
!"!"#"$%
Văn hoá là gì?
Cách tiếp cận về khái niệm văn hoá rất đa tuyến và nhiều chiều, tùy vào từng góc
nhìn khác nhau mà ra đời vô số định nghĩa. Sau khi được học và tìm hiểu, từ
những khái niệm của các chuyên gia, tôi rút ra cho bản thân một khái niệm văn
hóa:
“Văn hoá được coi là toàn bộ các khía cạnh của cuộc sống xã hội như ngôn ngữ,
tiếng nói, tôn giáo, tư tưởng, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh… của dân tộc,
đất nước. Nó mang đến giá trị về mặt tinh thần nhằm phục vụ cho nhu cầu và lợi
ích của cộng đồng người dân.”
Các đặc trưng và chức năng của văn hoá?
*Đặc trưng:
- Tính hệ thống:
+Văn hóa là đối tượng bao trùm mọi hoạt động xã hội
+VH thực hiện chức năng tổ chức xã hội
+VH làm tăng tính ổn định xã hội
-Tính giá trị (khác phi giá trị):
+Về mục đích: giá trị vật chất của văn hoá và giá trị tinh thần. Không phân biệt
rạch ròi giữa mục đích vật chất và tinh thần.
+Về ý nghĩa: Có thể phân chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị
thẩm mỹ.
+Về thời gian: giúp chúng ta nhìn nhận sự vật hiện tượng khách quan khoa học
(đồng đại và lịch đại)… Điều này giúp văn hoá thực hiện chức năng thứ 2 của
mình là điều chỉnh xã hội, giúp xã hội cân bằng và tự hoàn thiện theo đúng quy
luật đồng thời nó cũng thích ứng với những biến đổi của môi trường xã hội giúp
định hướng các hệ thống giá trị chuẩn mực làm động lực cho sự phát triển của xã
hội.

-Tính nhân sinh: phân biệt văn hóa với các giá trị tự nhiên
+ Văn hoá là tất cả những gì con người tác động vào tự nhiên mang tính vật chất
hay tinh thần để tạo nên văn hoá cho chính mình
+Gắn liền với hoạt động của con người trong xã hội
+Văn hóa là công cụ giao tiếp => thực hiện chức năng giao tiếp
-Được hình thành trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng dân
tộc:
+Tích lũy từ nhiều thế hệ => tính lịch sử => tạo cho văn hóa một chiều sâu
+VH tự tiếp biến để phù hợp với đương đại
+Những giá trị VH qua thời gian và không gian lịch sử trở thành khuôn mẫu xã
hội.
*Chức năng:
-Chức năng giáo dục: (chức năng chính và chi phối các chức năng khác)
+Là hệ thống chuẩn mực mà con người phải tiếp thu để hình thành nhân cách
+Hướng con người tới những điều hay, lẽ phải
- Chức năng nhận thức
- Chức năng định hướng, đánh giá xác định chuẩn mực, điều chính xã hội, điều
chỉnh cách ứng xử của con người.
- Chức năng giao tiếp
- Chức năng đảm bảo tính kế tục lịch sử

Phân biệt các khái niệm văn hoá, văn minh, văn hiến, văn vật.
*Văn minh – Văn hóa:
! &
- Thiên về giá trị vật chất
- Chỉ cho biết “trình độ phát triển”
của văn hóa (1 lát cắt đồng đại)
- Nguồn gốc: phương tây đô thị
- Phạm vi: có tính quốc tế (chứa
giá trị vật chất => dễ phổ biến)
- Chứa cả giá trị vật chất và giá trị
tinh thần
- Luôn có bề dày lịch sử (tính lịch
sử)
- NG: phương đông nông nghiệp
- Pvi: tính dân tộc (chứa giá trị
tinh thần + giá trị lịch sử)
*Văn hiến – Văn vật:
- Văn hiến: thiên về “truyền thống lâu đời”, được lưu giữ không bị chiến tranh
tàn phá => giá trị tinh thần to lớn
- Văn vật: thiên về giá trị vật chất (nhân tài, di tích, công trình, hiện vật,...)
' $!()*+,$-".-
/%

