Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN ---------- ----------  BÀI THẢO LUẬN
MÔN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Giảng viên: Hồ Công Đức Nhóm thực hiện: 08
Lớp học phần: 2222MLNP0221 HÀ NỘI-2022 Page | 1
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ TT Họ và tên Nhiệm vụ
Nhóm tự Đánh giá của xếp loại giảng viên 1Nguyễn Thị Nga Làm word 2Nguyễn Hà Ngân Tổng hợp word 3Nguyễn Minh Ngọc Làm word
4Nguyễn Thị Lan Nhi Làm word 5Đặng Thị Nhung Làm word
6Phan Thị Hồng Nhung Thuyết trình
7Trần Thị Hồng Nhung Làm powerpoit 8Nguyễn An Ni Làm word 9Tạ Thị Kim Oanh Làm word
10 Bùi Thị Hà Phương Nhóm trưởng Page | 2 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………………………………………………………………………………………………………………………………… 4
CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢN THỂ LUẬN TRONG
TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN........................................................................................5

I. Những vấn đề cơ bản về bản thể luận trong Triết học Mác – Lênin........................................5
1. Cách tiếp cận giải quyết vấn đề bản thể luận trong Triết học Mác-Lênin...........................5
II. Quan niệm của Triết học Mác-Lênin về vật chất....................................................................5
2.1. Định nghĩa.........................................................................................................................5
2.2 Ý nghĩa...............................................................................................................................7
III, Quan niệm của triết học Mác – Lênin về nguồn gốc và bản chất của ý thức........................7
1. Nguồn gốc............................................................................................................................7
2. Bản chất và kết cấu của ý thức...........................................................................................10
IV, Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức....................................................................................11
1. Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình...................................11
2. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng...................................................................12
V. Ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm triết học Mác – Lênin........................................13
CHƯƠNG II: Vận dụng vấn đề bản thể trong việc phòng chống
tham nhũng ở Việt Nam hiện nay........................................................14

1. Tham nhung và những vấn đề liên quan đến tham nhung..................................................14
2. Vận dụng tư duy quá trình để nhận định tình hình - kiên định, quyết tâm chống tham
nhũng......................................................................................................................................16
3. Con đường thúc đẩy công tác phòng chống tham nhũng...................................................17
4. Mục tiêu hướng tới của đảng và nhà nước trong việc phòng chống tham nhũng..............18
KẾT LUẬN……………………..……………………………………………………………………………………………………19 Page | 3 MỞ ĐẦU
Triết học là một môn khoa học chung nhất, nghiên cứu về các sự vật và hiện
tượng của tự nhiên và xã hội, nhằm tìm ra quy luật của các đối tượng nghiên cứu.
Mục đích của triết học là giải quyết các vấn đề cơ bản của bản thể luận và nhận
thức luận. Nó là vấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ quyết định cơ sở để giải
quyết những vấn đề khác của triết học. Đó là những lý luận về nguồn gốc, về sự
tồn tại hay những quan niệm về nguồn gốc của thế giới hay bản thể luận.
Vậy, bản thể luận ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ triết học có điểm gì khác
nhau? Trong lịch sử triết học, triết học phương Đông, trong đó nổi bật có triết học
Ấn Độ và Triết học Trung Quốc thì các triết gia có đề cập đến vấn đề bản thể luận
hay không. Không? Trong triết học phương Tây thì các triết gia quan tâm nghiên
cứu bản thể luận như thế nào? Từ đó có ảnh hưởng như thế nào đến việc hình
thành thế giới quan đúng đắn của Triết học Mác - Lênin.
Sau khi nghiên cứu môn triết học Mác - Lênin, nhóm chúngtôi tâm huyết với
đề tài bản thể luận trong Triết học Mác – Lênin vì vậy tôi lựa chọn nội dung: “Vấn
đề bản thể luận trong Triết học Mác – Lênin và sự vận dụng vấn đề này ở Việt
Nam” để viết thu hoạch. Page | 4
CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢN THỂ LUẬN TRONG
TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

I. Những vấn đề cơ bản về bản thể luận trong Triết học Mác – Lênin
1. Cách tiếp cận giải quyết vấn đề bản thể luận trong Triết học Mác-Lênin

Thế giới vật chất thể hiện hết sức phong phú đa dạng, song những dạng biểu hiện
của thế giới vật chất đều phản ánh bản chất của thế giới và thống nhất với nhau. Chủ
nghĩa duy vật biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất
ở tính vật chất. Theo quan điểm đó:
Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật chất là
cái có trước, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người và được ý thức con người phản ánh.
Mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau, biểu hiện
ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, có nguồn
gốc vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan,
phổ biến của thế giới vật chất. Trong thế giới vật chất không có gì khác ngoài những quá
trình vật chất đang biến đổi và chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau.
Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, nó không do ai sinh ra, và cũng
không tự mất đi. Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động, biến đổi
không ngừng và chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau, về
thực chất, đều là những quá trình vật chất.
II. Quan niệm của Triết học Mác-Lênin về vật chất 2.1. Định nghĩa
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại
cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và
tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin:
Thứ nhất, vật chất là một phạm trù triết học: Đó là một phạm trù rộng và khái
quát nhất. Vật chất có tính trừu tượng và tính cụ thể. Vật chất ở đây không thể hiểu theo
nghĩa hẹp như là vật chất trong lĩnh vực vật lý, hóa học, sinh học (nhôm, đồng, H2O,
máu, nhiệt lượng, từ trường…) hay ngành khoa học thông thường khác… Cũng không
thể hiểu như vật chất trong cuộc sống hàng ngày (tiền bạc, cơm ăn áo mặc, ô tô, xe máy…). Page | 5
“Vật chất” trong định nghĩa của Lênin là một phạm trù triết học, tức là phạm trù
rộng nhất, khái quát nhất, rộng đến cùng cực, không thể có gì khác rộng hơn. Đến nay,
nhận thức luận (tức lý luận về nhận thức của con người) vẫn chưa hình dung được cái gì
rộng hơn phạm trù vật chất. Ta không thể “nhét” vật chất này trong một khoảng không
gian nhất định, vì không có gì rộng hơn nó
Thứ hai, thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất là tồn tại
khách quan: Vật chất là tất cả những gì đã và đang hiện hữu thực sự bên ngoài ý thức của
con người, nó mang tính khách quan, chứ không phải chủ quan. Vật chất tồn tại khách
quan trong hiện thực, nằm bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức của con
người. “Tồn tại khách quan” là thuộc tính cơ bản của vật chất, là tiêu chuẩn để phân biệt
cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất.
