Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH -----🙦🙥🕮🙦🙥----- BÀI THẢO LUẬN
MÔN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN Đề tài:
Vấn đề nhận thức luận trong triết học Mác – Lênin.
Liên hệ với quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên
Giảng viên: Hồ Công Đức
Lớp học phần: 2154MLNP0221 Nhóm: 9
Hà Nội, tháng 11 năm 2021 1
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 9 STT Tên thành viên MSV Đánh giá 81 Hoàng Anh Quân 21D100368 /10 82 Nguyễn Thị Thúy Quỳnh 21D100323 /10 83
Trịnh Thị Quỳnh (nhóm trưởng) 21D100369 /10 84 Nguyễn Quang Sáng 21D100324 /10 85 Bùi Đức Tài 21D100370 /10 87 Nguyễn Phương Thảo 21D100371 /10 88 Nguyễn Xuân Thịnh 21D100326 /10 89 Lý Thị Thu (thư ký) 21D100327 /10 90 Nguyễn Thị Thu 21D100372 /10 MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………...3
1. Mục tiêu nghiên cứu………………………………………………...…......3
2. Nhiệm vụ nghiên cứu.………………………………………………......…3
3. Phạm vi nghiên cứu…………………………………………………...…...3
4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………......4
5. Kết cấu tiểu luận………………………………………………………...…4
6. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………..4
7. Kết cấu tiểu luận…………...………………………………………………4
II. NỘI DUNG…………………………………………..………………….4
1.Vấn đề nhận thức………………………………………………………….4
Quan niệm về nhận thức trong lịch sử triết học
1.1. Khái niệm lý luận nhận thức……………………………………………..4
1.2. Quan niệm của CNDT về nhận thức……………………………………..5
1.3. Chủ nghĩa duy vật trước Mác……………………………………………6
1.4. Lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác được xây dựng trên nguyên tắc....7
2. Lý luận nhận thức duy vật biện chứng……….……………………….....8 2
2.1. Nguồn gốc bản chất của nhận thức………………………...…………….8
2.2. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức……….…………….9
2.3. Các giai đoạn của quá trình nhận thức……………………………….....14
2.4. Quan điểm CNDVBC về chân lý…………………………………………16
3.Liên hệ với quá trình học tập và nghiên cứu của sinh viên……….…….18
III. Kết luận……………………………………………………..…………..22 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu
Con người có thể nhận thức được thế giới hay không là một câu hỏi hóc búa không
chỉ riêng với các nhà triết học mà còn cả nhân loại. Tuy nhiên, không chỉ giữa các
nhà triết học duy tâm với các nhà triết học duy vật, mà ngay cả giữa những nhà
triết học duy tâm với nhau hay giữa các nhà triết học duy vật với nhau cũng có
những mâu thuẫn nhất định trong việc trả lời câu hỏi này. Mặc dù như vậy, thế
giới vẫn luôn luôn là một đối tượng bí ẩn thu hút các nhà khoa học; vì vậy, câu hỏi
con người có thể nhận thức được thế giới hay không vẫn còn nóng bỏng và thú vị
như buổi ban đầu. Và trong bài tiểu luận này nhóm 9 chúng em sẽ nghiên cứu, tìm
hiểu “Vấn đề nhận thức luận trong triết học Mác – Lênin đồng thời liên hệ nó với
quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên.”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Chỉ ra chính xác các nhân tố, các vấn đề nhận thức trong triết học Mác – Lênin.
Từ đó liên hệ với quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên để thấy
rõ hơn được tầm quan trọng của nhận thức.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hoá các quan điểm và những lý luận nhận thức duy vật biện chứng.
Trình bày phân tích vấn đề nhận thức trong triết học Mác - Lênin của sinh
viên trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Đánh giá thực trạng vấn đề nhận thức trong triết học Mác – Lênin của sinh
viên trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên. 3
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức
Đưa ra hệ thống các giải pháp toàn diện và khả thi dựa trên thực trạng và
định hướng phát triển vấn đề nhận thức trong triết học Mác – Lênin của sinh viên trong
quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
4. Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề nhận thức trong triết học Mác – Lênin. Từ đó liên hệ với quá trình học tập
và nghiên cứu khoa học của sinh viên.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về mặt không gian: đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề nhận thức
trong triết học Mác – Lênin đồng thời liên hệ với quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Phạm vi về mặt thời gian: từ lịch sử triết học.
Phạm vi về mặt nội dung: gồm 3 nội dung chính quan điểm về nhận thức
trong lịch sử triết học: lý luận nhận thức duy vật biện chứng: liên hệ với quá trình học tập
và nghiên cứu khoa học của sinh viên hiện nay.
6. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng cách tiếp cận hệ thống để nghiên cứu và tiến hành thu thập tài liệu,
thông tin theo các yếu tố thời gian, không gian.
Tổng hợp, phân tích các tài liệu trên mạng, sách báo, giáo trình có độ chính xác cao.
7. Kết cấu của tiểu luận
Phần mở đầu, phần nội dung và kết luận. NỘI DUNG 1.
Vấn đề nhận thức
* Quan niệm về nhận thức trong lịch sử triết học
1.1. Khái niệm lý luận nhận thức
ᴥ Có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ, được ghép từ hai từ “Gnosis” (tri thức) và
“Logos” (lời nói, học thuyết). 4
ᴥ Lý luận nhận thức là một bộ phận của triết học, nghiên cứu bản chất của nhận
thức, những hình thức, các giai đoạn của nhận thức; con đường để đạt chân lý, tiêu chuẩn của chân lý…
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức
ᴥ Lý luận nhận thức là khía cạnh thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học; tức là, lý
luận nhận thức phải giải quyết mối quan hệ của tri thức, của tư duy con người đối với
hiện thực xung quanh, trả lời câu hỏi con người có khả năng nhận biết được thế giới hay không?
