Vai trò của pháp luật đối với công tác phòng chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay | Tiểu luận Nhà nước và Pháp luật

Thế kỷ 21 đánh dấu nhiều bước phát triển đột phá của thế giới trên các lĩnh vực  như khoa học kĩ thuật, y học, kinh tế, chính trị,… Các quốc gia trên thế giới càng  ngày càng có xu hướng hội nhập với nhau, hợp tác cùng phát triển trên mọi mặt của đời sống xã hội. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Thông tin:
28 trang 2 tuần trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Vai trò của pháp luật đối với công tác phòng chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay | Tiểu luận Nhà nước và Pháp luật

Thế kỷ 21 đánh dấu nhiều bước phát triển đột phá của thế giới trên các lĩnh vực  như khoa học kĩ thuật, y học, kinh tế, chính trị,… Các quốc gia trên thế giới càng  ngày càng có xu hướng hội nhập với nhau, hợp tác cùng phát triển trên mọi mặt của đời sống xã hội. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

30 15 lượt tải Tải xuống
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN
VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG TÁC
PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM
HIỆN NAY
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Họ và tên tác giả: Nguyễn Hương Giang
Mã sinh viên: 2156110020
Lớp tín chỉ: K41.5
Lớp hành chính: QHCT & TTQT 41
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
TS. Đỗ Thu Hiền
Hà Nội, tháng 5 – năm 2023
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài.....................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..........................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................3
5. Kết cấu tiểu luận.....................................................................................................3
NỘI DUNG........................................................................................................................5
Chương I. MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG CÔNG
TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY...................5
1. Lý luận chung về pháp luật................................................................................5
2. Lý luận chung về tham nhũng............................................................................6
3. Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện pháp luật trong phòng chống tham
nhũng ở Việt Nam hiện nay.......................................................................................9
Tiểu kết chương I.....................................................................................................12
Chương II. VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG
THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY..........................................................13
1. Sự cần thiết của việc áp dụng và thực hiện pháp luật vào công tác phòng
chống tham nhũng....................................................................................................13
2. Vai trò của pháp luật trong công tác phòng chống tham nhũng tại Việt Nam
hiện nay.....................................................................................................................15
Tiểu kết chương II....................................................................................................21
Chương III. ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI
VỚI VIỆC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.......22
1. Nhận xét ưu, nhược điểm của việc thực hiện vai trò của pháp luật đối với
việc phòng chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay...........................................22
2. Giải pháp nâng cao vai trò của pháp luật đối với công tác phòng chống tham
nhũng tại Việt Nam hiện nay...................................................................................24
Tiểu kết chương III..................................................................................................26
KẾT LUẬN......................................................................................................................27
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................28
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ 21 đánh dấu nhiều bước phát triển đột phá của thế giới trên các lĩnh
vực như khoa học thuật, y học, kinh tế, chính trị,… Các quốc gia trên thế
giới càng ngày càng xu hướng hội nhập với nhau, hợp tác cùng phát triển
trên mọi mặt của đời sống hội. Tuy nhiên, đi cùng với những thành tựu
nổi bật đó, cả thế giới đang phải đối mặt với những thách thức lớn, ảnh
hưởng tới an nguy quốc gia, nổi trội trong đó nạn tham nhũng. Tình
trạng tham nhũng đang ngày càng những diễn biến phức tạp, trở thành
vấn nạn khó giải quyết ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Tham nhũng đã đang trở thành vấn đề nóng bỏng, phức tạp, gây nhiều
tranh cãi bức xúc trong những giai đoạn vừa qua nước ta. Hàng loạt
những vụ án tham nhũng trên nhiều khía cạnh với quy lớn, gây chấn
động luận đã được phát hiện xử lý. Nhưng theo thời gian, các vụ án
tham nhũng ngày càng nhiều, xu hướng gia tăng phức tạp hơn về quy
và mức độ nghiêm
trọng. Tình trạng tham nhũng đã chi phối tác động xấu tới sự phát triển
của đất nước ta, kéo đất nước đi xuống về mọi mặt của đời sống hội.
Nguy hiểm hơn nữa, làm cho quần chúng nhân dân dần mất đi niềm tin
vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản của Nhà nước. Đó kẻ thù cực kỳ
nguy hiểm, sức ảnh hưởng chí mạng đe dọa đối với sự tồn vong của
Đảng Nhà nước Việt Nam, cũng như chế độ hội chủ nghĩa. Hiểu
những tác hại tham nhũng đang tác động lên tát cả mọi khía cạnh của đất
nước, Đảng Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm đối với vấn đề này.
Công tác phòng chống tham nhũng tại Việt Nam được xác định nhiệm vụ
28
trọng tâm, quan trọng, cấp bách, nhiều yếu tố phức tạp, cần kế hoạch
đối phó lâu dài. Để có thể thực hiện công tác phòng chống kẻ thù nguy hiểm
và dai dẳng này, chúng ta cần tới sự giúp đỡ của luật pháp nghiêm minh. Với
mong muốn nghiên cứu sâu hơn nữa về vấn đề này, em đã chọn đề tài Vai
trò của pháp luật đối với công tác phòng chống tham nhũng tại Việt Nam
hiện nay” làm đề tài tiểu luận.
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở làm một số vấn đềluận thực tiễn liên quan tới pháp luật
tham nhũng, cũng như công tác phòng chống tham nhũng của Đảng
Nhà nước ta hiện nay, tiểu luận mong muốn đưa ra những đánh giá về công
tác phòng chống đề xuất những phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả
phòng chống tham nhũng tại Việt Nam giai đoạn hiện nay.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thứ nhất, làm những khái niệm về pháp luật; tham nhũng những đặc
điểm của tham nhũng, cùng với đó là những lý luận liên quan
- Thứ hai, nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật trong công cuộc đấu
tranh phòng chống tham nhũng, tìm hiểu thực tiễn vai trò của pháp luật đối
với công tác phòng chống; từ đó đưa ra đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả của công tác phòng chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
28
- Đối ợng nghiên cứu của đề tài vai trò của pháp luật đối với công tác
phòng chống nạn tham nhũng tại Việt Nam hiện nay
b. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của tiểu luận gói gọn tập trung tìm hiểu thực trạng tham
nhũng công tác phòng chống tham nhũng, cũng như vai trò của pháp luật
đối với công tác tại Việt Nam hiện nay
4. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu bản như khảo sát, tổng kết
thực tiễn, phân tích - tổng hợp,…
5. Kết cấu tiểu luận
Bên cạnh những phần bản như mục lục, mở đầu, nội dung kết luận, tiểu
luận còn tập trung làm rõ những nội dung qua 3 chương như sau:
- Chương I đề cập tới những vấn đề luận liên quan tới đề tài như luận
chung về pháp luật, về tham nhũng các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện
pháp luật trong phòng chống tham nhũng.
- Chương II nêu lên sự cần thiết của việc áp dụng thực hiện pháp luật vào
trong công tác phòng chống tham nhũng, đồng thời chỉ ra vai trò của pháp
luật trong công tác phòng chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay.
- Chương III đánh giá việc thực hiện vai trò của pháp luật đối với công tác
phòng chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra một số giải
pháp giúp nâng cao hiệu quả công tác.
28
28
NỘI DUNG
Chương I. MỘT SỐ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG
CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.
1. Lý luận chung về pháp luật
1.1. Khái niệm “pháp luật”
Xuất phát từ nhu cầu tồn tại phát triển, con người từ xa xưa đã hình thành
cộng đồng chung sống với nhau. Để thể duy trì cuộc sống, cộng đồng bắt
buộc phải những quy tắc, quy định cách ứng xử giữa con người với nhau.
Dần dần, theo thời gian, những quan hệ hội đa dạng phức tạp phát sinh đã
đặt ra yêu cầu phải những quy tắc mới để điều chỉnh. vậy, một tổ chức
quyền lực mới nhà nước ra đời, tiến hành xây dựng các quy tắc xử sự mới
trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Hệ thống pháp luật được dần hình thành cùng
với sự thiết lập hoàn thiện bộ máy nhà nước. Các cơ quan nhà nước thẩm
quyền ban hành nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhằm củng cố, bảo vệ lợi ích
của giai cấp thống trị. Từ đó, tathể rút ra: “pháp luật hệ thống các quy tắc
xử sư chung do nhà nước ban hành, thừa nhậnđảm bảo thực hiện, thể hiện ý
chí của giai cấp thống trị trong xã hội, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội”.