012,34&5!67.889:;
&<
Tiến trình văn hóa Việt Nam có thể chia thành 6 giai đoạn: văn hóa tiền sử, văn
hóa Văn Lang – Âu Lạc, văn hóa thời chống Bắc thuộc, văn hóa Đại Việt, văn
hóa Đại Nam và văn hóa hiện đại. Sáu giai đoạn này tạo thành ba lớp: lớp văn
hóa bản địa, lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực, lớp văn hóa giao
lưu với phương Tây.
2.1. Văn hoá Việt Nam thời tiền sử
- Thời tiền sử có thể tính từ khi có con người trên đất nước ta cho đến thế kỷ I
TCN. Đây là giai đoạn dài và có tính chất quyết định, giai đoạn hình thành và
định vị của văn hoá Việt Nam.
- Mở đầu cho giai đoạn tiền sử là di chỉ KCH Núi Đọ (Thanh Hoá) người ta đã
phát hiện được các mảnh ghè (mảnh tước), rìu tay…
- Từ 20 đến 15 ngàn năm trước công nguyên, con người sống thành các bộ lạc
săn bắt, hái lượm, dùng đá cuội để chế tác công cụ. Công cụ tuy thô sơ song đã
có bước tiến lớn trong kỹ thuật chế tác. Tiêu biểu những hòn đá cuội được ghè
đẽo ở hai cạnh. Người nguyên thuỷ thời kỳ này đã biết dùng lửa. Họ chôn người
chết ngay nơi cư trú. Điều này nói lên niềm tin của người nguyên thuỷ về một
thế giới khác mà ở đó người nguyên thuỷ vẫn “sống”; thức ăn chủ yếu là nhuyễn
thể, những cây quả, hạt và một số động vật vừa và nhỏ.
- Cách ngày nay một vạn năm loài người bắt đầu bước vào thời kỳ đá mới đặc
trưng tiến bộ về phương thức sản xuất cũng như kỹ thuật sản xuất.
+Tiêu biểu giai đoạn này là văn hoá Hoà Bình. Cư dân đã biết săn bắt, hái lượm,
đã xuất hiện nền nông nghiệp sơ khai. Cuộc sống định cư tương đối ổn định.
+Thời kỳ tiếp theo con người đã biết mở rộng môi trường sinh thái núi, trước núi
và ven biển, nghề đánh cá phát triển mạnh. Cư dân thời đại đá mới có tri thức
phong phú về tự nhiên. Tư duy về thời gian vũ trụ còn được thể hiện bằng những
hình hoa văn, ký hiệu biểu thị hình mặt trời, hình tròn, hình chữ vẽ trên gốm…
có thể đã hình thành một loại nông lịch sơ khai. Thời kỳ này đã xuất hiện những
tín ngưỡng nguyên thuỷ sơ khai như mưa, gió và đặc biệt mặt trời đã trở thành
một trong những thần linh quan trọng đối với con người.

2.2 Thời Sơ sử:
Cách đây khoảng 4.000 năm từ lưu vực sông Hồng đến sông Đồng Nai đã bước
vào thời đại kim khí. Trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại 3 trung tâm văn hoá: Đông
Sơn (Miền Bắc), Sa Huỳnh (Miền Trung) và Đồng Nai (ở Miền Nam).
- Văn hoá Đông Sơn: được hình thành trực tiếp từ ba nền văn hoá ở lưu vực
sông Hồng, Sông Cả, sông Mã.
+ Cư dân tiền Đông Sơn là cư dân trồng lúa nước, nông nghiệp. Họ đã biết
chăn nuôi gia súc trâu, bò, lợn gà,... Bên cạnh nơi cư trú còn có di chỉ mộ
táng…
+ Họ có đời sống tinh thần phong phú điều đó biểu hiện trong tư duy và sáng
tạo nghệ thuật trong trang trí đối xứng, các mô tif hoa văn…
+ Kỹ thuật luyện và rèn sắt cũng khá phát triển
+ Làng xóm thường phân bố ở những nơi cao, xung quanh làng có các vòng
đai phòng thủ.
+ Người Đông Sơn đã có những phong tục, y phục khá phong phú và đa dạng,
đầu tóc có 04 loại. Người Đông Sơn rất thích đồ trang sức. Di chuyển bằng
thuyền. Thời kỳ này gắn liền với nó là các huyền thoại, thần thoại..
+Những nghi lễ và tín ngưỡng giai đoạn này là nghề trồng lúa nước, tục thờ
mặt trời, mưa, nghi lễ phồn thực, nghi lễ nông nghiệp khác như hát đối đáp,
gái trai, tục đua thuyền, thả diều…
- Văn hoá Sa Huỳnh: Không gian văn hoá Sa Huỳnh phân bố từ Bình Trị
Thiên cho đến lưu vực sông Đồng Nai, từ biển lên miền núi theo trục
Đông Tây.
+ Những người truyền giáo và nhà buôn Ấn Độ đầu tiên đặt chân ở nước ta từ
đầu công nguyên. Văn hóa Ấn Độ thấm sâu vào văn hóa Chăm từ thế kỉ 7 đến
hết thế kỉ 15.
+ Bà la môn giáo thờ đấng tối cao tên là Brahma (có nghĩa là đại hồn) được
miêu tả trong bộ kinh Veda (chuyển thể thành Vệ Đà của kinh Phật). Brahma
gồm có 3 ngôi: Brahma (sáng tạo), Visnu (bảo vệ) và Siva (hủy diệt).