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về nhận thức
» Trong lịch sử triết học, lý luận nhận thức đã được biểu hiện cụ thể thành những
vấn đề phong phú khác nhau. Có thể thấy trong lịch sử triết học, xuất phát từ lập trường
thế giới quan khác nhau, các trào lưu triết học khác nhau đã đưa ra các quan điểm khác
nhau về lý luận nhận thức.
Quan điểm của chủ nghĩa duy tâ ᴥ m về nhận thức
Không thừa nhận thế giới vật chất tồn tại độc lập với ý thức, do đó không
thừa nhận nhận thức là sự phản ánh thực tại khách quan.
° Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: với các đại biểu như Beccoli cho chân lý là sự
phù hợp giữa suy diễn về sự vật với chính bản thân sự vật trên thực tế. Beccoli phủ nhận
chân lý khách quan, thừa nhận thượng đế là chủ thể nhận thức. Cũng như Beccoli, E
Makho coi sự vật chỉ là kết quả của sự phức hợp các cảm giác , E Makho chủ yếu nhắc
lại quan điểm của Beccoli “ vật hay vật thể là những phức hợp cảm giác”. Chính vì vậy,
theo các nhà duy tâm chủ quan nhận thức không phải là sự phản ánh thế giới khách quan
mà bởi con người mà chỉ là sự phản ánh trạng thái chủ quan của con người. Cũng với lẽ
đó mà Phichto đã cho rằng nhận thức có nghĩa là nhận thức các cảm giác của con người.
Qua đó, ta thấy theo chủ nghĩa duy tâm, tất cả mọi cái đang tồn tại đều là phức hợp
những cảm giác của con người, theo họ, nhận thức, chẳng qua sự nhận thức cảm giác,
biểu tượng của con người.
° Chủ nghĩa duy tâm khách quan: với các đại biểu như Platon, Hegel không phủ
nhận khả năng nhận thức của con người, nhưng lại giải thích một cách duy tâm, thần bí
khả năng này của con người. Platon cho rằng, khả năng đó là khả năng của linh hồn vũ
trụ. Hegel coi khả năng đó chính là khả năng của tinh thần thế giới. Đối với Platon, nhận 5
thức chỉ là quá trình hồi tưởng lại, nhớ lại những gì mà linh hồn trước khi nhập vào thể
xác con người đã có sẵn (các tri thức) ở thế giới ý niệm. Hegel cho rằng nhận thức là quá
trình tự ý thức (tự nhận thức) của tinh thần thế giới. Hegel đã vận dụng phép biện chứng cũng như
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức
nội dung phong phú của nhiều cặp phạm trù logic vào nhận thức luận. Hegel cũng là người
đã phê phán quan điểm siêu hình, không thể biết trong nhận thức luận. Như vậy, ta thấy
mặc dù không phủ nhận khả năng nhận thức thế giới, song coi nhận thức cũng không phải
là sự phản ánh hiện thực khách quan mà chỉ ;à sự tự nhận của ý niệm, tư tưởng tồn tại đâu đó ngoài con người.
○ Quan điểm của chủ nghĩa hoài nghi
Các đại biểu của thuyết hoài nghi đã nghi ngờ khả năng nhận thức của con người,
tính xác nhận của tri thức, biến sự nghi ngờ thành một nguyên tắc nhận thức, thậm chí
chuyển thành nghi ngờ sự tồn tại của bản thân thế giới bên ngoài như có người (như
Hium) đã nghi ngờ cả bản thân sự tồn tại khách quan của các sự vật, hiện tượng. Tuy
nhiên cũng có những đại biểu có quan điểm hoài nghi, nhưng đó là hoài nghi lành mạnh,
chứa đựng các yếu tố tích cực đối với nhận thức khoa học. Chẳng hạn, tư tưởng nghi ngờ
của Đêcacto đã góp phần tích cực vào việc chống tôn giáo, triết học kinh viện, mặc dù
nguyên tắc “nghi ngờ”, nguyên tắc xuất phát điểm trong nhận thức của ông còn hạn chế,
tạo ra kẽ hở cho chủ nghĩa duy tâm nảy sinh. Về thực chất, các nhà hoài nghi chủ nghĩa
đã không hiểu được trên thực tế biện chứng của quá trình nhận thức.
○ Quan điểm của thuyết không thể biế t
▪ Phủ nhận khả năng nhận thức thế giới. Đối với họ, thế giới không thể biết được,
lý trí của con người có tính chất hạn chế và ngoài giới hạn của cảm giác ra, con người
không biết được gì nữa.
▪ Những người theo thuyết không thể biết, điển hình là Canto cho rằng, về nguyên
tắc con người, không thể nhận thức được bản chất thế giới. Chúng ta có hình ảnh về sự
vật, nhưng đó chỉ là biểu hiện bên ngoài của chúng chứ không phải là chính bản thân sự
vật. Con người không thể nhận thức được “vật tự nó – Ding an sich”, chỉ có thể nhận 6
thức được các hiện tượng bên ngoài của sự vật. Quan điểm của thuyết hoài nghi và thuyết
không thê biết đã bị bác bỏ bởi thực tiễn và sự phát triển của nhận thức loài người.
