ISSN 1859-1531 - TP CHÍ KHOA HC VÀ CÔNG NGH ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, S 10(131).2018 35
MỸ HỌC TRUYỀN THỐNG NHẬT BẢN TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
JAPANESE TRADITIONAL AESTHETICS FROM CULTURAL PERSPECTIVE
Nguyễn Phương Khánh
Trường Đại học Sư phạm Đại học Đà Nẵng; npkhanh@ued.udn.vn
Tóm tắt - Bàn vmỹ học Nhật Bản, nời ta nghĩ đến hàng loạt các
phạm trù tính chất đặc thù như: mono no aware, yugen, wabi,
sabi, miyabi, okashi… như những hiệu văn hóa tiêu biểu gắn
với đời sống tinh thn, thẩm mỹ của con người Nhật. Mỹ hc truyền
thống của xứ sở hoa anh đào nhiều điểm cùng khác biệt với
phương Tây và kể cả với các nền văn hóa cùng khu vực. Trong đó
quan niệm về cái đẹp những giá trị thẩm mỹ khác của đời sống
gắn với thiên nhn, với sinh mệnh thường ngày, với quan niệm của
Thần đạo và Phật giáo. Bài viết đi vào phân tích những biểu hiện của
tinh thần mỹ học Nht Bản, đặc bit là quan niệm vềi đẹp, từ góc
nhìn văna và đặt trong đối sánh mỹ hc Đông – Tây.
Abstract - In terms of Japanese aesthetics, it is thought that there
are a number of categories of mono no aware, yugen, wabi, sabi,
miyabi, okashi... as typical cultural symbols associated with the
spirit of Japanese people. Traditional aesthetics in the country of
cherry blossom has a lot of differences from the West and even
with the other cultures in Eastern Asia. The concept of beauty and
other aesthetic values of life in Japan is seen as an integral part of
the nature, with daily life’s beings, with the concept of Shinto and
Buddhism. The article analyzes the expressions of Japanese
aestheticism, especially the notion about the beauty, from a cultural
perspective and in East-West aesthetic comparison.
Từ khóa - mỹ học truyền thống Nhật Bản; niềm bi cảm; vô thường;
Thiền tông; Thần đạo.
Key words - Japanese traditional; Aesthetics; mono no aware;
mujo; Zen; Shinto.
1. M hc Nht Bản trong cái nhìn đối sánh Đông - Tây
Lch s m hc Nht Bảni riêng và các nước phương
Đông nói chung không có điểm xut phát và quá trình phát
triển như mỹ học phương Tây. Khoa học M học ra đời
chính thc vào thế k XVII châu Âu ng đi một con
đưng hoàn toàn khác với các nước vùng Viễn Đông bên
kia. Tt nhiên nhng khát vng thuyết minh v m học đã
t thi c đại. tưởng ca các triết gia Hy Lạp xưa trong
tác phẩm “Đối thoại” của Platon, Thi học” và “Tu từ học”
ca Aristote đều được xây dng tng kết trên sở kinh
nghim của văn nghệ thc tin thời xưa. Không thn thoi,
điêu khắc, s thi bi kch c Hy Lp phn vinh rc r thì
th không tưởng m hc ca Platon, hay Aristote
các nhà m học sau này. Tương t, những ngưi thầy vĩ đại
ca người Trung Quc như Lão Tử, Khng T, Trang T...
đều đưa ra hàng loạt các phm trùảnh hưởng rt lớn đến
h thng m hc Trung Quc c đin.
Tuy nhiên thời đó mỹ hc c Đông Tây chưa thành
môn khoa học độc lp riêng r.
Thut ng M hc (Aesthetics) xut phát t tiếng Hy Lp
nghĩa “cảm giác. Nhận thc thm m tt yếu liên
quan đến giác quan, đặc bit th giác thính giác. Quan
niệm căn bản ca A. Baumgarten (1714-1762) mt nhà m
học người Đức trong thế k XVII, nời đu tn viết b sách
tên M hc m ra giai đoạnmt chính thc ca b
môn khoa học này, đặt song song vi các nghiên cu ngh
thut hay triết hc nói ngn gn trong một định nghĩa:Mỹ
hc là khoa hc v cái Đẹp”. Immanuel Kant (1724 - 1804)
phê phán nh thuần túy và đề cao s cảm nh trong đánh
g cái đp:Cái đp không phi tn đôi má hng ca ngưi
thiếu n trong con mt ca k si tình. Hay Hegel, người
đề cao cái đẹp ngh thuật hơn cái đẹp t nhiên, li khẳng định:
“M hc triết hc ca ngh thut”, tức ông cho rng đối
ng nghiên cu ca m hc ch cái m ca ngh thut. Có
th i, lun v đời sng thm m của con người, trung tâm
1
John Keats là một hiện tượng thi ca đặc biệt của Anh quốc thế kỉ XIX. Điều làm nên sự khác biệt giữa Keats và các nhà thơ lãng mạn nổi tiếng cùng
thời chính là quan niệm beauty is truth. Thi sĩ nhấn mạnh vào sự hợp nhất giữa sự thực và cái đẹp (The Oneness of Truth and Beauty).
c quan nim v i đẹp và ngh thut, phương Tây cc
kì phong phú, nhiu thay đổi đầy khát vọng “lật đổ” (to
lp i mi) trong mi triết thuyết. Tinh thn đặc trưng của
Tây phương nh, vì thế m hc ca phương Tâyng
hình thái lun rõ, có nh phân tích và nh h thng. Trong
khi đó, mỹ học phương Đông i chung, đặc bit Nht Bn,
thiên v hình thái kinh nghim, cm nh, trc quan. Phương
Tây coi trọng “tái hiện,mô phỏng”, Nhật và c nưc cùng
khu vc chuộng tính biu hiện”, tr tình, do đó luận ý -
cnh phát trin. Ý cnh đây nằm trong triết “Cnh sinh vi
ng ngoại (cnh sinh ngoài tưng), din đt s thng nht
gia hu hn và vô hạn, hư và thc...
ng m học phương Tây từ thi Hy Lp c đi qua
thi Trung c, Phc hưng, Cổ điển, Ánh sáng... đến m hc
dân ch Cách mng Nga, m hc Mác Lenin mt con
đưng dài vi nhiều ởng đa dạng. n bản, m hc ca
các nước phương Tây tập trung vào gii quyết các vấn đề
nhn thc v cái đẹp, trong đó đề cao tính Chân, M, trong
nhiều trường hp th tuyệt đối hóa cái đẹp cm tính
đối lp ngh thut với đạo đức (trong khi đó, m hc c đin
Trung Hoa thng nht coi trọng “mỹ thiện”).
M hc Nht Bn gn bó nhiều hơn vi cái Chân, tc cái
T nhn bn th (khác vi ý nghĩ vi Chân trong s “mô
phỏng”, “tái hiện”, mimesis” ca pơng Tây). Cái Chân
gin d mc mạc y, như chính nó, chỗ vô bn th
(insubstantiel) nhưng đồng thời ng i mi khía cnh ca
hin hu được biu hin qua nó. thế, không có s phng
hin thc nào th din gii trc tiếp và đầy đ v t nhiên.
Mi khát vng biu hin nó, phải như tinh thn haiku, bng
s ám gi (suggestion). Donald Richie cm nhn v văna
Nht: Things as they are, or Nature itself[4, 16]. Ngay c
thiên tài thơ ca ng mn Anh John Keats (1795-1821)
trong ni tuyt vng kh đau tuyên b tng ca cái đẹp tuyt
đối tn tinh thn s thực là cái đẹp: “Beauty is truth, truth is
beauty
1
, có l ông đã rt gn vi tinh thn châu Á.
36 Nguyễn Phương Khánh
M hc Nht Bản cũng khá “dị biệt” trong khu vực
Đông Á mà trung tâm là Trung Hoa. Theo sách Đại cương
lch s m hc Trung Quc, khoa hc m hc c đin Trung
Quc lấy “ý tượng” thẩm mm ct lõi, ch “mỹ” không
phi phm trù trung tâm, cũng không phi phm trù
cao nht. Các khái nim m hc ca Lão T, Khng T,
Trang T hay Tuân T như “đạo”, “khí”, “tượng”, “diệu”,
“thần”, “phú”, “t”, “hứng”, v.v... thực ra b phn ca
triết học. Cái “mỹ” thực chất để ớng đến cái “diệu”, đến
“đạo”, “khí” của sinh mệnh. Còn tưởng thm m ca
Nht Bản cũng truyền ti qua các khái nim riêng gn vi
thi ca, các sn phm m ngh thng, kiến trúc, hi ha,
đình viên, trà đạo hay vũ đạo, l hội... Trong đó trng tâm
vẫn là hướng đến các sc thái biu hin khác nhau ca cái
đẹp trong tinh thn u hoài, thường, tàn khuyết, không
hoàn ho mà gin d, cô tch.
Nht thc ra không t ng nào din t tương
đương khái nim Aesthetics với ý nghĩa như phương Tây.
mt t Bigaku 美学 đưc s dng khong t năm
1883 (sau giai đon tiếp xúc mnh m với các nước Âu
M) ý ch v b môn M hc. Mc dù, thi nhân Ki no
Tsurayuki (872 - 945) t thời Heian, người viết li m đầu
cho thi tuyn Kokin waka shu (C kim hòa ca tp) đã được
xem nm hc Nht Bản đầu tiên vi lun “thơ ca
mc lên t trái tim con người”
2
.
Thêm na, những rung đng tế vi ca tâm hn Nht
Bn vốn được thc hành trong nhiu phương diện ngh
thuật đời sng, tính truyn thống lâu dài ít thay đi
và thường không “nguyên khối”, khác vi s phát trin
các quan nim ca m học phương Tây. Các phẩm chất đẹp,
bun, u tịch, đơn, giản dị, không... trong cm thc
Nht Bn li luôn hòa quyn kết ni với nhau, cùng hướng
v cái ưu nhã, thường, chân như của cái đẹp. Bi vy rt
khó đ s dng các thut ng ca M học phương Tây đ
din gii các cm thức phương Đông.
Trong rt nhiu phm chất đại din cho tinh thn m
hc Nht Bn, nhà nghiên cu Donald Keene m li bn
đặc trưng cơ bản nhất. Đó là:
- Tính ám th, gi ý (suggestion);
- Tính bt quy tc (irregularity);
- Tính gin phác (simplicity);
- Tính tàn li, phai phôi (perishability) hay tính
thường (impermanence).
M học phương Tây đôi lúc cũng gặp g Nht Bn
tinh thn ti gin, bt quy tc hay tính ám gợi. Nhưng
lẽ, ý ng v cái đp trong s n phai, biến dch
(vanishing) thì hơi xa lạ. Tuy nhiên phm cht này chính
ký hiệu đặc trưng của văn hóa Nhật Bn, vn gn bó với tư
ng mujo ca Pht giáo trong i nhìn vn vật đều đổi
dời, không vĩnh cửu, như Kamo no Chomei (1153-1216)
viết trong m đầu cun tùy bút Hojoki (方丈記 Phương
2
Kokin waka shu là thi tuyển tập hợp hơn 1000 bài thơ, được biên soạn theo chiếu chỉ của triều đình trong khoảng từ năm 904 đến 914. Ki no Tsurayuki
là một trong những nhà phụ trách chính của thi tuyển này, người đã viết lời mở đầu cho tập thơ và cũng là tác giả của rất nhiều bài thơ trong tập.