+ văn hóa Chăm còn chịu ảnh hưởng của khu vực kế cận và văn hóa gốc miền
Trung (văn hóa Sa Huỳnh). Địa hình, khí hậu, lối sống khắc nghiệt ở miền
Trung tạo ra tính cách Chămdương tính (cứng rắn, thượng võ, hiếu chiến).
+ Ngày nay những tháp Chàm còn đó sừng sững trở thành những điểm du
lịch hấp dẫn du khách bốn phương.
- Văn hoá Óc Eo: Xã hội Óc Eo là một xã hội phát triển nhiều ngành nghề
thủ công như nghề gốm, nghề luyện đồng, luyện sắt, luyện thiếc, nghề kim
hoàn. Đặc biệt nông nghiệp và thương nghiệp lúc này đã khá phát triển với
một loạt chứng cứ như những công trình thuỷ lợi cổ, kênh rạch vừa tưới
tiêu vừa là đường giao thông.
+ Ấn Độ, Điạ Trung Hải, Trung Đông, Trung Hoa làm cho văn hóa Óc Eo
mang đậm yếu tố “ngoại sinh”, được những nhà nghiên cứu trước đây coi là
nguyên nhân chủ yếu của sự phát triển• văn hóa này.
2.3 Văn hoá Việt Nam thiên niên kỷ đầu công nguyên
- Giai đoạn này không có những thành tựu văn hóa đáng kể. Hai nguồn văn
hóa Ấn Độ truyền vào nước ta theo con đường hòa bình, đó là văn hóa Phật
giáo thâm nhập vào miền Bắc, Bà la môn đi vào miền Trung bộ tạo dựng nên
vương quốc Chămpa.
- Các thế lực phong kiến phương Bắc ra sức phá huỷ, tiêu diệt thành tựu văn
hóa dân tộc ta.
2.4. Văn hoá Việt Nam thời tự chủ (thế kỷ X đến nửa sau thế kỷ XIX)
- Thời nhà Lý nền văn hóa Đại Việt phát triển mạnh với tinh thần phục hưng
mãnh liệt.
- Thời nhà Trần, nền văn hóa Đại Việt đạt được bước phát triển rực rỡ, gọi
chung là thời đại văn hóa Lý - Trần.
- Đạt tới đỉnh cao rực rỡ là thời nhà Lê, nước ta đã có một nền văn hóa phong
kiến ngang tầm khu vực, đủ sức tự cường và giữ vững độc lập dân tộc.

- Dân tộc ta phát triển về phương Nam, khẩn trương tiếp thu văn hóa phong
kiến Trung Hoa, chủ yếu là hệ thống giáo dục Nho Giáo, Phật giáo Trung
hoa, kể cả Đạo giáo, theo xu hướng”Tam giáo đồng quy”.
- Nhân dân ta tiếp nhận chữ Hán, nhưng tạo ra chữ Nôm.
- Thủ đô bền vững từ đây đặt tại Thăng Long với Quốc Tử Giám được coi là
trường đại học đầu tiên, cùng với Văn Miếu, khẳng định một giai đoạn phát
triển cao của văn hoá dân tộc.
2.5. Văn hoá Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XIX đến năm 1945
- Thời kì này, dân ta vừa chấp nhận Âu hoá, vừa chống Âu hóa trong chừng
mực nhất định, bảo đảm vừa tiến kịp trình độ thế giới, vừa giữ gìn bản sắc
dân tộc. Những giá trị văn hóa mới đang định hình cần có thời gian thử thách
và lựa chọn.
2.6 Văn hoá Việt Nam từ năm 1945 đến nay
- Cách mạng Tháng 8/1945 đã chấm dứt 80 năm Pháp đô hộ. Cho đến 1986
(đổi mới) chủ yếu là 30 năm chiến tranh (1946 - 1975) chống Pháp và chống
Mỹ có tính chất quốc tế vì vấn đề Việt Nam được quốc tế hóa.
- Sau chiến tranh (1975) mãi đến Đổi mới (1986), hiện đại hóa mới có điều
kiện sâu rộng, kể cả đối thoại với văn hóa phương Tây.
- Việt Nam có cơ hội đưa hội họa, múa rối nước, tuồng, chèo, ẩm thực... ra
quốc tế. Quan trọng nhất là vừa giữ được bản sắc dân tộc vừa hiện đại hóa.


=>?((@($#AB!C18DE
#AB!C18F3GF:(
(%
Hai quy luật của triết lý Âm – Dương
- Quy luật về bản chất của các thành tố:
+ Quy luật về bản chất của các thành tố của triết lý âm dương là: không có gì
hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương, trong dương có âm.
+ Quy luật này cho thấy việc xác định một vật là âm hay dương chỉ là tương
đối, trong sự so sánh với một vật khác. Ví dụ về trong âm có dương: đất lạnh
nên thuộc âm nhưng càng đi sâu xuống lòng đất thì càng nóng; về trong
dương có âm: nắng nóng thuộc dương, nhưng nắng nhiều sẽ có mưa nhiều
(hơi nước bay lên) làm nên mưa lạnh thuộc âm. Chính vì thế mà việc xác
định tính âm dương của các cặp đối lập thường dễ dàng. Nhưng đối với các
vật đơn lẻ thì khó khăn hơn nên có hai hệ quả để giúp cho việc xác định tính
âm dương của một đối tượng:
*Muốn xác định được tính chất âm dương của một đối tượng thì trước hết phải
xác định được đối tượng so sánh. Màu trắng so với màu đỏ thì là âm, nhưng so
với màu đen thì là dương. Ta có thể xác lập được mức độ âm dương cho nhiều
hệ; ví dụ, về màu sắc thì đi từ âm đến dương ta có đen-trắng-xanh-vàng-đỏ (đất
đen sinh ra mầm lá trắng, lớn lên thì chuyển thành xanh, lâu dần chuyển thành lá
vàng và cuối cùng thành đỏ)
* Muốn xác định được tính chất âm dương của một đối tượng thì phải xác định
được cơ sở so sánh. Ví dụ, nước so với đất thì, về độ cứng thì nước là âm, đất là
dương; nhưng về độ linh động thì nước là dương, đất là âm.
- Quy luật về quan hệ giữa các thành tố:
+Quy luật về quan hệ giữa các thành tố của triết lý âm dương là: âm dương gắn
bó mật thiết với nhau, vận động và chuyển hóa cho nhau, âm phát triển đến cùng
cực thì chuyển thành dương, dương phát triển đến cùng cực thì chuyển thành âm.
+Ngày và đêm, tối và sáng, mưa và nắng, nóng và lạnh,... luôn chuyển hóa cho