Dù con người đã nhận thức được hay chưa, dù con người có mong muốn hay
không thì vật chất luôn tồn tại vĩnh viễn trong vũ trụ.
Thứ ba, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan của con người thì sẽ
đem lại cho con người cảm giác, cảm giác của con người chép được, chụp được…:
Khi các dạng cụ thể của vật chất tác động lên các giác quan sẽ gây ra cho con người một cảm giác.
Tuy nhiên, có những thứ cụ thể của vật chất phải thông qua dụng cụ khoa học mới nhận biết được.
Cảm giác có thể chép được, chụp được… có nghĩa là con người có thể nhận biết
được thế giới vật chất từ đó bác bỏ thuyết bất khả tri.
Trước khi loài người xuất hiện trên trái đất, vật chất đã tồn tại nhưng chưa có ý
thức vì chưa có con người. Đây ví dụ cho thấy vật chất tồn tại khách quan, không lệ thuộc
vào ý thức. Có ý thức của con người trước hết là do có vật chất tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp lên giác quan (mắt, mũi, tai, lưỡi…) của con người. Đây là ví dụ cho thấy ý thức
lệ thuộc vào vật chất. Như thế, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ
óc con người một cách năng động, sáng tạo.
Vật chất là một phạm trù triết học, tuy rộng đến cùng cực nhưng được biểu hiện
qua các dạng cụ thể (sắt, nhôm, ánh sáng mặt trời, khí lạnh, cái bàn, quả táo…) mà các
giác quan của con người (tai, mắt, mũi…) có thể cảm nhận được.
Giác quan của con người, với những năng lực vốn có, có thể chép lại, chụp lại,
phản ánh sự tồn tại của vật chất, tức là nhận thức được vật chất. Sự chép lại, chụp lại,
phản ánh của giác quan đối với vật chất càng rõ ràng, sắc nét thì nhận thức của con người
về vật chất càng sâu sắc, toàn diện. Page | 6
Nói rộng ra, tư duy, ý thức, tư tưởng, tình cảm… của con người chẳng qua chỉ là
sự phản ánh, là hình ảnh của vật chất trong bộ óc con người. 2.2 Ý nghĩa
Giải quyết một cách triệt để vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng
Khắc phục được những hạn chế của các nhà duy vật trước Mác về vật chất
Là nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận khoa học để đấu tranh chống lại
chủ nghĩa duy tâm, Thuyết không thể biết, chủ nghĩa duy vật siêu hình…
Là cơ sở khoa học để nhận thức vật chất trong lĩnh vực xã hội, đó là các điều kiện sinh hoạt vật chất, …
Vì vật chất quyết định ý thức nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần xuất
phát từ thực tế khách quan, quan trọng quy luật khách quan…
III, Quan niệm của triết học Mác – Lênin về nguồn gốc và bản chất của ý thức 1. Nguồn gốc
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm

Chủ nghĩa duy tâm khách quan với những đại biểu như Platon, Hêghen đã tuyệt
đối hóa vai trò của lí tính khẳng định thế giới “ ý niệm”, hay “ ý niệm tuyệt đối” là bản
thể, sinh ra toàn bộ thế giới hiện thực. Ý thức của con người chỉ là “sự hồi tưởng” về “ ý
niệm, hay “tự ý thức” lại “ ý niệm tuyệt đối”.
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: ý thức của con người là do cảm giác sinh ra nhưng
cảm giác theo quan niệm của họ không phải là sự phản ánh thế giới khách quan mà chỉ là
cái vốn có của mỗi cá nhân tồn tại tách rời, cách biệt với thế giới bên ngoài ( Béccơli, Makhơ ).
Quan niệm trên của chủ nghĩa duy tâm là phiến diện, sai lầm
1.2 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật siêu hình
Các nhà duy vật siêu hình đã xuất phát từ thế giới hiện thực để lý giải nguồn gốc
của ý thức . Tuy nhiên, do trình độ phát triển khoa học của thời đại đó còn nhiều hạn chế
và bị phương pháp siêu hình chi phối nên những quan niệm về ý thức còn mắc nhiều sai lầm.
Chủ nghĩa duy vật tầm thường cho rằng “óc tiết ra ý thức như gan tiết ra mật.” Họ
coi ý thức cũng chỉ là một dạng vật chất đặc biệt, do vật chất sản xuất ra.
Như vậy cả chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy tâm khi quan niệm về
nguồn gốc của ý thức đều sai lầm. Page | 7
1.3. Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
1.3.1 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Nguồn gốc tự nhiên:
C. Mác đồng thời khẳng định quan điểm duy vật biện chứng về ý thức: “ ý niệm
chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”.
Gồm bộ não người và tư duy khách quan dùng để phản ánh.Bộ não người là khí
quan vật chất của ý thức. Ý thức là chức năng của bộ não người. Mối quan hệ giữa bộ óc
người hoạt động bình thường và ý thức không thể tách rời bộ óc. Ý thức là chức năng của
bộ óc người hoạt động bình thường. Sinh lí và ý thức là hai mặt của một quá trình - quá
trình sinh lý thần kinh trong bộ óc người mang nội dung ý thức cũng giống như tín hiệu
vật chất mang nội dung thông tin .
Bộ óc người có cấu trúc phát triển đặc biệt, rất tinh vi và phức tạp bao gồm khoảng
14-15 tỷ tế bào thần kinh. Sự phân khu của não bộ và hệ thống dây thần kinh liên hệ với
các giác quan để thu nhận và xử lý thông tin từ thế giới khách quan vào não bộ, hình
thành những phản xạ có điều kiện và không có điều kiện, điều khiển các hoạt động của cơ
thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài.Ý thức là hình thức phản ánh đặc trưng chỉ có ở
con người và là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất. Ý thức là sự phản ánh
thế giới hiện thực bởi bộ óc con người. Như vậy, sự xuất hiện con người và hình thành
bộ não của con người có năng lực phản ánh hiện thực khách quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.