3
Phương trượng (方丈記) là tên tập tùy bút của thi nhân Nhật Bản Kamo no Chomei (Kamo no Naga Akira) viết năm 1212 vào đầu thời Kamakura.
Những năm cuối đời, Chomei lui về ẩn cư ở núi Hino thuộc vùng ngoại ô Kyoto. Tại đây ông dựng một cái am nhỏ, bốn bề mỗi bề một trượng (chừng
3m) nên mới gọi là phương trượng. Chomei ẩn cư trong am, quan sát thế sự đương thời và ghi chép lại nên gọi tác phẩm của mình là “phương trượng
ký”. Đâytập tùy bút tiêu biểu cho nền văn học Nhật Bản thời trung đại, và được tôn xưng là “Nhật Bản tam đại tùy bút” cùng với tập tùy bút Makura
zoshi (Chẩm thảo tử) thời Heian và tập Tsurezuregusa (Đồ nhiên thảo) sau thời đại của Chomei chừng trăm năm.
4
Ksurezuregusa ( Đồ nhiên thảo) là một tập tùy bút gồm 243 đoạn, do Kenko sáng tác, vào thời Nam Bắc Triều Nhật Bản (thế kỉ XIV).
trượng ký)
3
:
“Dòng sông vốn chy mãi không ngừng, nước vn
chng phải nước ban đầu. Lại nghĩ bong bóng nổi n ch
ớc đọng, va tan biến đã lại ni lên, chng ln nào ging
lần nào. Ngưi sng trong đi nhà ca trú ng ca h
cũng chẳng khác chi.”
Hay cun Ksurezuregusa ( Đồ nhiên tho)
4
ca
ẩn Urabe Kenko (khoảng 1283-1350) vào thế k XIV:
“Sương trên cánh đồng Adashi khô ngay, khói i
Toribe mới nhìn đã không thấy na thế con người
không mun mình biến mất như giọt sương, ngọn khói. Tuy
nhiên, nếu cuộc đời c kéo dài vĩnh viễn thì n gì đáng để
xúc động nữa. Chính đời thường n mi tuyt
vời.” (Đồ nhiên tho, đoạn 7, Nguyn Nam Trân dch).
Ngay phương Đông, đặc trưng thẩm m của người
Nhật cũng khá d bit vi các quc gia còn lại. Điều này
gn vi truyn thng văn hóa ca tng dân tc. th nhn
ra rng, trung m của đời sng tinh thần người Ấn Độ
tình yêu tôn giáo; với người Trung Quốc, đó là triết hc v
hi, v cách “tu thân, tề gia, tr quc, bình thiên hạ”. Còn
đất nước ca n thn Mt tri Amaterasu, tôn giáo hay
triết học đều nghiêng v thm m, v ngh thuật, đó là tôn
giáo triết hc v cái Đẹp. thế, Tadao Umesao trong
công trình Lch s nhìn t quan điểm sinh thái hc Văn
minh Nht Bn trong bi cnh thế gii cho mt d liên
quan đến vic cm nhận cái đẹp của người Nhật người
Ấn khi thưởng thc mt bức tranh tường trong mt ngôi
đền. Ông cho rằng, người Nht th đánh giá tôn giáo
bng ngh thuật, còn người n lại đánh giá nghệ thut bng
thước đo tôn giáo. Ông viết: “Dù trong bt c trường hp
nào, chúng ta cũng không thể hiểu được mt hoạt động tôn
giáo mà li không kèm theo v đẹp. Nht Bn, thm chí
chúng ta còn xu ng coi khoa hc mt kiu ca
kinh nghim thm m. Các nhà toán hc hoc nhà khoa hc
ờng như thường theo đuổi mt lý thuyết v đẹp ca
nó hơn là chính thuyết đó. Đối với người Nht, khoa
hc có thmt loi hình ngh thut” [7, trang 58].
S khác biệt văn hóa, thm m ch:
“Khi thăm một ngôi đền Nht Bản, người ta thường
nghe thy li bình phm v ngh thut ca một pho tượng
hay nhng bc tranh Pht giáo. Li bình phm bao hàm
nhng s gii thích v ngh sĩ, trưng phái ngh thut ca
ông ta, và liu tác phẩm đó có phi là báu vt quc gia hoc
mt tài sản văn a quan trng hay không, v.v... Không ai
mun nghe mt bài lun dài dòng v ý nghĩa tôn giáo của
bc tranh. Tuy nhiên, Ấn Độ, người ta sn sàng nghe gii
thích v tôn giáo hơn là bình luận v ý nghĩa ngh thut. Mi
quan tâm chính là v lời răn dạy tinh thần được miêu t qua
bc tranh. S gii thích v mt tác phm ngh thut thưng
b coi là mt bài thuyết trình triết học khó” [7, trang 58].
Câu chuyn của giáo Tadao Umesao chia sẻ cho
ISSN 1859-1531 - TP CHÍ KHOA HC VÀ CÔNG NGH ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, S 10(131).2018 37
chúng ta v lòng ham cái đẹp ngh thut của người
Nhật. Không riêng thái độ vi tôn giáo hay khoa hc, thc
cht mi khía cnh ca thế giới đối với người Nhật đều để
li nhng du n rung cm tế vi và đều được soi sáng dưới
các cm thc thm m. Chính thế, nhng s vt, hot động
thường nht s đưc óc thm m sp xếp, sáng to sao cho
đậm cht ngh thut. Vic b trí một bàn ăn, một hp cơm
bento, mt chiếc qut giy, mt chiếc bánh ngọt... cũng là c
mt công trình tinh tế, gây ấnng th giác. M hc truyn
thng Nht Bản hướng đến mt cm quan rt riêng v cái
đẹp gia cuộc đời nhân thế, đó cũng chìa khóa để c
o toàn b nền văn hóa ngh thut tâm hn sâu thm ni
nim ca con người Phù Tang.
2. Đặc trưng cái Đp trong m hc truyn thng Nht
Bn
Cái Đẹp dưới đôi mắt Nht Bn không phi ch là đóa
hoa rc r mãn khai hay vng trăng sáng vằng vc không
gn mt bóng mây, không phi ch đền đài đi hay
tiếng rn rã ca các điệu nhy mùa xuân. Cái Đẹp đơn giản
có th bắt đầu t mt n hoa sm mai, mt hòn sỏi cô đơn,
mt ngọn đèn đá trong vườn trà, cho đến sc áo thanh tao
ca chiếc kimono, âm điu man mác t cây đàn shamisen
hay mt cun sách trưng thiên k v cuộc đời trm luân
ca hoàng t ánh sáng Genji.
2.1. Cái đẹp nh nhn, gin phác, thun khiết
Người Nhật có khuynh hướng thu nh, ý thc thm m
đặc biệt ưa chuộng nhng cái nh bé, xinh xắn, đến ni
chúng ta th thốt lên “kawaii!”. Cái nh nhn này lin
vi s tinh tế, cht lc và ưu nhã trong cái nhìn và sự biu
hin trong ngh thut Nht Bản. Thơ haiku, truyện trong
lòng bàn tay, cánh hoa anh đào nhẹ mng, chiếc qut gp
sensu, cơm nắm, đèn lồng gp chochin, cây cnh bonsai...
ợng trưng cho khuynh hướng giản lược, ct gt, chung
cái nh nhn tế vi trong cm thc v i đẹp của người Nht.
Khu vườn khô karesansui cũng biểu hin cho vic kéo
núi non, bin c vào trong khoảng vườn nh hp.
N tài hoa của văn học thi Heian, Sei Shonagon (c.
9661017/1025), nói rng: “Cái ng vậy, nhng vt
nh đều đẹp”.
Cái đẹp nh xinh gn vi s tế nh, duyên dáng và nhã
nhn trong m hồn người dân đảo quc này, luôn mun
tìm đến v giản đơn, bình dị n trong mi biu hin t nhiên,
thun khiết ca s vt. Cm quan v cái đẹp như thế đã tạo
nên yếu t gin phác trong m hc Nht. Ngh thut tn ti
nhng khong trng thinh lng ca không gian, thi gian,
hòa vào t nhiên, không mưu cu k xo phc tp, hoa m.
Đó cũng là lý do hội ha Nht Bn không s dng nhiu
màu rc r chói sáng. Ch đề chính yếu ca ngành hi ha
Nht Bn vn các dáng v ca thiên nhiên trời đất qua
bn mùa. Những hoa văn trang trí có trên lụa vi, tranh v,
gm s truyn thống đều là nhng hình nh thc vt, hoa,..
vi màu sc t thc. Soi chiếu cuc sng bng cái nhìn ca
t nhiên, bng trái tim yêu t nhiên tha thiết nhãn quan
của người ngh Phù Tang để to nên nhng tác phm
bình d, nhvà thm nhun v đẹp truyn thng.
Nhà nhân chng học người Pháp ni tiếng Claude vi-
5
Truyện ngắn Trăng Tây hồ (Seiko no tsuki, 1919) của Tanizaki Junichiro.
Strauss khi nghiên cu Nht Bản đã nhận ra “mặt khác ca
trăng”. Sự khác bit ca ngh thut truyn thng Nht ngay
phương Đông, theo Lévi- Strauss, đó là ý đồ biểu đạt và
s gin d trong cách thc hin, khác vi tính cht phc tp
ca ngh thut Trung Quc. Ý thc thm m của người dân
đảo quốc vùng Đông Á này đặc biệt hướng v thế gii vn
vt trạng thái nguyên sơ, những b cc thô ráp, nhng
hình thù không đều nhau hoặc không đối xứng (nghĩa
hoàn toàn t nhiên, không trau chuốt đẽo gt), hay nhng
tác phm ti gin táo bạo. Đó chính “nghệ thut ca cái
không hoàn hảo” – ngh thut nguyên thy cái đẹp thun
khiết t nhiên nht.
Cái đẹp thanh đạm, sâu sc, không rc r b ngoài
chính là điểm đặc bit trong cm thc v cái đẹp của người
Nht. T tranh v, kiến trúc đến hoa đạo, trà đạo, thư đạo…
đều ngp tràn thanh sc mc mc, thanh tnh cùng.
Trong thi hc c đin, hình nh t nhiên thanh nhã hu tình
của ánh trăng, núi non phong cảnh, chim ca, hoa tng
mùa… xuyên thấm nhng vn thơ bé nhỏ hay nhng trang
nht ký, nhng cun vt ng trường thiên. Ngay c nhà văn
được xem người chuyên miêu t “cái đẹp đồi phế” như
Tanizaki Junichiro (1886-1965) thực ra cũng cực rung
động trước v thanh tao, thoát tc. Trên chuyến tàu đến
Hàng Châu đầy khách Trung Quc, con mt tinh tế ca nhà
văn quan sát kĩ những cô gái áo la sc s ấn tượng ch
dng li bi mt cô tr tuổi ăn vận thanh thoát hơn c vi
cánh áo màu xanh men s nhàn nhạt và đôi giày trắng. Cái
màu sắc này nhà văn cảm tưởng nh dáng như tan loãng
vào màu xanh ca núi h man mác
5
.