nhau. Cây màu xanh từ đất đen, sau khi lớn chín vàng rồi hóa đỏ và cuối cùng lại
rụng xuống và thối rữa để trở lại màu đen của đất. Từ nước lạnh (âm) nếu được
đun nóng đến cùng cực thì bốc hơi lên trời (thành dương), và ngược lại, nếu
được làm lạnh đến cùng cực thì nó sẽ thành nước đá (thành dương).
Ảnh hưởng của triết lý Âm - Dương trong đời sống văn hoá của người Việt trước
đây và hiện nay.
- Thứ nhất: Ở người Việt Nam tồn tại từ tư duy đến cách sống là sự tồn tại
cặp đôi, đây là đặc trưng chung và phổ biến nhất. Hình tượng cặp đôi Tiên
– Rồng (người ta thường nói con Rồng cháu Tiên) mang dấu ấn từ âm
hưởng thời xa xưa.
Công Cha như núi Thái Sơn
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Đối với người Cha là khái niệm Dương được biểu hiện bằng hình tượng ngọn
núi, còn người Mẹ âm được biểu hiện bằng nguồn nước.
- Thứ hai: Người Việt nam nắm rất vững quy luật của triết lý ÂM –
DƯƠNG
+ Xin âm dương khi bói
+ Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời. Tuy vậy, vẫn ước mơ “ba vuông
sánh với bảy tròn, đời cha vinh hiển, đời con sang giàu”. Nghĩa là: yêú tố
dương lớn hơn âm sẽ có sự phát triển mạnh về sau.
Tóm lại, trong lối sống, người Việt ưa sự quân bình âm dương. Điều đó dẫn
đến cuộc sống yên tĩnh, ổn định nhưng kém phát triển.
Thấm nhuần triết lý âm dương chuyển hóa, người Việt sống trong gian khó
vẫn nghĩ đến một tương lai tốt đẹp ắt sẽ đến. Sống lạc quan chịu đựng, không
bi quan nản chí.

Tín ngưỡng là gì?
Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi
gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh
thần cho cá nhân và cộng đồng.
Tín ngưỡng phồn thực
- Tư duy cư dân nông nghiệp Nam-á phát triển theo hai hướng : những trí
tuệ sắc sảo đi tìm quy luật khoa học để lí giải hiện thực và họ xây dựng
được triết lí âm dương; những trí tuệ bình dân nhìn thấy ở thực tiễn đó một
sức mạnh siêu nhiên, bởi vậy mà sùng bái nó như thần thánh, kết quả là
xuất hiện tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam.
- Có hai dạng biểu hiện : thờ cơ quan sinh dục nam nữ và thờ bản thân hành
vi giao phối.
- Việc thờ cơ quan sinh dục nam nữ được gọi là thờ sinh thực khí.
- Bên cạnh việc thờ sinh thực khí giống như nhiều dân tộc nông nghiệp
khác, cư dân nông nghiệp lúa nước với lối tư duy chú trọng tới quan hệ
còn có tục thờ hành vi giao phối.
- Gắn việc giã gạo với tín ngưỡng phồn thực, sẽ hiểu được tục “Gĩa cối đón
dâu".
- Vai trò của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống của người Việt cổ lớn tới
mức chiếc trống đồng - biểu tượng sức mạnh, biểu tượng quyền lực.... của
người xưa - đồng thời cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn
thực : Trước hết, cách đánh trống đồng theo lối cầm chày dài mà đâm lên
mặt trống được khắc trên chính các trống đồng và còn được bảo lưu ở
người Mường hiện nay là mô phỏng động tác giã gạo - động tác giao phối.
Trên tâm mặt trống là hình mặt trời với những tia sáng biểu trưng cho sinh
thực khí nam, và giữa các tia sáng là một hình lá với khe ở giữa biểu trưng
cho sinh thực khí nữ. Xung quanh mặt trống thường gắn các tượng cóc -
con cóc trong ý thức của người Việt là "cậu ông trời", mang theo mưa,
khiến cho mùa màng tốt tươi, cũng là một dạng biểu trưng của tín ngưỡng
phồn thực. Cuối cùng, tiếng trống đồng rền vang mô phỏng âm thanh của
tiếng sấm - cùng mang ý nghĩa trên.

