



















Preview text:
CH Đ THUY T TR NH 1
I. XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG (1945-1946)
Tình hình Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945
- Sau ngày tuyên bố độc lập, lịc
h sử nước Việt Nam bước sang một chặng đườn g mới với nhiều
thuận lợi căn bản và khó khăn chồng chất. Về thuận lợi:
+ Quốc tế: Sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II, cục diện khu vực và thế giới có những sự thay đổi lớn có lợi cho
cách mạng Việt Nam. Liên Xô trở thành thành trì của chủ nghĩa xã hội. Nhiều nước ở Đông Trung Âu, được sự ủng hộ
và giúp đỡ của Liên Xô đã chọn con đường phát triển theo chủ nghĩa xã hội. Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước
thuộc địa châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh dâng cao.
+ Trong nước: Việt Nam trở thành quốc gia độc lập, tự do; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ, bị áp bức trở thành
chủ nhân của chế độ dân chủ mới. Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền lãnh đạo cách mạng trong cả nước. Đặc
biệt, việc hình thành hệ thống chính quyền cách mạng với bộ máy thống nhất từ cấp trung ương đến cơ sở, ra sức
phục vụ lợi ích của tổ quốc, nhân dân. Về khó khăn:
+ Quốc tế: Phe đế quốc âm mưu chia lại hệ thống thuộc địa, ra sức tấn công, đàn áp phong trào cách mạng thế giới, trong đó có Việt Nam.
+ Trong nước: Chính quyền cách mạng mới được thiết lập, còn rất non trẻ, thiếu thốn, yếu kém về nhiều mặt. Hậu
quả của chế độ cũ để lại hết sức nặng nề: Một nền kinh tế xác xơ, tiêu điều, công nghiệp đình đốn, nông nghiệp hoang
hóa, 50% ruộng đất bị bỏ hoang; nền tài chính, ngân khố kiệt quệ, kho bạc trống rỗng; các hủ tục lạc hậu, thói hư, tật
xấu, tệ nạn xã hội rất nhiều, 95% dân số thất học, mù chữ; nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 làm 2 triệu người chết.
Thực dân Pháp âm mưu quay trở lại Việt Nam một lần nữa.
Từ tháng 9-1945, theo thỏa thuận của phe Đồng minh, 2 vạn quân đội Anh – Ấn đổ bộ vào Sài Gòn để làm nhiệm vụ
giải giáp quân đội Nhật thua trận ở phía Nam Việt Nam. Quân đội Anh đã trực tiếp bảo trợ, sử dụng đội quân Nhật giúp
sức quân Pháp ngang nhiên nổ súng gây hấn đánh chiếm Sài Gòn – Chợ Lớn (Nam Bộ) vào rạng sáng ngày 23-9-1945,
mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ 2 của thực dân Pháp ở Việt Nam.
Ở Bắc vĩ tuyến 16, theo thỏa thuận Hiệp ước Potsdam (Đức), từ cuối tháng 8-1945, hơn 20 vạn quân đội của Tưởng
Giới Thạch (Trung Hoa dân quốc) tràn qua biên giới kéo vào Việt Nam dưới sự bảo trợ và ủng hộ của Mỹ với danh
nghĩa quân đội Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, kéo theo là lực lượng tay sai Việt Quốc, Việt Cách với âm
mưu thâm độc “diệt Cộng, cầm Hồ”, phá Việt Minh. Trong khi đó, trên đất nước Việt Nam vẫn còn 6 vạn
quân đội Nhật Hoàng thua trận chưa được giải giáp.
Tình hình đó đã đặt nền độc lập và chính quyền cách mạng non trẻ của Việt Nam trước tình thế “như ngàn cân treo
sợi tóc”, cùng một lúc phải đối phó với nạn đói, nạn dốt và bọn thù trong, giặc ngoài.
1. Xây dựng chế độ mới và chính quyền cách mạng
- Ngày 3/9/1945, Chính phủ lâm thời họp phiên đầu tiên dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định sáu
việc cấp bách của chính quyền cách mạng và nêu ra ba nhiệm vụ lớn: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm.
- Ngày 25/11/1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, nhận định tình hình và định
hướng con đường đi lên của cách mạng Việt Nam sau khi giành được chính quyền.
Về chỉ đạo chiến lược: mục tiêu của cách mạng Đông Dương vẫn là dân tộc giải phóng, khẩu hiệu lúc này là “Dân
tộc là trên hết, Tổ quốc là trên hết”.
Về xác định kẻ thù: “Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”.
Về nhiệm vụ: Đảng nêu 4 nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách: “củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài
trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân”. - Biện pháp cụ thể:
• Nhanh chóng xúc tiến bầu cử Quốc hội, thành lập Chính phủ chính thức, lập ra Hiến pháp.
• Về ngoại giao, phải đặc biệt chú ý “làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết”. Đối với Tàu
Tưởng nêu chủ trương “Hoa – Việt thân thiện. Đối với Pháp “độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế” .
• Về tuyên truyền, hết sức kêu gọi đoàn kết chống thực dân Pháp xâm lược, “đặc biệt chống mọi mưu mô phá hoại
chia rẽ của bọn Trotsky, Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng”.
→ Những quan điểm và chủ trương, biện pháp lớn được Đảng nêu ra trong bản Chỉ thị kháng chiến, kiến quốc đã giải
đáp trúng, đáp ứng đúng yêu cầu cấp bách của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ; có tác dụng định hướng tư tưởng, trực
tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ; xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng trong giai
đoạn đầy khó khăn, phức tạp này.
• Chống giặc đói, đẩy lùi nạn đói: là một nhiệm vụ lớn, quan trọng, cấp bách lúc bấy giờ. Đảng, Chính phủ và Chủ tịch
Hồ Chí Minh tập trung chỉ đạo, động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào lớn, các cuộc vận động, như:
tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm với khẩu hiệu tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa; lập hũ gạo tiết kiệm,
tổ chức Tuần lễ vàng, gây Quỹ độc lập, Quỹ đảm phụ quốc phòng, Quỹ Nam Bộ kháng chiến... Chính phủ bãi bỏ thuế
thân và nhiều thứ thuế vô lý của chế độ cũ, thực hiện chính sách giảm tô 25%. Ngay năm đầu, sản xuất nông nghiệp có
bước khởi sắc rõ rệt, việc sửa chữa đê điều được khuyến khích, tổ chức khuyến nông, tịch thu ruộng đất của đế quốc,
Việt gian, đất hoang hóa chia cho nông dân nghèo. Sản xuất lương thực tang lên rõ rệt, cả về diện tích và sản lượng hoa
màu. Một số nhà máy, công xưởng, hầm mỏ được khuyến khích đầu tư khôi phục hoạt động trở lại. Ngân khố quốc gia
được xây dựng lại, phát hành đồng giấy bạc Việt Nam. Đầu năm 1946, nạn đói cơ bản được đẩy lùi, đời sống nhân dân
được ổn định, tinh thần dân tộc được phát huy cao độ, góp phần động viên kháng chiến ở Nam Bộ.
• Chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ: được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng, thể hiện tính ưu việt của chế độ
mới, góp phần tích cực xây dựng hệ thống chính quyền cách mạng, phát huy quyền dân chủ của nhân dân. Đảng và Hồ
Chí Minh chủ trương phát động phong trào “Bình dân học vụ”, toàn dân học chữ quốc ngữ để từng bước xóa bỏ nạn dốt;
vận động toàn dân xây dựng nếp sống mới, đời sống văn hóa mới để đẩy lùi các tệ nạn, hủ tục, thói quen cũ, lạc hậu cản
trở tiến bộ. Các trường học từ cấp tiểu học trở lên lần lượt khai giảng năm học mới; thành lập Trường Đại học Văn khoa
Hà Nội. Đến cuối năm 1946, cả n ớ
ư c đã có hơn 2,5 triệu người dân biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ. Đời sống tinh thần
của một bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhân dân tin tưởng vào chế độ mới, nêu cao quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng.
• Khẩn trương xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng: Ngày 6-1-1946 cả nước tham gia bầu cử. Ngày 2-3-1946
Quốc hội khóa I đã họp phiên đầu tiên và lập ra Chính phủ chính thức. Ngày 9-1 -
1 1946, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội đã
thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Mặt trận dân tộc thống nhất được mở
rộng để tang cường lực lượng cách mạng, tập trung chống Pháp ở Nam Bộ. Cuối năm 1946, Việt Nam có hơn 8 vạn bộ
đội chính quy, lực lượng công an; hàng vạn dân quân, tự vệ...
2. Tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam Bộ, đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ
- Đêm 22 rạng ngày 23-9-1945, quân đội Pháp đã nổ súng gây hấn đánh chiếm Sài Gòn – Chợ Lớn (Nam Bộ). Cuộc
kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Nam Bộ bắt đầu.
- Sáng 23-9-1945, Hội nghị liên tịch giữa Xứ ủy, Ủy ban nhân dân, Ủy ban kháng chiến và đại diện Tổng bộ Việt Minh
đã nhanh chóng thống nhất, đề ra chủ trương hiệu triệu quân, dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến chống xâm lược Pháp.
- Nhân dân các tỉnh Nam Bộ đã nêu cao tinh thần chiến đấu “thà chết tự do còn hơn sống nô lệ” nhất loạt đứng lên
dùng các loại vũ khí thô sơ, tự tạo, gậy tầm vông, giáo mác chống trả hành động xâm lược của thực dân Pháp, kiên quyết
bảo vệ nền độc lập, tự do và chính quyền cách mạng. Tổ chức công tác diệt ác, trừ gian, phát động chiến tranh nhân dân
trong lòng thành phố, đốt phá kho tàng, chặn đánh các đoàn xe vận tải của ị
đ ch, củng cố, xây dựng căn cứ địa.
- Ngày 26-9-1945, những chi đội đầu tiên ưu tú nhất của quân đội, được trang bị vũ khí tốt nhất đã lên đường Nam
tiến chi viện cho Nam Bộ; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khích lệ, động viên đồng bào Nam Bộ kháng chiến, tuyên
dương và tặng nhân dân Nam Bộ danh hiệu “Thành đồng Tổ q ố u c”. Ở k u
h vực miền Trung, cuộc chiến đấu của quân và
dân Nha Trang đã mở đầu cho cuộc chiến đấu oanh liệt, dũng cảm, kiên cường của quân và dân mặt trận Nam Trung Bộ
và Tây Nguyên trong những ngày đầu kháng chiến...
- Để làm thất bại âm mưu “diệt Cộng, cầm Hồ, phá Việt Minh” của quân Tưởng và tay sai, Đảng, Chính phủ Hồ Chí
Minh chủ trương thực hiện sách lược “triệt để lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù, hòa hoãn, nhân nhượng có nguyên tắc” với
quân Tưởng; đề ra nhiều đối sách khôn khéo đối phó có hiệu quả với các hoạt động khiêu khích, gây xung đột vũ trang
của quân Tưởng; thực hiện giao thiệp thân thiện, ứng xử mềm dẻo, linh hoạt với các yêu sách của quân Tưởng và các tổ
chức đảng phái chính trị tay sai thân Tưởng, nhất là số cầm đầu Việt Quốc, Việt Cách:
Để tránh mũi nhọn tấn công của các kẻ thù, Đảng chủ trương rút vào hoạt động bí mật bằng việc ra “Thông cáo Đảng
Cộng sản Đông Dương tự ý tự giải tán, ngày 11-11- 1945”, chỉ để lại một bộ phận hoạt động công khai với danh nghĩa
“Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương”.
Chính phủ Việt Nam đồng ý việc đảm bảo cung cấp lương thực, thực phẩm cần thiết cho 20 vạn quân đội Tưởng khi
ở Việt Nam và nhân nhượng cho quân Tưởng được sử dụng đồng tiền Quan kim, Quốc tệ song hành cùng đồng bạc Đông Dương.
Sau khi bầu cử thành công, Hồ Chí Minh chấp nhận mở rộng thành phần đại biểu Quốc hội, đồng ý bổ sung thêm 70
ghế Quốc hội không qua bầu cử cho một số đảng viên của Việt Cách, Việt Quốc; cải tổ, mở rộng thành phần Chính phủ
liên hiệp với sự tham gia của nhiều nhân sĩ, trí thức, người không đảng phái và cả một số phần tử cầm đầu tổ chức phản
động tay sai của quân Tưởng, trong đó có nhiều ghế Bộ trưởng quan trọng…
Đầu năm 1946, phe đế quốc đã dàn xếp, thỏa thuận để Chính phủ Pháp và Chính phủ Trung Hoa dân quốc ký kết bản
Hiệp ước Trùng Khánh (còn gọi là Hiệp ước Hoa – Pháp, ngày 28-2-1946), trong đó có nội dung thỏa thuận để Pháp
đưa quân đội ra Bắc vĩ tuyến 16 làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật thay thế 20 vạn quân Tưởng rút về nước. Và đổi
lại Pháp sẽ nhượng lại cho Tưởng nhiều quyền lợi quan trọng ở Trung Quốc và Việt Nam. Đây thực chất là một bản hiệp
ước bán rẻ lợi ích dân tộc, chà đạp lên nền độc lập của Việt Nam, hợp pháp hóa hành động xâm lược của thực dân Pháp
ra miền Bắc. Chính phủ và nhân dân Việt Nam đứng trước một tình thế vô cùng nguy hiểm, phải cùng lúc đối mặt trực
tiếp với hai kẻ thù xâm lược to lớn là Pháp và Tưởng, trong khi thực lực cách mạng vẫn còn non kém.
- Trước sự thay đổi nhanh chóng, phức tạp của tình hình, Thường vụ Trung ương Đảng, Hồ Chí Minh đã nhận định,
đánh giá âm mưu, ý đồ chính trị của Pháp và Tưởng và ra bản Chỉ thị Tình hình và chủ trương, ngày 3-3-1946. Trong
đó nêu rõ: “Vấn đề lúc này, không phải là muốn hay không muốn đánh. Vấn đề là biết mình, biết người, nhận một cách
khách quan những điều kiện lời lãi trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng” và chủ trương tạm thời “dàn hòa
với Pháp”, nhân nhượng về lợi ích kinh tế, nhưng đòi Pháp phải thừa nhận quyền dân tộc tự quyết của Việt Nam, “lợi
dụng thời gian hòa hoãn với Pháp để diệt bọn phản động bên trong, tay sai Tàu trắng, trừ những hành động khiêu khích
ly gián ta với Pháp”, thúc đẩy nhanh quân Tưởng về nước, ớ
b t đi một kẻ thù nguy hiểm .