1.3. Quan niệm về nhận thức của chủ nghĩa duy vật trước Mác
Họ đều công nhận khả năng nhận thức thế giới của con người. Họ đều coi
thế giới khách quan là đối tượng nhận thức.
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức
Họ bảo vệ nguyên tắc nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người.
Tuy nhiên, họ hiểu phản ánh chỉ là sự sao chép giản đơn, chỉ là sự tiếp nhận
thụ động một chiều tác động trực tiếp của sự vật lên giác quan của con người.
Họ cũng chưa hiểu được vai trò của thực tiễn trong nhận thức,…
→ Như vậy có thể nói, tất cả các trào lưu triết học trước triết học Mác- Lênin đều quan
niệm sai lầm hoặc phiến diện về nhận thức. Đồng thời do hạn chế bởi tính siêu hình, máy
móc và trực quan nên chủ nghĩa duy vật trước C. Mác đã không giải quyết được một cách
thực sự khoa học những vấn đề của lý luận nhận thức. Nhìn chung, chủ nghĩa duy vật
trước C. Mác chưa cho thấy đầy đủ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
1.4. Lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác được xây dựng dựa trên nguyên tắc
Quan niệm về bản chất nhận thức của triết học C. Mác và Ph.Ăngghen
Bằng sự kế thừa những yếu tố hợp lý của các học thuyết đã có, khái quát các thành
tựu khoa học, C. Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên học thuyết biện chứng duy vật về nhận thức.
Học thuyết này ra đời đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lý luận nhận thức vì đã
xây dựng được những quan điểm khoa học đúng đắn về bản chất của nhận thức. Học
thuyết này ra đời dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập đối với ý thức của
con người. Đây là nguyên tắc nền tảng của lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện
chứng. Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định thế giới tồn tại khách quan, độc lập với
ý thức, với cảm giác của con người và loài người nói chung, mặc dù người ta có thể chưa biết đến chúng. 7
Hai là, công nhận cảm giác, tri giác, ý thức nói chung là hình ảnh chủ quan của
thế giới khách quan. Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, các cảm giác của chúng ta và
mọi tri thức đều là sự phản ánh, đều là hình ảnh chủ quan của hiện thực khách quan
nhưng không phải sự phản ánh thụ động, cứng đờ của hiện thực khách quan giống như sự
phản ánh vật lí của cái gương trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác. Đó
chính là quan niệm trực quan của chủ nghĩa duy vật siêu hình, không đánh giá đúng mức
vai trò của chủ thê, của nhân cách và hoạt động thực tiễn của con người trong phản ánh.
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức
Ba là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực,
mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý. Theo chủ nghĩa duy vật biện
chứng, thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra hình ảnh đúng, hình ảnh sai của cảm giác, ý
thức nói chung; là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý. Tất nhiên, thực tiễn mà chúng ta dùng
làm tiêu chuẩn trong lý luận về nhận thức phải bao gồm cả thực tiễn của những sự quan
sát, những phát hiện về thiên văn học,… Do vậy, quan điểm về đời sống, về thực tiễn
phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức.
Dựa trên nguyên tắc đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: nhận
thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan
vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn.
2. Lý luận nhận thức duy vật biện chứng
II.1. Nguồn gốc bản chất của nhận thức
Nguồn gốc: Triết học Mác - Lênin thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới và
cho rằng thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức. Không phải ý thức của
con người sản sinh ra thế giới mà thế giới vật chất tồn tại độc lập với con người đó
là nguồn gốc “duy nhất và cuối cùng” của nhận thức. Triết học Mác – Lênin khẳng
định khả năng nhận thức thế giới của con người. V .I. Lênin đã chỉ rõ chỉ có những
cái mà con người chưa biết chứ không có cái gì không thể biết: “ Dứt khoát là
không có và không thể có bất kỳ sự khác nhau nào về nguyên tắc giữa hiện tại và
vật tự nó. Chỉ có sự khác nhau giữa cái đã được nhận thức và cái chưa được nhận thức”.
Ví dụ: Khi các loại vi-rut gây hại cho con người xuất hiện như vi-rut corona
ảnh hưởng đến chúng ta thì chúng ta bắt đầu nghiên cứu về nó.
Khái niệm: Nhận thức là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am
hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các quy trình như là 8
tri thức, sự chú ý, trí nhớ, sự đánh giá, sự ước lượng, sự lý luận, sự tính toán, việc
giải quyết vấn đề, việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ.
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản
ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người. Điều này thể
hiện quan niệm duy vật về nhận thức, chống lại quan niệm duy tâm về nhận thức,
có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn, nhờ đó con người tư
duy và không ngừng tiến đến gần khách thể.
Bản chất của nhận thức là sự phản ánh tích cực sáng tạo thế giới vật chất vào bộ óc
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức
con người trên cơ sở thực tiễn. Đây là một quá trình phức tạp, quá trình này sinh
và giải quyết mâu thuẫn chứ không phải quá trình máy móc giản đơn, thụ động và
nhất thời: “Nhận thức là sự tiến gần mãi mãi và vô tận của tư duy đến khách thể.
Phản ánh của giới tự nhiên trong tư tưởng con người phải được hiểu không phải
một cách chết cứng, trừu tượng, không phải vận động, không mưu thuẫn, mà là
trong quá trình vĩnh viễn của vận động, của sự nãy sinh mâu thuẫn và sự giải
quyết những mưu thuẫn đó”.