Tín ngưỡng sùng bái con người
- Trong con người có cái vật chất và cái tinh thần.
- Người Việt tách linh hồn ra thành hồn và vía. Người Việt cho rằng con
người chỉ có 3 hồn, nhưng vía thì nam có 7, còn nữ có 9. Đàn ông có 7 vía
cai quản 7 lỗ trên mặt : hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng. Phụ nữ thì có
thêm hai cái vía cai quản nơi sinh đẻ và nơi cho con bú.
- Ba hồn, theo một cách giải thích uyên bác, gồm tinh, khí và thần. Tinh là
sự tinh anh trong nhận thức (nhờ các quan năng, các vía mang lại). Khí là
khí lực, là năng lượng làm cho cơ thể hoạt động. Thần là thần thái, là sự
sống nói chung.
Như vậy, từ xác đến vía, từ vía đến tinh, từ tinh đến khí, từ khí đến thần là
cả một chuỗi xích với mức độ trừu tượng và tầm quan trọng tăng dần.
- Hồn vía được người xưa dùng để giải thích các hiện tượng như trẻ con hay
đau ốm, hiện tượng ngủ mê, ngất, chết,...
- Chết tức là cơ thể từ trạng thái động trở thành tĩnh, cho nên theo triết lí âm
dương thì hồn đi từ cõi Dương sang cõi Âm.
- Niềm tin rằng chết là về với tổ tiên nơi chín suối, tin rằng tuy ở nơi chín
suối, nhưng ông bà tổ tiên vẫn thường xuyên đi về thăm nom, phù hộ cho
cháu con là cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
- Khác với người phương Tây coi trọng ngày sinh, trong tục thờ cúng tổ
tiên, người Việt Nam coi trọng hơn cả là việc cúng giỗ vào ngày mất. Bàn
thờ tổ tiên bao giờ cũng đặt ở gian giữa - nơi trang trọng nhất.
- Trong gia đình, ngoài thờ tổ tiên, người Việt Nam còn có tục thờ Thổ
Công. Thổ công, một dạng của Mẹ Đất, là vị thần trông coi gia cư, ngăn
chặn tà thần, đình đoạt phúc họa cho một gia đình. Ở Nam Bộ, Thổ Công
được thay bằng Ông Địa.
- Tín ngưỡng thờ thần của Việt Nam không chỉ đóng khung trong phạm vi
gia đình. Ngoài các vị thần tại gia, còn có các thần linh chung của thôn xã
hoặc toàn dân tộc.
- Trong nước, người Việt Nam còn thờ vua tổ - vua Hùng.

Tín ngưỡng Sùng bái tự nhiên
- Sùng bái tự nhiên là giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con
người. Với người Việt Nam sống bằng nghề nông nghiệp lúa nước, thì sự
gắn bó với tự nhiên lại càng dài lâu và bền chặt.
- Trước hết, đó là Bà Trời, bà Đất, Bà Nước - những nữ thần cai quản các
hiện tượng tự nhiên, quan trọng nhất, thiết thân nhất đối với cuộc sống của
người làm nông nghiệp lúa nước.
- Tiếp theo trời- đất- nước là các bà Mây-Mưa-Sấm-Chớp - những hiện
tượng tự nhiên có vai trò hết sức to lớn trong cuộc sống của cư dân nông
nghiệp lúa nước.
- Người Việt còn thờ các hiện tượng tự nhiên khái quát như không gian và
thời gian.
- Trong mảng tín ngưỡng sùng bái giới tự nhiên còn có việc Thờ Động vật
và thực vật . Trong khi nếp sống trọng sức mạnh của loại hình văn hóa gốc
du mục dẫn đến tục tôn thờ những con thú dữ (như chó sói, hổ, chim ưng,
đại bàng....) thì nếp sống tình cảm, hiếu hòa của loại hình văn hóa nông
nghiệp dẫn người Việt Nam đến tục thờ các con thú hiền như hươu, nai,
trâu, cóc...; riêng loại hình nông nghiệp lúa nước của ta còn thờ một số
động vật sống ở nước như : chim, nước, rắn, cá sấu.
- Thiên hướng nghệ thuật của loại hình văn hóa nông nghiệp còn đẩy các
con vật này lên mức biểu trưng : Tiên, Rồng.