Nguồn gốc xã hội:
Hoạt động thực tiễn của con người mới là nguồn gốc trực tiếp quyết định sự ra đời
của ý thức Sự hình thành phát triển của ý thức là một quá trình thống nhất không tách rời
giữa nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.Để tồn tại, con người phải tạo ra những vật
phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình. Hoạt động lao động sáng tạo của loài người có
nhiều ý nghĩa đặc biệt. Ph.Ăngghen đã chỉ rõ những động lực xã hội trực tiếp thúc đẩy sự
ra đời của ý thức: “Trước hết là lao động sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn
ngữ đó là 2 thức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn làm cho bộ óc
đó dần dần biến chuyển thành bộ óc con người”.
Lao động: là phương thức tồn tại cơ bản của con người, lao động mang tính xã hội
đã làm nảy sinh nhu cầu giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên trong xã hội.
Từ nhu cầu đó, bộ máy phát âm, trung tâm ngôn ngữ trong bộ óc con người được hình
thành và hoàn thiện dần. Con người sử dụng công cụ lao động tác động vào hiện thực để
bộc lộ những thuộc tính , kết cấu,…qua đó nhận biết nó ngày càng sâu sắc. Page | 8
Ngôn ngữ: Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Ngôn
ngữ xuất hiện trở thành vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của ý thức, là
phương thức để ý thức tồn tại với tư cách là sản phẩm của xã hội lịch sử cùng với lao
động ngôn ngữ có vai trò to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của ý thức. Ngôn ngữ vừa
là phương tiện giao tiếp vừa là công cụ của tư duy. Ngôn ngữ con người có thể khái quát,
trừu tượng hóa, suy nghĩ độc lập, tách khỏi sự vật cảm tính, có ngôn ngữ để có thể giao
tiếp, trao đổi tư tưởng, lưu giữ, kế thừa những tri thức kinh nghiệm phong phú của xã hội
đã tích lũy được qua các thế hệ, thời kỳ lịch sử. Ý thức là một hiện tượng có tính xã hội
do đó không có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình
thành và phát triển được.
1.3.2. Các hình thức phản ánh của vật chất
Phản ánh của giới tự nhiên vô sinh: vật lí, hóa học: là hình thức phản ánh đơn giản
nhất, mang tính thụ động, chưa có sự lựa chọn.
Phản ánh của giới tự nhiên hữu sinh:
+ Phản ánh có ý thức: Chỉ có ở con người và là hình thức phản ánh cao nhất
+ Phản ánh tâm lý: Phản ánh có tính chất bản năng do nhu cầu trực tiếp của sinh lí cơ thể
+ Phản xạ có điều kiện: Những phản xạ có tính chất tạm thời, xuất hiện hệ thần kinh
trung ương ở động vật bậc cao
+ Tính cảm ứng: ( năng lực có cảm giác) như chim xù lông mùa đông
+ Tính kích thích: Thực vật và động vật chưa có hệ thần kinh
1.3.3 Kết luận về nguồn gốc của ý thức
Như vậy, ý thức chỉ ra đời khi có đủ hai nguồn gốc, nguồn gốc tự nhiên và nguồn
gốc xã hội. Nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần, nguồn gốc xã hội là điều kiện đủ. Thiếu
một trong hai nguồn gốc đó thì ý thức sẽ không hình thành. Ý thức xuất hiện là kết quả
của quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên,của lịch sử trái đất, đồng thời là kết quả
trực tiếp của thực tiễn xã hội – lịch sử của con người.
Trong các yếu tố ra đời của ý thức thì lao động là yếu tố quyết định và quan trọng
nhất của sự ra đời ý thức.
Ý thức mang tính xã hội. Page | 9
2. Bản chất và kết cấu của ý thức
2.1.Bản chất của ý thức

Chủ nghĩa duy tâm không hiểu được nguồn gốc ra đời của ý thức pháp lý ý thức
khỏi đời sống hiện thực, cường điệu vai trò của ý thức một cách thái quá, trừu tượng đến
mức thoát ly đời sống hiện thực, biến nó thành một thực thể tồn tại độc lập, thực tại duy
nhất và nguồn gốc sinh ra thế giới vật chất.
Chủ nghĩa duy vật siêu hình tầm thường hóa vai trò của ý thức có ý thức cũng là
một dạng vật chất tách rời thực tiễn xã hội. Họ coi ý thức cũng chỉ là một dạng vật chất,
hoặc coi ý thức là một sự phản ánh giản đơn, thụ động thế giới vật chất, tách rời thực tiễn
xã hội rất phong phú, sinh động.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng: ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới là quá
trình phản ánh tích cực sáng tạo hiện thực khách quan vào bộ óc con người.
+ Ý thức chỉ là hình ảnh về hiện thực khách quan trong óc người: Ý thức là cái vật
chất ở bên ngoài “di chuyển” vào trong đầu óc của con người và được cải biến đi ở trong
đó. Kết quả phản ánh của ý thức tùy thuộc vào nhiều yếu tố: đối tượng phản ánh ,điều
kiện lịch sử xã hội, phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm sống của chủ thể phản ánh cùng
một đối tượng phản ánh nhưng với các chủ thể phản ánh khác nhau, có đặc điểm tâm lý
tri thức kinh nghiệm thể chất khác nhau, trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau,…thì
kết quả phản ánh đối tượng trong ý thức cũng rất khác nhau.
+ Nội dung ý thức phản ánh là khách quan còn hình thức phản ánh là chủ quan.
+ Ý thức phản ánh tích cực chủ động có mục đích và sáng tạo: Bằng những thao tác
của tư duy trừu tượng đem lại những tri thức mới để chỉ đạo hoạt động thực tiễn, chủ
động cải tạo thế giới trong hiện thực, sáng tạo ra “thiên nhiên thứ hai” in đậm dấu ấn của
con người. Như vậy, sáng tạo là đặc trưng bản chất của ý thức.
+ Ý thức mang bản chất lịch sử xã hội :Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất riêng
có của óc người về hiện thực khách quan trên cơ sở thực tiễn xã hội - lịch sử.