1.2. Bản chất của pháp luật
Bản chất của pháp luật được thể hiện trên các phương diện là tính giai cấp, tính
xã hội và tính nhân dân.
Về tính giai cấp, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị. Giai
cấp thống trị bằng con đường nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một
cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí nhà nước, ý chí đó được
cụ thể hỏa trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước thẩm quyền
28
ban hành và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện trong đời sống xã hội. Ngoài
ra, tính giai cấp của pháp luật còn được thể hiện qua mục đích điều chỉnh các
quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ hội phát triển theo một “trật tự” phù
hợp với ý chí, lợi ích của giai cấp thống trị.
Về tính hội, pháp luật do nhà nước ban hành, chủ thể đại diện chính thức
cho toàn hội, Điều này nghĩa pháp luật được xây dựng trên sở của đời
sống hội còn thể hiện ý chí, lợi ích của các lực lượng khác nhau trong
hội.
Về tính nhân dân, pháp luật được ban hành ra để quy định các quy tắc xử sự
chung trong hội, áp dụng cho tất cả nhân dân trong nước. Ngoài ra, đối với
nhà nước hội Chủ nghĩa, tính nhân dân còn thể hiện việc Nhà nước nhà
nước của dân, do dân dân. Sứ mệnh của nhà nước phục vụ nhân dân,
nhân dân ủy quyền cho nhà nước để thực hiện nguyện vọng của mình.
2. Lý luận chung về tham nhũng
2.1. Khái niệm “tham nhũng”
Tham nhũng một hiện tượng hội cùng phức tạp với nhiều biểu hiện
khác nhau. Hiệnợng này đã tồn tại từ rất sớm trong lịch sử nhân loại đc
các chuyên gia cảnh báo hiểm họa đối với tất cả quốc gia trên thế giới, bất kể
chế độ chính trị, tôn giáo, sắc tộc,… Tuy nhiên, cho tới nay, chưa một định
nghĩa chính xác, mang tính tổng hợp chấp nhận rộng rãi về tham nhũng. Sự
khác biệt giữa các quốc gia về trình độ phát triển, văn hóa, chính trị xã hội,… đã
nảy sinh ra nhiều quan niệm khác nhau về hiện tượng này.
góc độ chung nhất, thuật ngữ “tham nhũng” (corruption) bắt nguồn từ tiếng
Latin “corruptus” phá hủy, vi phạm hoặc lạm dụng. thế, chiếu theo gốc rễ
28
của thuật ngữ, hiện tượng này hàm ý những hành vi bất hợp pháp. Trong tài liệu
hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về cuộc đấu tranh chống tham nhũng năm 1969,
tham nhũng được định nghĩa ngắn gọn “sự lợi dụng quyền lực nhà nước để
trục lợi”. Hội nghị Quốc tế về phòng chống tham nhũng Bắc Kinh năm 1995
đã đưa ra quan niệm về tham nhũng “lòng tham của con người thông qua
quyền”.
Tại Việt Nam, Luật Phòng chống tham nhũng ban hành năm 2005 (sửa đổi, bổ
sung năm 2008) ghi rõ ràng và ngắn gọn rằng “tham nhũng là hành vi của người
có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vị, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Xét về tổng
thể, tham nhũng - với bản chất là lợi dụng ưu thế của chức vụ, quyền hạn để trục
lợi bất chínhđã trở thành hiện tượng tiêu cực trên nhiều lĩnh vực của đời sống
xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa,…
2.2. Đặc trưng
Hành vi tham nhũng gồm có 3 đặc điểm chính, thiếu đi một đặc điểm thì hành vi
đó không còn là hành vi tham nhũng.
- Thứ nhất, hành vi tham nhũng phải được thực hiện bởi người chức vụ và
quyền hạn. Điều 1, Luật phòng chống tham nhũng đã quy định “Tham nhũng
hành vi…lợi dụng chức vụ quyền hạn…” Điều này cho thấy chủ thể của
hành vi tham nhũng phải người chức quyền bởi lẽ, chức vụ, quyền
hạn thì mới thể lợi dụng chức quyền. Chức vụ, quyền hạn chủ thể
được có thể từ bầu cử, bổ nhiệm, hợp đồng,…
- Thứ hai, phương thức tham nhũng là lợi dụng chức vụ, quyền hạn đươc giao.
Khi thực hiện hành vi tham nhũng, chủ thể tham nhũng phải lợi dụng chức
vụ, quyền hạn của mình như phương tiện đem lại lợi ích cho bản than, gia
28
đình hoặc người khác. Đây yếu tố bản để xác định đó phải hành vi
tham nhũng hay không. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi lợi dụng chức
quyền đều được coi hành vi tham nhũng chỉ những hành vi lợi dụng
chức vụ, quyền hạn nào để vụ lợi, thỏa mãn lòng tham mới thể tính
hành vi tham nhũng
- Thứ ba, người thực hiện hành vi tham nhũng phải mục đích, động vụ
lợi (về vật chất, tinh thần mà chủ thể tham nhũng được sau hành vi tham
nhũng). Hành vi tham nhũng hành vi chủ đích, mục đích của tham
nhũng vụ lợi. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định việc đánh giá tính
chất mức độ nguy hiểm của hành vi tham nhũng dựa trên sở xác định
những lợi ích mà kẻ tham nhũng đạt được, từ đó quy định mức độ xử lý.
2.3. Phân loại
Căn cứ theo những tiêu chí khác nhau, thể những cách phân loại tham
nhũng khác nhau như:
- Dựa trên mức độ tham nhũng, thể chia tham nhũng thành hai loại: tham
nhũng lớn và tham nhũng nhỏ.
- Dựa vào mức độ chủ động của đối tượng hành vi tham nhũng, tham
nhũng gồm tham nhũng chủ động (hành vi đề nghị hoặc đưa hối lộ)
tham nhũng bị động (hành vi nhận hối lộ)
- Dựa vào lĩnh vực chịu tác động, thể chia tham nhũng thành tham nhũng
chính trị, tham nhũng kinh tế và tham nhũng hành chính
Ngoài các dạng thức tiêu biểu kể trên, tham nhũng còn có thể phân chia thành:
- Tham nhũng xuyên quốc gia và tham nhũng trong nội bộ quốc gia
28
- Tham nhũng công (trong quan nhà nước) tham nhũng (ngoài
quan nhà nước)
- Tham nhung trực tiếp và tham nhũng gián tiếp
3. Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện pháp luật trong phòng chống tham
nhũng ở Việt Nam hiện nay.
3.1. Yếu tố chính trị
Những quy định pháp luật về phòng chống tham nhũng sự thể chế hóa quan
điểm, đường lối của Đảng về cuộc đấu tranh này. Tuy nhiên, thực hiện pháp luật
về phòng chống tham nhũng lại phụ thuộc vào quan điểm và quyết tâm chính trị
của các cấp ủy đảng chính quyền địa phương. Yếu tố chính trị về phòng
chống tham nhũng có thể nhìn nhận trên các khía cạnh như sau:
Thứ nhất, nhận thức chính trị của các cơ quan, tổ chức cá nhânthẩm quyền.
Điều này nghĩa là các Nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước có
được các quan, tổ chức, nhân tiếp cận một cách đầy đủ chính xác hay
không, từ đó xác định được quan điểm, mục tiêu chung của Đảng và Nhà nước;
thực hiện đúng chức trách nghĩa vụ của mình, đề ra phương hướng, biện
pháp cụ thể cho phòng chống tham nhũng.
Thứ hai, quyết tâm chính trị của các cơ quan, tổ chức, nhân thẩm quyền.
Nhận thức chính trị điều quan trọng, nhưng nếu các chủ thể không quyết
tâm chính trị, coi chống tham nhũng nhiệm vụ cao cả, sứ mệnh phải hoàn
thành thì nhân dân sẽ khó có thể biến nhận thức thành hành động.
Thứ ba, cho quyết tâm nhận thức chính trị ràng nhưng các chủ thể
có thẩm quyền không thể hiện nó qua các hành động cụ thể, thông qua các nghị
28
quyết, chương trình, kế hoạch,… dựa trên thẩm quyền của mình thì công tác
phòng chống tham nhũng tại Việt Nam khó thể đạt đưược kết quả mong
muốn. Bên cạnh việc thực hiện pháp luật thì các cơ quan cũng cần huy động đc
sự hưởng ứng, tham gia của các tổ chức và nhân dân trong công cuộc đấu tranh.