Các trình độ của nhận thức:
♦ Nhận thức là một quá trình biến chứng có vận động và phát triển, là quá trình đi
từ chưa biết đến biết, biết ít đến biết nhiều hơn, từ biết chưa đầy đủ đến đầy đủ hơn.
Đây là một quá trình không phải nhận thức một lần là xong mà có phát triển bổ sung và hoàn thiện.
■ Căn cứ vào mức độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng ta chia làm hai loại
“nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận”
Nhận thức kinh nghiệm: là nhận thức dựa trên sự quan sát trực tiếp các sự vật hiện
tượng hay các thí nghiệm, thực nghiệm khoa học. Kết quả của nhận thức kinh
nghiệm là những tri thức kinh nghiệm tăng trưởng hoặc tri thức thực nghiệm khoa
học. Tri thức kinh nghiệm giới hạn ở lĩnh vực các sự kiện, miêu tả, phân loại các
dữ kiện thu nhận được từ quan sát và thí nghiệm.
Nhận thức lý luận: là nhận thức sự vật, hiện tượng một cách gián tiếp dựa trên các
hình thức tư duy trừu tượng như khái niệm, phán đoán, suy luận về khái quát tính
bản chất quy luật tính tất yếu của các sự vật, hiện tượng. Khác với kinh nghiệm, lý
luận mang tính trừu tượng và khái quát cao nên nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về
bản chất, về tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan như các cách để
tìm hiểu sâu sắc về một hiện vật cụ thể nào đó. 9
► Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thức khác
nhau, nhưng có quan hệ biện chứng với nhau, thể hiện qua những điểm chính sau:
▪ Kinh nghiệm là cơ sở để kiểm tra lý luận, sử đổi, bổ sung lý luận đã có, tổng kết
kháiquát thành lý luận mới.
▪ Lý luận có tính độc lập tương đối so với kinh nghiệm và có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm.
* Nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của nhận thức lý luận. Nó cung cấp cho nhận
thức lý luận những tư liệu phong phú, cụ thể, nó là cơ sở hiện thực để kiểm tra, sửa chữa,
bổ sung cho lý luận đã có và tổng kết, khái quát thành lý luận mới. Tuy nhiên, tri thức
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức
kinh nghiệm lại có hạn chế bởi nó chỉ mới đem lại sự hiểu biết về các mặt riêng rẽ, về các
mối liên hệ bên ngoài của sự vật và còn rời rạc. Ở trình độ tri thức kinh nghiệm chưa thể
nắm được cái tất yếu sâu sắc nhất, mối quan hệ bản chất giữa các sự vật, hiện tượng. Do
đó, “sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy
đủ tính tất yếu nhận thức khoa học.
■ Căn cứ vào tính chất tự phát hay tự giác ta chia làm hai loại “nhận thức thông
thường và nhận thức khoa học”
• Nhận thức thông thường là nhận thức được hình thành một cách tự phát trực tiếp
trong quá trình hoạt động hàng ngày của con người. Trên cơ sở nhận thức thông thường,
con người hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, chuẩn mực cuộc sống. Con người
phải thường xuyên hoạt động với nhận thức thông thường trong cuộc sống, bởi vì nó đáp
ứng yêu cầu thực tiễn hàng ngày. Do phụ thuộc vào sự biến đổi của thực tiễn lịch sử – xã
hội nên nhận thức thông thường cũng có những biến đổi nhất định.
Trong xã hội xưa kia, nhận thức thông thường còn xa lạ với những quan niệm khoa học,
mang nặng tính chất huyền thoại hoặc tôn giáo. Còn ngày nay, với sự phát triển của các
ngành khoa học, trình độ nhận thức thông thường ngày càng được nâng cao, bao hàm những yếu tố khoa học. 10
• Nhận thức khoa học là nhận thức được hình thành chủ động tự giác của chủ thể
nhằm phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của đối tượng
nghiên cứu. Sự ra đời và phát triển của khoa học là thành quả vĩ đại của trí tuệ con người,
đánh dấu một bước tiến mới trong việc nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Khoa học
giữ vai trò đặc biệt trong hoạt động của con người và vai trò đó ngày càng tăng lên trong đời sống xã hội.
▪ Nhận thức khoa học vừa có tính khách quan, trừu tượng khái quát, lại vừa có tính hệ
thống và tính có căn cứ và tính chân thực. Nó vận dụng một hệ thống các phương tiện và
phương pháp nghiên cứu chuyên môn để diễn tả sâu sắc bản chất và quy luật của đối
tượng nghiên cứu. Vì thế, nhận thức khoa học có vai trò ngày càng to lớn trong hoạt động
thực tiễn, đặc biệt trong thời đại khoa học công nghệ hiện đại.
▪ Ngày nay đất nước ta đang chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, việc phát triển khoa học và công nghệ có ý nghĩa vô cùng quan
trọng.Vì vậy, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII khẳng định, phải “vận dụng
sáng tạo và phát triển học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; phát triển và kết
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức
hợp chặt chẽ các nghành khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ…
làm chỗ dựa khoa học cho vệc triển khai thực hiện Cương lĩnh, Hiến pháp, xác định
phương hướng, bước đi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng pháp luật, các chính
sách, kế hoạch và chương trình kinh tế - xã hội”.
► Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học có mối quan hệ biện chứng với nhau,
thể hiện ở những điểm sau:
▪ Nhận thức thông thường có trước và là chất liệu cho nhận thức khoa học.