2.2.Kết cấu của ý thức
2.2.1.Xét theo các lớp cấu trúc của ý thức
Tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi nhất. Nếu không dựa vào tri thức thì ý thức
không giúp gì trong hoạt động thực tiễn
Tình cảm phản ánh quan hệ giữa người với người và quan hệ giữa người với thế giới khách quan
Niềm tin sự hòa quyện giữa tri thức với tình cảm và trải nghiệm thực tiễn niềm tin
thôi thúc con người hoạt động vươn lên trong mọi hoàn cảnh
Ý chí chính là những cố gắng nỗ lực khả năng huy động mọi tiềm năng trong mỗi
con người và hoạt động thì có thể vượt qua mọi trở lại đạt mục tiêu đề ra Page | 10
2.2.2 Xét theo cấp độ của ý thức
Tự ý thức là ý thức hướng về nhận thức bản thân mình trong mối quan hệ với ý
thức về thế giới bên ngoài. Đây là bước quan trọng, đánh dấu trình độ phát triển của ý thức.
Tiềm thức là những tri thức chủ đề đã có từ trước nhưng đã gần như thành bản
năng là ý thức dưới dạng tiềm tàng.
Vô thức không phải do lý trí điều khiển nằm ngoài phạm vi của lý trí. Ý thức
không kiểm soát được trong một lúc nào đó.
a. Vấn đề trí tuệ nhân tạo
Người Máy Thông Minh thực ra chỉ là một quá trình vật lý.
Hệ thống thao tác của nó đã được con người lập trình phỏng theo một số thao tác của tư duy.
Máy không thể sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần trong bản thân đó.
Dù máy móc có hiện đại đến đâu chăng nữa cũng không thể hoàn thiện được những bộ óc con người.
b. Vấn đề ý thức của con người
Khi con người là quá trình lịch sử tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên xã hội.
Khi con người có ý thức mới thực hiện được lập trình cho máy móc thực hiện.
Con người phản ánh sáng tạo tái tạo lại hiện thực.
Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất chỉ có ở góc người về hiện thực khách quan trên
cơ sở thực tiễn xã hội lịch sử.
IV, Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
1. Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình

Chủ nghĩa duy tâm: ý thức là tỉnh thứ nhất, có trước sinh ra thế giới vật chất . Họ
có ý thức là tồn tại duy nhất, tuyệt đối, là tính thứ nhất từ đó sinh ra tất cả ,còn thế giới
vật chất chỉ là bản sao, biểu hiện khác của ý thức tinh thần, là tính thứ hai, do ý thức tinh
thần sinh ra. Trong thực tiễn, người duy tâm của nhận tính khách quan cường hệ vai trò
của nhân tố chủ quan duy ý , chí hành động bất chấp điều kiện quy luật khách quan .
Chủ nghĩa duy vật siêu hình: họ đồng nhất ý thức với vật chất có ý thức cũng là
một dạng vật chất đặc biệt do vật chất sinh ra. Tuyệt đối hóa yếu tố vật chất, chỉ nhấn
mạnh một chiều vai trò của vật chất và ý thức, quyết định ý thức phủ nhận tính độc lập
tương đối của ý thức, không thấy được tính năng động sáng tạo vai trò to lớn của ý thức
trong hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan. Page | 11
Kết luận: Cả chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình nhiều có quan
điểm sai về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức họ đã tuyệt đối hóa vật chất hoặc ý thức
2. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
2.1. Vật chất quyết định ý thức

Vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức : Vật chất “sinh” ra ý thức và ý thức
xuất hiện gắn với sự vật xuất hiện của con người cách đây từ 3 đến 7 triệu năm mà con
người là kết quả của một quá trình phát triển, tiến hóa lâu dài phức tạp của giới tự nhiên,
của thế giới vật chất. Con người đo giới tự nhiên vật chất sinh ra cho nên lẽ tất nhiên ý
thức - một thuộc tính của bộ óc con người - cũng do tự nhiên và vật chất sinh ra. các
thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại đã chứng minh rằng giới tự nhiên có trước con
người. Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai.
Vật chất quyết định nội dung của ý thức: Thế giới hiện thực vận động, phát triển
theo những quy luật khách quan của nó, được phản ánh vào ý thức mới có nội dung của ý
thức. Thế giới khách quan, trước hết và chủ yếu là hoạt động thực tiễn có tính xã hội -
lịch sử của loài người là yếu tố quyết định nội dung và hình thức phản ánh. Ý thức chỉ là
hình ảnh của thế giới khách quan. Sự phát triển của hoạt động thực tiễn cả về bề rộng và
chiều sâu , là động lực mạnh mẽ nhất quyết định tính phong phú và độ sâu sắc nội dung
tư duy, ý thức con người qua các thế hệ, qua các thời đại từ mông muội tới văn minh hiện đại
Vật chất quyết định bản chất của ý thức: Chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét
thế giới vật chất là thế giới của con người hoạt động thực tiễn. Chính thực tiễn là hoạt
động vật chất có tính cải biến thế giới của con người- là cơ sở để hình thành, phát triển ý
thức , trong đó ý thức của con người vừa phản ánh và sáng tạo phản ánh để sáng tạo và sáng tạo trong phản ánh
Vật chất quyết định sự vận động phát triển của ý thức : Mọi sự tồn tại phát triển
của ý thức đều gắn liền với quá trình biến đổi của vật chất. Vật chất thay đổi thì sớm hay
muộn ý thức cũng phải thay đổi theo. Con người một sự vật có tính xã hội ngày càng phát
triển cả về thể chất lẫn tinh thần thì dĩ nhiên ý thức - một hình thức phản ánh của óc
người cũng phát triển cả về nội dung và hình thức phản ánh.