- Ngày 6-3-1946, tại Hà Nội Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với đại diện
Chính phủ Cộng hòa Pháp tại Hà Nội là Jean Sainteny bản Hiệp định sơ bộ. Hiệp định sơ bộ nêu rõ: Chính phủ Pháp
công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, tài chính và quân đội riêng nằm trong Liên bang
Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp; về phía Việt Nam đồng ý để 15.000 quân đội Pháp ra miền Bắc thay thế 20
vạn quân đội Tưởng rút về nước và sẽ rút dần trong thời hạn 5 năm; hai bên sẽ tiếp tục tiến hành đàm phán chính thức
để giải quyết mối quan hệ Việt – Pháp...
- Ngay sau khi ký Hiệp định sơ bộ, ngày 9-3-1946, Thường vụ Trung ương Đảng đã ra ngay bản Chỉ thị Hòa để tiến
phân tích, đánh giá chủ trương hòa hoãn và khả năng phát triển của tình hình.
- Ngày 31-5-1946, theo lời mời của Quốc hội và Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn của Chính
phủ Việt Nam thăm chính thức nước Cộng hòa Pháp, chuyến thăm kéo dài hơn 4 tháng và đã thu được nhiều thành công
về mặt đối ngoại, làm cho dư luận Pháp, nhân dân Pháp và giới chính trị Pháp tiến bộ hiểu thêm cuộc đấu tranh chính
nghĩa, vì nền độc lập thực sự của Việt Nam. Ngày 14-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Marius Moutet đại diện
Chính phủ Pháp một bản Tạm ước 14-9 tại Marseill (Mácxây, Pháp), đồng ý nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền
lợi kinh tế, văn hóa ở Việt Nam; hai bên cam kết đình chỉ chiến sự ở Nam Bộ và tiếp tục đàm phán...
- Ngày 20-10-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam về đến cảng Hải Phòng an toàn trong không khí
đón chào nồng nhiệt của nhân dân, của đồng bào, đồng chí. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài: Công việc khẩn cấp bây
giờ, nêu rõ thêm những nhiệm vụ cụ thể và cấp thiết phải làm về mặt quân sự, chính trị và khẳng định vai lãnh đạo của
Đảng, của đảng viên cán bộ đối với cuộc kháng ch ế
i n kiến quốc và dự đoán đúng về khả năng một c ộ u c đối đầu
quân sự giữa Việt Nam và Pháp. Kịp thời chỉ đạo từng bước chuyển sang tình trạng chiến tranh và chuẩn bị kháng chiến lâu dài.
→ Những chủ trương, biện pháp, sách lược và đối sách đúng đắn của Đảng, tinh thần quyết đoán, sáng tạo của Chính
phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoài, thù trong những năm đầu chính quyền cách mạng
non trẻ đã đem lại thắng lợi có ý nghĩa hết sức quan trọng: ngăn chặn bước tiến của đội quân xâm lược Pháp ở Nam Bộ,
vạch trần và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các kẻ thù; củng cố, giữ vững và bảo vệ bộ máy chính
quyền cách mạng từ Trung ương đến cơ sở và những thành quả của cuộc Cách mạng tháng Tám; tạo thêm thời gian hòa
bình, hòa hoãn, tranh thủ xây dựng thực lực, chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kháng chiến lâu dài. Nêu cao ý chí tự lực, tự
cường, quyết tâm bảo vệ nền tự do, độc lập. Triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ địch, thực hành nhân nhượng
có nguyên tắc “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Tăng cường đại đoàn kết dân tộc, dựa vào sự ủng hộ vật chất là chính trị,
tinh thần của toàn dân. Phát triển thực lực cách mạng. Đó là những thành công và kinh nghiệm nổi bật của Đảng trong
lãnh đạo cách mạng, giai đoạn 1945-1946.
(Giải pháp về ngoại giao gồm 2 giai đoạn
Giai đoạn 1: 9/1945-3/1946: Hòa với Tưởng miền Bắc ể
đ đánh Pháp ở miền Nam
*Ý nghĩa của việc hòa với Tưởng?
- Việc Hòa với Tưởng ta có điều kiện để tập trung lực lượng chống Pháp, cuộc hòa hoãn này đối với Pháp là một bất
lợi. Pháp coi Tưởng và ta như đồng mình với nhau để ngăn chặn mưu đồ của Pháp, hơn một năm quân Tưởng đóng quân
trên đất nước ta, chúng ta đã thực hiện được hòa hoãn với chúng. Kết quả cuối cùng kẻ địch không thực hiện được dã
tâm của chúng, trái lại, ta thực hiện được mục tiêu chiến lược là giữ vững độc lập, giữ vững chính quyền. Việc h òa với
Tưởng là hòa với một kẻ thù trực tiếp nguy hiểm, nhưng không phải kẻ thù chính để phân hóa, cô lập, tập trung lực
lượng đấu tranh bằng biện pháp quân sự chống kẻ thù chính.
Giai đoạn 2: 3/1946-12/1946: Hòa với Pháp để đuổi Tưởng về nước
Ý nghĩa của việc hòa với Pháp?
- Hòa với Pháp là hòa ngay với kẻ thù chính để loại bớt một kẻ thù trực tiếp nguy hiểm và tranh thủ trạng thái không
có chiến tranh để xây dựng đất nước, chuẩn bị lực lượng đối phó với một cuộc chiến tranh lớn nếu kẻ thù cố tình gây ra.
Đó là một điều khá đặc b ệ
i t được đặt ra và giải quyết trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt.)
CUỘC KHÁNG CHIẾN BÙNG NỔ VÀ ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG
1. Nguyên nhân bùng nổ cuộc kháng chiến toàn quốc
- Sau năm 1945, để tránh tình hình bất lợi, nước ta đã chủ động hoà hoãn với Pháp thông qua Hiệp định Sơ bộ ( - 6 3-
1946), sau đó là bản Tam ước Việt Pháp (14-9-1946). Trong hoàn cảnh đất nước khó khăn cả về kinh tế, xã hội, thù
trong, giặc ngoài ra sức chống phá, vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc” thì việc ký 2 hiệp định nói trên là
nước cờ ngoại giao vô cùng xuất sắc của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mặc dù nước ta đã thực hiện nghiêm chỉnh
hiệp ước nhưng thực dân Pháp thì không. Chúng đã tăng cường hành động khiêu khích với âm mưu xâm lược nước ta lâu dài.
- 1-6-1946: Chúng lập ra chính phủ Nam Kỳ tự trị do Nguyễn Văn Thịnh cầm đầu, nhằm tách Nam Kỳ ra khỏi nước Việt Nam thống nhất
- Tháng 11-1946: Pháp mở cuộc tấn công vũ trang khiêu khích tiến công đánh chiếm ta ở Hải Phòng, Lạng Sơn
- Đầu tháng 12-1946: quân Pháp liên tiếp gây xung đột với công an và tự vệ của ta, chúng bắn đại bác vào khu phố
Hàng Bún, chiếm trụ sở Bộ Tài chính và một số cơ quan khác của ta
- 18-12-1946: thực dân Pháp gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta buộc ta giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu và giao
quyền kiểm soát thủ đô cho chúng
2. Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ trên toàn quốc
- Trước bối cảnh đó, Đảng và nhân dân Việt Nam chỉ còn một sự lựa chọn duy nhất là đứng lên chống lại thực dân
Pháp xâm lược để bảo vệ nền độc lập và chính quyền cách mạng. Ngày 12-12-1946, Trung ương ra Chỉ thị Toàn dân
kháng chiến. Ngày 19-12-1946, Chủ t ịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, khẳng định quyết tâm sắt
đá của nhân dân ta quyết kháng chiến đến cùng để bảo vệ nền độc lập, tự do. 20 giờ ngày 19-12- 1946, dưới sự chỉ đạo
của các cấp uỷ đảng, quân, dân Hà Nội và ở các đô thị từ Bắc vĩ tuyến 16 trở ra đã đồng loạt nổ súng, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.