▪ Nhận thức khoa học có sức mạnh lớn trong việc tác động trở lại nhận thức thông thường.
Ngày nay, đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc phát triển đất nước trong bối cảnh toàn
cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (cách mạng 4.0). Để đạt được những
thành tựu đột phá, việc phát triển khoa học, công nghệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng,
thậm Ngày nay, đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc phát triển đất nước trong bối chí
mang tính cốt lõi trong triết lý phát triển đất nước.
■ Chủ thể và khách thể nhận thức:
Nhận thức là quá trình xảy ra do sự tương tác giữa chủ thể và khách thể nhận thức. 11
Chủ thể nhận thức: Theo nghĩa rộng đó là xã hội, là loài người nói chung. Hay cụ
thể hơn đó là những nhóm người như các giai cấp, dân tộc, tập thể, các nhà bác
học.v.v.. Nhưng không phải con người bất kỳ nào cũng là chủ thể nhận thức, con
người chỉ trở thành chủ thể nhận thức khi tham gia vào các hoạt động xã hội nhằm
biến đổi và nhận thức khách thể. Do vậy, con người (cá nhân, nhóm người, giai
cấp, dân tộc hoặc cả nhân loại) là chủ thể tích cực, sáng tạo của nhận thức.
Khi nhận thức, các yếu tố của chủ thể như lợi ích, lý tưởng, tài năng, ý chí, phẩm
chất đạo đức… đều tham gia vào quá trình nhận thức với những mức độ khác nhau
và ảnh hưởng đến kết quả nhận thức.
Còn khách thể nhận thức là một bộ phận nào đó của hiện thực mà nhận thức
hướng tới nắm bắt, phản ánh, nó nằm trong phạm vi tác động của hoạt động nhận
thức. Do vậy, khách thể nhận thức không đồng nhất hoàn toàn với hiện thực khách
quan, phạm vi của khách thể nhận thức được mở rộng đến đâu là tuỳ theo sự phát
triển của nhận thức, của khoa học.
Trong hoạt động nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, chủ thể nhận thức
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức
và khách thể nhận thức quan hệ gắn bó với nhau, trong đó khách thể đóng vai trò
quyết định chủ thể. Chính sự tác động của khách thể lên chủ thể đã tạo nên hình
ảnh nhận thức về khách thể. Song chủ thể phản ánh khách thể như một quá trình
sáng tạo, trong đó chủ thể ngày càng nắm bắt được bản chất, quy luật của khách thể.
Cả chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức đều mang tính lịch sử - xã hội.
2.2. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức: a. Thực tiễn:
Thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của triết học Mác –
Lênin, đây là một phạm trù được nghiên cứu từ rất lâu với nhiều quan điểm khác nhau:
▪ Theo chủ nghĩa duy tâm khách quan: Béccơli cho chân lý là sự phù hợp giữa suy
diễn về sự vật với chính bản thân sự vật trên thực tế, ông phủ nhận chân lý khách quan
còn E.Makhơ coi sự vật chỉ là kết quả của sự phức hợp các cảm giác. 12
▪ Theo chủ nghĩa duy tâm chủ quan: Platôn, Hêghen không phủ nhận khả năng
nhận thức của con người, nhưng họ lại giải thích một cách duy tâm, thần bí khả năng này của con người.
Các nhà duy vật trước C.Mác đã có công lớn trong việc phát triển thế giới quan
duy vật và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyết không thể biết. Tuy
nhiên, lý luận của họ còn nhiều hạn chế, thiếu sót, trong đó hạn chế lớn nhất là không
thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, do đó chủ nghĩa duy vật của
họ mang tính chất trực quan. Mác đã chỉ rõ rằng, khuyết điểm chủ yếu, từ trước đến nay,
của mọi chủ nghĩa duy vật (kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc) là không thấy được
vai trò của thực tiễn. Có một số nhà triết học duy tâm, tuy đã thấy được mặt năng động,
sáng tạo trong hoạt động của con người, nhưng cũng chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động
tính thần, chứ không hiểu nó như là hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của con người.
▪ Khắc phục sai lầm, kế thừa và phát triển sáng tạo những quan niệm về thực tiễn
của các nhà triết học trước đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra một quan niệm đúng đắn
về thực tiễn như sau: “Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang
tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội”.
▪ C.Mác và Ph.Ăngghen đã đem lại một quan điểm đúng đắn, khoa học về thực tiễn
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức
và vai trò của nó đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội
loài người. Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận, hai ông đã thực hiện một bước
chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng.
Lênin nhận xét: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ
bản của lý luận về nhận thức.
Vì vậy, có thể nói rằng thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã
hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới. Thực tiễn
là cái xác định một cách thực tế sự liên hệ giữa sự vật với những điểu cần thiết đối với
con người. Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thực tiễn gồm những đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, thực tiễn không phải là toàn bộ hoạt động của con người mà chỉ là
những hoạt động vật chất – cảm tính, như lời của C. Mác đó là những hoạt động vật chất 13
của con người cảm giác được, nghĩa là con người có thể quan sát trực quan được các hoạt động vật chất này.
Thứ hai, hoạt động thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch sử - xã hội của
con người, nghĩa là, thực tiễn là hoạt động chỉ diễn ra trong xã hội với sự tham gia của
đông đảo người trong xà hội. Đồng thời thực tiễn có trải qua các giai đoạn lịch sử phat triển cụ thể của nó.
Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội
phục vụ con người. Nếu con vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách
thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người, nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có
mục đích, có tính xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thoả mãn nhu cầu của mình,
thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới.