3.2. Yếu tố pháp lý
Trong công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng thì pháp luật luôn trở thành
công cụ hữu hiệu nhất. Hệ thống các quy định pháp luật về phòng chống tham
nhũng sở pháp để tiến hành phòng ngừa xử tham nhũng. Yếu tố
pháp lý về vấn đề này được thể hiện qua các khía cạnh như sau:
Thứ nhất, điều kiện tiên quyết để hoạt động thực hiện pháp luật về phòng chống
tham nhũng đạt hiệu quả cao là hệ thống pháp luật về phòng chống tham nhũng
phải mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp mangnh khả thi, sát với thực
tiễn.
Thứ hai, các quy định về phòng ngừa tham nhũng góp phần hạn chế hình thành
các hành vi tham nhũng. Vậy nên, các quy định này cần phải được quy định một
cách chặt chẽ, có sự phối hợp đồng bộ trên các lĩnh vực khác nhau sẽ tạo được
điều kiện cho các quan, tổ chức, nhân tuân thủ pháp luật chặt chẽ, từ đó
hạn chế khả năng nảy sinh tham nhũng.
Thứ ba, pháp luật mang tính răn đe, cảnh tỉnh đối với con người. Thế nên, pháp
luật về lĩnh vực này nếu không quy định một cách cụ thể, có tính trừng phạt cao,
tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi tham hũng thì không thể nào
tạo được sự cảnh tỉnh đvs các chủ thể khả năng tham nhũng, thậm chí các
chủ thể này thể bỏ qua pháp luật thực hiện hành vi tham nhũng với mức
độ cao hơn
28
3.3. Yếu tố kinh tế
Tham nhũng sự trục lợi về mặt lợi ích, trong đó lợi ích vật chất trọng tâm.
Chính thế yếu tố kinh tế ảnh hưởng không nhỏ tới công tác phòng
chống tham nhũng tại nước ta hiện nay. Sự tác động đó được thể hiện qua các
khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, thu nhập của cán bộ công chức một trong những do dẫn tới tình
trạng tham nhũng bởi lẽ, nếu như kinh tế không đảm bảo cho cuộc sống của họ
thì rất khó để thể đảm bảo được sự liêm chính trong công việc, nhất khi họ
hội cải thiện đời sống qua hành vi tham nhũng trong lúc thực thi nhiệm
vụ.
Thứ hai, lĩnh vực kinh tế là lĩnh vực dễ dàng nảy sinh tham nhũng nhất nên các
quy định pháp luật về quản kinh tế cũng đóng vai trò quan trọng trong hoạt
động thực thi pháp luật về phòng chống tham nhũng. chế kinh tế đảm bảo
được sự minh bạch, công khai, khách quan công bằng môi trường lành
mạnh, hạn chế nguy tham nhũng xảy ra. Vì thế, để thể góp phần thực hiện
pháp luật phòng chống tham nhũng hiệu quả thì các chủ trương, chính sách,
pháp luật trong lĩnh vực kinh tế phải đoán trước được các tính huống thể tạo
cơ hội trục lợi cho các cá nhân tổ chức có liên quan, từ đó hạn chế tối đa khả
năng sản sinh tham nhũng.
Tiểu kết chương I
Trong chương I, tiểu luận đã tập trung khái quát một số vâ đề mang tính luận
như khái niệm bản chất của pháp luật, khái niệm, đặc trưng phân loại một
số loại hình tham nhũng. Ngoài ra, tiểu luận cũng đã chỉ ra một số yếu tố ảnh
hưởng tới quá trình thực hiện pháp luật trong công tác phòng chống tham nhũng
tại Việt Nam hiện nay.
28
Chương II. VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG
CHỐNG THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.
1. Sự cần thiết của việc áp dụng và thực hiện pháp luật vào công tác phòng
chống tham nhũng.
Vào thế kỷ XV, dưới thời Hồng Đức cai trị bởi vua Thánh Tông, Điều 42
Chương VI - Chế, Quốc triều Hình luật đã ghi rõ: “Quan ty làm trái pháp luật
ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan thì xử tội biếm hoặc bãi chức, từ 10 đến 19 quan
thì xử tội đồ hoặc lưu, trên 20 quan thì xử tội chém. Những bậc công thần, quý
thần cùng những người tài được giữ vào hàng bát nghị mà ăn hối lộ từ 1 đến
9 quan thì phạt 50 quan; t 10 đến 19 quan thì phạt từ 60 đến 100 quan; từ 20
quan trở lên thì xử tội đồ và những tiền ăn hối lộ xử phạt gấp đôi nộp vào kho”.
Tới thế kỷ XIX, ngay từ những ngày đầu giành đc độc lập nước nhà, Đảng
Nhà nước đã rất coi trọng xử vấn đề tham nhũng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nói trong bài nói chuyện năm 1952 về “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô,
lãng phí, chống bệnh quan liêu” rằng: “Đứng về phía cán bộ nói, tham ô
ăn cắp của công làm tư; đục khoét của nhân dân, ăn bớt của bộ đội; tiêu ít
khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương
mình, đơn vị mình..”…. “Đứng về phía nhân dân mình mà nói, tham ô ăn cắp
của công, khai gian, lậu thuế”. Còn đối với chế độ ta hiện nay, thiết tưởng, cùng
tội trạng như nhau, những đối tượng đảng viên - cán bộ phải bị xử phạt nặng
hơn dân thường; người ngôi vị càng cao, càng phải xử nặng. Như vậy, ta
thể thấy ràng rằng, từ xưa tới nay, công tác phòng chống tham nhũng luôn
vấn đề quan trọng, phức tạp lâu dài, đòi hỏi cần phải những biện pháp
thiết thực để có thể phòng chống hiệu quả, mà trong đó, luật pháp là công cụ đắc
lực.
28
Nhận thức sâu sắc về những tác hại nghiêm trọng của tệ nạn tham nhũng, Đảng
Nhà nước ta luôn chú trọng đến việc phòng ngừa đấu tranh chống tham
nhũng. Pháp luật chống tham nhũng phải coi tham nhũng kẻ địch, coi chống
tham nhũng chống lại tội ác, loại bỏ cái xấu trong xã hội để bảo vệ cái thiện,
sự bình yên của cuộc sống, sự lành mạnh của hội bảo vệ phẩm giá trong
sạch của con người. Đã hành vi tham nhũng thì cần phải chịu sự nghiêm trị
của pháp luật, quyền càng lớn thì càng phải xử mạnh tay để răn đe, nêu
gương, không có trường hợp ngoại lệ.
Những quy định về xử tham nhũng được ghi nhận nhiều văn bản pháp luật
khác nhau, có thể kể đến như: Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018, Bộ luật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Cán bộ, công chức năm
2008,… Pháp luật quy định tương đối đầy đủ hệ thống chế tài áp dụng cho
người có hành vi tham nhũng tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm. Việc áp
dụng tổng hợp pháp luật, chính sách và chế tài trong công tác phòng chống tham
nhũng giúp cho nhân dân giác ngộ thực hiện, từ việc không muốn tham
nhũng, không dám tham nhũng không môi trường phát sinh tham nhũng,
bởi nhận thức được sự nguy hiểm từ tham nhũng và kiểm soát từ pháp luật.
Nhiệm vụ chính của luật Phòng chống tham nhũng chính tạo ra chế phòng
ngừa tham nhũng toàn diện, thông qua đó góp phần xây dựng một chế quản
nhà nước, quản hội công khai, minh bạch, tạo sở pháp vững chắc
cho việc ngăn chặn, phát hiệnxử lý kịp thời hành vi tham nhũng. Trên cơ sở
đó, luật Phòng chống tham nhũng đưa ra các chế tài về chính trị, hành chính,
kinh tế cùng với các chế tài hình sự đã được quy định trong pháp luật hình sự
tố tụng để tạo ra khung pháp tổng thể ngăn chặn, răn đe trừng phạt tham
nhũng. Đồng thời, mở rộng từng bước, chọn lọc về phạm vi điều chỉnh của
luật Phòng chống tham nhũng để phòng ngừa, ngăn chặn xử các hành vi
28
tham nhũng ngoài khu vực nhà nước nhằm chống sự thông đồng để tham nhũng
giữa khu vực công và tư, bảo vệ lợi ích Nhà nước ngườ11i đầu tư, người gửi
tiền và các hoạt động an sinh xã hội.