- Ở các địa phương khác như Đà Nẵng, Huế, Vinh, Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giang quân và dân ta cũng đồng loạt
nổ súng tấn công vào các vị trí đóng quân của địch Thuận lợi:
• Nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là chiến đấu để bảo vệ nền độc lập tự do
của dân tộc và đánh địch trên đất nước mình nên có chính nghĩa, có “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Ta cũng đã có sự
chuẩn bị cần thiết về mọi mặt, nên về lâu dài, ta sẽ có khả năng đánh thắng quân xâm lược.
• Trong khi đó, thực dân Pháp cũng có nhiều khó khăn về chính trị, kinh tế, quân sự ở trong nước và tại Đông
Dương không dễ gì có thể khắc phục được ngay. Khó khăn:
• Tương quan lực lượng quân sự của ta yếu hơn địch. Ta bị bao vây bốn phía, chưa được nước nào công nhận giúp
đỡ. Còn quân Pháp lại có vũ khí tối tân, đã chiếm đóng được hai nước Campuchia, Lào và một số nơi ở Nam Bộ Việt
Nam, có quân đội đứng chân trong các thành thị lớn ở miền Bắc .
3. Nội dung đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của Đảng
- Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta được hình thành, bổ sung, phát triển qua thực tiễn cách
mạng Việt Nam trong những năm 1945-1947. Nội dung của đường lối là dựa trên sức mạnh toàn dân, toàn diện, lâu dài
và dựa vào sức mình là chính. Nội dung cơ bản của đường lối:
• Mục tiêu của cuộc kháng chiến: Đánh đổ t ự
h c dân Pháp xâm lược, giành nền độc lập, tự do, thống nhất hoàn
toàn; vì nền tự do dân chủ và góp phần bảo vệ hoà bình thế giới
• Tính chất của cuộc kháng chiến: Cuộc kháng chiến của dân tộc ta là một cuộc chiến tranh cách mạng của nhân
dân, chiến tranh chính nghĩa. Nó có tính chất toàn dân, toàn diện và lâu dài. Là một cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc ậ
l p, dân chủ và hoà bình. Đó là cuộc kháng chiến có tính chất dân tộc giải phóng và dân tộc mới
• Phương châm của cuộc kháng chiến: Kháng chiến toàn dân, kháng chiến toàn diện, kháng chiến lâu dài và dựa vào sức mình là chính
+ Kháng chiến toàn dân: là đem toàn bộ sức dân, tài dân, lực dân; động viên toàn dân tích cực tham gia kháng chiến.
Xây dựng đồng thuận nhất trí cả nước, đánh địch ở mọi nơi, mọi lúc thực hiện “mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi
làng xóm là một pháo đài, mỗi đường phố là 1 mặt trận”. Trong đó quân đội nhân dân làm nòng cốt
+ Kháng chiến toàn diện: là đánh địch trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận không chỉ bằng quân sự mà cả về chính trị, kinh
tế, văn hoá, tư tưởng, ngoại giao, trong đó mặt trận quân sự, đấu tranh vũ trang giữ vai trò mũi nhọn, mang tính quyết định
o Về mặt chính trị: thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân; đoàn
kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình.
o Về mặt quân sự: thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, đánh địch ở khắp nơi, vừa
tiêu diệt địch,vừa xây dựng lực lượng, giải phóng nhân dân và đất đai
o Về mặt kinh tế: phá hoại kinh tế địch như: đường, cầu cống,... Xây dựng kinh tế tự cung, tự cấp, tập trung phát triển
nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng.
o Về mặt văn hóa: xóa bỏ văn hóa thực dân phong kiến, xây dựng nền văn hóa dân chủ theo ba nguyên tắc: dân
tộc, khoa học, đại chúng.
o Về ngoại giao: thực hiện thêm bạn, bớt thù, biểu dương thực lực. Sẵn sàng đàm phán nếu Pháp công nhận Việt Nam độc lập
• Kháng chiến lâu dài: là vừa đánh tiêu hao lực lượng địch vừa xây dựng, phát triển lực lượng ta, từng bước làm
chuyển biến so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta
• Dựa vào sức mình là chính: là phải lấy nguồn nội lực, phát huy nguồn sức mạnh vật chất, tinh thần vốn có
trong nhân dân ta làm chỗ dựa chủ yếu, nguồn lực chủ yếu của cuộc chiến tranh nhân dân
• Triển vọng của cuộc kháng chiến: mặc dù lâu dài, gian khổ, khó khăn, song nhất định thắng lợi
Kết luận: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và đường lối kháng chiến của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, trở thành
ngọn cờ dẫn đường, chỉ lối, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiến lên. Đường lối đó được nhân dân ủng hộ,
hưởng ứng trong suốt quá trình kháng chiến và trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi của
cuộc kháng chiến chống Pháp
II. ĐẠI HỘI II (1951) VÀ ĐẨY MẠNH CUỘC KHÁNG CHIẾN ĐẾN THẮNG LỢI HOÀN TOÀN
- Từ năm 1930 đến năm 1951, Đảng Cộng sản Đông Dương là người tổ c ứ
h c và lãnh đạo cách mạng của cả ba nước
Việt Nam, Lào, Campuchia. Tình hình xã hội, kinh tế, chính trị của mỗi nước có những thay đổi khác nhau. Cách mạng
và kháng chiến của mỗi nước cũng có những bước phát triển riêng biệt. Tình hình đó đòi hỏi mỗi nước cần phải và có
thể thành lập một chính đảng cách mạng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, trực tiếp đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử trước dân
tộc mình và chủ động góp phần vào sự nghiệp cách mạng chung của nhân dân ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương.
Và Đại hội II của 2 của Đảng được triệu tập nhằm đáp ứng những đòi hỏi bức thiết đó.
- Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng được họp từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951,tại xã Vinh Quang (nay là
Kim Bình), huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Đại hội được tiến hành trong bối cảnh Liên Xô lớn mạnh vượt bậc
về mọi mặt, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu bước vào công cuộc xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho hoà bình và phong trào cách
mạng. Mỹ tăng cường giúp đỡ Pháp can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Ở trong nước, cuộc kháng
chiến của nhân dân ta đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng. Cách mạng Lào và Campuchia cũng có những chuyển
biến tích cực. Điều kiện lịch sử đó đặt ra cho Đảng Cộng sản Đông Dương các yêu cầu bổ sung và hoàn chỉnh đường
lối cách mạng phù hợp với mỗi nước ở Đông Dương để đưa kháng chiến đi đến thắn g lợi .
- Theo sáng kiến của những người cộng sản Việt Nam, được những ngừoi cộng sản Lào và Campuchia nhất trí tán
thành, Đại hội quyết định: Do nhu cầu kháng chiến, giai cấp công nhân và nhân dân mỗi nước Việt Nam, Lào,
Campuchia cần có một đảng riêng. Ở Việt Nam, Đảng ra hoạt động công khai, lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam.
Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày tại Đại hội đã tổng kết phong trào cách mạng thế giới và cách
mạng Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX, dự báo những triển vọng tốt đẹp của nửa thế kỷ sau, rút ra bài học trong 21
năm hoạt động của Đảng. Báo cáo vạch rõ nhiệm vụ chủ trước mắt là tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại bọn can thiệp
Mỹ, giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hoà bình thế giới. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, Đảng phải đề ra những
chính sách và biện pháp nhằm tích cực tăng cường lực lượng vũ trang, củng cố các đoàn thể quần chúng, đẩy mạnh thi
đua ái quốc, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, tăng cường đoàn kết quốc tế, đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng Lao
Động Việt Nam thành “ một Đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để” để lãnh đạo đưa kháng
chiến đến thắng lợi hoàn toàn.
