số tiền bồi thường bảo hiểm gốc khoảng 23.906 tỷ đồng, tỷ lệ bồi
thường 33,6%… Những nghiệp vụ bảo hiểm có tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc cao là:
bảo hiểm xe cơ giới (52,5%), bảo hiểm sức khỏe (34,6%), bảo hiểm tàu (35,7%).
Trong số 32 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có 22 doanh nghiệp bảo hiểm và 1
chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc thấp
hơn tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc chung của thị trường và 9 doanh nghiệp bảo hiểm
còn lại có tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc cao hơn tỷ lệ bồi thường chung của thị trường.
- Năm 2023 là năm ghi nhận nhiều khó khăn đối với Bảo hiểm Nhân thọ với số
lượng hợp đồng khai thác mới giảm tới 43,8% so với năm 2022, tỷ lệ duy trì hợp đồng
cũng ở mức thấp, số lượng hợp đồng có hiệu lực đến cuối kỳ giảm 10,6% so với năm
2022. Trong khi đó tỷ lệ bồi thường tăng 35,7% so với cùng kỳ năm 2022 với số tiền
chi trả ước khoảng 57.070 tỷ đồng; tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường cả
năm 2023 giảm 11,6% so với năm 2022, chỉ ở mức xấp xỉ 157.024 tỷ đồng, cụ thể:
+ Số lượng hợp đồng khai thác mới năm 2023 đạt 1.915.623 hợp đồng (sản
phẩm chính), giảm 43,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó: sản phẩm bảo hiểm
liên kết đầu tư chiếm tỷ trọng 60,7% giảm 41,4% so với cùng kỳ năm ngoái (trong đó:
sản phẩm bảo hiểm liên kết chung chiếm tỷ trọng 47,3% giảm 26,8% so với cùng kỳ
năm ngoái; sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị chiếm tỷ trọng 13,4% giảm 65,6% so
với cùng kỳ năm ngoái); sản phẩm bảo hiểm tử kỳ chiếm tỷ trọng 28,8% giảm 45,3%
so với cùng kỳ năm ngoái; sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp chiếm tỷ trọng 2,1% tăng
47,7% so với cùng kỳ năm ngoái; các sản phẩm bảo hiểm còn lại (sản phẩm bảo hiểm
sức khỏe, sản phẩm bảo hiểm hưu trí, sản phẩm bảo hiểm trọn đời) chiếm tỷ trọng
8,3%, giảm 58,7% so với cùng kỳ năm ngoái.
+ Số lượng hợp đồng có hiệu lực cuối kỳ (sản phẩm chính) là 12.441.381 hợp
đồng, giảm 10,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Về cơ cấu số lượng hợp đồng theo sản
phẩm, sản phẩm được ưa chuộng và chiếm tỷ trọng cao nhất, gồm sản phẩm bảo hiểm
liên kết chung (54,8%) và sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp (24%).
+ Tổng doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới toàn thị trường năm 2023 ước đạt
28.179 tỷ đồng giảm 44,5% so với cùng kỳ năm trước. Dẫn đầu về doanh thu phí bảo
hiểm khai thác mới là Prudential với 5.068 tỷ đồng, Dai-ichi Life với 3.864 tỷ đồng,
Bảo Việt Nhân thọ với 3.642 tỷ đồng, Manulife với 3.433 tỷ đồng, và Sun Life với 2.006 tỷ đồng.
+ Tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước đạt là 157.024 tỷ đồng,
giảm 11,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản phẩm bảo hiểm liên kết chung
chiếm tỷ trọng 54,8%; sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp chiếm tỷ trọng 16,5%; sản phẩm
bảo hiểm liên kết đơn vị chiếm tỷ trọng 15,5%; sản phẩm phụ chiếm tỷ trọng 11,9%. 15