2. Vai trò của pháp luật trong công tác phòng chống tham nhũng tại Việt
Nam hiện nay.
2.1. Pháp luật quy định biện pháp phòng ngừa tham nhũng trong quan, tổ
chức và đơn vị.
- Thứ nhất, công khai minh bạch hóa hoạt động tổ chức của bộ máy nhà
nước, tổ chức, đơn vị. Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018 đã dành
nhiều quy định cho việc công khai, minh bạch trong suốt Mục I của Chương
II. Lần đầu tiên nước ta, vấn đề công khai, minh bạch đã được đề cập một
cách đầy đủ ràng, chi tiết, ngắn gọn tại một văn bản mang tính quy
phạm pháp luật về phòng chống tham nhũng. Theo Mục I, Chương II của
Luật, các quan, tổ chức, đơn vị phải công khai, minh bạch theo quy định
của pháp luật, trừ những trường hợp pháp luật quy định phải mật. Bên
cạnh đó, Luật cũng quy định các hình thức cụ thể người đứng đầu
quan, tổ chức phải lựa chọn để công khai, minh bạch hóa hoạt động, nhằm
ràng buộc nâng cao trách nhiệm của quan, tổ chức, nhân liên
quan. Luật Phòng chống tham nhũng cũng đã lựa ra một số lĩnh vực quan
trọng, dễ phát sinh tình trạng tham nhũng, bắt buộc các cơ quan, tổ chức, đơn
vị phải công khai hoạt động như: mua sắm công; quản dự án đầu tư; quản
lý, sử dụng các khoản viện trợ; quản lý sử dụng đất, nhà ở, y tế, giáo dục,
khoa học,… Đặc biệt, Luật có thêm quy định về việc giải trình về quyết định,
hành vi của cơ quan, tổ chức, đơn vị theo quy định của pháp luật.
28
- Thứ hai, quy định quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức. Từ điều 36 đến 39
của Luật quy định vấn đề này theo hai hướng. Một mặt bổ sung, hoàn thiện
hệ thống quy định pháp luật hiện hành về quyền, nghĩa vụ những điều
cấm đối với cán bộ công chức. Mặt khác quy định trách nhiệm của các
quan có liên quan trong hoạt động ban hành bộ quy tắc ứng xử riêng phù hợp
với đặc thù ngành, quan. Ngoài ra, Luật còn quy định nghĩa vụ trách
nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc báo cáo và xử lý dấu hiệu
tham nhũng.
- Thứ ba, Luật quy định về vấn đề tặng quà nhận quà tại quan, tổ chức,
đơn vị hiện nay, nhằm ngăn ngừa việc đưa và nhận hối lộ . Đây điểm mới
trong xây dựng ban hành luật bởi lẽ, tặng nhận quà truyền thống tốt
đẹp, vấn đề mang tính chấthội và được điều chỉnh bởi các quy tắc hội
chủ yếu. Tuy nhiên, hoạt động này đã bị biến tướng, bị lợi dụng để thực
hiện hành vi tiêu cực, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh từ pháp luật.
- Thứ tư, Luật Phòng chống tham nhũng xây dựng, hoàn thiện đảm bảo
thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ, định mức, tiêu chuẩn. Từ các hoạt động
thực tế, ta có thể nhận thấy rõ rằng một trong những nguyên nhân cơ bản của
tình trạng tham nhũng do hệ thống chế độ, định mức, tiêu chuẩn trong
quản lý nhà nước chưa được hoàn thiện, dẫẫn tới việc thực hiện không đúng
hoặc cố ý làm trái.thế tại mục II Chương II của bộ luật đã quy định
trách nhiệm của các quan nhà nước liên quan trong việc xây dựng,
hoàn thiện đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh chế độ, định mức, tiêu chuẩn
trong quản lý nhà nước và các hoạt động kinh tế, xã hội.
2.2. Pháp luật quy định các hình thức phát hiện tham nhũng.
28
Muốn xử các hành vi tham nhũng thì cần phải những cách phát hiện tham
nhũng. Luật Phòng chống tham nhũng 2018 đã đưa ra các hình thức hoạt động
cụ thể để có thể phát hiện hành vi tham nhũng, bao gồm:
- Phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra của cơ quan, tổ chức. Luật
Phòng chống tham nhũng năm 2005 đã quy định những hình thức kiểm tra,
trong đó yêu cầu thủ trưởng quan quản nhà nước, người đứng đầu
quan, tổ chức, đơn vị phải trách nhiệm thường xuyên tổ chức kiểm tra
việc chấp hành pháp luật của các quan, tổ chức, đơn vị nhân thuộc
phạm vi quản của mình, từ đó kịp thời phát hiện xử hành vi tham
nhũng theo thẩm quyền hoặc thông báo cho quan thanh tra điều tra. Bên
cạnh đó, Luật còn nhấn mạnh rằng việc kiểm tra thể được thực hiện dưới
hình thức thường xuyên theo chương trình, kế hoạch tập trung vào lĩnh vực
thường xảy ra tham nhũng hoặc đột xuất nếu như phát hiện dấu hiệu tham
nhũng.
- Phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều
tra, giám sát. Theo Điều 62 và 63 của Luật Phòng chống tham nhũng, các
quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, viện kiểm sát thông qua hoạt động thanh
tra, kiểm toán, điều tra, xét xử trách nhiệm chủ động phát hiện hành vi
tham nhũng xử theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử theo quy định
pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luât về quyết định của mình.
- Phát hiện tham nhũng thông qua tiếp nhận giải quyết tố cáo về hành vi
tham nhũng. Đối với việc phát hiệnxử tham nhũng, tố cáo một hoạt
động cực kỳ quan trọng. Mục 3 của Chương III Luật Phòng chống tham
nhũng quy định những nguyên tắc chung nội dung bản liên quan tới
vấn đề này như sau:
28
o Công dân có quyền tố cáo hành vi tham nhũng với cơ quan, tổ chức
nhân thẩm quyền. Người tố cáo phải trung thực, nêu ràng họ
tên, địa chỉ, cung cấp thông tin, tài liệu mình được hợp tác với
các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo.
o quan, tổ chức, đơn vị, nhân trách nhiệm tạo điều kiện thuận
lợi để nhân dân tố cáo trực tiếp hoặc gián tiếp qua các hình thức theo
quy định pháp luật. Người đứng đầu quan, tổ chức thẩm quyền
khi nhận được tố cáo về hàn vi tham nhũng cần phải xem xétxử
theo thẩm quyền; giữ bí mật về thông tin cá nhân và các thông tin khác
theo yêu cầu của người tố cáo; áp dụng kịp thời các biện pháp cần
thiết để bảo vệ người tố cáo khi có biểu hiện bị đe dọa, trả thù.
o Trong phạm vi nhiệm vụ của mình, quan, tổ chức, đơn vị hoặc
nhân phải tạo điều kiện, cộng tác với quan, tổ chức, nhân
thẩm quyền giải quyết tố cáo để phát hiện, ngăn chặn và xử kịp thời
hành vi tham nhũng, hạn chế tối thiểu thiệt hại do hành vi tham nhũng
gây ra.
2.3. Pháp luật quy định phương thức xử lý hành vi tham nhũng cùng các hành
vi vi phạm pháp luật khác.
Đối với công tác phòng chống tham nhũng, việc xử lý hành vi tham nhũng và
các hành vi vi phạm pháp luật khác biện pháp quan trọng để đảm bảo sự
nghiêm minh, đảm bảo tính răn đe của pháp luật. Trong bộ luật về phòng
chống tham nhũng, hai khía cạnh về xử tham nhũng được đề cập tới
xử lý đối tượng tham nhũng và xử lý tài sản tham nhũng.
28
Về xử lý đối tượng tham nhũng, Luật Phòng chống tham nhũng quy định hai
chế tài áp dụng với người hành vi tham nhũng xử kỉ luật hoặc xử lý
hình sự.
- Đối tượng bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự bao gồm các đối tượng sau:
Người có hành vi tham nhũng, các điều kiện dựa trên quy định tại Điều 3
của Luật
Người không báo cáo, tố giác khi hành vi tham nhũng xảy ra
Người không xử lý báo cáo, tố giác khi biết có hành vi tham nhũng
Người có hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người phát hiện và báo cáo hành
vi tham nhũng
Người đứng đầu quan, tổ chức, đơn vị xảy ra hành vi tham nhũng
trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình phụ trách
- Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm của ng hành vi tham nhũngxử
kỷ luật hoặc xử hình sự. Trong trường hợp bị kết án về hành vi tham
nhũng bản án hiệu lực pháp luật thì buộc thôi việc; đối với Đại biểu
Quốc hội, Hội đồng Nhân dân thì mất quyền đại biểu.