- Sau Diễn văn khai mạc ủ
c a Tôn Đức Thắng, Đại hội đã nghiên cứu và thảo luận Báo cáo chính trị của C ủ h tịch ồ H
Chí Minh; Báo cáo Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội của Trường
Chinh, Báo cáo về tổ chức và Điều lệ Đảng của Lê Văn Lương. Báo cáo của Tổng Bí thư Trường Chinh đã trình bày
toàn bộ đường lối cách mạng Việt Nam. Đó là đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã
hội. Nội dung cơ bản của báo cáo được phản ánh trong Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam được Đại hội
thông qua, gồm các nội dung quan trọng sau đây:
+ Tính chất xã hội Việt Nam: Dân chủ nhân dân, một phần thuộc địa, nửa phong kiến. Cuộc kháng chiến để giải quyết
mâu thuẫn giữa chế độ dân chủ nhân dân với các thế lực phản động chính là chủ nghĩa đế quốc xâm lược. Đối tượng
đấu tranh chính của Việt Nam hiện nay là chủ nghĩa đế quốc xâm lược Pháp, can thiệp Mỹ và phong kiến phản động
+ Nhiệm vụ cách mạng: Đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc. Xoá bỏ
những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng. Phát triển chế độ dân chủ nhân dân gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội.
- Ba nhiệm vụ trên có mối quan hệ khắng khít với nhau, song nhiệm vụ chính trước mắt là hoàn thành giải phóng dân tộc .
+ Động lực của cách mạng gồm: Công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc. Ngoài ra còn có những thân sĩ (địa
chủ) yêu nước và tiến bộ. Những giai cấp, tầng lớp và phần tử đó họp lại thành nhân dân, mà nền tảng là công nông, lao động trí óc.
+ Triển vọng phát triển của cách mạng Việt Nam: nhất định sẽ tiến lên chủ nghãi xã hội. Cách mạng Việt Nam là cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo nên nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa xã
hội. Đây là quá trình lâu dài, có các giai đoạn phát triển tương ứng với những nhiệm vụ trung tâm, đó là: hoàn thành
giải phóng dân tộc, xóa bỏ tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng, hoàn chỉnh
chế độ dân chủ nhân dân, tiến tới xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thwucj hiện chủ nghĩa xã hội
+ Giai cấp lãnh đạo và mục tiêu của Đảng: "Người lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân. Đảng Lao động Việt
Nam là Đảng của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động Việt Nam. Mục đích của Đảng là phát triển chế độ dân
chủ nhân dân, tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, để thực hiện tự do, hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân
dân lao động và tất cả các dân tộc đa số, thiểu số ở Việt Nam.
+ Quan hệ quốc tế: Việt Nam đứng về phe hoà bình và dân chủ, phải tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ
nghĩa và nhân dân thế giới, của Trung Quốc, Liên Xô, thực hiện đoàn kết Việt - Trung - Xô và đoàn kết Việt - Miên - Lào.
- Nội dung của Chính cương còn nêu ra 15 chính sách lớn của Đảng trong giai đoạn hiện tại nhằm tiếp tục đẩy mạnh
kháng chiến đến thắng lợi và đặt cơ sở kiến thiết quốc gia, thực hiện chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam, làm tiền đề t ế
i n lên chủ nghĩa xã hội. Điều lệ mới của Đảng được Đại hội thông qua có 13 chương, 71 điều, trong đó xác định
rõ mục đích, tôn chỉ của Đảng là phấn đấu “ phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chế độ chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam, để thực hiện tự do, hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và tất cả các dân tộc đa số, thiểu
số ở Việt Nam" Báo cáo chính trị tại Đại hội nhấn mạnh: “trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động và của cả dân tộc là số một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”
=> Đại hội II thành công là một bước tiến mới của Đảng về mọi mặt, là “Đại hội kháng chiến kiến quốc”, “thúc đẩy
kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam”. Tuy nhiên, Đại Hội cũng có hạn chế,
khuyết điểm về nhận thức là mắc vào tư tưởng “là” khuynh giáo điều rập khuôn máy móc, đưa cả lý luận Stalin, tư
tưởng Mao Trạch Đông vào làm “nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. III.
ĐIỆN BIÊN PH - ĐIỂM HẸN LỊCH SỬ
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ
nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời, phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao
đến thắng lợi hoàn toàn”. “Đó là thắng lợi vĩ đại của Nhân dân ta mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới ”
- Năm 1953, quân đội Pháp ở Đông Dương bị mắc kẹt trong mâu thuẫn giữa tập Trung bình lục và chiếm giữ, giữa
tiến công và phòng ngự, giữa bảo vệ đồng bằng Bắc bộ và bảo vệ vùng Tây Bắc, Thượng lào. Nước Pháp lệ thuộc ngày
càng sâu vào viện trợ quân sự Mỹ và đang dốc mọi cố gắng hòng tìm một lối thoát trong danh dự.
- 5/1953, Pháp cử đại tướng Hăngri Nava để đảm nhiệm chức vụ tổng tham mưu trưởng lục quân khối na tô sang làm
tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. 7/1953, Nava đã vạch ra kế hoạch chính trị - quân sự mới lấy tên
là kế hoạch na va. Kế hoạch này và dự kiến thực hiện trong vòng 18 tháng nhằm “chuyển bại thành thắng”. Nava chủ
trương tăng cường tập trung binh lực, hình thành những “quả đấm thép” để quyết chiến với chủ lực của Việt Minh. Chi
phí vật chất của kế hoạch na va phần lớn do Mỹ thực hiện. Trong quá trình triển khai kế hoạch, Nava đã từng bước biến
Điện Biên Phủ- một địa danh vùng Tây Bắc Việt Nam trở thành một căn cứ quân sự khổng lồ và là trung tâm của kế
hoạch. Đến đầu năm 1954, Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của Đông Dương, “một pháo đài khổng
lồ không thể công phá”, được giới quân sự chính trị Pháp Mỹ đánh giá là “một cỗ máy để nghiền Việt Minh”
- Để đánh bại âm mưu cuộc và kế hoạch na va, Đảng chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-
1954. Từ đầu năm 1953, bộ Chính trị và Tổng Quân ủy chỉ đạo Bộ Tổng
Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam Nghiên cứu, đánh giá toàn diện tinh thần quân sự trên chiến trường và vạch
ra kế hoạch tác chiến mới. Cuối 9/1953, Bộ Chính trị họp bàn và thông qua chủ trương tác chiến chiến lược Đông Xuân
năm 1953-1954, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng của ta phải giữ vững thế chủ động, buộc địch phải
phân tán lực lượng để đối phó. Nghị quyết quan trọng này của Bộ Chính trị đã mở đường đi tới những thắng lợi lịch sử
trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ.