2.2. Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Ý thức được vật chất sinh ra nhưng ý thức có quy luật vận động riêng :Ý thức một
khi ra đời thì có tính độc lập tương đối tác động trở lại thế giới vật chất. Ý thức có thể
thay đổi nhanh, chậm, song hành so với hiện thực nhưng nhìn chung nó thời thay đổi
chậm so với sự biến đổi của thế giới vật chất. Page | 12
Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễn của con
người. Chính hoạt động thực tiễn mới cải tạo được thế giới hiện thực .Con người dựa trên
những tri thức về thế giới khách quan, hiểu biết những quy luật khách quan, từ đó đề ra
mục tiêu, phương hướng, biện pháp và ý chí quyết tâm để thực hiện thắng lợi mục tiêu đã
định. Đặc biệt là ý thức tiến bộ cách mạng một khi thâm nhập vào quần chúng nhân dân
lực lượng vật chất xã hội thì có vai trò rất to lớn.
Vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động hành động của con người.
Nó có thể quyết định làm cho hoạt động của con người đúng hay sai, thành công hay thất
bại. Khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo, tiên đoán một cách chính xác cho
hiện thực, có thể hình thành nên những lý luận định hướng đúng đắn và những lý luận
này được đưa vào quần chúng sẽ góp phần động viên, cổ vũ, khai thác mọi tiềm năng
sáng tạo, từ đó sức mạnh vật chất được nhân lên gấp bội. Ngược lại ý thức có thể tác
động tiêu cực khi nó phản ánh sai lạc xuyên tạc hiện thực.
Xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức càng to lớn.Nhất là trong thời đại ngày
nay, thời đại thông tin, kinh tế tri thức, thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ hiện đại, khi mà tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Trong
bối cảnh toàn cầu hóa và vai trò của tri thức khoa học của tư tưởng chính trị tư tưởng
nhân văn là hết sức quan trọng.
V. Ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm triết học Mác – Lênin
Vì vật chất quyết định ý thức sinh ra ý thức nên phải xuất phát từ thực tế khách
quan tôn trọng khách quan tránh bệnh chủ quan duy ý chí: Trong nhận thức và hoạt động
thực tiễn, mọi chủ trương, đường lối, kế hoạch, mục tiêu đều phải xuất phát từ thực tế
khách quan, từ những điều kiện tiền đề vật chất hiện có. Phải tôn trọng và hành động theo
quy luật khách quan nếu không sẽ gây ra những hậu quả tai hại khôn lường. Cần tránh
chủ nghĩa chủ quan bệnh chủ quan duy ý chí, chủ nghĩa duy vật tầm thường, chủ nghĩa
thực dụng, chủ nghĩa khách quan.
Vì ý thức tác động trở lại vật chất nên chúng ta cần phải phát huy tính năng động,
sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người coi trọng giáo dục tư tưởng, trình
độ nhận thức con người. Đồng thời phải giáo dục, nâng cao trình độ tri thức khoa học,
củng cố, bồi dưỡng nhiệt tình ý chí cách mạng cho cán bộ Đảng viên và nhân viên nói
chung, nhất là trong điều kiện nền văn minh trí tuệ kinh tế tri thức toàn cầu hóa hiện nay,
coi trọng việc gìn giữ rèn luyện phẩm chất đạo đức cho cán bộ, Đảng viên đảm bảo sự
thống nhất giữa nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa học.
Để thực hiện nguyên tắc tôn trọng tính khách quan kết hợp phát huy tính năng
động chủ quan còn phải nhận thức và giải quyết đúng đắn các quan hệ lợi ích phải biết
kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân lợi ích tập thể loại sách xã hội phải có động cơ trong sáng Page | 13
thái độ thật sự khách quan khoa học không vụ lợi trong nhận thức và hành động của mình.
CHƯƠNG II: Vận dụng vấn đề bản thể trong việc phòng chống
tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ CNXH đã ghi :“sự nghiệp
cách mạng là của dân, do dân, vì dân. Chính người dân là người làm nên thắng lợi lịch
sự. Toàn bộ hoạt động của đàng là sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Sức mạnh của đảng
là sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến
những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước”.

Lịch sử cũng đã từng chứng minh, một chế độ chính trị- xã hội chỉ tồn tại được khi
có khả năng tập hợp, đoàn kết được đại quần chúng nhân dân. Trong những giai đoạn
cách mạng trước, sở dĩ Đảng ta luôn luôn giữ vững được vai trò lãnh đạo của mình, bởi
có sự ủng hộ, che chở, bảo vệ của nhân dân. Ngày nay, đứng trước những cuộc đấu tranh
bài trừ các tệ nạn xã hội, trước hết là làm trong sạch các tổ chức đảng, bộ máy nhà nước,
khắc phục tệ quan liêu tha hóa đạo đức trong đó đặc biệt là nạn tham nhũng.
1. Tham nhung và những vấn đề liên quan đến tham nhung
Theo Trance international-một cơ quan nghiên cứu và theo dõi nạn hối lộ thì cuộc
khảo sát năm 2014 chấm điểm 197 quốc gia trên thế giới thì Việt Nam đứng hạng 188 với
82/100 điểm, thuộc nhóm 10 quốc gia tham nhũng nhất. Chính vấn nạn tham nhũng ấy đã
làm giảm đi sự tín nhiệm của nhân dân đối với Đảng và nhà nước. Vậy chúng ta hiểu
tham nhũng là gì? Nguyên nhân gây ra tình trạng tham nhũng và những ảnh hưởng của nó?
Tham nhũng là hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với sự ra đời và phát triển của
bộ máy Nhà nước. Các quốc gia có các điều kiện về xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế
khác nhau quan niệm về tham nhũng cũng khác nhau. Ở mỗi giai đoạn phát triển của từng
quốc gia, khái niệm tham nhũng cũng đưa ra tương ứng theo từng thời kỳ, do đó khó có
thể có một khái niệm chung nhất về tham nhũng cho mọi quốc gia, mọi chế độ chính trị,
tham nhũng cũng không phải là một khái niệm bất biến xuyên qua các thời kỳ phát triển
đối với từng quốc gia, khu vực. Ở Việt Nam, theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm
2005 thì "tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ,
quyền hạn đó vì vụ lợi” (Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi năm 2018, có hiệu lực từ
ngày 01/7/2019 giữ nguyên khái niệm này).
Nguyên nhân dẫn đến tham nhũng do đâu?