Về xử tài sản tham nhũng, Điều 70 của Luật phòng chống tham nhũng quy
định
./nguyên tắc xửtài sản tham nhũng là: tài sản tham nhũng phải bị tịch thu, trả
lại cho chủ sở hữu, quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước, người đưa hối lộ
mà chủ động khai báo trước khi hành vi hối lộ bị phát hiện thì tài sản đó sẽ được
trả lại.
28
| 1/28

Preview text:

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN
VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG TÁC
PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY TIỂU LUẬN MÔN HỌC NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Họ và tên tác giả: Nguyễn Hương Giang Mã sinh viên: 2156110020 Lớp tín chỉ: K41.5
Lớp hành chính: QHCT & TTQT 41 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN TS. Đỗ Thu Hiền
Hà Nội, tháng 5 – năm 2023 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài.....................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..........................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................3
5. Kết cấu tiểu luận.....................................................................................................3
NỘI DUNG........................................................................................................................5
Chương I. MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG CÔNG
TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY...................5
1. Lý luận chung về pháp luật................................................................................5
2. Lý luận chung về tham nhũng............................................................................6
3. Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện pháp luật trong phòng chống tham
nhũng ở Việt Nam hiện nay.......................................................................................9
Tiểu kết chương I.....................................................................................................12
Chương II. VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG
THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY..........................................................13
1. Sự cần thiết của việc áp dụng và thực hiện pháp luật vào công tác phòng
chống tham nhũng....................................................................................................13
2. Vai trò của pháp luật trong công tác phòng chống tham nhũng tại Việt Nam
hiện nay.....................................................................................................................15
Tiểu kết chương II....................................................................................................21
Chương III. ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI
VỚI VIỆC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.......22
1. Nhận xét ưu, nhược điểm của việc thực hiện vai trò của pháp luật đối với
việc phòng chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay...........................................22
2. Giải pháp nâng cao vai trò của pháp luật đối với công tác phòng chống tham
nhũng tại Việt Nam hiện nay...................................................................................24
Tiểu kết chương III..................................................................................................26
KẾT LUẬN......................................................................................................................27
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................28 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ 21 đánh dấu nhiều bước phát triển đột phá của thế giới trên các lĩnh
vực như khoa học kĩ thuật, y học, kinh tế, chính trị,… Các quốc gia trên thế
giới càng ngày càng có xu hướng hội nhập với nhau, hợp tác cùng phát triển
trên mọi mặt của đời sống xã hội. Tuy nhiên, đi cùng với những thành tựu
nổi bật đó, cả thế giới đang phải đối mặt với những thách thức lớn, ảnh
hưởng tới an nguy quốc gia, mà nổi trội trong đó là nạn tham nhũng. Tình
trạng tham nhũng đang ngày càng có những diễn biến phức tạp, trở thành
vấn nạn khó giải quyết ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Tham nhũng đã và đang trở thành vấn đề nóng bỏng, phức tạp, gây nhiều
tranh cãi và bức xúc trong những giai đoạn vừa qua ở nước ta. Hàng loạt
những vụ án tham nhũng trên nhiều khía cạnh với quy mô lớn, gây chấn
động dư luận đã được phát hiện và xử lý. Nhưng theo thời gian, các vụ án
tham nhũng ngày càng nhiều, có xu hướng gia tăng phức tạp hơn về quy mô và mức độ nghiêm
trọng. Tình trạng tham nhũng đã chi phối và tác động xấu tới sự phát triển
của đất nước ta, kéo đất nước đi xuống về mọi mặt của đời sống xã hội.
Nguy hiểm hơn nữa, nó làm cho quần chúng nhân dân dần mất đi niềm tin
vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Đó là kẻ thù cực kỳ
nguy hiểm, có sức ảnh hưởng chí mạng và đe dọa đối với sự tồn vong của
Đảng và Nhà nước Việt Nam, cũng như là chế độ xã hội chủ nghĩa. Hiểu rõ
những tác hại mà tham nhũng đang tác động lên tát cả mọi khía cạnh của đất
nước, Đảng và Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm đối với vấn đề này.
Công tác phòng chống tham nhũng tại Việt Nam được xác định là nhiệm vụ 28
trọng tâm, quan trọng, cấp bách, có nhiều yếu tố phức tạp, cần có kế hoạch
đối phó lâu dài. Để có thể thực hiện công tác phòng chống kẻ thù nguy hiểm
và dai dẳng này, chúng ta cần tới sự giúp đỡ của luật pháp nghiêm minh. Với
mong muốn nghiên cứu sâu hơn nữa về vấn đề này, em đã chọn đề tài “ Vai
trò của pháp luật đối với công tác phòng chống tham nhũng tại Việt Nam
hiện nay” làm đề tài tiểu luận.
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu a. Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan tới pháp luật
và tham nhũng, cũng như công tác phòng chống tham nhũng của Đảng và
Nhà nước ta hiện nay, tiểu luận mong muốn đưa ra những đánh giá về công
tác phòng chống và đề xuất những phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả
phòng chống tham nhũng tại Việt Nam giai đoạn hiện nay. b. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thứ nhất, làm rõ những khái niệm về pháp luật; tham nhũng và những đặc
điểm của tham nhũng, cùng với đó là những lý luận liên quan
- Thứ hai, nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật trong công cuộc đấu
tranh phòng chống tham nhũng, tìm hiểu thực tiễn vai trò của pháp luật đối
với công tác phòng chống; từ đó đưa ra đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả của công tác phòng chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu 28
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vai trò của pháp luật đối với công tác
phòng chống nạn tham nhũng tại Việt Nam hiện nay b. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của tiểu luận gói gọn tập trung tìm hiểu thực trạng tham
nhũng và công tác phòng chống tham nhũng, cũng như vai trò của pháp luật
đối với công tác tại Việt Nam hiện nay
4. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như khảo sát, tổng kết
thực tiễn, phân tích - tổng hợp,… 5. Kết cấu tiểu luận
Bên cạnh những phần cơ bản như mục lục, mở đầu, nội dung và kết luận, tiểu
luận còn tập trung làm rõ những nội dung qua 3 chương như sau:
- Chương I đề cập tới những vấn đề lý luận liên quan tới đề tài như lý luận
chung về pháp luật, về tham nhũng và các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện
pháp luật trong phòng chống tham nhũng.
- Chương II nêu lên sự cần thiết của việc áp dụng và thực hiện pháp luật vào
trong công tác phòng chống tham nhũng, đồng thời chỉ ra vai trò của pháp
luật trong công tác phòng chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay.
- Chương III đánh giá việc thực hiện vai trò của pháp luật đối với công tác
phòng chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra một số giải
pháp giúp nâng cao hiệu quả công tác. 28 28 NỘI DUNG
Chương I. MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG
CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.
1. Lý luận chung về pháp luật
1.1. Khái niệm “pháp luật”
Xuất phát từ nhu cầu tồn tại và phát triển, con người từ xa xưa đã hình thành
cộng đồng chung sống với nhau. Để có thể duy trì cuộc sống, cộng đồng bắt
buộc phải có những quy tắc, quy định cách ứng xử giữa con người với nhau.
Dần dần, theo thời gian, những quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp phát sinh đã
đặt ra yêu cầu phải có những quy tắc mới để điều chỉnh. Vì vậy, một tổ chức
quyền lực mới là nhà nước ra đời, tiến hành xây dựng các quy tắc xử sự mới
trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Hệ thống pháp luật được dần hình thành cùng
với sự thiết lập và hoàn thiện bộ máy nhà nước. Các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhằm củng cố, bảo vệ lợi ích
của giai cấp thống trị. Từ đó, ta có thể rút ra: “pháp luật là hệ thống các quy tắc
xử sư chung do nhà nước ban hành, thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý
chí của giai cấp thống trị trong xã hội, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội”.
1.2. Bản chất của pháp luật
Bản chất của pháp luật được thể hiện trên các phương diện là tính giai cấp, tính
xã hội và tính nhân dân.