- Tháng 12/1953, Bộ Tham mưu Đã xây dựng xong các kế hoạch tác chiến cụ thể cho các chiến trường và được bộ
chính phủ phê chuẩn. Trên cơ sở báo cáo quyết tâm của bộ quần uỷ, cuộc họp của Bộ Chính trị ngày 6/12/1953 đã
quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và do Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tư
lệnh quân đội trực tiếp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy chiến dịch chiến dịch. Phối hợp với mặt trận Điện Biên Phủ
và tạo điều kiện cho trận quyết chiến chiến lược ở Điện Biên Phủ, lực lượng quân sự tổ chức nghi binh, kéo giãn lượng
lực lượng địch trên toàn chính trường Đông Dương, mở nhiều cuộc tấn công địch đồng loạt trên các hướng chiến lược
quan trọng, như: Lai Châu (12/1953), Trung Lào (12/1053) Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia (12/1953); mặt trặn Tây
Nguyên (1/1954); Thượng Lào (1/1954) Tại mặt trận Bình Trị Thiên, Nam Trung bộ, Nam bộ, ta tổ chức đồng loạt
tấn công địch, kết hợp phát động phátề, trừ gian, mở các cuộc chiến dịch địch vận, nguỵ vậnphá hủy giao thông, đẩy
mạnh hoạt động chiến tranh du kích …
- Nhằm phát huy sức mạnh của hậu phương chi viện tiền tuyến, nhất là lực lượng nông dân cho cuộc tiến công chiến
lược Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung ương Đảng, Quốc hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh
quyết định phát động phong chào quần chúng đấu tranh triệt để giảm tô, giảm tức và tiến hành cải cách ruộng đất, bộ
chính trị quyết định thành lập ủy ban chi viện tiền tuyến, hội đồng cung cấp mặt trận trung ương và các địa phương
cũng được thành lập. Mọi nguồn nhân tài, vật lực, dân công tiếp tế, chi viện cho mặt trận Điện Biên
- Phủ được tăng cường với hàng ngàn ngày công, hàng vạn tấn lương thực, đạn dược, vũ khí, phương tiện trang bị,
chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ “chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, không những về quân sự mà cả về chính
trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn đảng phải tập trung quen thằng cho kỳ được”
- Thực hiện quyết tâm chiến lược đó ta đã tập trung khoảng 5 vạn quân với mọi nỗ lực và quyết tâm cao nhất bao vây
chặt quân địch ở Điện Biên Phủ. Với phương châm “đánh chắc tiến chắc”, “đánh chắc thắng” 13/3/1954 Quân ta nổ
súng tấn công địch ở phân khu phía Bắc trung tâm mường thanh, mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Trải qua 56 ngày
đêm, với 3 đợt tiến công lớn, đến 17 giờ 30 phút chiều ngày 7/5/1954, Quân đội nhân dân Việt Nam đã đánh chiếm hầm
chỉ huy quy, bắt sống Tướng ĐờCátori, chỉ huy trưởng và bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Toàn bộ lực
lượng địch ở Điện Biên phủ bị tiêu diệt và bị bắt sống. Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc đã đưa cuộc tiến công chiến
lược Đông Xuân năm 1900 năm ba đến năm 1905 bốn và cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp
xâm lược đến thắng lợi vẻ vang.
- Chiến thắng vĩ đại ở Điện Biên Phủ là thắng lợi của ý chí và khát vọng độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam mà
nóng cốt là lực lượng quân đội nhân dân anh hùng. Với nước Pháp: “ Điện
Biên Phủ thất thủ gây nỗi kinh hoàng khủng khiếp. Đó là một trong những thảm bại lớn nhất của phương Tây…. Thắng
lợi ở Điện Biên Phủ là “thiên sử vàng của dân tộc Việt Nam” , được ghi nhận là một chiến công vĩ đại của dân tộc Việt
Nam trong thế kỷ XX và “đi vào lịch sử thế giới như một chiến công hiển hách, báo hiệu sự thắng lợi của nhân dân các
dân tộc bị áp bức, sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân.”
- Từ cuối năm 1953, chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố về lập trường của Việt Nam: “Cơ sở của việc đình chiến ở
Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của việc nước Việt Nam”, phải đình chỉ c ộ u c
chiến tranh xâm lược và phải thương lượng trực tiếp và chủ yếu với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuyên
bố này mở đường cho đấu tranh ngoại giao tại hội nghị Giơnevơ (Thuỵ Sĩ)
- Hội nghị Giơnevơ bàn về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương 8/5/1954, Hội nghị đã thông qua
bản tuyên bố cuối cùng về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương có chữ ký của các bên. Bản tuyên bố nêu rõ: Pháp
và các nước tham dự hội nghị long trọng cam kết tôn trọng các quyền dân chủ cơ bản của Việt Nam, lào, Campuchia
là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ không can thiệp vào việc nội bộ của các nước đó, cam kết chấm
dứt cuộc chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương. Đây là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên công nhận các quyền
dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, lào và Campuchia; đánh dấu kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh chống thực
dân Pháp xâm lược, mở ra một trang sử Mới cho dân tộc Việt Nam và mở đường cho c ộ
u c đấu tranh giành độc lập,
thống nhất hoàn toàn của nhân dân ba nước Đông Dương sau này.
- Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ - đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953- 1954 là chiến công
lớn nhất, chói lọi nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(1945-1954). Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa to lớn, là sự hội tụ của nhiều nhân
tố, trong đó quan trọng nhất:
o Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành công chỉ đạo chiến tranh giải phóng dân tộc
và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu:
• Đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn lịch sử của cuộc kháng chiến ngay từ những ngày đầu.
Điều cơ bản là kháng chiến và kiến quốc kháng chiến “toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh” là chính kết hợp sức mạnh
nội lực của nhân dân Việt Nam với việc tranh thủ tối đa những điều kiện thuận lợi Quốc tế phát huy có hiệu quả cao
nhất sự ủng hộ ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng dân chủ, tiến bộ đối với cuộc kháng chiến.
• Kết hợp chặt chẽ và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ cơ bản vừa kháng chiến vừa kiến quốc,
chống đế quốc và chống phong kiến. Kháng chiến đi đôi với kiến quốc chống đế quốc và chống phong kiến, xây dựng
hậu phương căn cứ địa vững chắc luôn là những nhiệm vụ cơ bản cùng đồng hành và là nội dung chủ yếu phải sử dụng
trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến của Đảng Lao động Việt Nam.
• Ngày càng hoàn thiện phương thức lãnh đạo, tổ chức điều hành một cuộc kháng chiến phù hợp với đặc thù của
từng giai đoạn phát triển các loại hình chiến tranh đúng đắn, sáng tạo phù hợp với đặc điểm của cuộc kháng chiến và
so sánh lực lượng ta địch, đó là loại hình chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện kết hợp chiến tranh chính quy với
chiến tranh kết hợp với chỉ đạo chiến thuật tác chiến linh hoạt cơ động “đánh chắc, tiến chắc, chắc thắng”
• Xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân: bộ quần bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích
là một cách thích hợp, đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhiệm vụ chính trị quân sự của cuộc kháng chiến.
• Coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện của đảng đối với cuộc kháng
chiến trên tất cả mọi lĩnh vực, mặt trận. Nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng, khắc phục những khuynh hướng tư
tưởng giáo điều, tập trung cao độ vào nhiệm vụ quân sự.
o Kết hợp tinh thần cách mạng, yêu nước, niềm tin vào Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, của ý chí quyết chiến, quyết thắng và sức mạnh của Quân đội nhân dân, lực lượng
vũ trang nhân dân Việt Nam.
o Chiến thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ còn bắt nguồn từ tình đoàn kết trong sáng, thủy chung của nhân dân và
quân đội 3 nước Việt Nam - Lào - Campuchia trên một chiến hào chống kẻ thù chung và sự ủng hộ chí tình, to lớn, có
hiệu quả về vật chất và tinh thần của các nước xã hội chủ nghĩa anh em cùng với sự cổ vũ, động viên của các nước bạn
bè, các đảng cùng chí hướng, của nhân loại tiến bộ dành cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, đều là những nhân tố
đặc biệt quan trọng góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ. Chúng ta mãi mãi ghi lòng tạc dạ về tình
cảm sâu nặng và sự giúp đỡ to lớn đó.
o Chiến thắng đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; chấm dứt hoàn
toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta và các nước trên bán đảo Đông Dương; bảo vệ và phát triển thành
quả Cách mạng Tháng Tám năm 1945; mở ra giai đoạn cách mạng mới, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Và cũng đã làm tăng
thêm niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí
Minh sáng lập; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một lòng, một dạ chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì nền độc ậ l p, tự do của ổ
T quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân.
o Chiến thắng Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ
của nhân loại. Chiến thắng Điện Biên Phủ giáng một đòn chí mạng vào nền móng của thực dân Pháp và can thiệp
Mỹ, đánh sập thành lũy của
chủ nghĩa thực dân cũ ở vị trí xung yếu nhất, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới;
báo hiệu sự thất bại chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa thực dân mới do đế quốc Mỹ cầm đầu. Chiến
thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng chung của các nước trên bán đảo Đông Dương, chiến thắng của phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế, của phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.
→Chiến thắng Điện Biên Phủ của dân tộc ta đã chứng minh một chân lý của thời đại: Các dân tộc bị áp bức, bị xâm
lược nếu có ý chí kiên cường và đường lối đúng đắn, sáng tạo, biết đoàn kết đấu tranh vì độc lập tự do thì dân tộc đó
nhất định thắng lợi. Chân lý đó đã thôi thúc và cổ vũ các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, Mỹ La-tinh đứng lên đấu
tranh tự giải phóng, thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Chiến thắng này đã làm thay đổi cục diện
thế giới, khẳng định sức mạnh chính nghĩa của Việt Nam, của Nhân dân yêu chuộng hòa bình, độc lập trên thế giới.
IV. K T QUẢ VÀ Ý NGHĨA C A CUỘC KHÁNG CHI N CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
1. Kết quả của cuộc kháng chiến
- Về chính trị: Đảng ra hoạt động công khai đã có điều kiện kiện toàn tổ chức, tăng cường sự lãnh đạo đối với cuộc
kháng chiến. Bộ máy chính quyền được củng cố từ Trung ương đến cơ sở. Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên
Việt) được thành lập. Khối đại đoàn kết toàn dân phát triển lên một bước mới. Chính sách ruộng đất được triển khai,
từng bước thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng.
- Về quân sự: Đến cuối năm 1952, lực lượng chủ lực đã có sáu đại đoàn bộ binh, một đại đoàn công binh - pháo
binh. Thắng lợi của các chiến dịch Trung du, Đường 13, Hà - Nam- Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, v.v. đã
tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai và dân cư, mở rộng vùng giải phóng của Việt Nam
và giúp đỡ cách mạng Lào, V.V.. Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954 được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một
Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công hiển hách,
báo hiệu sự thắng lợi của nhân dân các dân tộc bị áp bức, sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân.
- Về ngoại giao: Với phương châm kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao của ta, buộc Pháp phải ký hiệp
định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam (21/7/1954). Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược của quân dân ta kết thúc thắng lợi .
2. Ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến
I. Thắng lợi của cuộc kháng chiến đưa đến việc giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo tiền đề về chính trị - xã hội quan
trọng để Đảng quyết định đưa miền Bắc quá độ lên CNXH, xây dựng, bảo vệ vững chắc miền Bắc thành hậu phương
lớn, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. II.
Có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của
dân tộc Việt Nam; có tính lan tỏa rộng lớn trong khu vực và mang tầm vóc thời đại sâu sắc .
III. Đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược có quy mô lớn của quân đội nhà nghề có tiềm lực quân sự và kinh tế
hùng mạnh với các trang bị vũ khí, công nghệ khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại.
IV. Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển giải phóng dân tộc, một nước thuộc địa nhỏ bé đã đánh thắng một
cường quốc thực dân, nó có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ ở các
châu lục Á, Phi, Mỹ Latinh CH Đ THUY T TR NH 2
1. GIAI ĐOẠN 1954-1960: BỐI CẢNH VIỆT NAM SAU NĂM 1954 VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG Ở HAI MIỀN NAM-BẮC.
1.1. Bối cảnh Việt Nam sau năm 1954
Sau khi kí Hiệp định Giơnevơ (1954) nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền, với hai chế độ chính trị khác
nhau. Ngày 10/10/1954, quân lính Việt Nam tiến công và làm chủ Thủ đô. Ngày 16/5/1955, cuối cùng quân lính Pháp
phải rút khỏi đảo Cát Bà. Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn thành,
tạo điều kiện cho miền Bắc bước vào thời kỳ phát triển theo chặng đường xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, kinh tế miền Bắc
bị ảnh hưởng nặng nề, vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu. Ở miền Nam, Pháp rút quân ra khỏi vùng đất miền Nam (5/1956) khi
chưa hoàn thành cuộc tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam – Bắc. Đế quốc Mĩ vào thay thế Pháp. Mỹ chọn miền Nam
trở thành nơi “thí điểm” cho mục đích làm bá chủ thế giới. Đầu tiên, chúng đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, âm
mưu chia cắt hai miền đất nước. Mỹ muốn biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và nơi căn cứ quân sự.
Trên thế giới, hệ thống XHCN tiếp tục lớn mạnh, phong trào giải phóng dân tộc ngày càng mở rộng, phát triển. Phong
trào hòa bình và dân chủ được đề cao. Bất lợi là thế giới bước vào thời kỳ chiến tranh lạnh, xuất hiện sự bất đồng trong hệ
thống XHCN, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc.
Tóm lại, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, thế và lực của cách mạng đã cải thiện sau nhiều năm kháng chiến chống
Pháp, nhân dân cả nước nhận thức ý chí độc lập thống nhất. Khó khăn là đất nước bị chia cắt thành hai miền, miền Nam
trở thành thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ, kinh tế miền Bắc nghèo nàn, lạc hậu. Do đó, một yêu cầu quan trọng lúc
bấy giờ của Đảng là phải vạch ra đường lối, chiến lược đúng đắn để đưa cách mạng Việt Nam tiến về phía trước. Đồng
thời tiến hành hai chiến lược cách mạng ở hai miền: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân ở miền Nam. Đưa đất nước Việt Nam tiến tới hòa bình thống nhất.
1.2. Chủ trương của Đảng ở hai miền Nam - Bắc
Ở miền Bắc, tập trung mục tiêu đưa miền Bắc quá độ lên XHCN. Bộ Chính trị đề xuất nhiệm vụ cần giải quyết trước là
khôi phục miền Bắc, bù đắp vết thương do chiến tranh gây ra và xây dựng lại nền kinh tế. Tại HNTW lần thứ 7 (3/1955)
và lần thứ 8 (8/1955) đã nhận định: “Mỹ và tay sai đã hất cẳng Pháp ở miền Nam, công khai nhà nước riêng chống phá
Hiệp định Giơnevơ, đàn áp phong trào cách mạng”.