Hiện nay, tham nhũng là vấn đề mang tính toàn cầu nhưng đồng thời nó cũng chứa
đựng những yếu tố đặc thù gắn với từng quốc gia. Về cơ bản mỗi quốc gia có những
nguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng riêng. Tuy nhiên, dựa trên cơ sở xem xét
nguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng của các nước trên thế giới, thấy rằng tuy có Page | 14
điểm riêng nhưng cũng có một số nguyên nhân, điều kiện mang tính chất chung, tương đồng, đó là:
Sự phát triển của các hình thái Nhà nước, đặc biệt là trong điều kiện phát triển
kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế, chính trị tạo ra tiền đề khách quan cho tham
nhũng nảy sinh, phát triển. Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: “nguồn
gốc sâu xa của tệ tham nhũng là sự gặp nhau của hai nhân tố: Quyền lực công và lòng tham cá nhân”

Trong xã hội có giai cấp, Nhà nước trước hết đại diện cho quyền lực của một giai
cấp nhất định, nó có chức năng điều hòa những lợi ích của các giai cấp khác nhau, thậm
chí đối lập nhau. Quyền lực của Nhà nước khi được trao cho những con người cụ thể,
những người đại diện cho Nhà nước thực thi quyền lực công, nếu không có cơ chế kiểm
soát dễ dẫn tới sự lợi dụng quyền lực hoặc lạm quyền. Sự gặp nhau giữa quyền lực công
khi không được chế ước với nhu cầu cá nhân vượt quá giới hạn cho phép, lòng tham, đã
dẫn tới việc sử dụng quyền lực công phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Đó chính là cơ sở nảy
sinh tham nhũng. Tham nhũng còn được coi là “sản phẩm của sự tha hóa quyền lực”.
Tham nhũng là hệ quả tất yếu của của nền kinh tế kém phát triển, quản lý kinh tế,
xã hội lỏng lẻo, yếu kém. Thực tế cho thấy ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển, quản
lý công khai, minh bạch, văn minh thì tham nhũng xảy ra ít hơn. Ngược lại, ở các quốc
gia, vùng lãnh thổ đang phát triển, trình độ quản lý và dân trí chưa cao thì ở đó tham nhũng phức tạp hơn.
Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện và đồng bộ hoặc thực thi pháp luật yếu kém
cũng là một nguyên nhân và điều kiện của tham nhũng. Cơ chế, chính sách, pháp luật
chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán có nhiều “kẽ hỡ” tạo cho những người có
chức vụ, quyền hạn, điều kiện để “lách luật” trục lợi, làm giàu bất chính.
Phẩm chất chính trị đạo đức của đội ngũ có chức, có quyền bị suy thoái đặc biệt là
suy thoái tư tưởng chính trị. Họ sẵn sàng bỏ qua lợi ích chung, lợi ích tập thể để trục lợi,
làm giàu bất chính cho bản thân, gia đình, họ hàng mình; nhất là trong điều kiện khủng
hoảng chính trị, xã hội, kinh tế ảnh hưởng tiêu cực tới đạo đức của đội ngũ công chức.
Trình độ dân trí thấp, ý thức pháp luật của người dân chưa cao tạo điều kiện cho
những người có chức quyền có thể nhũng nhiễu, hạch sách dân chúng, vòi vĩnh nhận quà
biếu, tặng hay nói cách khác là nhận hối lộ. Thực tế ở các nước phát triển có trình độ dân
trí cao thì tham nhũng ít xảy ra hơn là những nước đang phát triển và kém phát triển với
trình độ dân trí thấp, người dân chưa có điều kiện tham gia vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng.
Bộ máy hành chính nhà nước cồng kềnh, với nhiều thủ tục hành chính phiền hà,
nặng nề, bất hợp lý tạo điều kiện cho một số cán bộ, công chức nhà nước sách nhiễu, ăn
hối lộ của người dân, doanh nghiệp. Một số cơ chế “xin - cho”, đó là “mảnh đất màu mỡ” của tham nhũng. Page | 15
Chế độ, chính sách đãi ngộ, nhất là vấn đề tiền lương cho cán bộ, công chức chưa
thỏa đáng. Một khi cán bộ, công chức Nhà nước chưa thể sống no ấm, đầy đủ với tiền
lương của mình thì tất yếu họ sẽ tìm mọi cách để kiếm thêm thu nhập từ chính công việc,
chức vụ mà nhà Nước giao cho mình kể cả tham nhũng.
2. Vận dụng tư duy quá trình để nhận định tình hình - kiên định, quyết tâm chống tham nhũng….
Tư duy quá trình là phương thức tư duy của chủ nghĩa duy vật lịch sử, sự vận động
và phát triển của xã hội là một quá trình tuân theo quy luật nhất định. Sẽ là sai lầm nếu
chúng ta thoát ly hoặc bỏ qua một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó. Vận dụng tư duy
quá trình để áp dụng vào công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng đòi hỏi chúng ta
phải đặt PCTN trong bối cảnh lịch sử và hiện tại để khảo sát, nhận định và đánh giá. Mỗi
cán bộ, công chức, đặc biệt là những người trực tiếp làm công tác PCTN cần phải nhận
thức đầy đủ, sâu sắc cuộc chiến chống tham nhũng là một quá trình lâu dài, phức tạp và
vô cùng gian nan. Từ đó, tạo ra cho chúng ta một quyết tâm chính trị kiên định, thường
xuyên, liên tục và một niềm tin về kết quả trong cuộc đấu tranh PCTN.
Thứ nhất, giải quyết vấn đề tham nhũng là một quá trình mang tính lịch sử. Tham
nhũng là một hiện tượng lịch sử xã hội, Việt Nam đang trong giai đoạn hoàn thiện thể
chế, trong giai đoạn lịch sử đặc thù của chuyển đổi hình thái xã hội mà chúng ta thường
gọi là giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, bước đầu thiết lập thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do vậy, một vài cơ chế, thể chế vẫn chưa được hoàn
thiện. Điểm lại những nhận định, đánh giá trong một số nghị quyết của Đảng về PCTN
đến nay thì quy mô, tính chất, mức độ tham nhũng, lãng phí không những chưa đạt được
yêu cầu và mục tiêu đề ra là ngăn chặn, từng bước đẩy lùi, mà tình trạng tham nhũng,
lãng phí ngày càng nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, xảy ra trên nhiều
lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành; cụ thể là năm 2021 các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan
chức năng đã chuyển cơ quan điều tra xem xét, xử lý hơn 330 vụ việc có dấu hiệu tội
phạm (tăng hơn 3 lần so với năm 2020). Những tồn tại trên cho chúng ta thấy rằng trong
giai đoạn hiện nay, quyết tâm chống tham nhũng không thể một sớm, một chiều giải
quyết được, mà đó là một quá trình lịch sử lâu dài. Nhìn nhận vấn đề tham nhũng hiện
nay dưới góc độ lịch sử, một mặt chúng ta phải coi đây là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, giải
quyết những vấn đề bức xúc nổi cộm, mặt khác, cũng cần phải xác định “tác chiến
trường kỳ”
, từng bước loại trừ tận gốc những mầm mống phát sinh tham nhũng, không
ngừng đưa cuộc đấu tranh chống tham nhũng đi vào chiều sâu.