Về tính giai cấp, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị. Giai
cấp thống trị bằng con đường nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một
cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí nhà nước, ý chí đó được
cụ thể hỏa trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền 28
ban hành và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện trong đời sống xã hội. Ngoài
ra, tính giai cấp của pháp luật còn được thể hiện qua mục đích điều chỉnh các
quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một “trật tự” phù
hợp với ý chí, lợi ích của giai cấp thống trị.
Về tính xã hội, pháp luật do nhà nước ban hành, là chủ thể đại diện chính thức
cho toàn xã hội, Điều này nghĩa là pháp luật được xây dựng trên cơ sở của đời
sống xã hội và còn thể hiện ý chí, lợi ích của các lực lượng khác nhau trong xã hội.
Về tính nhân dân, pháp luật được ban hành ra để quy định các quy tắc xử sự
chung trong xã hội, áp dụng cho tất cả nhân dân trong nước. Ngoài ra, đối với
nhà nước Xã hội Chủ nghĩa, tính nhân dân còn thể hiện ở việc Nhà nước là nhà
nước của dân, do dân và vì dân. Sứ mệnh của nhà nước là phục vụ nhân dân,
nhân dân ủy quyền cho nhà nước để thực hiện nguyện vọng của mình.
2. Lý luận chung về tham nhũng
2.1. Khái niệm “tham nhũng”
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội vô cùng phức tạp với nhiều biểu hiện
khác nhau. Hiện tượng này đã tồn tại từ rất sớm trong lịch sử nhân loại và đc
các chuyên gia cảnh báo là hiểm họa đối với tất cả quốc gia trên thế giới, bất kể
chế độ chính trị, tôn giáo, sắc tộc,… Tuy nhiên, cho tới nay, chưa có một định
nghĩa chính xác, mang tính tổng hợp và chấp nhận rộng rãi về tham nhũng. Sự
khác biệt giữa các quốc gia về trình độ phát triển, văn hóa, chính trị xã hội,… đã
nảy sinh ra nhiều quan niệm khác nhau về hiện tượng này.
Ở góc độ chung nhất, thuật ngữ “tham nhũng” (corruption) bắt nguồn từ tiếng
Latin “corruptus” là phá hủy, vi phạm hoặc lạm dụng. Vì thế, chiếu theo gốc rễ 28
của thuật ngữ, hiện tượng này hàm ý những hành vi bất hợp pháp. Trong tài liệu
hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về cuộc đấu tranh chống tham nhũng năm 1969,
tham nhũng được định nghĩa ngắn gọn là “sự lợi dụng quyền lực nhà nước để
trục lợi”. Hội nghị Quốc tế về phòng chống tham nhũng ở Bắc Kinh năm 1995
đã đưa ra quan niệm về tham nhũng là “lòng tham của con người thông qua quyền”.
Tại Việt Nam, Luật Phòng chống tham nhũng ban hành năm 2005 (sửa đổi, bổ
sung năm 2008) ghi rõ ràng và ngắn gọn rằng “tham nhũng là hành vi của người
có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vị, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Xét về tổng
thể, tham nhũng - với bản chất là lợi dụng ưu thế của chức vụ, quyền hạn để trục
lợi bất chính – đã trở thành hiện tượng tiêu cực trên nhiều lĩnh vực của đời sống
xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa,… 2.2. Đặc trưng
Hành vi tham nhũng gồm có 3 đặc điểm chính, thiếu đi một đặc điểm thì hành vi
đó không còn là hành vi tham nhũng.
- Thứ nhất, hành vi tham nhũng phải được thực hiện bởi người có chức vụ và
quyền hạn. Điều 1, Luật phòng chống tham nhũng đã quy định “Tham nhũng
là hành vi…lợi dụng chức vụ quyền hạn…” Điều này cho thấy chủ thể của
hành vi tham nhũng phải là người có chức quyền bởi lẽ, có chức vụ, quyền
hạn thì mới có thể lợi dụng chức quyền. Chức vụ, quyền hạn mà chủ thể có
được có thể từ bầu cử, bổ nhiệm, hợp đồng,…
- Thứ hai, phương thức tham nhũng là lợi dụng chức vụ, quyền hạn đươc giao.
Khi thực hiện hành vi tham nhũng, chủ thể tham nhũng phải lợi dụng chức
vụ, quyền hạn của mình như phương tiện đem lại lợi ích cho bản than, gia 28
đình hoặc người khác. Đây là yếu tố cơ bản để xác định đó có phải hành vi
tham nhũng hay không. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi lợi dụng chức
quyền đều được coi là hành vi tham nhũng mà chỉ những hành vi lợi dụng
chức vụ, quyền hạn nào để vụ lợi, thỏa mãn lòng tham mới có thể tính là hành vi tham nhũng
- Thứ ba, người thực hiện hành vi tham nhũng phải có mục đích, động cơ vụ
lợi (về vật chất, tinh thần mà chủ thể tham nhũng có được sau hành vi tham
nhũng). Hành vi tham nhũng là hành vi có chủ đích, mục đích của tham
nhũng là vụ lợi. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định việc đánh giá tính
chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tham nhũng dựa trên cơ sở xác định
những lợi ích mà kẻ tham nhũng đạt được, từ đó quy định mức độ xử lý. 2.3. Phân loại
Căn cứ theo những tiêu chí khác nhau, có thể có những cách phân loại tham nhũng khác nhau như:
- Dựa trên mức độ tham nhũng, có thể chia tham nhũng thành hai loại: tham
nhũng lớn và tham nhũng nhỏ.
- Dựa vào mức độ chủ động của đối tượng có hành vi tham nhũng, tham
nhũng gồm có tham nhũng chủ động (hành vi đề nghị hoặc đưa hối lộ) và
tham nhũng bị động (hành vi nhận hối lộ)
- Dựa vào lĩnh vực chịu tác động, có thể chia tham nhũng thành tham nhũng
chính trị, tham nhũng kinh tế và tham nhũng hành chính
Ngoài các dạng thức tiêu biểu kể trên, tham nhũng còn có thể phân chia thành:
- Tham nhũng xuyên quốc gia và tham nhũng trong nội bộ quốc gia 28
- Tham nhũng công (trong cơ quan nhà nước) và tham nhũng tư (ngoài cơ quan nhà nước)
- Tham nhung trực tiếp và tham nhũng gián tiếp
3. Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện pháp luật trong phòng chống tham
nhũng ở Việt Nam hiện nay. 3.1. Yếu tố chính trị
Những quy định pháp luật về phòng chống tham nhũng là sự thể chế hóa quan
điểm, đường lối của Đảng về cuộc đấu tranh này. Tuy nhiên, thực hiện pháp luật
về phòng chống tham nhũng lại phụ thuộc vào quan điểm và quyết tâm chính trị
của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương. Yếu tố chính trị về phòng
chống tham nhũng có thể nhìn nhận trên các khía cạnh như sau:
Thứ nhất, nhận thức chính trị của các cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền.
Điều này nghĩa là các Nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước có
được các cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp cận một cách đầy đủ và chính xác hay
không, từ đó xác định được quan điểm, mục tiêu chung của Đảng và Nhà nước;
thực hiện đúng chức trách và nghĩa vụ của mình, đề ra phương hướng, biện
pháp cụ thể cho phòng chống tham nhũng.
Thứ hai, quyết tâm chính trị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
Nhận thức chính trị là điều quan trọng, nhưng nếu các chủ thể không có quyết
tâm chính trị, coi chống tham nhũng là nhiệm vụ cao cả, là sứ mệnh phải hoàn
thành thì nhân dân sẽ khó có thể biến nhận thức thành hành động.
Thứ ba, dù cho có quyết tâm và nhận thức chính trị rõ ràng nhưng các chủ thể
có thẩm quyền không thể hiện nó qua các hành động cụ thể, thông qua các nghị 28
quyết, chương trình, kế hoạch,… dựa trên thẩm quyền của mình thì công tác
phòng chống tham nhũng tại Việt Nam khó có thể đạt đưược kết quả mong
muốn. Bên cạnh việc thực hiện pháp luật thì các cơ quan cũng cần huy động đc
sự hưởng ứng, tham gia của các tổ chức và nhân dân trong công cuộc đấu tranh. 3.2. Yếu tố pháp lý
Trong công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng thì pháp luật luôn trở thành
công cụ hữu hiệu nhất. Hệ thống các quy định pháp luật về phòng chống tham
nhũng là cơ sở pháp lý để tiến hành phòng ngừa và xử lý tham nhũng. Yếu tố
pháp lý về vấn đề này được thể hiện qua các khía cạnh như sau:
Thứ nhất, điều kiện tiên quyết để hoạt động thực hiện pháp luật về phòng chống
tham nhũng đạt hiệu quả cao là hệ thống pháp luật về phòng chống tham nhũng
phải mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp và mang tính khả thi, sát với thực tiễn.