HI6,<?((8D#;
F%
- Trước hết, xét về thái độ của người Việt Nam đối với việc giao tiếp, có thể
thấy được đặc điểm của người Việt Nam là vừa thích giao tiếp, lại vừa rất
rụt rè. Việc thích giao tiếp thể hiện chủ yếu ở hai điểm : thích thăm viếng,
tính hiếu khách. Đồng thời với việc thích giao tiếp, người Việt Nam lại rất
rụt rè - điều mà những người quan sát nước ngoài rất hay nhắc đến. Sự tồn
tại đồng thời hai tính cách trái ngược nhau này bắt nguồn từ hai đặc tính
cơ bản của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng và tính tự trị :Đúng là
người Việt Nam xởi lởi, rất thích giao tiếp, nhưng đó là khi thấy mình
đang ở trong phạm vi của cộng đồng quen thuộc, nơi tính cộng đồng ngự
trị. Còn khi đã vượt ra khỏi phạm vi của cộng đồng thì người Việt Nam,
ngược lại, lại tỏ ra rụt rè. Hai tính cách tưởng như trái ngược nhau ấy
không hề mâu thuẫn với nhau vì chúng bộc lộ trong những môi trường
khác nhau, chúng chính là hai mặt của cùng một bản chất, là biểu hiện
cách ứng xử linh hoạt của người Việt Nam.
- Xét về quan hệ giao tiếp, nguồn gốc văn hóa nông nghiệp với đặc điểm
trọng tình đã dẫn người Việt Nam tới chỗ lấy tình cảm - lấy sự yêu sự ghét
- làm nguyên tắc ứng xử, sống có lí có tình nhưng vẫn thiên về tình hơn.
Với đối tượng giao tiếp, người Việt Nam có thói quen ưa tìm hiểu, quan
sát, đánh giá. Tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tình trạng
gia đình... là những vấn đề người Việt Nam thường quan tâm.Do tính cộng
đồng, người Việt Nam tự thấy có trách nhiệm phải quan tâm đến người
khác, mà muốn quan tâm thì cần biết rõ hoàn cảnh. Mặt khác, do phân biệt
chi li các quan hệ xã hội, mỗi cặp giao tiếp đều có những cách xưng hô
riêng, nên nếu không có đầy đủ thông tin thì không thể nào lựa chọn từ
xưng hô cho thích hợp được. •
- Dưới góc độ chủ thể giao tiếp, có đặc điểm là trọng danh dự.
- Về cách thức giao tiếp, người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hòa
thuận. Lối giao tiếp ưa tế nhị khiến người Việt Nam có thói quen giao tiếp
"vòng vo tam quốc", không bao giờ mở đầu trực tiếp, nói thẳng vào vấn đề
như người phương Tây. Truyền thống Việt Nam khi bắt đầu giao tiếp là
phải vấn xá cầu điền, hỏi thăm nhà cửa ruộng vườn. Chính sự đắn đo cân
nhắc này khiến cho người Việt Nam có nhược điểm thiếu tính quyết đoán.

Để tránh phải quyết đoán, và đồng thời để không làm mất lòng ai, để giữ
được sự hòa thuận cần thiết, người Việt Nam rất hay cười. Nụ cười là một
bộ phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người Việt.
- Hệ thống xưng hô có các đặc điểm : có tính chất thân mật hóa (trong tình
cảm), coi mọi người trong cộng đồng như bà con họ hàng trong một gia
đình. Thứ hai, có tính chất xã hội hóa, cộng đồng hóa cao - trong hệ thống
từ xưng hô này, không có cái "tôi" chung chung.•Quan hệ xưng hô phụ
thuộc vào tuổi tác, địa vị xã hội, thời gian, không gian giao tiếp. Cùng là
hai người, nhưng cách xưng hô có khi đồng thời tổng hợp được hai quan
hệ khác nhau : Chú-con, bác-con, bác-em, anh-tôi,... Lối gọi nhau bằng tên
con, tên cháu, tên chồng; bằng thứ tự sinh ( Cả, Hai, Ba, Tư...). Thứ ba,
thể hiện tính tôn ti kĩ lưỡng: Người Việt Nam xưng và hô theo nguyên tắc
xưng khiêm hô tôn (gọi mình thì khiêm nhường, còn gọi đối tượng giao
tiếp thì tôn kính).

JK(LMN;"OP$
Q!RFLST!.%
Tính tổng hợp và tính cộng đồng trong lối ăn của người Việt.
- Tính Tổng Hợp trong lối ăn của người Việt trước hết thể hiện trong cách
chế biến đồ ăn. Hầu hết các món ăn Việt Nam đều là sản phẩm của sự pha
chế tổng hợp : rau này với rau khác, rau với các loại gia vị, rau quả với cá
tôm,... Các món xào, nấu, ninh, tần, hấp, nộm của ta bao giờ cũng có thịt,
cá, rau, quả, củ, đậu, lạc.... rất ít khi chỉ có thịt không. Từng ấy thứ tổng
hợp lại với nhau, bổ sung lẫn nhau để cho ta những món ăn có đủ mọi chất
: chất đạm, chất béo, chất bột, chất khoáng, chất nước; nó không những có
giá trị dinh dưỡng cao còn tạo nên một hương vị vừa độc đáo ngon miệng,
vừa nồng nàn khó quên của đủ ngũ vị.
VD: một bát phở bình dân cũng đã có sự tổng hợp của mọi chất liệu : mọi
mùi vị, mọi sắc màu. Nó vừa có cái mềm của thịt bò tái hồng, cái dẻo của
bánh phở trắng, cái cay dìu dịu của lát gừng vàng, hạt tiêu đen, cái cay xuýt
xoa của ớt đỏ, cái thơm nhè nhẹ của hành hoa xanh nhạt, cái thơm hăng hắc
của rau thơm xanh đậm, và hòa hợp tất cả những thứ đó lại là nước dung ngọt
từ cái ngọt của tủy xương ...
+ Tính tổng hợp còn thể hiện ngay trong cách ăn.
VD: Mâm cơm của người Việt Nam dọn ra bao giờ cũng có đồng thời nhiều
món : cơm, canh, rau, dưa, cá thịt, xào, nấu, luộc, kho. ... Suốt bữa ăn là cả
một quá trình tổng hợp các món ăn.
- Tính tổng hợp kéo theo Tính Cộng Đồng. Ăn tổng hợp, ăn chung, cho nên
các thành viên của bữa ăn liên quan mật thiết với nhau, phụ thuộc chặt chẽ
vào nhau. Vì vậy mà trong lúc ăn uống, người Việt Nam rất thích chuyện
trò.
+Tính cộng đồng trong ăn uống đòi hỏi nơi con người một thứ văn hóa giao
tiếp cao - văn hóa ăn uống. Bài học đầu tiên mà các cụ dạy cho con cháu là ăn
trông nồi, ngồi trông hướng: Vì mỗi thành viên trong bữa ăn của người Việt
Nam đều phụ thuộc lẫn nhau nên phải có ý tứ khi ngồi và mực thước khi ăn.
Tính mực thước đòi hỏi người ăn đừng ăn quá nhanh, quá nhiều hết phần