Thứ hai, tham nhũng là vấn đề mà mọi quốc gia trên thế giới đều phải đối mặt. Trên thế
giới, bất luận ở các quốc gia phát triển hay đang phát triển đều đang bị tham nhũng tác
động ở các mức độ khác nhau. Ở Việt Nam, tham nhũng được xác định là “quốc nạn”
cản trở những nỗ lực đổi mới, nó tác động tiêu cực tới sự phát triển của đất nước, bóp
méo các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo.
Nghiêm trọng hơn, tham nhũng còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo
của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ ta. Page | 16
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã và đang có quyết tâm nhằm thiết lập
bộ máy chính trị trong sạch, đấu tranh chống tham nhũng trong bối cảnh đa phương hóa,
đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, trong điều kiện môi trường quốc tế đan xen phức tạp, các
loại mâu thuẫn xã hội xuất hiện ngày càng nhiều, điều đó đặt ra cho công tác PCTN nhiều
thách thức mới. Nhìn nhận công tác PCTN dưới góc độ toàn cầu, chúng ta phải xuất phát
từ điều kiện, tình hình trong nước, kiên trì thực hiện chủ trương, đường lối đúng đắn về
PCTN mà Đảng đã đề ra; đồng thời, không ngừng tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế,
tích cực tiếp thu có chọn lọc những thành quả, kinh nghiệm của nước ngoài, không ngừng
mở rộng, nâng cao chất lượng trong công cuộc đấu tranh PCTN.
3. Con đường thúc đẩy công tác phòng chống tham nhũng
Tham nhũng là một hiện tượng xấu cho xã hội, nó gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế
của đất nước. Nó làm suy thoái đạo đức, lối sống của không ít cán bộ, công chức trong bộ
máy nhà nước. Tham nhũng còn làm cho bộ máy nhà nước hoạt động kém hiệu lực, hiệu
quả, thậm chí làm mục ruỗng bộ máy nhà nước, đe dọa sự tồn vong của đất nước, của chế
độ. Vì vậy nên việc có thể tìm ra con đường đúng đắn để phòng chống tham nhũng là vô
cùng cấp thiết. Có nhiều phương pháp để phòng chống tham nhũng tuy nhiên ta nên có
cái nhìn toàn diện hơn về tham nhũng dựa vào tư duy của triết học để tìm ra được con
đường đúng đắn nhất.
Tư duy biện chứng là sự vận dụng phương pháp tư duy của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, nhằm nhấn mạnh tính toàn diện, tính liên kết để nhận thức và giải quyết vấn đề.
Nếu xác định công tác phòng chống tham nhũng là công việc khó khăn, phức tạp, thì việc
vận dụng tư duy biện chứng để thúc đẩy công tác phòng chống tham nhũng cần phải kiên
trì nguyên tắc cân bằng, hài hòa trong quá trình phát triển; không được hữu khuynh, quá
xem nhẹ hay quá coi trọng bên nào, không ngừng tăng cường tính hệ thống, tính tổng thể trong công việc nói chung.
Thứ nhất, nắm vững mối quan hệ giữa phòng và chống. Phòng và chống tham
nhũng có mối quan hệ tương trợ lẫn nhau, là hai mặt quan trọng của một vấn đề, không
thể thiên vị bên nào. Trong tình hình hiện nay, phải hết sức nghiêm khắc với hiện tượng
tham nhũng, cần duy trì nghiêm công tác chống tham nhũng, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ
cương. Hệ thống pháp luật trước tiên là để giữ gìn an tòan trật tự xã hội và sau là để cảnh
báo giáo dục những người có chức, có quyền, phải đủ sức răn đe để họ không dám tham
nhũng. Mặt khác, cần chú trọng công tác phòng ngừa tham nhũng. Không được để tham
nhũng trở thành vấn đề bình thường trong cuộc sống. Cần liên tục thanh tra, kiểm tra,
kiểm toán các dự án các cơ quan đoàn thể ban ngành của nhà nước, xây dựng các quy
chế, chính sách tiền lương, quy định về đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức,...
Thứ hai, cần xác định các vấn đề trọng điểm trong công tác phòng chống tham
nhũng để có thể tìm đúng hướng, lấy mục tiêu là một xã hội nói không với tham nhũng.
Tiến hành công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng cần phải suy nghĩ đến mâu thuẫn
chủ yếu và thứ yếu; xác định được vấn đề chung, nhưng cũng phải nhận định được đâu là trọng điểm. Page | 17
Thứ ba, nắm vững mối quan hệ trước mắt và lâu dài. Công tác phòng chống tham
nhũng có tính giai đoạn, có những vấn đề nóng cần phải giải quyết cấp bách, tuy nhiên,
cũng có những vấn đề mang tính cơ bản, trường kỳ. Nhìn chung, việc sắp xếp nhiệm vụ
phòng chống tham nhũng, nhất thiết phải coi trọng sự kết hợp giữa nhiệm vụ khẩn cấp
trước mắt và mục tiêu lâu dài. Một mặt, tập trung vào hiện tại, đầu tư nguồn lực vào tính
cấp thiết, tranh thủ giải quyết những vấn đề mới nổi, bức xúc trong nhân dân, mặt khác,
cần phải quan sát, suy nghĩ dài hơi, tích cực lập kế hoạch khoa học, tăng cường tính chủ
động trong việc dự báo về công tác phòng chống tham nhũng.