Thứ hai, các quy định về phòng ngừa tham nhũng góp phần hạn chế hình thành
các hành vi tham nhũng. Vậy nên, các quy định này cần phải được quy định một
cách chặt chẽ, có sự phối hợp đồng bộ trên các lĩnh vực khác nhau sẽ tạo được
điều kiện cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân tuân thủ pháp luật chặt chẽ, từ đó
hạn chế khả năng nảy sinh tham nhũng.
Thứ ba, pháp luật mang tính răn đe, cảnh tỉnh đối với con người. Thế nên, pháp
luật về lĩnh vực này nếu không quy định một cách cụ thể, có tính trừng phạt cao,
tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi tham hũng thì không thể nào
tạo được sự cảnh tỉnh đvs các chủ thể có khả năng tham nhũng, thậm chí các
chủ thể này có thể bỏ qua pháp luật mà thực hiện hành vi tham nhũng với mức độ cao hơn 28 3.3. Yếu tố kinh tế
Tham nhũng là sự trục lợi về mặt lợi ích, trong đó lợi ích vật chất là trọng tâm.
Chính vì thế mà yếu tố kinh tế có ảnh hưởng không nhỏ tới công tác phòng
chống tham nhũng tại nước ta hiện nay. Sự tác động đó được thể hiện qua các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, thu nhập của cán bộ công chức là một trong những lý do dẫn tới tình
trạng tham nhũng bởi lẽ, nếu như kinh tế không đảm bảo cho cuộc sống của họ
thì rất khó để có thể đảm bảo được sự liêm chính trong công việc, nhất là khi họ
có cơ hội cải thiện đời sống qua hành vi tham nhũng trong lúc thực thi nhiệm vụ.
Thứ hai, lĩnh vực kinh tế là lĩnh vực dễ dàng nảy sinh tham nhũng nhất nên các
quy định pháp luật về quản lý kinh tế cũng đóng vai trò quan trọng trong hoạt
động thực thi pháp luật về phòng chống tham nhũng. Cơ chế kinh tế đảm bảo
được sự minh bạch, công khai, khách quan và công bằng là môi trường lành
mạnh, hạn chế nguy cơ tham nhũng xảy ra. Vì thế, để có thể góp phần thực hiện
pháp luật phòng chống tham nhũng có hiệu quả thì các chủ trương, chính sách,
pháp luật trong lĩnh vực kinh tế phải đoán trước được các tính huống có thể tạo
cơ hội trục lợi cho các cá nhân và tổ chức có liên quan, từ đó hạn chế tối đa khả năng sản sinh tham nhũng. Tiểu kết chương I
Trong chương I, tiểu luận đã tập trung khái quát một số vâ đề mang tính lý luận
như khái niệm và bản chất của pháp luật, khái niệm, đặc trưng và phân loại một
số loại hình tham nhũng. Ngoài ra, tiểu luận cũng đã chỉ ra một số yếu tố ảnh
hưởng tới quá trình thực hiện pháp luật trong công tác phòng chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay. 28
Chương II. VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG
CHỐNG THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.
1. Sự cần thiết của việc áp dụng và thực hiện pháp luật vào công tác phòng chống tham nhũng.
Vào thế kỷ XV, dưới thời Hồng Đức cai trị bởi vua Lê Thánh Tông, Điều 42
Chương VI - Chế, Quốc triều Hình luật đã ghi rõ: “Quan ty làm trái pháp luật
mà ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan thì xử tội biếm hoặc bãi chức, từ 10 đến 19 quan
thì xử tội đồ hoặc lưu, trên 20 quan thì xử tội chém. Những bậc công thần, quý
thần cùng những người có tài được giữ vào hàng bát nghị mà ăn hối lộ từ 1 đến
9 quan thì phạt 50 quan; từ 10 đến 19 quan thì phạt từ 60 đến 100 quan; từ 20
quan trở lên thì xử tội đồ và những tiền ăn hối lộ xử phạt gấp đôi nộp vào kho”.
Tới thế kỷ XIX, ngay từ những ngày đầu giành đc độc lập nước nhà, Đảng và
Nhà nước đã rất coi trọng xử lý vấn đề tham nhũng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nói rõ trong bài nói chuyện năm 1952 về “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô,
lãng phí, chống bệnh quan liêu” rằng: “Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là
ăn cắp của công làm tư; đục khoét của nhân dân, ăn bớt của bộ đội; tiêu ít mà
khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương
mình, đơn vị mình..”…. “Đứng về phía nhân dân mình mà nói, tham ô là ăn cắp
của công, khai gian, lậu thuế”. Còn đối với chế độ ta hiện nay, thiết tưởng, cùng
tội trạng như nhau, những đối tượng là đảng viên - cán bộ phải bị xử phạt nặng
hơn dân thường; người ở ngôi vị càng cao, càng phải xử nặng. Như vậy, ta có
thể thấy rõ ràng rằng, từ xưa tới nay, công tác phòng chống tham nhũng luôn là
vấn đề quan trọng, phức tạp và lâu dài, đòi hỏi cần phải có những biện pháp
thiết thực để có thể phòng chống hiệu quả, mà trong đó, luật pháp là công cụ đắc lực. 28
Nhận thức sâu sắc về những tác hại nghiêm trọng của tệ nạn tham nhũng, Đảng
và Nhà nước ta luôn chú trọng đến việc phòng ngừa và đấu tranh chống tham
nhũng. Pháp luật chống tham nhũng phải coi tham nhũng là kẻ địch, coi chống
tham nhũng là chống lại tội ác, loại bỏ cái xấu trong xã hội để bảo vệ cái thiện,
sự bình yên của cuộc sống, sự lành mạnh của xã hội và bảo vệ phẩm giá trong
sạch của con người. Đã có hành vi tham nhũng thì cần phải chịu sự nghiêm trị
của pháp luật, quyền càng lớn thì càng phải xử lý mạnh tay để răn đe, nêu
gương, không có trường hợp ngoại lệ.
Những quy định về xử lý tham nhũng được ghi nhận ở nhiều văn bản pháp luật
khác nhau, có thể kể đến như: Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018, Bộ luật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Cán bộ, công chức năm
2008,… Pháp luật quy định tương đối đầy đủ hệ thống chế tài áp dụng cho
người có hành vi tham nhũng tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm. Việc áp
dụng tổng hợp pháp luật, chính sách và chế tài trong công tác phòng chống tham
nhũng giúp cho nhân dân giác ngộ và thực hiện, từ việc không muốn tham
nhũng, không dám tham nhũng và không có môi trường phát sinh tham nhũng,
bởi nhận thức được sự nguy hiểm từ tham nhũng và kiểm soát từ pháp luật.
Nhiệm vụ chính của luật Phòng chống tham nhũng chính là tạo ra cơ chế phòng
ngừa tham nhũng toàn diện, thông qua đó góp phần xây dựng một cơ chế quản
lý nhà nước, quản lý xã hội công khai, minh bạch, tạo cơ sở pháp lý vững chắc
cho việc ngăn chặn, phát hiện và xử lý kịp thời hành vi tham nhũng. Trên cơ sở
đó, luật Phòng chống tham nhũng đưa ra các chế tài về chính trị, hành chính,
kinh tế cùng với các chế tài hình sự đã được quy định trong pháp luật hình sự và
tố tụng để tạo ra khung pháp lý tổng thể ngăn chặn, răn đe và trừng phạt tham
nhũng. Đồng thời, mở rộng từng bước, có chọn lọc về phạm vi điều chỉnh của
luật Phòng chống tham nhũng để phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi 28
tham nhũng ngoài khu vực nhà nước nhằm chống sự thông đồng để tham nhũng
giữa khu vực công và tư, bảo vệ lợi ích Nhà nước và ngườ11i đầu tư, người gửi
tiền và các hoạt động an sinh xã hội.