2.2. Cái Đẹp trong khuynh hưng biu hiện tượng trưng
Cái bình đạm, tinh tế, nh nhn ca cái đẹp đưa đến
khuynh ớng tượng trưng trong cảm thc thm m trong con
mt của ni Nht. Khác vi m học phương y thưng đề
cao tng th, hình khi nguyên vẹn thì người dân x s ngàn
nh hc li chú trng tính mc mạc đường nét gin phác
kiểu ch v mt nhánh c mà thấy đưc ngọn gió đi qua”.
thế, trong ngh thut Nht Bn, người ta thy ch
biu hiện khiêm nhường, gin dị, thanh đạm, nhiu khong
trống đầy ý nghĩa, gây cảm động sâu xa. Cái hư không, cái
“rỗng”, hồ được đ cao hơn cái thực. Một bài thơ
haiku nh nhn thực ra không hướng đến vic k nhng
câu chuyện phong phú, đầy p hin thực, ngược lại, ưa ghi
li nhng khonh khc, nhng phút lóe sáng, những đường
nét mong manh ca thế gian. Trong không gian khiêm
nhường ca trà tht, mt bức thư pháp, một bông hoa di
hái bên đường... nhc nh cm thức “hòa – kính thanh
tịch” trong tâm hồn trà nhân. Tt c mối giao hòa đó đt
đưc t s không phân bit cái thực hư, cái đầy đủ
s thiếu vng, cái c th cái tượng trưng, cái thẩm m
và cái bình thường...
Trong kết cấu “ý ợngcủa thi ha thi c đại Trung
Quốc, cái “hư không” có vị trí quan trọng. Không có cái
không, ý cnh hi ha Trung Quc, k c thi ca, không
th sinh ra. Người Nhật cũng đồng điệu đim này. Ngh
thut biu din truyn thng ca x s Mt tri mc bi vy
chung s n d u huyền hơn thực. Dùng tiết tu âm
nhc phi hp với động tác biu din, không cn kch tính
38 Nguyễn Phương Khánh
(theo nhn thc của người phương Tây), Nht Bn lại được
xem cùng chân thc. Bi chân thc vi ch th, mt
mi giao tình thâm sâu của đời sống tâm trí được biu hin
thông qua các nhn thc có v mơ h này.
Điu nói trên khiến cho bc tranh qu đậu nh kca
Basho
6
tr thành mt công án siêu vit. Nhng nét phác
quá ít i của bài haiku kinh điển này lại khơi dậy bao
mt trong h thm, bi ngh thut không cn ngôn ng
m rà. Mi s phô bày c th quá s mất đi tính ám thị,
sc ám th, th nói, chính sc mnh bn th ca
ngh thut Nht Bn.
Tính giản phác tượng trưng y hoàn toàn hp vi
tinh thn ca Thin ( một c đ nào đó, Thiền th
được xem điểm u nhất trong n hóa Nht Bn
th đưc quy thành mt th tâm dân tc). Tính duy m
Thiền đưa đến một đặc trưng văn hóa Nhật, đó so với
những xung động t đạo đức (cái Thiện) thì xung động t
ngh thut mi ci ngun, bn tính vn ca cuc
sng, thúc đẩy s sáng to, s suy nghim. Thin t chi
nhng li din dch dài ng, sáo rng, trung thành vi trc
giác siêu vit tuyệt đối, bng kinh nghim s giác ng
t thân. Ngh thut Thiền đưa đến các đặc điểm điển hình
như “tính phi đi xng, tính tàn khuyết tính nhất giác”
như D.T.Suzuki đã nói. Sự ưa chuộng cái bất đối xng
(Fukinsei) biu hin cho s phn kháng vi quyn lc
ca nh, ca mi khái nim tn tại như một định chế
trong tưởng con người. V đẹp của “tàn khuyết” chính
cái đp không hoàn chnh, t nhiên, nguyên thy. tính
“nhất giác” phong cách hội ha truyn thng vn dùng
rt ít nét v để to hình to nên tinh thn sabi cô tch trong
tâm hồn người Nht. S giản phác, tượng trưng này, Suzuki
nói rng nó xut phát t quan niệm “Một là tt c, tt c
một” trong phương pháp tư duy ca Thin. Trong rng có
đầy, trong chân không vn vt, trong h thm giác
ng, trong ta tha nhân. thế, không cn gii thích dài
dòng trc tiếp, Thiền dùng ng án đ đệ t phi trm
tìm kiếm, hoặc dùng đấm, gy gc, tiếng thét (thin Lâm
tế) đ đệ t hn lon tinh thn và kéo thoát h ra khỏi cơn
mê hình tướng vô thường.
tưởng m hc kiu Thin này v thn bí, xa l
với tư duy phương Tây, bởi như lời ca Lévi-Strauss:
“T thi Hy Lp c đại, phương Tây tin rằng con người
quan năng nắm bt thế gii bng cách s dng ngôn ng
phc v cho nh: mt s bin luận đưc cu to trùng
khít vi thc ti, nó tim cn và phn ánh trt t ca nhng
s vật. Ngược li, theo quan nim của phương Đông thì
mi s bin luận đều không tương liên một cách bt kh
vãn hi vi cái thc tn. Bn cht ti hu ca thế gii, gi
định khái nim này một ý nghĩa, b vut khi chúng
ta. vượt lên bên trên kh năng suy tưởng diễn đt ca
chúng ta. Ta không th biết bt c điu v do đó
không th nói được bt c cái gì v nó”[5, trang 46].
Nhà văn Nhật Bản đu tiên nhn giải Nobel Văn
chương năm 1968 Kawabata Yasunari cũng phát biu
rng tinh thn phương Đông nằm khong trng, chân
6
Trên cành khô/ Quạ đậu/ Chiều thu (Basho, Nhật Chiêu dịch).
7
Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là “hư vô”.
8
Một loại hoa màu tím ngát giống hoa bìm bìm dại. Người Trung Quốc gọi là hoa khiên ngưu.
không, “Hư vô”. Nhưng i này hoàn toàn khác
vi ch nghĩa (nihilism) của phương Tây như nhân
vt bồi già đi biu cho thế h mt mát (lost generation)
trong truyn ngn Một nơi sạch s sáng sa ca Ernest
Hemingway đã lẩm nhm: Nada! Nada!
7
... Bởi như nhà
văn giải thích, n bản “do những ci r tinh thn ca chúng
ta khác nhau”.
2.3. Cái đẹp đm phong cách tao nhã, n tính
“Ưu nhã” tâm thế cao quý quyết đnh nn tng ca
m hc truyn thống Phù Tang, được gi miyabi. Nhng
phạm trù bản trong m hc Nhật đều nm trong bu
không khí tinh tế huyn diu ca ch miyabi y. Nhng nét
tinh y t thiên nhiên, t cnh sc xung quanh đến lòng
người được phô y bng mt cm quan hết sc thanh thoát,
ưu ncùng. Ngay cả cm thc phù du cuc thế cũng
không khác hơn chính sự ng x đầy thanh tao, bi
h quan nim, hãy sng và chết như một đóa hoa.
Xut phát t cm quan ưa chuộng những cái đẹp nh
nhn, tinh tế, mc mc, ngh thut Nht Bn tr nên đậm
v n tính, mm yếu, thiên v tr tình ni tâmchú trng
khc họa các hình tượng ngh thuật dưới góc độ tâm
thm m hơnquan điểm đạo đức hay các triết thuyết đầy
tính cách mng. Vì vy nhiu nhà nghiên cứu phương Tây,
chng hn Michael F. Marra, gọi đó một kiu sùng bái
cái đẹp (a cult of beauty) đậm cm thc n tính feminine
sensibility [3].
Phong cách văn chương Nhật điển hình bởi tính hồ,
thun khiết nh nhàng, không phù hp để t nhng cung
bc cm xúc d di, hành vi quái hay những tưởng
tàn bo. Phong cách tao nhã y gi wabun, vn là truyn
thng của thơ tanka, truyn vt ng monogatari, các trang
tùy bút zuihitsu hay thơ haiku... Tt nhiên không phi
không nhng hiện tượng cá bit, bi tính cách ca con
người trên đất nước của “hoa cúc lưỡi kiếm” sự tương
phn mnh m. Việc đối lp giữa thanh gươm bên mình võ
đạo với hoa anh đào trong vườn quý tộc cung đình không
làm mất đi nỗi khao khát nâng niu một làn hương, một
áo mng hay mt bông hoa asagao
8
ban sm.
Yếu t n tính này cũng căn bản bt ngun t tinh thn
ca tng lp qtộc đặc bit thi Heian (794-1192). Cái
tên Heian (Bình An) gi lên mt thi thanh bình an lc
trong lch s Nht Bản. Văn học phn ánh nhng nim vui
cung đình ca giai cp quý tc trong mt xã hi duy m
hưởng lc, nhng mối tình say đm, thú tiêu khin tao
nhã như cầm k thi ha, nhng cuc du ngoạn núi đi
thưởng hoa, ngm lá, ch tuyết rơi... Tt c nhiều khi đượm
mt ni bun ngao ngán v cái phù du ca trn thế (do nh
ng ca Pht giáo). Ph n được đề cao, c tác phm
văn chương chủ yếu do gii n lưu sáng tác. Các kit tác
văn chương thời k này hưng v cái đẹp, chứa đng cm
thc aware (bi cm) vi những rung động tâm hn sâu kín
tinh tế. Công lao ln thuc v các ph n quý tc, nhng
người đã sáng tạo các tác phm ni tiếng, tht có giá tr bt
t như Genji monotagari (Murasaki Shikibu), Chm tho
t (Sei Shonagon) cùng hàng lot các tác phẩm thơ ca, nhật
ISSN 1859-1531 - TP CHÍ KHOA HC VÀ CÔNG NGH ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, S 10(131).2018 39
ký, tùy bút, tiu thuyết gây n tượng mnh m khác như
tuyn tp Kokinshu (C kim tp, biên soạn năm 905), Nht
ký Murasaki, Nht ký Izumi... S n r ca các thiên tài n
gii khiến không ít người phi cho rằng văn hóa Heian
văn hóa của cái Đẹp, văn hóa của n phái.
Nhng thành tu ngh thut rc r ca gần 400 năm an
bình qtc y ch yếu rơi vào tay nữ giới. Nhưng ngay
c khi giai cấp võ thống tr sut những năm binh đao chia
ct ca thi trung thế, tt c chiu sâu ca v thm m nh
nhàng, trm tĩnh, quý phái vẫn không mất đi. Giữa dao
gươm lửa lon, m hc Nht vẫn hướng v ni u huyn
thâm sâu, cng cỏi hơn, bớt xa hoa hơn, song vẫn
màng, cô tch và phong nhã.
t n s phù du ca cuc thế, các ngh thut gia
Nht Bản thường trc mt nim tin vào s phong nhã du
dàng của đời thc trong nỗi hư vô, trong s đơn, nhàn
tịch và hưởng th cái đẹp t nhiên, lấy hoa trăng tuyết mây
làm bn tâm giao. Tính ngh thuật được t nim gin d,
tao nhã n tính, vô kĩ xảo đó. Cái uyên nguyên thăm thẳm
ca m hc Nht Bn biu hin qua hi họa, trà đạo, thư
đạo, hài đạo... đôi khi đượm v mm yếu su lng bên
ngoài, nhưng chính ni tao nhã dịu dàng không đấy li
làm nên ct cách phong lưu đạt s giác ng gia thế gian
không sai biệt. Như cánh bướm biết đời ngn ngi vn hn
nhiên ng thiếp trên chiếc chuông đồng vĩnh cu trong
haiku ca họa sư, nhà thơ Yosa Buson (1716-1783).
Trên chuông chùa
Ng say sưa
Một con bướm nh.