người khác, nhưng đồng thời cũng đừng ăn quá chậm khiến người ta phải
chờ. Người Việt Nam có tục khi ăn cơm khách, một mặt phải ăn sao cho thật
ngon miệng để tỏ lòng biết ơn và tôn trọng chủ nhà, nhưng mặt khác, bao giờ
cũng phải để chừa lại một ít trong các đĩa đồ ăn để tỏ rằng mình không chết
đói, không tham ăn.
Tính biện chứng, linh hoạt trong lối ăn của người Việt
- Tổng hợp đi liền với biện chứng..Tính biện chứng linh hoạt Việt Nam thể
hiện rất rõ trong cách ăn. Ăn theo lối Việt Nam là một quá trình tổng hợp
các món ăn. Nhưng có bao nhiêu người ăn thì có bấy nhiêu cách tổng hợp
khác nhau.Tính biện chứng, linh hoạt còn thể hiện trong dụng cụ ăn.Người
Việt Nam truyền thống chỉ dùng một thứ dụng cụ ăn : đôi đũa. Ăn bằng
đũa chính là cách ăn đặc thù thể hiện tư duy tổng hợp và biện chứng xuất
phát từ cư dân trồng lúa nước Nam-Á và Đông Nam Á. Trong khi người
phương Tây phải dùng một bộ đồ ăn gồm ít nhất là thìa, dĩa, dao, mỗi thứ
thực hiện một chức năng riêng rẽ và chặt chẽ (sản phẩm của tư duy phân
tích) thì đôi đũa của người Việt Nam thực hiện một cách cực kì linh hoạt
hàng loạt chức năng khác nhau : gắp, và, xé, xẻ, dầm, khoắng, trộn, vét,
và... nối cho cánh tay dài ra để gắp thức ăn xa.
- Tuy nhiên, người Việt Nam đặc biệt chú trọng đến quan hệ biện chứng âm
dương. Chẳng hạn, gừng đứng đầu vị nhiệt (dương) có tác dụng làm thanh
hàn, giải cảm, giải độc, cho nên được dùng làm gia vị đi kèm với những
thực phẩm có tính hàn (âm) như bí đao, rau cải, cải bắp, cá, thịt bò.... ớt
cũng thuộc loại nhiệt (dương), cho nên được dùng nhiều trong các loại
thức ăn thủy sản (cá, tôm, cua, mắm, gỏi.. ) là những thứ vừa hàn, bình, lại
có mùi tanh. Lá lốt thuộc loại hàn (âm) đi với mít thuộc loại nhiệt (dương)
Rau răm thuộc loại nhiệt (dương) đi với trứng lộn thuộc loại hàn (âm).v v.
Để tạo nên sự quân bình âm dương trong cơ thể, ngoài việc ăn các món đã
được chế biến có tính đến sự quân bình âm dương, người Việt Nam còn sử
dụng các thức ăn như những vị thuốc để điều chỉnh sự quân bình âm
dương trong cơ thể.
- Tính biện chứng trong việc ăn uống không chỉ thể hiện ở việc ăn uống phù
hợp thời tiết, phải đúng mùa, mà người Việt Nam sành ăn còn phải biết
chọn đúng hộ phận có giá trị, đúng chủng loại có giá trị, đúng trạng thái có
giá trị, đúng thời điểm có giá trị của thức ăn nữa. Mỗi loại thức ăn có giá

trị ở những bộ phận khác nhau. Đối với các loại rau quả, dân ta có những
kinh nghiệm như : Cần ăn cuống, muống ăn lá; Cây rau má, lá rau húng,
cuốn rau đay; Chuối sau, cau trước; Mít tròn, dưa vẹo, thị méo trôn ... Đối
với tôm cá, ta có những kinh nghiệm như : Đầu chép, mép trôi, môi mè,
lườn trắm; Một trăm đám cưới, không bằng hàm dưới cá trê... Đối với thịt
gà: Nhất phao câu, nhì đầu cánh....Người Việt rất kĩ tính trong việc chọn
lựa chủng loại.