2. Vai trò của pháp luật trong công tác phòng chống tham nhũng tại Việt Nam hiện nay.
2.1. Pháp luật quy định biện pháp phòng ngừa tham nhũng trong cơ quan, tổ chức và đơn vị.
- Thứ nhất, công khai minh bạch hóa hoạt động và tổ chức của bộ máy nhà
nước, tổ chức, đơn vị. Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018 đã dành
nhiều quy định cho việc công khai, minh bạch trong suốt Mục I của Chương
II. Lần đầu tiên ở nước ta, vấn đề công khai, minh bạch đã được đề cập một
cách đầy đủ và rõ ràng, chi tiết, ngắn gọn tại một văn bản mang tính quy
phạm pháp luật về phòng chống tham nhũng. Theo Mục I, Chương II của
Luật, các cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai, minh bạch theo quy định
của pháp luật, trừ những trường hợp pháp luật quy định phải bí mật. Bên
cạnh đó, Luật cũng quy định các hình thức cụ thể mà người đứng đầu cơ
quan, tổ chức phải lựa chọn để công khai, minh bạch hóa hoạt động, nhằm
ràng buộc và nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan. Luật Phòng chống tham nhũng cũng đã lựa ra một số lĩnh vực quan
trọng, dễ phát sinh tình trạng tham nhũng, bắt buộc các cơ quan, tổ chức, đơn
vị phải công khai hoạt động như: mua sắm công; quản lý dự án đầu tư; quản
lý, sử dụng các khoản viện trợ; quản lý và sử dụng đất, nhà ở, y tế, giáo dục,
khoa học,… Đặc biệt, Luật có thêm quy định về việc giải trình về quyết định,
hành vi của cơ quan, tổ chức, đơn vị theo quy định của pháp luật. 28
- Thứ hai, quy định quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức. Từ điều 36 đến 39
của Luật quy định vấn đề này theo hai hướng. Một mặt bổ sung, hoàn thiện
hệ thống quy định pháp luật hiện hành về quyền, nghĩa vụ và những điều
cấm đối với cán bộ công chức. Mặt khác quy định trách nhiệm của các cơ
quan có liên quan trong hoạt động ban hành bộ quy tắc ứng xử riêng phù hợp
với đặc thù ngành, cơ quan. Ngoài ra, Luật còn quy định nghĩa vụ và trách
nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc báo cáo và xử lý dấu hiệu tham nhũng.
- Thứ ba, Luật quy định về vấn đề tặng quà và nhận quà tại cơ quan, tổ chức,
đơn vị hiện nay, nhằm ngăn ngừa việc đưa và nhận hối lộ . Đây là điểm mới
trong xây dựng và ban hành luật bởi lẽ, tặng và nhận quà là truyền thống tốt
đẹp, vấn đề mang tính chất xã hội và được điều chỉnh bởi các quy tắc xã hội
là chủ yếu. Tuy nhiên, hoạt động này đã bị biến tướng, bị lợi dụng để thực
hiện hành vi tiêu cực, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh từ pháp luật.
- Thứ tư, Luật Phòng chống tham nhũng xây dựng, hoàn thiện và đảm bảo
thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ, định mức, tiêu chuẩn. Từ các hoạt động
thực tế, ta có thể nhận thấy rõ rằng một trong những nguyên nhân cơ bản của
tình trạng tham nhũng là do hệ thống chế độ, định mức, tiêu chuẩn trong
quản lý nhà nước chưa được hoàn thiện, dẫẫn tới việc thực hiện không đúng
hoặc cố ý làm trái. Vì thế mà tại mục II Chương II của bộ luật đã quy định
trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có liên quan trong việc xây dựng,
hoàn thiện và đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh chế độ, định mức, tiêu chuẩn
trong quản lý nhà nước và các hoạt động kinh tế, xã hội.
2.2. Pháp luật quy định các hình thức phát hiện tham nhũng. 28
Muốn xử lý các hành vi tham nhũng thì cần phải có những cách phát hiện tham
nhũng. Luật Phòng chống tham nhũng 2018 đã đưa ra các hình thức hoạt động
cụ thể để có thể phát hiện hành vi tham nhũng, bao gồm:
- Phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra của cơ quan, tổ chức. Luật
Phòng chống tham nhũng năm 2005 đã quy định những hình thức kiểm tra,
trong đó yêu cầu thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, người đứng đầu cơ
quan, tổ chức, đơn vị phải có trách nhiệm thường xuyên tổ chức kiểm tra
việc chấp hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân thuộc
phạm vi quản lý của mình, từ đó kịp thời phát hiện và xử lý hành vi tham
nhũng theo thẩm quyền hoặc thông báo cho cơ quan thanh tra điều tra. Bên
cạnh đó, Luật còn nhấn mạnh rằng việc kiểm tra có thể được thực hiện dưới
hình thức thường xuyên theo chương trình, kế hoạch tập trung vào lĩnh vực
thường xảy ra tham nhũng hoặc đột xuất nếu như phát hiện dấu hiệu tham nhũng.
- Phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều
tra, giám sát. Theo Điều 62 và 63 của Luật Phòng chống tham nhũng, các cơ
quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, viện kiểm sát thông qua hoạt động thanh
tra, kiểm toán, điều tra, xét xử có trách nhiệm chủ động phát hiện hành vi
tham nhũng và xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý theo quy định
pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luât về quyết định của mình.
- Phát hiện tham nhũng thông qua tiếp nhận và giải quyết tố cáo về hành vi
tham nhũng. Đối với việc phát hiện và xử lý tham nhũng, tố cáo là một hoạt
động cực kỳ quan trọng. Mục 3 của Chương III Luật Phòng chống tham
nhũng quy định những nguyên tắc chung và nội dung cơ bản liên quan tới vấn đề này như sau: 28
o Công dân có quyền tố cáo hành vi tham nhũng với cơ quan, tổ chức và
cá nhân có thẩm quyền. Người tố cáo phải trung thực, nêu rõ ràng họ
tên, địa chỉ, cung cấp thông tin, tài liệu mình có được và hợp tác với
các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo.
o Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện thuận
lợi để nhân dân tố cáo trực tiếp hoặc gián tiếp qua các hình thức theo
quy định pháp luật. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
khi nhận được tố cáo về hàn vi tham nhũng cần phải xem xét và xử lý
theo thẩm quyền; giữ bí mật về thông tin cá nhân và các thông tin khác
theo yêu cầu của người tố cáo; áp dụng kịp thời các biện pháp cần
thiết để bảo vệ người tố cáo khi có biểu hiện bị đe dọa, trả thù.
o Trong phạm vi nhiệm vụ của mình, cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc cá
nhân phải tạo điều kiện, cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền giải quyết tố cáo để phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời
hành vi tham nhũng, hạn chế tối thiểu thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra.
2.3. Pháp luật quy định phương thức xử lý hành vi tham nhũng cùng các hành
vi vi phạm pháp luật khác.
Đối với công tác phòng chống tham nhũng, việc xử lý hành vi tham nhũng và
các hành vi vi phạm pháp luật khác là biện pháp quan trọng để đảm bảo sự
nghiêm minh, đảm bảo tính răn đe của pháp luật. Trong bộ luật về phòng
chống tham nhũng, có hai khía cạnh về xử lý tham nhũng được đề cập tới là
xử lý đối tượng tham nhũng và xử lý tài sản tham nhũng. 28
Về xử lý đối tượng tham nhũng, Luật Phòng chống tham nhũng quy định hai
chế tài áp dụng với người có hành vi tham nhũng là xử lý kỉ luật hoặc xử lý hình sự.
- Đối tượng bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự bao gồm các đối tượng sau:
Người có hành vi tham nhũng, các điều kiện dựa trên quy định tại Điều 3 của Luật
Người không báo cáo, tố giác khi hành vi tham nhũng xảy ra
Người không xử lý báo cáo, tố giác khi biết có hành vi tham nhũng
Người có hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người phát hiện và báo cáo hành vi tham nhũng
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị xảy ra hành vi tham nhũng
trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình phụ trách
- Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm của ng có hành vi tham nhũng mà xử lý
kỷ luật hoặc xử lý hình sự. Trong trường hợp bị kết án về hành vi tham
nhũng và bản án có hiệu lực pháp luật thì buộc thôi việc; đối với Đại biểu
Quốc hội, Hội đồng Nhân dân thì mất quyền đại biểu.
Về xử lý tài sản tham nhũng, Điều 70 của Luật phòng chống tham nhũng quy định
./nguyên tắc xử lý tài sản tham nhũng là: tài sản tham nhũng phải bị tịch thu, trả
lại cho chủ sở hữu, quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước, người đưa hối lộ
mà chủ động khai báo trước khi hành vi hối lộ bị phát hiện thì tài sản đó sẽ được trả lại. 28