2.4. Cái đẹp và ni bun m hc ca phù thế
Như đã nói phần đu, m hc Nht Bn chu s chi
phi của tưởng Pht giáo vi triết lý v bn cht
thường của đời sng. Cng hưởng vi thc tế thiên nhiên
dim l nhưng nhiều sóng gió của đo quc bên b Thái
Bình Dương, truyn thng Nht Bn mi gi nhn thc v
s mong manh của “phù thế” (thế gian trôi ni). Song,
đó không phải là ni nim tuyt vọng hay bi quan đau khổ
mà là s nhc nh nim trân trng vi thc ti, vi bao v
đẹp t nhiên đương huy hoàng trong cõi sng ca chúng ta
và s biết ơn đối vi mi khonh khc.
V đẹp của cánh anh đào luôn gợi nhc cho chúng ta
ni bun v s ngn ngi ca tt c mi kiếp nhân sinh.
Tấm gương soi hay bt c vt th nào kh năng phản
chiếu trong văn chương Kawabata đu miêu t nhng màu
sc phi thc, s mt mát tình yêu không thành. Câu
chuyn ca Akutagawa, Mishima hay Haruki Murakami...
luôn hin hu cái chết. Nhng thi phm c xưa nhất ca
người Nht trong tp Manyoshu cũng đầy p các khúc bi
ca, tiếng thơ thổn thc than khóc trên bia mộ. Khu vườn đá
tch mch trong chùa Ryoanji c đô Kyoto cũng khiến du
khách không khi trm mc, thm cnhói n nhng k
niệm đánh mất... Các cm thc v s ưu nhã, thanh tao, cô
tịch... đã nhắc phần trên cũng đã hàm chứa trong đó dấu
n của xúc động u uẩn. Nói chung, cái đẹp trong ngh thut
truyn thng Nht Bản thường đượm ni bun ca thi
gian, ca ký c và suy nghim sâu xa.
9
Cỏ mùa hạ đầy/ Giấc mơ người tráng sĩ/ Còn vương đâu đây (Basho, Nhật Chiêu dịch)
M học đượm v bun y của n hóa Nhật Bản (đã
truyn thống hơn ngàn năm mang tên cảm thc - aware)
cũng dẫn ta ti triết v cái chết. Người ta vẫn thường hay
nhắc đến tinh thn d dội, “không sợ chết” của người võ sĩ
đạo Nht Bản. Đất nước hoa cúc (hoa cúc 16 cánh là biu
ng ca Hoàng gia Nht Bản) cũng nổi tiếng vi các nghi
thc t sát và t l người t t. Mc rt trân trng rt tha
thiết với i đẹp sinh động trong thế gian, song người Nht
cũng sẵn sàng đón nhận s ra đi luôn rèn giũa lý tưởng
dâng hiến cuộc đời cho cái chết. Chúng ta không thy trong
văn hóa Nhật triết c th v cách sống, nhưng li
m hc ca cái chết. Vấn đề không phi là s hay không s
cái chết, điều ct yếu tinh thần đối din vi s ra đi của
thân th. Thậm chí người ta còn dy các samurai ngày nào
cũng phải nghĩ đến cái chết, phi gi tưởng “chết trong
lòng” để đến lúc đối mt sinh tử, người không còn run
s na. H s thn nhiên bước vào cuc chiến vi trng
thái “nhất tâm”, nmột đóa anh đào sn ng rụng rơi
theo gió mà vẫn huy hoàng đến phút cui.
Cái chết đối với người Nht không phi là s t giã hay
chm dt. mt khía cạnh nào đó là cách để gt ra thanh
danh, để gi phm giá gi giri. Đồng thi, mt khía
cnh khác, do tính cách nhy cm u xa của người Nht
(mà vì thế nên s lý gii v ni buồn trong con người Nht
khó th xut phát t nguyên nhân đổ v gia tưởng
hin thực như các nhà lãng mạn phương Tây), cái chết
(t sát) cũng là cách họ ng s cực đoan về chính mình,
hy hoi chính mình thay vì hy hoi người khác. Đối vi
hu hết mọi người trên thế gii, vic t sát là ni tht vng,
bt lc, song với người Nhật, nh vi đó được chp nhn
như một nguyên lý có mục đích và đầy tính thm m.
Tt nhiên, không s mt mát nào không y thn
thc. Bi vy, nhng chiến binh lnh lùng của văn hóa
bushido (đạo) li cc nhy cm vi s trôi chy
biến đổi không ngng ca thế cuc. Và hiểu được điều này,
chúng ta s không ngạc nhiên trước di sn ngh thuật độc
đáo tao nhã ca giới Nht xuyên sut thời trung đại,
đồng thi cm nhận được tâm trng ca h khi ngồi trước
v din tuồng No đầy ám th trước cái chết (v kịch No đầy
p bóng ma, bởi hòa điệu trong âm nhc ai oán là cái chết
ngay lúc m màn ca nhân vt chính), hay đồng điệu vi
li m đu trong u chuyện binh đao khói lửa khc lit
ca thi Mc ph (Heike monogatari, 1233): Tiếng chuông
chùa Gion/ Vng lên nỗi thường/ Những người đầy tham
vng/ Như giấc mng đêm xuân/ Anh ng ri tuyt dit/
Như bi gia cuồng phong… (Nht Chiêu dch).
Truyn viết v đ tài chiến tranh, song li mang cm
thc lng l của nhân sinh như mộng o m màn bng
bài k v s thường. Tt c đưc - mt, không, danh
vng vô rồi s như bụi trưc cuồng phong, đ li sau
này là nhng ngn c mùa hè lp vùi giấc mơ người tráng
sĩ trong thơ Basho
9
.
3. Tm kết
Nn thi hc và ngh thut nói chung ca Nht Bn luôn
gn vi các cm thc thm m truyn thng. Không th lý
giải được c hình tượng ngh thut Nht nếu không hiu
40 Nguyễn Phương Khánh
đưc những rung động thm m đặc trưng ca tâm hn dân
tc. Bi vậy, đọc những trang văn ca miền đất hoa đào,
người ta thy yếu t ch đạo ni bun ch không phi
niềm vui, nước mt ch không phi n ời. n học c
đin Nht Bản hướng ti nhng mưu cầu mang tính tr tình
nội m cá nhân hơn là đối din vi nhng yếu t mang tính
xã hi, lch s.
Bn cht ca t nhiên là không vĩnh cửu, là phù du nên
cm thc v mujo (vô thường) tr thành ch đ trng yếu
ca ngh thut Nht Bn. Trong tt c các cm thc thm
m truyn thng của người Nhật như mono no aware (vt
ai), sabi (tch), wabi (đà), yugen (u huyền)… đều mang
trong nh tính d báo ca s dit vong (horobi). Do đó,
tt c nhng ni niềm rung động trước cái đẹp mong manh
phn ánh tâm thế, triết lý đậm màu sc Phật giáo: “cuộc
sống con người là mt giọt sương mai”.
Nhưng sự phai tàn ca mi vt trên cõi đời, nếu không
th là điều tránh khi:
Nếu suốt đi chúng ta
Bao gi cũng như bây giờ,
Tình cm trong tim chân thành, trong trng,
Chc nhng cánh hoa kia không lng lng
Rơi xuống đất như tuyết bay.
(Manyoshu)
Vy ty c bình tâm đặt một cánh anh đào bên tách
trà, dán li vách shoji mỗi năm hay thay mới nhng chiếc
chiếu tatami mỗi đ thu vngắm nhìn cái vĩnh hằng
trong v rc r ca mùa xuân, sắc đỏ tán momiji v
đẹp ma m ca tuyết trng.
Li cảm ơn: Nghiên cứu này được tài tr bi Qu Phát
trin Khoa hc và Công ngh Đại học Đà Nẵng trong đề tài
mã s B2016-DNA-07-TT.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1] Ishida Kazuyoshi, Nhật Bản tưởng sử, Bản dịch của Châm
Nguyễn Văn Tần, 2 tập, Tủ sách Kim Văn, Ủy ban dịch thuật, 1973,
trang 239.
[2] Diệp Lang, Đại cương lịch sử mỹ học Trung Quốc, NXB Thế giới,
2014.
[3] Michael F. Marra, Essays on Japan Between Aesthetics and
Literature, The Brill NV, Leiden, Boston, 2010.
[4] Donald Richie, A Tractate on Japanese Aesthetics, Stone Bridge
Press, Berkeley, California, 2007.
[5] Claude Lévi-Strauss, Mặt khác của trăng khảo luận về Nhật Bản,
Nguyễn Duy Bình dịch, NXB Thế giới, 2018.
[6] D. T. Suzuki, Thiền và văn hóa Nhật Bản, NXB Hồng Đức, 2013.
[7] Tadao Umesao, Lịch sử nhìn từ quan điểm sinh thái học – Văn minh
Nhật Bản trong bối cảnh thế giới, Nguyễn Đức Thành và Bùi
Nguyễn Tuấn Anh dịch, NXB Thế giới, 2007.
[8] Lee O Young, Người Nhật với chí hướng thu nhỏ, NXB Chính trị
Quốc gia, 1998.
(BBT nhn bài: 21/08/2018, hoàn tt th tc phn bin: 24/10/2018)

Preview text:

ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 10(131).2018 35
MỸ HỌC TRUYỀN THỐNG NHẬT BẢN TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
JAPANESE TRADITIONAL AESTHETICS FROM CULTURAL PERSPECTIVE
Nguyễn Phương Khánh
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng; npkhanh@ued.udn.vn
Tóm tắt - Bàn về mỹ học Nhật Bản, người ta nghĩ đến hàng loạt các
Abstract - In terms of Japanese aesthetics, it is thought that there
phạm trù có tính chất đặc thù như: mono no aware, yugen, wabi,
are a number of categories of mono no aware, yugen, wabi, sabi,
sabi, miyabi, okashi… như là những kí hiệu văn hóa tiêu biểu gắn
miyabi, okashi... as typical cultural symbols associated with the
với đời sống tinh thần, thẩm mỹ của con người Nhật. Mỹ học truyền
spirit of Japanese people. Traditional aesthetics in the country of
thống của xứ sở hoa anh đào có nhiều điểm vô cùng khác biệt với
cherry blossom has a lot of differences from the West and even
phương Tây và kể cả với các nền văn hóa cùng khu vực. Trong đó
with the other cultures in Eastern Asia. The concept of beauty and
quan niệm về cái đẹp và những giá trị thẩm mỹ khác của đời sống
other aesthetic values of life in Japan is seen as an integral part of
gắn với thiên nhiên, với sinh mệnh thường ngày, với quan niệm của
the nature, with daily life’s beings, with the concept of Shinto and
Thần đạo và Phật giáo. Bài viết đi vào phân tích những biểu hiện của
Buddhism. The article analyzes the expressions of Japanese
tinh thần mỹ học Nhật Bản, đặc biệt là quan niệm về cái đẹp, từ góc
aestheticism, especially the notion about the beauty, from a cultural
nhìn văn hóa và đặt trong đối sánh mỹ học Đông – Tây.
perspective and in East-West aesthetic comparison.
Từ khóa - mỹ học truyền thống Nhật Bản; niềm bi cảm; vô thường;
Key words - Japanese traditional; Aesthetics; mono no aware; Thiền tông; Thần đạo. mujo; Zen; Shinto.