UI6,<?((DE$G:
5!6V+$"@!$;"W!D
E&F3GF5!<%
SINH RA: Người sáng lập Phật giáo là Siddhartha Gautama. Ông sinh năm
563 trước Công Nguyên tại Kapilavastu. Là hoàng tử của nước Capilavatu.
Năm 29 tuổi, Siddhartha bỏ cung điện và gia đình để đi tìm cho mình một
con đường giải thoát. Năm 35 tuổi, Siddhartha nghĩ ra được một cách giải
thoát. Từ đó ông được gọi là Buddha nghĩa là giác ngộ. Về sau các đệ tử tôn
xưng ông là Sakia Muni (Thích ca Mâu ni)
DO AI: Phật Giáo được Thích Ca Mâu Ni truyền giảng ở miền đông Ấn Độ
vào thế kỷ 6 TCN
DU NHẬP: Phật giáo Việt Nam là Phật giáo được bản địa hóa khi du nhập từ
Ấn Độ và Trung Quốc vào Việt Nam, Phật giáo Việt Nam mang những đặc
điểm khác biệt so với Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo của các nơi khác
trên thế giới. Phật Giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, khoảng thế
kỷ 1 TCN theo đường hải vài đường bộ
QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN ĐẠO PHẬT Ở VIỆT NAM
Thời kỳ thứ nhất: từ khi Phật giáo du nhập vào cho đến thế kỷ X
Phật giáo là một tôn giáo được truyền vào nước ta từ rất sớm. Theo hiểu biết
hiện nay của giới nghiên cứu lịch sử thì Phật giáo vào Việt Nam từ những
năm đầu công nguyên.
Ban đầu Phật giáo truyền vào nước ta chủ yếu trực tiếp từ Ấn Độ. Đến thế kỷ
V, Phật giáo đã được truyền đến nhiều nơi trên đất nước và đã xuất hiện
những nhà sư Việt Nam có danh tiếng. Từ thế kỷ thứ VI cho đến thế kỷ X vẫn
được xem là giai đoạn truyền giáo của đạo Phật, song giai đoạn này các nhà
truyền giáo của Ấn Độ bắt đầu giảm dần và các nhà truyền giáo của Trung
Quốc bắt đầu tăng lên, dẫn theo đó bắt đầu có các phái thiền của Trung Quốc
du nhập vào Việt Nam.
Thời kỳ thứ hai: Phật giáo thời Đinh - Lê - Lý - Trần (thế kỷ X đến thế kỷ
XV)

Từ thế kỷ X, nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự chủ sau một ngàn năm
Bắc thuộc. Việc này đã tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển sang một bước
mới.
Dưới hai triều đại Đinh - Lê, tuy không tuyên bố Phật giáo là Quốc đạo
nhưng đã công nhận Phật giáo là tôn giáo chính của cả nước. Các triều Vua
Đinh - Lê có nhiều chính sách nâng đỡ đạo Phật.
Tuy nhiên, đến triều nhà Lý thì mới được xem là triều đại Phật giáo đầu tiên
ở Việt Nam vì Lý Công Uẩn - Lý Thái Tổ (người sáng lập triều Lý) xuất thân
từ chốn thiền môn (là người cùng thụ giới Sa Di với Sư Vạn Hạnh) nên ông
hết lòng ủng hộ cho Phật giáo.
Dưới triều nhà Trần, Phật giáo Việt Nam phát triển tới mức cực thịnh và trở
thành tôn giáo chính thống của cả nước.
Thời kỳ thứ ba: Phật giáo thời Lê Sơ đến nhà Nguyễn ( XV-XX )
Thời Lê sơ (1428-1527) là một thời kỳ đặc biệt trong lịch sử quân chủ chuyên
chế của Việt Nam. Thời kỳ này đã có nhiều nghiên cứu về những thành tựu
về tư tưởng, chính trị, luật pháp. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều những vấn đề cần
nghiên cứu, trong đó có “Phật giáo thời Lê sơ”.
Trong bối cảnh khôi phục và xây dựng lại đất nước sau chiến tranh chống
thuộc Minh, Đại Việt thời Lê sơ có một sự chuyển mình lớn về văn hóa, Phật
giáo chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ những nhân tố chính trị, kinh tế, văn hóa
cho đến xã hội. Tới điểm cực thịnh của chế độ quân chủ chuyên chế ở thời Lê
Thánh Tông, khi Nho giáo chiếm ưu thế trong xã hội, thì Phật giáo tiếp tục
chịu sự ảnh hưởng
Có nhóm luận điểm cho rằng Phật giáo thời Lê sơ suy thoái, yếu kém, không
có VAI TRÒ gì to lớn. Ngược lại, có nhóm luận điểm cho rằng Phật giáo thời
kỳ này đáp ứng rộng rãi những nhu cầu, tình cảm trong dân gian. Từ đó, cần
phải có một nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về Phật giáo thời kỳ này để
thấy được những VAI TRÒ của Phật giáo trên từng phương diện cụ thể của
đời sống xã hội Đại Việt thời Lê sơ.
Thời kỳ thứ tư: Phật giáo thế kỉ XX hiện nay
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.