Các hình thức hoạt động của thực tiễn:
+ Hoạt động sản xuất vật chất: Là hoạt động có sớm nhất, cơ bản nhất, quan trọng
nhất. Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác động
vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, các điều kiện cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình.
Ví dụ: Hoạt động lao động của công nhân để sản xuất ra hàng hóa tiêu dùng;
người nông dân gặt lúa, trồng cây lương thực,…
+ Hoạt động chính trị xã hội: : Là hoạt động thể hiện tính tự giác cao của con người,
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức
các tổ chức khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những quan hệ chính trị-xã hội để thúc
đẩy xã hội phát triển.
Ví dụ: Hoạt động bầu cử Quốc hội để tìm ra những người lãnh đạo đất nước; tiến
hành Đại hội đoàn trong trường học;…
+ Hoạt động thực nghiệm khoa học: là một hình thức đặc biệt của thực tiễn, được
tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra, gần giống, giống hoặc lặp lại những
trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định những quy luật biến đổi, phát triển của
đối tượng nghiên cứu. Dạng hoạt động này có vai trò trong sự phát triển của xã hội, đặc
biệt là trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại.
Ví dụ: Hoạt động làm nghiên cứu, thí nghiệm của các nhà khoa học để tìm ra
những phương thuốc mới phục vụ cho con người và tự nhiên;… 14
Ngoài ra, các hoạt động thực tiễn không cơ bản như giáo dục, pháp luật, đạo đức v.v
được mở rộng và có vai trò ngày càng tăng đối với sự phát triển của xã hội.Các hoạt động
thực tiễn có mối quan hệ lẫn nhau, trong đó hoạt động sản xuất vật chất là quan trọng
nhất vì nó là cơ sở cho các hoạt động khác của con người và cho sự tồn tại và phát triển
của xã hội loài người.
b. Vai trò của thực tiễn với nhận thức:
Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức:
▪ Thực tiễn cung cấp những tài liệu, vật liệu cho nhận thức của con người. Nếu
không có thực tiễn thì không có khoa học, lý luận, nhận thức.
▪ Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển cho nhận thức
thúc đẩy sự ra đời các ngành khoa học. Chính nhu cầu giải thích, nhận thức và cải tạo thế
giới buộc con người tác động trực tiếp vào đối tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình.
Chính sự tác động đó đã làm cho các đối tượng bộc lộ những thuộc tính, những mối liên
hệ và các quan hệ khác nhau giữa chúng đem lại cho con người những tri thức, giúp cho
con người nhận thức được các quy luật vận động và phát triển của thế giới. Trên cơ sở đó
hình thành các lý thuyết khoa học.
▪ Thực tiễn là cơ sở chế tạo ra các công cụ, phương tiện, máy móc mới hỗ trợ con
người trong quá trình nhận thức.
▪ Thực tiễn là động lực thúc đẩy nhận thức phát triển. Vì thực tiễn luôn vận động,
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức
phát triển nên trí tuệ con người phải đi sâu nghiên cứu, mở rộng những kiến thức hiện có.
▪ Thông qua hoạt động thực tiễn, con người nhận biết được cấu trúc, tính chất và
các mối quan hệ giữa các đối tượng để hình thành tri thức về đối tượng. Hoạt động thực
tiễn bổ sung và điều chỉnh những tri thức đã được khái quát. Thực tiễn đề ra nhu cầu,
nhiệm vụ, cách thức và khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức.
Ví dụ: + Qua việc bị quả táo rơi vào đầu và nhiều thí nghiệm thực tế, Isaac
Newton đã khám phá ra lực hút của Trái đất và định luật hấp dẫn.
+ Qua nhiều lần thử nghiệm, đo đạc thì người ta mới có thể khẳng định nhiệt độ sôi của nước là 100oC.
Thực tiễn là mục đích của nhận thức: 15
▪ Nhận thức của con người là nhằm phục vụ thực tiễn, soi đường, dẫn dắt.
▪ Thực tiễn là mục đích của nhận thức bởi tất cả các lí luận, tri thức chỉ có giá trị
khi chúng được vận dụng vào thực tiến, nhằm cải tạo hiện thực khách quan, đáp ứng các
nhu cầu vật chất, tinh thần của con người và cải thiện đời sống của người dân.
▪ Mọi tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa khi nó được áp dụng vào đời sống thực tiễn
để phục vụ con người.
▪ Mục đích cuối cùng của nhận thức là giúp con người hoạt động thực tiễn nhằm
cải biến thế giới. Nhấn mạnh vai trò này của thực tiễn Lênin đã cho rằng: “Quan điểm về
đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”.
Ví dụ: + Dịch bệnh do virus Covid-19 đã khiến con người nhận ra sự nguy hiểm
của nó và bắt đầu thực hiện các biện pháp phòng chống dịch cũng như đẩy nhanh
sản xuất vắc-xin để phòng bệnh và bảo vệ con người khỏi nguy hiểm.
+ Khi ô nhiễm môi trường quá nặng nề bắt đầu ảnh hưởng rõ rệt tới đời sống con
người thì họ bắt đầu phát minh và sử dụng những nguồn năng lượng sạch để bảo vệ ngôi nhà chung.