1. Mỹ học Nhật Bản trong cái nhìn đối sánh Đông - Tây
là các quan niệm về cái đẹp và nghệ thuật, ở phương Tây cực
Lịch sử mỹ học Nhật Bản nói riêng và các nước phương
kì phong phú, nhiều thay đổi và đầy khát vọng “lật đổ” (tạo
Đông nói chung không có điểm xuất phát và quá trình phát
lập cái mới) trong mỗi triết thuyết. Tinh thần đặc trưng của
triển như mỹ học phương Tây. Khoa học Mỹ học ra đời
Tây phương là lý tính, vì thế mỹ học của phương Tây cũng có
chính thức vào thế kỷ XVII ở châu Âu cũng đi một con
hình thái lý luận rõ, có tính phân tích và tính hệ thống. Trong
đường hoàn toàn khác với các nước ở vùng Viễn Đông bên
khi đó, mỹ học phương Đông nói chung, đặc biệt là Nhật Bản,
kia. Tất nhiên những khát vọng thuyết minh về mỹ học đã
thiên về hình thái kinh nghiệm, cảm tính, trực quan. Phương
có từ thời cổ đại. Tư tưởng của các triết gia Hy Lạp xưa trong
Tây coi trọng “tái hiện”, “mô phỏng”, Nhật và các nước cùng
tác phẩm “Đối thoại” của Platon, “Thi học” và “Tu từ học”
khu vực chuộng tính “biểu hiện”, trữ tình, do đó lý luận ý -
của Aristote đều được xây dựng tổng kết trên cơ sở kinh
cảnh phát triển. Ý cảnh ở đây nằm trong triết lý “Cảnh sinh vi
nghiệm của văn nghệ thực tiễn thời xưa. Không có thần thoại,
tượng ngoại” (cảnh sinh ở ngoài tượng), diễn đạt sự thống nhất
điêu khắc, sử thi và bi kịch cổ Hy Lạp phồn vinh rực rỡ thì
giữa hữu hạn và vô hạn, hư và thực...
có thể không có tư tưởng mỹ học của Platon, hay Aristote và
Tư tưởng mỹ học phương Tây từ thời Hy Lạp cổ đại qua
các nhà mỹ học sau này. Tương tự, những người thầy vĩ đại
thời Trung cổ, Phục hưng, Cổ điển, Ánh sáng... đến mỹ học
của người Trung Quốc như Lão Tử, Khổng Tử, Trang Tử...
dân chủ Cách mạng Nga, mỹ học Mác – Lenin là một con
đều đưa ra hàng loạt các phạm trù có ảnh hưởng rất lớn đến
đường dài với nhiều tư tưởng đa dạng. Căn bản, mỹ học của
hệ thống mỹ học Trung Quốc cổ điển.
các nước phương Tây tập trung vào giải quyết các vấn đề
Tuy nhiên thời đó mỹ học ở cả Đông và Tây chưa thành
nhận thức về cái đẹp, trong đó đề cao tính Chân, Mỹ, trong
môn khoa học độc lập riêng rẽ.
nhiều trường hợp có thể tuyệt đối hóa cái đẹp cảm tính và
đối lập nghệ thuật với đạo đức (trong khi đó, mỹ học cổ điển
Thuật ngữ Mỹ học (Aesthetics) xuất phát từ tiếng Hy Lạp
có nghĩa là “cảm giác”. Nhậ
Trung Hoa thống nhất coi trọng “mỹ” – “thiện”).
n thức thẩm mỹ tất yếu có liên
quan đến giác quan, đặc biệt là thị giác và thính giác. Quan
Mỹ học Nhật Bản gắn bó nhiều hơn với cái Chân, tức cái
niệm căn bản của A. Baumgarten (1714-1762) – một nhà mỹ
Tự nhiên bản thể (khác với ý nghĩ về cái Chân trong sự “mô
học người Đức trong thế kỷ XVII, người đầu tiên viết bộ sách
phỏng”, “tái hiện”, “mimesis” của phương Tây). Cái Chân
có tên Mỹ học và mở ra giai đoạn có mặt chính thức của bộ
giản dị mộc mạc này, như chính nó, là chỗ vô bản thể
môn khoa học này, đặt song song với các nghiên cứu nghệ
(insubstantiel) nhưng đồng thời cũng là nơi mọi khía cạnh của
thuật hay triết học – nói ngắn gọn trong một định nghĩa: “Mỹ
hiện hữu được biểu hiện qua nó. Vì thế, không có sự mô phỏng
học là khoa học về cái Đẹp”. Immanuel Kant (1724 - 1804)
hiện thực nào có thể diễn giải trực tiếp và đầy đủ về tự nhiên.
phê phán lý tính thuần túy và đề cao sự cảm tính trong đánh
Mọi khát vọng biểu hiện nó, phải như tinh thần haiku, là bằng
giá cái đẹp: “Cái đẹp không phải trên đôi má hồng của người
sự ám gợi (suggestion). Donald Richie cảm nhận về văn hóa
thiếu nữ mà trong con mắt của kẻ si tình”. Hay Hegel, người
Nhật: “Things as they are, or Nature itself”[4, 16]. Ngay cả
đề cao cái đẹp nghệ thuật hơn cái đẹp tự nhiên, lại khẳng định:
thiên tài thơ ca lãng mạn Anh – John Keats (1795-1821) –
“Mỹ học là triết học của nghệ thuật”, tức ông cho rằng đối
trong nỗi tuyệt vọng khổ đau và tuyên bố tụng ca cái đẹp tuyệt
tượng nghiên cứu của mỹ học chỉ là cái mỹ của nghệ thuật. Có
đối trên tinh thần sự thực là cái đẹp: “Beauty is truth, truth is
thể nói, lý luận về đời sống thẩm mỹ của con người, trung tâm
beauty”1, có lẽ ông đã rất gần với tinh thần châu Á.
1 John Keats là một hiện tượng thi ca đặc biệt của Anh quốc thế kỉ XIX. Điều làm nên sự khác biệt giữa Keats và các nhà thơ lãng mạn nổi tiếng cùng
thời chính là quan niệm beauty is truth. Thi sĩ nhấn mạnh vào sự hợp nhất giữa sự thực và cái đẹp (The Oneness of Truth and Beauty). 36 Nguyễn Phương Khánh
Mỹ học Nhật Bản cũng khá “dị biệt” trong khu vực trượng ký)3:
Đông Á mà trung tâm là Trung Hoa. Theo sách Đại cương
“Dòng sông vốn chảy mãi không ngừng, mà nước vốn
lịch sử mỹ học Trung Quốc, khoa học mỹ học cổ điển Trung
chẳng phải nước ban đầu. Lại nghĩ bong bóng nổi lên chỗ
Quốc lấy “ý tượng” thẩm mỹ làm cốt lõi, chữ “mỹ” không
nước đọng, vừa tan biến đã lại nổi lên, chẳng lần nào giống
phải là phạm trù trung tâm, cũng không phải là phạm trù
lần nào. Người sống trong đời và nhà cửa trú ngụ của họ
cao nhất. Các khái niệm mỹ học của Lão Tử, Khổng Tử, cũng chẳng khác chi.”
Trang Tử hay Tuân Tử như “đạo”, “khí”, “tượng”, “diệu”,
“thần”, “phú”, “tỷ”, “hứng”, v.v... thự
Hay cuốn Ksurezuregusa (徒 然 草 Đồ nhiên thảo)4 của c ra là bộ phận của ẩn sĩ Urabe Kenko (khoả
triết học. Cái “mỹ” thực chất để hướng đến cái “diệu”, đến
ng 1283-1350) vào thế kỷ XIV:
“đạo”, “khí” của sinh mệnh. Còn tư tưởng thẩm mỹ của
“Sương trên cánh đồng Adashi khô ngay, khói núi
Nhật Bản cũng truyền tải qua các khái niệm riêng gắn với
Toribe mới nhìn đã không thấy nữa thế mà con người
thi ca, các sản phẩm mỹ nghệ thủ công, kiến trúc, hội họa,
không muốn mình biến mất như giọt sương, ngọn khói. Tuy
đình viên, trà đạo hay vũ đạo, lễ hội... Trong đó trọng tâm
nhiên, nếu cuộc đời cứ kéo dài vĩnh viễn thì còn gì đáng để
vẫn là hướng đến các sắc thái biểu hiện khác nhau của cái
xúc động nữa. Chính vì đời vô thường nên nó mới tuyệt
đẹp trong tinh thần u hoài, vô thường, tàn khuyết, không
vời.” (Đồ nhiên thảo, đoạn 7, Nguyễn Nam Trân dịch).
hoàn hảo mà giản dị, cô tịch.
Ngay ở phương Đông, đặc trưng thẩm mỹ của người
Ở Nhật thực ra không có từ ngữ nào diễn tả tương
Nhật cũng khá dị biệt với các quốc gia còn lại. Điều này
đương khái niệm Aesthetics với ý nghĩa như phương Tây.
gắn với truyền thống văn hóa của từng dân tộc. Có thể nhận
Có một từ là Bigaku 美学 được sử dụng khoảng từ năm
ra rằng, trung tâm của đời sống tinh thần người Ấn Độ là
1883 (sau giai đoạn tiếp xúc mạnh mẽ với các nước Âu
tình yêu tôn giáo; với người Trung Quốc, đó là triết học về
Mỹ) có ý chỉ về bộ môn Mỹ học. Mặc dù, thi nhân Ki no
xã hội, về cách “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Còn
Tsurayuki (872 - 945) từ thời Heian, người viết lời mở đầu
ở đất nước của nữ thần Mặt trời Amaterasu, tôn giáo hay
cho thi tuyển Kokin waka shu (Cổ kim hòa ca tập) đã được
triết học đều nghiêng về thẩm mỹ, về nghệ thuật, đó là tôn
xem là nhà mỹ học Nhật Bản đầu tiên với lý luận “thơ ca
giáo và triết học về cái Đẹp. Vì thế, Tadao Umesao trong
mọc lên từ trái tim con người”2.
công trình Lịch sử nhìn từ quan điểm sinh thái học – Văn
minh Nhật Bản trong bối cảnh thế giới
cho một ví dụ liên
Thêm nữa, những rung động tế vi của tâm hồn Nhật
quan đến việc cảm nhận cái đẹp của người Nhật và người
Bản vốn được thực hành trong nhiều phương diện nghệ
Ấn khi thưởng thức một bức tranh tường trong một ngôi
thuật và đời sống, có tính truyền thống lâu dài ít thay đổi
và thường không “nguyên khối”, khác vớ
đền. Ông cho rằng, người Nhật có thể đánh giá tôn giáo i sự phát triển và
bằng nghệ thuật, còn người Ấn lại đánh giá nghệ thuật bằng
các quan niệm của mỹ học phương Tây. Các phẩm chất đẹp,
thước đo tôn giáo. Ông viết: “Dù trong bất cứ trường hợp
buồn, u tịch, cô đơn, giản dị, hư không... trong cảm thức
nào, chúng ta cũng không thể hiểu được một hoạt động tôn
Nhật Bản lại luôn hòa quyện kết nối với nhau, cùng hướng
giáo mà lại không kèm theo vẻ đẹp. Ở Nhật Bản, thậm chí
về cái ưu nhã, vô thường, chân như của cái đẹp. Bởi vậy rất chúng ta còn có xu hướ khó để
ng coi khoa học là một kiểu của
sử dụng các thuật ngữ của Mỹ học phương Tây để
kinh nghiệm thẩm mỹ. Các nhà toán học hoặc nhà khoa học
diễn giải các cảm thức phương Đông.
dường như thường theo đuổi một lý thuyết vì vẻ đẹp của
Trong rất nhiều phẩm chất đại diện cho tinh thần mỹ
nó hơn là vì chính lý thuyết đó. Đối với người Nhật, khoa
học Nhật Bản, nhà nghiên cứu Donald Keene tóm lại bốn
học có thể là một loại hình nghệ thuật” [7, trang 58].