Như V.I.Lênin đã từng khẳng định, kiểm tra tốt sẽ góp phần đấu tranh chống bệnh
quan liêu, bệnh giấy tờ: “Trọng tâm công tác của các đồng chí chính là chấn chỉnh lại
công việc đang quan liêu đến ghê tởm của chúng ta, là đấu tranh chống bệnh quan liêu
giấy tờ, là kiểm tra việc thực hiện.” Cần nâng cao ý thức phòng chống tham nhũng ngay
từ những điều nhỏ nhất của cuộc sống. Thúc đẩy cuộc sống ngày một trở nên trong sạch hơn.
4. Mục tiêu hướng tới của đảng và nhà nước trong việc phòng chống tham nhũng
Thứ nhất, nắm vững chủ trương, đường lối của Trung ương và thực tế, đặc điểm
của địa phương, từ đó đề ra chính sách, biện pháp tổng thể, chi tiết về PCTN sát với cuộc
sống thực tế, khiến cho việc thực hiện các nhiệm vụ tăng thêm tính sắc bén, phong phú và hiệu quả.
Thứ hai, thực tiễn đòi hỏi người làm công tác PCTN luôn phải đi sâu, đi sát, lắng
nghe quần chúng nhân dân, chú trọng tổng kết công tác, suy nghĩ phát hiện quy luật, hoàn
thiện biện pháp, nâng cao trình độ nghiệp vụ, vận dụng nhuần nhuyễn quy luật, nâng cao
năng lực công tác và hiệu quả công việc. Kiên trì bám sát mục tiêu, không buông xuôi khi
chưa đạt mục đích, đó chính là dũng khí chính trị của người làm công tác PCTN. Thực
tiễn cho chúng ta thấy rằng, trong quá trình nắm bắt thực tiễn có thể sẽ gặp nhiều những
mâu thuẫn, những vấn đề cần phải trao đổi, thảo luận, phải trải qua những quanh co, khúc
khuỷu, phức tạp. Do vậy, công tác PCTN ngoài phương pháp khoa học, chúng ta cần phải
có thái độ khoa học, đặc biệt là trong tình hình hiện nay, nạn tham nhũng, lãng phí ngày
càng phức tạp, tinh vi cả về quy mô và mức độ, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều cấp,
nhiều ngành thì đòi hỏi người làm công tác PCTN cần có tinh thần khách quan, bền gan
vững chí, dũng cảm đối mặt với những khó khăn, thách thức, không nên vì sợ trách
nhiệm mà viện lý do để lẩn tránh, càng không được tính toán, so đo giữa cái được và cái
mất mà đưa ra các điều kiện này nọ.
Với tính ưu việt của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đòi hỏi dân tộc
ta phải loại bỏ được nạn tham nhũng để tạo ra một thể chế vững chắc. Muốn bảo vệ và
phát huy những thành quả gần 30 năm đổi mới, đòi hỏi chúng ta phải hành động mạnh
mẽ hơn nữa trong công cuộc PCTN nhằm tạo nên nền tảng cơ sở vật chất cần thiết, môi
trường văn hóa lành mạnh và để bảo vệ pháp chế. Từ khi thành lập đến nay, đặc biệt là
giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
Đảng ta đã không ngừng tìm tòi, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm, phương pháp đấu tranh Page | 18
PCTN. Các kinh nghiệm, phương pháp đó chính là khởi điểm lịch sử, ưu thế để triển khai
cuộc chiến PCTN hiện nay. Với nhận thức như vậy, việc nghiên cứu, vận dụng tư tưởng
triết học Mác-Lênin trong PCTN là một yêu cầu mang tính khoa học, khách quan, góp
phần bổ sung về mặt phương pháp luận, phù hợp với tuyên ngôn chính trị của Đảng là
“Lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. KẾT LUẬN
Như vậy, có thể thấy, bản thể luận là tri thức căn cốt của triết học, từ đó ứng dụng
vào nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, bởi nó không chỉ quy định việc ta lựa chọn
những lý thuyết nào cho những nghiên cứu của mình mà còn quyết định tính đúng đắn
của những kết quả nghiên cứu và ứng dụng của nó trong mọi mặt của xã hội. Nghiên cứu
các thời đại lịch sử bản thể luận không những đem lại cho chúng ta bức tranh cô đọng,
xúc tích, chuẩn xác về tiến trình phát triển của bản thân triết học, mà còn cho phép chúng
ta nhận thấy các thang bậc kế tiếp nhau trong công cuộc khám phá và hiện thực hóa bản
chất của loài người thông qua những giá trị tinh thần căn bản nhất. Mỗi thời đại đều có
những ý kiến khác nhau về thực chất của tồn tại người và có vô số những tư tưởng đã xuất hiện.
Chỉ có một số ít những tư tưởng có thể bám rễ được vào môi trường tinh thần của
một xã hội, có tính đúng đắn để làm cơ sở cho các thế hệ sau. Gạt bỏ những điểm hạn
chế, kế thừa những mặt tích cực, triết học Mác-Lênin đã đưa ra những quan điểm đúng
đắn về bản thể luận, tìm ra được câu trả lời cho những đường hướng, những phương pháp
nhằm phát triển xã hội. Nắm vững linh hồn sống của chủ nghĩa Mác là phép biện chứng
duy vật, V.I.Lênin đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa kế thừa và sáng tạo, giữa
bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong lịch sử mới, nhờ đó đã định ra chiến lược và
sách lược đấu tranh cách mạng đúng đắn.
Với nhận thức như vậy, việc nghiên cứu, vận dụng tư tưởng triết học Mác-Lênin
trong PCTN là một yêu cầu mang tính khoa học, khách quan, góp phần bổ sung về mặt
phương pháp luận, phù hợp với tuyên ngôn chính trị của Đảng là “Lấy chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”.
Page | 19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập
, t. 5, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011. 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập
, t. 8, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.
3. Giáo trình Triết học Mác Lê-Nin, NXB Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021.
4. Nghiên cứu trao đổi tư duy triết học trong phòng chống tham nhũng, TS Đỗ Văn
Nhật, Trang thông tin điện tử tổng hợp ban nội chính TW Page | 20