+ Ngày nay, công cuộc đổi mới xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ và phức tạp đòi hỏi lý luận phải đi sâu nghiên
cứu để đáp ứng những yêu cầu đó. Chẳng hạn, đó là những vấn đề về chủ nghĩa xã
hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; về công nghiệp hoá, hiện đại
hóa; về kinh tế thị trường; về đổi mới hệ thống chính trị, về thời đại ngày nay… Qua việc
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức
làm sáng tỏ những vấn đề do thực tiễn đặt ra trên đây, lý luận sẽ có được vai trò
quan trọng, góp phần đắc lực vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta.
Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý:
▪ Thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm tra chân lý. Chúng ta không
thể dựa theo số đông để kiểm tra sự đúng sai mà phải dựa vào thực tiễn diễn ra.
▪ Nhờ có thực tiễn kiểm nghiệm, chứng minh mà ta xác định đâu là cái hợp quy
luật, đâu là cái tri thức đúng, đâu là sai lầm cũng như cái gì nên làm, cái gì không nên 16
làm, đâu là cái không hợp với quy luật mà chân lý chính là cái tri thức đúng, cái hợp quy
luật hay là đúng với quy luật.
▪ Thực tiễn là thước đo chính xác nhất để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức, xác
nhận tri thức đó có phải là chân lý hay không. Mác đã từng khẳng định: “Vấn đề tìm hiểu
xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không
phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người
phải chứng minh chân lý”.
▪ Chân lý có tính cụ thể, có đặc tính gắn liền và phù hợp giữa nội dung phản ánh
với một đối tượng nhất định cùng các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
▪ Tiêu chuẩn thực tiễn vừa mang tính tuyệt đối vừa mang tính tương đối.
• Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để
kiểm nghiệm chân lý, thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể xác nhận được chân lý.
Nhưng tiêu chuẩn thực tiễn có cả tính tương đối vì thực tiễn không đứng nguyên một chỗ
mà biến đổi và phát triển; thực tiễn là một quá trình và được thực hiện bởi con người
không tránh khỏi có cả yếu tố chủ quan. Tiêu chuẩn thực tiễn không cho phép biến những
tri thức của con người thành những chân lý tuyệt đích cuối cùng. Trong quá trình phát
triển của thực tiễn và nhận thức, những tri thức đạt được trước kia và hiện nay vẫn phải
thường xuyên chịu kiểm nghiệm bởi thực tiễn tiếp theo, tiếp tục được thực tiễn bổ sung,
điều chỉnh, sửa chữa và phát triển hoàn thiện hơn. Việc quán triệt tính biện chứng của
tiêu chuẩn thực tiễn giúp chúng ta tránh khỏi những cực đoan sai lầm như chủ nghĩa giáo
điều, bảo thủ hoặc chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa tương đối.
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức
Ví dụ: Sau khi làm nhiều nghiên cứu, thử nghiệm trên người và động vật, các nhà
khoa học có thể tìm ra và khẳng định đâu là phương thuốc hiệu quả, an toàn nhất cho tất cả mọi người.
Đối với nhận thức, thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích
của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính đúng đắn của quá
trình nhận thức chân lý.
Sự phân tích trên đây về vai trò thực tiễn đối với nhận thức, đối với lý luận đòi hỏi
chúng ta phải quán triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải
xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải “coi trọng tổng 17
kết thực tiễn Việt Nam”. Nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với
hành. Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn tới các sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, bệnh quan liêu.
2.3. Các giai đoạn của quá trình nhận thức:
V.I. Lênin đã khái quát con đường biện chứng của quá trình nhận thức như sau:
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn –
đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”.
♦ Nhận thức cảm tính
Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, gắn liền với thực tiễn.
Ở giai đoạn này, nhận thức của con người phản ánh trực tiếp khách thể thông qua
các giác quan, được diễn ra dưới 3 hình thức: cảm giác, tri giác và biểu tượng.
Cảm giác: là hình thức đầu tiên, giản đơn nhất của quá trình nhận thức ở
giai đoạn cảm tính, được nảy sinh do sự tác động trực tiếp của khách thể lên các giác
quan của con người. Phản ánh thuộc tính riêng lẻ của sự vật. Ngoài ra, cảm giác là sự
phản ánh từng mặt, từng thuộc tính bên ngoài của sự vật vào các giác quan của con
người. Sự vật hoặc hiện tượng trực tiếp tác động vào các giác quan con người thì gây nên
cảm giác (chẳng hạn như cảm giác về màu sắc, mùi vị, âm thanh, nhiệt độ…). Cảm giác
là kết quả của sự tác động vật chất của sự vật vào các giác quan con người, là sự chuyển
hoá năng lượng kích thích bên ngoài thành yếu tố của ý thức. Cảm giác, theo Lênin, là
hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Tri giác: là kết quả của sự tác động trực tiếp của sự vật đồng thời lên nhiều
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức
giác quan của con người. Có thể nói tri giác là tổng hợp của nhiều giác quan. Vì vậy tri
giác cho ta hình ảnh về sự vật trọn vẹn hơn cảm giác. So với cảm giác, tri giác là hình
thức cao hơn của nhận thức cảm tính, nó đem lại cho chúng ta tri thức về sự vật đầy đủ hơn, phong phú hơn.
Biểu tượng: là hình thức cao nhất và phức tạp nhất của nhận thức cảm tính.