đặc trưng cơ bản nhất. Đó là:
Sự khác biệt văn hóa, thẩm mỹ là ở chỗ:
- Tính ám thị, gợi ý (suggestion);
“Khi thăm một ngôi đền ở Nhật Bản, người ta thường
- Tính bất quy tắc (irregularity);
nghe thấy lời bình phẩm về nghệ thuật của một pho tượng
- Tính giản phác (simplicity);
hay những bức tranh Phật giáo. Lời bình phẩm bao hàm
- Tính tàn lụi, phai phôi (perishability) hay tính vô thườ
những sự giải thích về nghệ sĩ, trường phái nghệ thuật của ng (impermanence).
ông ta, và liệu tác phẩm đó có phải là báu vật quốc gia hoặc
Mỹ học phương Tây đôi lúc cũng gặp gỡ Nhật Bản ở
là một tài sản văn hóa quan trọng hay không, v.v... Không ai
tinh thần tối giản, bất quy tắc hay tính ám gợi. Nhưng có
muốn nghe một bài luận dài dòng về ý nghĩa tôn giáo của
lẽ, ý tưởng về cái đẹp trong sự tàn phai, biến dịch
bức tranh. Tuy nhiên, ở Ấn Độ, người ta sẵn sàng nghe giải
(vanishing) thì hơi xa lạ. Tuy nhiên phẩm chất này chính là
thích về tôn giáo hơn là bình luận về ý nghĩa nghệ thuật. Mối
ký hiệu đặc trưng của văn hóa Nhật Bản, vốn gắn bó với tư
quan tâm chính là về lời răn dạy tinh thần được miêu tả qua
tưởng mujo của Phật giáo trong cái nhìn vạn vật đều đổi
bức tranh. Sự giải thích về một tác phẩm nghệ thuật thường
dời, không gì vĩnh cửu, như Kamo no Chomei (1153-1216)
bị coi là một bài thuyết trình triết học khó” [7, trang 58].
viết trong mở đầu cuốn tùy bút Hojoki (方丈記 Phương
Câu chuyện của giáo sư Tadao Umesao chia sẻ cho
2 Kokin waka shu là thi tuyển tập hợp hơn 1000 bài thơ, được biên soạn theo chiếu chỉ của triều đình trong khoảng từ năm 904 đến 914. Ki no Tsurayuki
là một trong những nhà phụ trách chính của thi tuyển này, người đã viết lời mở đầu cho tập thơ và cũng là tác giả của rất nhiều bài thơ trong tập.
3 Phương trượng ký (方丈記) là tên tập tùy bút của thi nhân Nhật Bản Kamo no Chomei (Kamo no Naga Akira) viết năm 1212 vào đầu thời Kamakura.
Những năm cuối đời, Chomei lui về ẩn cư ở núi Hino thuộc vùng ngoại ô Kyoto. Tại đây ông dựng một cái am nhỏ, bốn bề mỗi bề một trượng (chừng
3m) nên mới gọi là phương trượng. Chomei ẩn cư trong am, quan sát thế sự đương thời và ghi chép lại nên gọi tác phẩm của mình là “phương trượng
ký”. Đây là tập tùy bút tiêu biểu cho nền văn học Nhật Bản thời trung đại, và được tôn xưng là “Nhật Bản tam đại tùy bút” cùng với tập tùy bút Makura
zoshi
(Chẩm thảo tử) thời Heian và tập Tsurezuregusa (Đồ nhiên thảo) sau thời đại của Chomei chừng trăm năm.
4 Ksurezuregusa (徒 然 草 Đồ nhiên thảo) là một tập tùy bút gồm 243 đoạn, do Kenko sáng tác, vào thời Nam Bắc Triều Nhật Bản (thế kỉ XIV).
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 10(131).2018 37
chúng ta về lòng ham mê cái đẹp và nghệ thuật của người
Strauss khi nghiên cứu Nhật Bản đã nhận ra “mặt khác của
Nhật. Không riêng gì thái độ với tôn giáo hay khoa học, thực
trăng”. Sự khác biệt của nghệ thuật truyền thống Nhật ngay
chất mọi khía cạnh của thế giới đối với người Nhật đều để
ở phương Đông, theo Lévi- Strauss, đó là ý đồ biểu đạt và
lại những dấu ấn rung cảm tế vi và đều được soi sáng dưới
sự giản dị trong cách thực hiện, khác với tính chất phức tạp
các cảm thức thẩm mỹ. Chính vì thế, những sự vật, hoạt động
của nghệ thuật Trung Quốc. Ý thức thẩm mỹ của người dân
thường nhật sẽ được óc thẩm mỹ sắp xếp, sáng tạo sao cho
đảo quốc vùng Đông Á này đặc biệt hướng về thế giới vạn
đậm chất nghệ thuật. Việc bố trí một bàn ăn, một hộp cơm
vật ở trạng thái nguyên sơ, những bố cục thô ráp, những
bento, một chiếc quạt giấy, một chiếc bánh ngọt... cũng là cả
hình thù không đều nhau hoặc không đối xứng (nghĩa là
một công trình tinh tế, gây ấn tượng thị giác. Mỹ học truyền
hoàn toàn tự nhiên, không trau chuốt đẽo gọt), hay những
thống Nhật Bản hướng đến một cảm quan rất riêng về cái
tác phẩm tối giản táo bạo. Đó chính là “nghệ thuật của cái
đẹp giữa cuộc đời nhân thế, đó cũng là chìa khóa để bước
không hoàn hảo” – nghệ thuật nguyên thủy – cái đẹp thuần
vào toàn bộ nền văn hóa nghệ thuật và tâm hồn sâu thẳm nỗi khiết tự nhiên nhất.
niềm của con người Phù Tang.
Cái đẹp thanh đạm, sâu sắc, không rực rỡ bề ngoài
chính là điểm đặc biệt trong cảm thức về cái đẹp của người
2. Đặc trưng cái Đẹp trong mỹ học truyền thống Nhật
Nhật. Từ tranh vẽ, kiến trúc đến hoa đạo, trà đạo, thư đạo… Bản
đều ngập tràn thanh sắc mộc mạc, và thanh tịnh vô cùng.
Cái Đẹp dưới đôi mắt Nhật Bản không phải chỉ là đóa
Trong thi học cổ điển, hình ảnh tự nhiên thanh nhã hữu tình
hoa rực rỡ mãn khai hay vầng trăng sáng vằng vặc không
của ánh trăng, núi non phong cảnh, chim ca, hoa từng
gợn một bóng mây, không phải chỉ có đền đài vĩ đại hay
mùa… xuyên thấm những vần thơ bé nhỏ hay những trang
tiếng rộn rã của các điệu nhảy mùa xuân. Cái Đẹp đơn giản
nhật ký, những cuốn vật ngữ trường thiên. Ngay cả nhà văn
có thể bắt đầu từ một nụ hoa sớm mai, một hòn sỏi cô đơn,
được xem là người chuyên miêu tả “cái đẹp đồi phế” như
một ngọn đèn đá trong vườn trà, cho đến sắc áo thanh tao
Tanizaki Junichiro (1886-1965) thực ra cũng cực kì rung
của chiếc kimono, âm điệu man mác từ cây đàn shamisen
động trước vẻ thanh tao, thoát tục. Trên chuyến tàu đến
hay một cuốn sách trường thiên kể về cuộc đời trầm luân
Hàng Châu đầy khách Trung Quốc, con mắt tinh tế của nhà
của hoàng tử ánh sáng Genji.
văn quan sát kĩ những cô gái áo lụa sặc sỡ và ấn tượng chỉ
2.1. Cái đẹp nhỏ nhắn, giản phác, thuần khiết
dừng lại bởi một cô trẻ tuổi ăn vận thanh thoát hơn cả với
Người Nhật có khuynh hướng thu nhỏ, ý thức thẩm mỹ
cánh áo màu xanh men sứ nhàn nhạt và đôi giày trắng. Cái
đặc biệt ưa chuộng những cái nhỏ bé, xinh xắn, đến nỗi
màu sắc này nhà văn cảm tưởng hình dáng cô như tan loãng
chúng ta có thể thốt lên “kawaii!”. Cái nhỏ nhắn này liền
vào màu xanh của núi hồ man mác5.
với sự tinh tế, chắt lọc và ưu nhã trong cái nhìn và sự biểu
2.2. Cái Đẹp trong khuynh hướng biểu hiện tượng trưng
hiện trong nghệ thuật Nhật Bản. Thơ haiku, truyện trong
Cái bình đạm, tinh tế, nhỏ nhắn của cái đẹp đưa đến
lòng bàn tay, cánh hoa anh đào nhẹ mỏng, chiếc quạt gấp
khuynh hướng tượng trưng trong cảm thức thẩm mỹ trong con
sensu, cơm nắm, đèn lồng gấp chochin, cây cảnh bonsai...
mắt của người Nhật. Khác với mỹ học phương Tây thường đề
tượng trưng cho khuynh hướng giản lược, cắt gọt, chuộng
cao tổng thể, hình khối nguyên vẹn thì người dân xứ sở ngàn
cái nhỏ nhắn tế vi trong cảm thức về cái đẹp của người Nhật.
cánh hạc lại chú trọng tính mộc mạc và đường nét giản phác
Khu vườn khô karesansui cũng là biểu hiện cho việc kéo
kiểu “chỉ vẽ một nhánh cỏ mà thấy được ngọn gió đi qua”.
núi non, biển cả vào trong khoảng vườn nhỏ hẹp.
Vì thế, trong nghệ thuật Nhật Bản, người ta thấy cách
Nữ sĩ tài hoa của văn học thời Heian, Sei Shonagon (c.
biểu hiện khiêm nhường, giản dị, thanh đạm, nhiều khoảng
966–1017/1025), nói rằng: “Cái gì cũng vậy, những vật
trống đầy ý nghĩa, gây cảm động sâu xa. Cái hư không, cái nhỏ đều đẹp”.
“rỗng”, mơ hồ được đề cao hơn là cái thực. Một bài thơ
Cái đẹp nhỏ xinh gắn với sự tế nhị, duyên dáng và nhã
haiku nhỏ nhắn thực ra không hướng đến việc kể những
nhặn trong tâm hồn người dân đảo quốc này, luôn muốn
câu chuyện phong phú, đầy ắp hiện thực, ngược lại, ưa ghi
tìm đến vẻ giản đơn, bình dị ẩn trong mọi biểu hiện tự nhiên, lại những khoảnh khắc, những phút lóe sáng, những đường
thuần khiết của sự vật. Cảm quan về cái đẹp như thế đã tạo
nét mong manh của thế gian. Trong không gian khiêm
nên yếu tố giản phác trong mỹ học Nhật. Nghệ thuật tồn tại
nhường của trà thất, một bức thư pháp, một bông hoa dại
những khoảng trống thinh lặng của không gian, thời gian,
hái bên đường... nhắc nhớ cảm thức “hòa – kính – thanh –
hòa vào tự nhiên, không mưu cầu kỹ xảo phức tạp, hoa mỹ.
tịch” trong tâm hồn trà nhân. Tất cả mối giao hòa đó đạt
Đó cũng là lý do mà hội họa Nhật Bản không sử dụng nhiều
được từ sự không phân biệt cái thực và hư, cái đầy đủ và
màu rực rỡ chói sáng. Chủ đề chính yếu của ngành hội họa
sự thiếu vắng, cái cụ thể và cái tượng trưng, cái thẩm mỹ
Nhật Bản vẫn là các dáng vẻ của thiên nhiên trời đất qua và cái bình thường...
bốn mùa. Những hoa văn trang trí có trên lụa vải, tranh vẽ,
Trong kết cấu “ý – tượng” của thi – họa thời cổ đại Trung
gốm sứ truyền thống đều là những hình ảnh thực vật, hoa,..
Quốc, cái “hư không” có vị trí quan trọng. Không có cái hư
với màu sắc tả thực. Soi chiếu cuộc sống bằng cái nhìn của
không, ý cảnh và hội họa Trung Quốc, kể cả thi ca, không
tự nhiên, bằng trái tim yêu tự nhiên tha thiết là nhãn quan
thể sinh ra. Người Nhật cũng đồng điệu điểm này. Nghệ
của người nghệ sĩ Phù Tang để tạo nên những tác phẩm
thuật biểu diễn truyền thống của xứ sở Mặt trời mọc bởi vậy
bình dị, nhỏ bé và thấm nhuần vẻ đẹp truyền thống.
chuộng sự ẩn dụ và u huyền hơn là thực. Dùng tiết tấu âm
Nhà nhân chủng học người Pháp nổi tiếng Claude Lévi-
nhạc phối hợp với động tác biểu diễn, không cần kịch tính
5 Truyện ngắn Trăng Tây hồ (Seiko no tsuki, 1919) của Tanizaki Junichiro. 38 Nguyễn Phương Khánh
(theo nhận thức của người phương Tây), ở Nhật Bản lại được
không, ở “Hư vô”. Nhưng cái hư vô này hoàn toàn khác
xem là vô cùng chân thực. Bởi nó chân thực với chủ thể, một
với chủ nghĩa hư vô (nihilism) của phương Tây như nhân
mối giao tình thâm sâu của đời sống tâm trí được biểu hiện
vật bồi già đại biểu cho thế hệ mất mát (lost generation)
thông qua các nhận thức có vẻ mơ hồ này.
trong truyện ngắn Một nơi sạch sẽ và sáng sủa của Ernest
Điều nói trên khiến cho bức tranh quạ đậu cành khô của
Hemingway đã lẩm nhẩm: Nada! Nada!7... Bởi như nhà
Basho6 trở thành một công án siêu việt. Những nét phác
văn giải thích, căn bản “do những cội rễ tinh thần của chúng
quá ít ỏi của bài haiku kinh điển này lại khơi dậy bao bí ta khác nhau”.
mật trong hố thẳm, bởi nghệ thuật không cần ngôn ngữ
2.3. Cái đẹp đậm phong cách tao nhã, nữ tính
rườm rà. Mọi sự phô bày cụ thể quá sẽ mất đi tính ám thị,
“Ưu nhã” là tâm thế cao quý quyết định nền tảng của
mà sức ám thị, có thể nói, chính là sức mạnh bản thể của
mỹ học truyền thống Phù Tang, được gọi là miyabi. Những nghệ thuật Nhật Bản.
phạm trù cơ bản trong mỹ học Nhật đều nằm trong bầu
Tính giản phác và tượng trưng này hoàn toàn hợp với
không khí tinh tế huyền diệu của chữ miyabi ấy. Những nét
tinh thần của Thiền (ở một góc độ nào đó, Thiền có thể
tinh túy từ thiên nhiên, từ cảnh sắc xung quanh đến lòng
được xem là điểm sâu nhất trong văn hóa Nhật Bản và có
người được phô bày bằng một cảm quan hết sức thanh thoát,
thể được quy thành một thứ tâm lý dân tộc). Tính duy mỹ
ưu nhã vô cùng. Ngay cả cảm thức phù du cuộc thế cũng
Thiền đưa đến một đặc trưng văn hóa Nhật, đó là so với
không gì khác hơn chính là sự ứng xử đầy thanh tao, bởi
những xung động từ đạo đức (cái Thiện) thì xung động từ
họ quan niệm, hãy sống và chết như một đóa hoa.
nghệ thuật mới là cội nguồn, là bản tính vốn có của cuộc
Xuất phát từ cảm quan ưa chuộng những cái đẹp nhỏ
sống, thúc đẩy sự sáng tạo, sự suy nghiệm. Thiền từ chối
nhắn, tinh tế, mộc mạc, nghệ thuật Nhật Bản trở nên đậm
những lối diễn dịch dài dòng, sáo rỗng, trung thành với trực
vẻ nữ tính, mềm yếu, thiên về trữ tình nội tâm và chú trọng
giác siêu việt tuyệt đối, bằng kinh nghiệm và sự giác ngộ
khắc họa các hình tượng nghệ thuật dưới góc độ tâm lý
tự thân. Nghệ thuật Thiền đưa đến các đặc điểm điển hình
thẩm mỹ hơn là quan điểm đạo đức hay các triết thuyết đầy
như “tính phi đối xứng, tính tàn khuyết và tính nhất giác”
tính cách mạng. Vì vậy nhiều nhà nghiên cứu phương Tây,
như D.T.Suzuki đã nói. Sự ưa chuộng cái bất đối xứng
chẳng hạn Michael F. Marra, gọi đó là một kiểu sùng bái
(Fukinsei) là biểu hiện cho sự phản kháng với quyền lực
cái đẹp (a cult of beauty) đậm cảm thức nữ tính “feminine
của lý tính, của mọi khái niệm tồn tại như một định chế sensibility” [3].
trong tư tưởng con người. Vẻ đẹp của “tàn khuyết” chính là cái đẹ
Phong cách văn chương Nhật điển hình bởi tính mơ hồ,
p không hoàn chỉnh, tự nhiên, nguyên thủy. Và tính
“nhất giác” là phong cách hộ
thuần khiết nhẹ nhàng, không phù hợp để mô tả những cung
i họa truyền thống vốn dùng
bậc cảm xúc dữ dội, hành vi kì quái hay những tư tưởng
rất ít nét vẽ để tạo hình tạo nên tinh thần sabi cô tịch trong
tàn bạo. Phong cách tao nhã ấy gọi là wabun, vốn là truyền
tâm hồn người Nhật. Sự giản phác, tượng trưng này, Suzuki
thống của thơ tanka, truyện vật ngữ monogatari, các trang
nói rằng nó xuất phát từ quan niệm “Một là tất cả, tất cả là
tùy bút zuihitsu hay thơ haiku... Tất nhiên không phải
một” trong phương pháp tư duy của Thiền. Trong rỗng có đầ
không có những hiện tượng cá biệt, bởi tính cách của con
y, trong chân không có vạn vật, trong hố thẳm có giác
người trên đất nước của “hoa cúc và lưỡi kiếm” là sự tương
ngộ, trong ta có tha nhân. Vì thế, không cần giải thích dài
phản mạnh mẽ. Việc đối lập giữa thanh gươm bên mình võ
dòng trực tiếp, Thiền dùng công án để đệ tử phải trầm tư
sĩ đạo với hoa anh đào trong vườn quý tộc cung đình không
tìm kiếm, hoặc dùng cú đấm, gậy gộc, tiếng thét (thiền Lâm
làm mất đi nỗi khao khát nâng niu một làn hương, một tà
tế) để đệ tử hỗn loạn tinh thần và kéo thoát họ ra khỏi cơn mê hình tướng vô thườ
áo mỏng hay một bông hoa asagao8 ban sớm. ng. Tư tưở
Yếu tố nữ tính này cũng căn bản bắt nguồn từ tinh thần
ng mỹ học kiểu Thiền này có vẻ thần bí, xa lạ
của tầng lớp quý tộc đặc biệt thời Heian (794-1192). Cái
với tư duy phương Tây, bởi như lời của Lévi-Strauss:
tên Heian (Bình An) gợi lên một thời thanh bình an lạc
“Từ thời Hy Lạp cổ đại, phương Tây tin rằng con người
trong lịch sử Nhật Bản. Văn học phản ánh những niềm vui
có quan năng nắm bắt thế giới bằng cách sử dụng ngôn ngữ
ở cung đình của giai cấp quý tộc trong một xã hội duy mỹ
phục vụ cho lý tính: một sự biện luận được cấu tạo trùng
và hưởng lạc, những mối tình say đắm, thú tiêu khiển tao
khít với thực tại, nó tiệm cận và phản ánh trật tự của những
nhã như cầm kỳ thi họa, những cuộc du ngoạn núi đồi
sự vật. Ngược lại, theo quan niệm của phương Đông thì
thưởng hoa, ngắm lá, chờ tuyết rơi... Tất cả nhiều khi đượm
mọi sự biện luận đều không tương liên một cách bất khả
một nỗi buồn ngao ngán về cái phù du của trần thế (do ảnh
vãn hồi với cái thực tồn. Bản chất tối hậu của thế giới, giả
hưởng của Phật giáo). Phụ nữ được đề cao, các tác phẩm
định khái niệm này là có một ý nghĩa, bị vuột khỏi chúng
văn chương chủ yếu do giới nữ lưu sáng tác. Các kiệt tác
ta. Nó vượt lên bên trên khả năng suy tưởng và diễn đạt của
văn chương thời kỳ này hướng về cái đẹp, chứa đựng cảm
chúng ta. Ta không thể biết bất cứ điều gì về nó và do đó
thức aware (bi cảm) với những rung động tâm hồn sâu kín
không thể nói được bất cứ cái gì về nó”[5, trang 46].
và tinh tế. Công lao lớn thuộc về các phụ nữ quý tộc, những
Nhà văn Nhật Bản đầu tiên nhận giải Nobel Văn
người đã sáng tạo các tác phẩm nổi tiếng, thật có giá trị bất
chương năm 1968 là Kawabata Yasunari cũng phát biểu
tử như Genji monotagari (Murasaki Shikibu), Chẩm thảo
rằng tinh thần phương Đông nằm ở khoảng trống, ở chân
tử (Sei Shonagon) cùng hàng loạt các tác phẩm thơ ca, nhật
6 Trên cành khô/ Quạ đậu/ Chiều thu (Basho, Nhật Chiêu dịch).
7 Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là “hư vô”.
8 Một loại hoa màu tím ngát giống hoa bìm bìm dại. Người Trung Quốc gọi là hoa khiên ngưu.
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 10(131).2018 39
ký, tùy bút, tiểu thuyết gây ấn tượng mạnh mẽ khác như
Mỹ học đượm vẻ buồn này của văn hóa Nhật Bản (đã
tuyển tập Kokinshu (Cổ kim tập, biên soạn năm 905), Nhật
có truyền thống hơn ngàn năm mang tên cảm thức - aware)
ký Murasaki, Nhật ký Izumi... Sự nở rộ của các thiên tài nữ
cũng dẫn ta tới triết lý về cái chết. Người ta vẫn thường hay
giới khiến không ít người phải cho rằng văn hóa Heian là
nhắc đến tinh thần dữ dội, “không sợ chết” của người võ sĩ
văn hóa của cái Đẹp, văn hóa của nữ phái.