Biểu tượng là hình ảnh sự vật được tái hiện trong óc, khi sự vật không trực tiếp tác động
vào giác quan con người. Không những thế ta có thể thấy Sự tiếp xúc trực tiếp nhiều lần
với sự vật sẽ để lại trong chúng ta những ấn tượng, những hình ảnh về sự vật đó. Những 18
ấn tượng, hình ảnh này đậm nét và sâu sắc đến mức có thể hiện lên trong ký ức của chúng
ta ngay cả khi sự vật không ở trước mắt. Đó chính là những biểu tượng. Trong biểu tượng
chỉ giữ lại những nét chủ yếu, nổi bật nhất của sự vật do cảm giác, tri giác đem lại trước
đó. Biểu tượng thường hiện ra khi có những tác nhân tác động, kích thích đến trí nhớ con
người. Hình thức cao nhất của biểu tượng là sự tưởng tượng; sự tưởng tượng đã mang
tính chủ động, sáng tạo. Tưởng tượng có vai trò rất to lớn trong hoạt động sáng tạo khoa
học và sáng tạo nghệ thuật. Biểu
tượng tuy vẫn còn mang tính chất cụ thể, sinh động của
nhận thức cảm tính, song đã bắt đầu mang tính chất khái quát và gián tiếp. Có thể xem
biểu tượng như là hình thức trung gian quá độ cần thiết để chuyển từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lý tính.
Ở giai đoạn nhận thức cảm tính, nhận thức chưa đem lại những hiểu biết
sâu sắc, khái quát trong tính chỉnh thể về sự vật. Nhận thức cảm tính chưa phân biệt được
cái riêng, cái chung, bản chất và hiện tượng, nguyên nhân, kết quả,… của sự vật.
Để hiểu được bản chất sự vật sâu sắc hơn, hoàn chỉnh hơn, nhận thức phải
chuyển lên hình thức cao hơn là nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng).
♦ Nhận thức lý tính ( hay còn gọi là tư duy trừu tượng )
Bắt nguồn từ trực quan sinh động, thông qua tư duy trừu tượng, con người phản
ánh sự vật một cách gián tiếp, khái quát hơn, đầy đủ hơn dưới các hình thức: khái niệm, phán đoán và suy lý.
Là giai đoạn tiếp theo và cao hơn về chất của quá trình nhận thức, nó nảy sinh trên
cơ sở nhận thức cảm tính. Nếu chỉ bằng cảm giác, tri giác thì nhận thức của con người sẽ
rất hạn chế, bởi vì con người không thể bằng cảm giác mà hiểu được những cái như tốc độ
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức
ánh sáng, giá trị của hàng hoá, quan hệ giai cấp, hình thái kinh tế - xã hội, v.v.. Muốn
hiểu được những cái đó phải nhờ đến sức mạnh của tư duy trừu tượng.
Tư duy trừu tượng là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan. Tư
duy phải gắn liền với ngôn ngữ, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy. Tư duy có tính
năng động sáng tạo, nó có thể phản ánh được những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, bên
trong của sự vật, do đó phản ánh sự vật sâu sắc hơn và đầy đủ hơn. Muốn tư duy, con
người phải sử dụng các phương pháp như so sánh, phân tích và tổng hợp, khái niệm hoá 19
và trừu tượng hoá, v.v.. Nhận thức lý tính, hay tư duy trừu tượng, được thể hiện ở các
hình thức như khái niệm, phán đoán và suy lý.
Khái niệm: là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, là kết quả của sự tổng hợp,
khái quát biện chứng những tài liệu thu nhận được trong hoạt động thực tiễn. , chẳng hạn,
các khi niệm “cái nhà”, “con người”, “giai cấp”, v.v…
• Khái niệm đóng vai trò quan trọng trong tư duy khoa học. Khái niệm là
những vật liệu tạo thành ý thức, tư tưởng. Khái niệm là những phương tiện để con người
tích luỹ thông tin, suy nghĩ và trao đổi tri thức với nhau
• Khái niệm có tính chất khách quan bởi chúng phản ánh những mối liên hệ,
những thuộc tính khách quan của các sự vật, hiện tượng trong thế giới. Vì vậy, khi vận
dụng khái niệm phải chú ý đến tính khách quan của nó. Nếu áp dụng khái niệm một cách
chủ quan, tuỳ tiện sẽ rơi vào chiết trung và ngụy biện. V.I.Lênin chỉ rõ: “Những khái
niệm của con người là chủ quan trong tính trừu tượng của chúng, trong sự tách rời của
chúng, nhưng là khách quan trong chỉnh thể, trong quá trình, trong kết cuộc, trong
khuynh hướng, trong nguồn gốc”
Phán đoán: là hình thức liên hệ các khái niệm, phản ánh mối liên hệ giữa các sự vật,
hiện tượng của thế giới trong ý thức con người. Nó là một hình thức của tư duy trừu
tượng, bằng cách liên kết các khái niệm lại để khẳng định hay phủ định một thuộc tính
nào đó của sự vật. Tuy nhiên, phán đoán không phải là tổng số giản đơn của những khái
niệm tạo thành mà là quá trình biện chứng trong đó các khái niệm có sự liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau.
* Có 3 loại phán đoán cơ bản: phán đoán đơn nhất, phán đoán đặc thù, phán đoán phổ biến.
Suy lý (suy luận): cũng là một hình thức của tư duy trừu tượng, trong đó
phán đoán đã liên kết với nhau theo quy tắc: phán đoán cuối cùng (kết luận) được suy ra
từ những phán đoán đã biết làm tiền đề.
Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức V í dụ
: Từ 2 phán đoán tiền đề:
“Mọi kim loại đều dẫn điện”. “Sắt là kim loại”.
Kết luận: “sắt dẫn điện”.
Có 2 loại suy lý chính: quy nạp và diễn dịch. 20