đạo Nhật Bản. Đất nước hoa cúc (hoa cúc 16 cánh là biểu
Những thành tựu nghệ thuật rực rỡ của gần 400 năm an
tượng của Hoàng gia Nhật Bản) cũng nổi tiếng với các nghi
bình quý tộc ấy chủ yếu rơi vào tay nữ giới. Nhưng ngay
thức tự sát và tỉ lệ người tự tử. Mặc dù rất trân trọng rất tha
cả khi giai cấp võ sĩ thống trị suốt những năm binh đao chia
thiết với cái đẹp sinh động trong thế gian, song người Nhật
cắt của thời trung thế, tất cả chiều sâu của vẻ thẩm mỹ nhẹ
cũng sẵn sàng đón nhận sự ra đi và luôn rèn giũa lý tưởng
nhàng, trầm tĩnh, quý phái vẫn không mất đi. Giữa dao
dâng hiến cuộc đời cho cái chết. Chúng ta không thấy trong
gươm lửa loạn, mỹ học Nhật vẫn hướng về nỗi u huyền
văn hóa Nhật có triết lý cụ thể về cách sống, nhưng lại có
thâm sâu, có cứng cỏi hơn, bớt xa hoa hơn, song vẫn mơ
mỹ học của cái chết. Vấn đề không phải là sợ hay không sợ
màng, cô tịch và phong nhã.
cái chết, điều cốt yếu tinh thần đối diện với sự ra đi của Vượ
thân thể. Thậm chí người ta còn dạy các samurai ngày nào
t lên sự phù du của cuộc thế, các nghệ thuật gia
cũng phải nghĩ đến cái chết, phải giữ tư tưởng “chết trong
Nhật Bản thường trực một niềm tin vào sự phong nhã dịu
lòng” để đến lúc đối mặt sinh tử, người võ sĩ không còn run
dàng của đời thực trong nỗi hư vô, trong sự cô đơn, nhàn
sợ nữa. Họ sẽ thản nhiên bước vào cuộc chiến với trạng
tịch và hưởng thụ cái đẹp tự nhiên, lấy hoa trăng tuyết mây
thái “nhất tâm”, như một đóa anh đào sẵn sàng rụng rơi
làm bạn tâm giao. Tính nghệ thuật có được từ niềm giản dị,
theo gió mà vẫn huy hoàng đến phút cuối.
tao nhã nữ tính, vô kĩ xảo đó. Cái uyên nguyên thăm thẳm
của mỹ học Nhật Bản biểu hiện qua hội họa, trà đạo, thư
Cái chết đối với người Nhật không phải là sự từ giã hay
đạo, hài cú đạo... đôi khi đượm vẻ mềm yếu sầu lắng bên
chấm dứt. Ở một khía cạnh nào đó là cách để gột rửa thanh
ngoài, nhưng chính nỗi tao nhã dịu dàng hư không đấy lại
danh, để giữ phẩm giá gọi là giri. Đồng thời, ở một khía
làm nên cốt cách phong lưu và đạt sự giác ngộ giữa thế gian
cạnh khác, do tính cách nhạy cảm sâu xa của người Nhật
không sai biệt. Như cánh bướm biết đời ngắn ngủi vẫn hồn
(mà vì thế nên sự lý giải về nỗi buồn trong con người Nhật
nhiên ngủ thiếp trên chiếc chuông đồng vĩnh cửu trong
khó có thể xuất phát từ nguyên nhân đổ vỡ giữa lý tưởng
haiku của họa sư, nhà thơ Yosa Buson (1716-1783).
và hiện thực như các nhà lãng mạn phương Tây), cái chết
(tự sát) cũng là cách họ hướng sự cực đoan về chính mình, Trên chuông chùa
hủy hoại chính mình thay vì hủy hoại người khác. Đối với Ngủ say sưa
hầu hết mọi người trên thế giới, việc tự sát là nỗi thất vọng,
Một con bướm nhỏ.
bất lực, song với người Nhật, hành vi đó được chấp nhận như mộ
2.4. Cái đẹp và nỗi buồn – mỹ học của phù thế
t nguyên lý có mục đích và đầy tính thẩm mỹ.
Như đã nói ở phần đầu, mỹ học Nhật Bản chịu sự chi
Tất nhiên, không có sự mất mát nào không gây thổn
phối của tư tưởng Phật giáo với triết lý về bản chất vô
thức. Bởi vậy, những chiến binh lạnh lùng của văn hóa
thường của đời sống. Cộng hưởng với thực tế thiên nhiên
bushido (võ sĩ đạo) lại cực kì nhạy cảm với sự trôi chảy
diễm lệ nhưng nhiều sóng gió của đảo quốc bên bờ Thái
biến đổi không ngừng của thế cuộc. Và hiểu được điều này,
Bình Dương, truyền thống Nhật Bản mời gọi nhận thức về
chúng ta sẽ không ngạc nhiên trước di sản nghệ thuật độc đáo ta
sự hư vô mong manh của “phù thế” (thế gian trôi nổi). Song,
o nhã của giới võ sĩ Nhật xuyên suốt thời trung đại, đó không phả đồ
i là nỗi niềm tuyệt vọng hay bi quan đau khổ
ng thời cảm nhận được tâm trạng của họ khi ngồi trước
mà là sự nhắc nhớ niềm trân trọng với thực tại, với bao vẻ
vở diễn tuồng No đầy ám thị trước cái chết (vở kịch No đầy đẹ ắ
p tự nhiên đương huy hoàng trong cõi sống của chúng ta
p bóng ma, bởi hòa điệu trong âm nhạc ai oán là cái chết
và sự biết ơn đối với mọi khoảnh khắc.
ngay lúc mở màn của nhân vật chính), hay đồng điệu với
lời mở đầu trong câu chuyện binh đao khói lửa khốc liệt
Vẻ đẹp của cánh anh đào luôn gợi nhắc cho chúng ta
của thời Mạc phủ (Heike monogatari, 1233): Tiếng chuông
nỗi buồn về sự ngắn ngủi của tất cả mọi kiếp nhân sinh.
chùa Gion/ Vọng lên nỗi vô thường/ Những người đầy tham
Tấm gương soi hay bất cứ vật thể nào có khả năng phản
vọng/ Như giấc mộng đêm xuân/ Anh hùng rồi tuyệt diệt/
chiếu trong văn chương Kawabata đều miêu tả những màu
Như bụi giữa cuồng phong… (Nhật Chiêu dịch).
sắc phi thực, sự mất mát và tình yêu không thành. Câu
chuyện của Akutagawa, Mishima hay Haruki Murakami...
Truyện viết về đề tài chiến tranh, song lại mang cảm
luôn hiện hữu cái chết. Những thi phẩm cổ xưa nhất của
thức lặng lẽ của nhân sinh như mộng ảo và mở màn bằng
người Nhật trong tập Manyoshu cũng đầy ắp các khúc bi
bài kệ về sự vô thường. Tất cả được - mất, có – không, danh
ca, tiếng thơ thổn thức than khóc trên bia mộ. Khu vườn đá
vọng – hư vô rồi sẽ như bụi trước cuồng phong, để lại sau
tịch mịch trong chùa Ryoanji ở cố đô Kyoto cũng khiến du
này là những ngọn cỏ mùa hè lấp vùi giấc mơ người tráng sĩ trong thơ Basho9
khách không khỏi trầm mặc, thậm chí nhói lên những kỷ .
niệm đánh mất... Các cảm thức về sự ưu nhã, thanh tao, cô 3. Tạm kết
tịch... đã nhắc ở phần trên cũng đã hàm chứa trong đó dấu
ấn của xúc động u uẩn. Nói chung, cái đẹp trong nghệ thuật
Nền thi học và nghệ thuật nói chung của Nhật Bản luôn
truyền thống Nhật Bản thường đượm nỗi buồn của thời
gắn với các cảm thức thẩm mỹ truyền thống. Không thể lý
gian, của ký ức và suy nghiệm sâu xa.
giải được các hình tượng nghệ thuật Nhật nếu không hiểu
9 Cỏ mùa hạ đầy/ Giấc mơ người tráng sĩ/ Còn vương đâu đây (Basho, Nhật Chiêu dịch) 40 Nguyễn Phương Khánh
được những rung động thẩm mỹ đặc trưng của tâm hồn dân
Vậy thì hãy cứ bình tâm đặt một cánh anh đào bên tách
tộc. Bởi vậy, đọc những trang văn của miền đất hoa đào,
trà, dán lại vách shoji mỗi năm hay thay mới những chiếc
người ta thấy yếu tố chủ đạo là nỗi buồn chứ không phải
chiếu tatami mỗi độ thu về… và ngắm nhìn cái vĩnh hằng
niềm vui, nước mắt chứ không phải nụ cười. Văn học cổ
trong vẻ rực rỡ của mùa xuân, sắc đỏ tán lá momiji và vẻ
điển Nhật Bản hướng tới những mưu cầu mang tính trữ tình
đẹp ma mị của tuyết trắng.
nội tâm cá nhân hơn là đối diện với những yếu tố mang tính xã hội, lịch sử.
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát
triển Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng trong đề tài
Bản chất của tự nhiên là không vĩnh cửu, là phù du nên mã số B2016-DNA-07-TT.
cảm thức về mujo (vô thường) trở thành chủ đề trọng yếu
của nghệ thuật Nhật Bản. Trong tất cả các cảm thức thẩm
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
mỹ truyền thống của người Nhật như mono no aware (vật
ai), sabi (tịch), wabi (đà), yugen (u huyền)… đều mang
[1] Ishida Kazuyoshi, Nhật Bản tư tưởng sử, Bản dịch của Châm Vũ
trong mình tính dự báo của sự diệt vong (horobi). Do đó,
Nguyễn Văn Tần, 2 tập, Tủ sách Kim Văn, Ủy ban dịch thuật, 1973, trang 239.
tất cả những nỗi niềm rung động trước cái đẹp mong manh
[2] Diệp Lang, Đại cương lịch sử mỹ học Trung Quốc, NXB Thế giới,
phản ánh tâm thế, triết lý đậm màu sắc Phật giáo: “cuộc 2014.
sống con người là một giọt sương mai”.
[3] Michael F. Marra, Essays on Japan – Between Aesthetics and
Nhưng sự phai tàn của mọi vật trên cõi đời, nếu không
Literature, The Brill NV, Leiden, Boston, 2010.
thể là điều tránh khỏi:
[4] Donald Richie, A Tractate on Japanese Aesthetics, Stone Bridge
Press, Berkeley, California, 2007.
Nếu suốt đời chúng ta
[5] Claude Lévi-Strauss, Mặt khác của trăng – khảo luận về Nhật Bản,
Bao giờ cũng như bây giờ,
Nguyễn Duy Bình dịch, NXB Thế giới, 2018.
[6] D. T. Suzuki, Thiền và văn hóa Nhật Bản, NXB Hồng Đức, 2013.
Tình cảm trong tim chân thành, trong trắng,
[7] Tadao Umesao, Lịch sử nhìn từ quan điểm sinh thái học – Văn minh
Chắc những cánh hoa kia không lẳng lặng
Nhật Bản trong bối cảnh thế giới, Nguyễn Đức Thành và Bùi
Rơi xuống đất như tuyế
Nguyễn Tuấn Anh dịch, NXB Thế giới t bay. , 2007.
[8] Lee O Young, Người Nhật với chí hướng thu nhỏ, NXB Chính trị (Manyoshu) Quốc gia, 1998.
(BBT nhận bài: 21/08/2018, hoàn tất thủ tục phản biện: 24/10/2018)