Ngay sau khi lập lại được hoà bình, Đảng cùng với các cán bộ, chiến sĩ có nhiệm vụ hỗ trợ các địa phương vận động,
tuyên truyền, theo đúng lịch trình, quy định trong Hiệp định Giơnevơ. Không những thế, Đảng và Nhà nước còn huy
động quần chúng đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư nhằm ổn định tình hình. Trước tinh thần đấu tranh của nhân dân
ta, địch đã phải rút quân theo đúng Hiệp định. Toàn bộ quân lính Pháp và đám tay sai đã lập tức phải rút khỏi miền Bắc.
Người lính Pháp cuối cùng rút khỏi Hà Nội vào ngày 10/10/1954. Đến ngày 16/5/1955, toàn bộ quân đội viễn chinh Pháp
và tay sai đã rút khỏi miền Bắc. Nhận thấy đất nước ta theo hướng nông nghiệp, Đảng thức đẩy nhân dân cả nước gia
tăng năng xuất lao động kết hợp thực hiên công cuộc cải cách ruộng đất (1954-1957). Tuyên truyền, phát động khẩu hiệu
“người cày có ruộng”. Cuộc cải cách ruộng đất kéo dài từ cuối 1953 đến năm 1956 đã trải qua 5 đợt cải cách. Nhà nước
đã thu 81 vạn ha ruộng đất, 10 vạn trâu bò, 1,8 triệu dụng cụ làm nông từ tay địa chủ cho 2 triệu hộ nông dân. Câu nói
“người cày có ruộng” đã thực hiện khá tốt. Việc cải cách ruộng đất đã hỗ trợ Nhà nước đạt mục tiêu xoá bỏ triệt để chế
độ sở hữu ruộng đất phong kiến. Tuy nhiên, trong giai đoạn cải cách vẫn còn xuất hiện những khuyết điểm. Cải cách sau
khi hoàn thành, miền Bắc thay đổi thành một diện mạo mới, khối liên minh công nông ngày càng vững chắc. HNTW10
(9/1956) đã chỉ rõ những sai lầm, hạn chế trong cải cách ruộng đất và nghiêm khắc chỉnh đốn lại công tác tổ chức, công
khai tự phê bình trước nhân dân, bổ xung, thi hành kỷ luật đối các cán bộ UV Bộ Chính trị và UV Trung ương Đảng.
Đảng chỉ đạo công tác sửa sai trong năm 1956, nên từng bước đã khắc phục được những sai lầm đã xảy ra. HNTW13 của
Đảng (12/1957): “đã đánh giá thắng lợi về khôi phục kinh tế và đề ra nhiệm vụ soạn thảo đường lối cách mạng trong
giai đoạn tiếp theo”. Tháng 11/1958, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp HNTW14 đề ra kế hoạch “ba năm phát triển
kinh tế, văn hóa và cải tạo XHCN” đối với kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư doanh (1958-1960). Tháng 4-1959, HNTW16
của Đảng đã thông qua Nghị quyết về vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp, xác định hình thức và bước kinh tế và xã hội ở
miền Bắc nước ta. Miền Bắc được củng cố, từng bước đi lên CNXH và trở thành hậu phương ổn định, vững mạnh đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Miền Nam tập trung đấu tranh chống Mĩ và chính quyền Sài Gòn. Từ năm 1954 đế quốc Mỹ thiệt lập bộ máy chính
quyền Việt Nam Cộng hòa do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống, ban hành quốc sách “tố cộng diệt cộng”, lập “khu trù
mật”, “khu dinh điền” nhằm mục đích trả thù tất cả những người yêu nước kháng chiến cũ, thẳng tay đàn áp các phong
trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ của các tầng lớp nhân dân. Mục đích của Mỹ l
à muốn chia cắ tlâu dài
đất nước Việt Nam, biến miền Nam thành căn cứ chống lại XHCN và là thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Xuất phát từ bối
cảnh đó, Đảng quyết định thay đổi phương thức đầu tranh quân sự sang đấu tranh chính trị, đòi đối phương phải thi hành
Hiện định Giơnevơ, tiếp tục thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. HNTW6 của Đảng (7/1954)
xác định Mỹ là kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương. Tháng 10/1954, Xứ uỷ Nam bộ được thành lập do
đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư. Từ thực tiễn cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam, tháng 8/1956, đồng chí
Lê Duẩn đã dự thảo Đề cương đường lối cách mạng Việt Nam, chỉ rõ ngoài con đường cách mạng thì không còn một con
đường nào khác để giải phóng miền Nam. Tháng 3/1959 xảy ra sự kiện chấn động là chính quyền Ngô Thơì Nhiệm tuyên
bố “đặt miền Nam trong tình trạng chiến tranh”. Chính quyền Sài Gòn ban ra Luật 10–59 vào tháng 5/1959, âm mưa chèn
ép đảng cộng sản, gây tổn thất nặng nề cho lực lượng cách mạng. Mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam với đế quốc Mĩ
và tay sai càng phát triển gay gắt. Đòi hỏi cuộc đấu tranh ở miền Nam phải có một biện pháp quyết liệt, mạnh mẽ. Những
năm 1957 – 1959, Mĩ và tay sai tăng cường dùng bạo lực khủng bố phong trào đấu tranh của quần chúng. Tháng 1/1959,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp HNTW15, ra Nghị quyết về cách mạng miền Nam, xác định nhiệm vụ cơ bản
của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện
độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam; Tư tưởng chỉ đạo
quan trọng cho cách mạng Việt Nam ở miền Nam là phải dùng cách mạng bạo lực để tự giải phóng mình; Phương hướng
phát triển cơ bản là khởi nghĩa giành chính quyền. Nghị quyết 15 “ mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên; thể
hiện rõ năng lực bám sát thực tiễn cuộc sống, bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong thời kỳ khó khăn của
cách mạng”. Tiến hành theo Nghị quyết của Đảng và sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, miền Bắc đã mở đường chi
viện cho cách mạng miền Nam. Đường vận tải trên bộ mang tên đường 559, trên biển mang tên đường 759. Trên chiến
trường miền Nam, nhân dân miền Nam đã tiến hành một số cuộc khởi nghĩa vũ trang, hình thức là khởi nghĩa đồng loạt
(đồng khởi) bắt đầu bùng nổ. Phong trào “Đồng khởi” (1959 – 1960). Phong trào bắt đầu ở từng địa phương như cuộc
nổi dậy ở Bác Ái (Ninh Thuận), Vĩnh Thạnh (Bình Định) tháng 2/1959, Trà Bồng (Quảng Ngãi) tháng 8/1959, sau đó
lan rộng khắp miền Nam thành giai đoạn cao trào cách mạng. Ngày 17/1/1960, phong trào “Đồng khởi” nổ ra ở huyện
Mỏ Cày (Bến Tre), sau đó nhanh chóng lan nhanh toàn tỉnh Bến Tre, dần phá vỡ từng mảng lớn chính quyền của địch.
Nam Bộ, Tây Nguyên và một số nơi ở Trung Trung Bộ cũng được ảnh hưởng bởi phong trào. Đến năm 1960, nhân dân
miền Nam đã chiếm được nhiều làng, xã ở Nam Bộ, ven biển Trung Bộ và Tây Nguyên. Hệ thống kìm kẹp của địch ở
xã, ấp bị tê liệt và tan vỡ từng mảng lớn. “Đồng khởi” thắng lợi dẫn đến sự ra đời của “Mặt trận Dân tộc giải phóng miền
Nam Việt Nam” (20/12/1960), tăng cường khối đại đoàn kết tầng lớp nhân dân miền Nam, kiên quyết đấu tranh chống
Mỹ và tay sai, hướng tới một niềm hi vọng rằng miền Nam Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, trung lập, tiến tới hoà
bình thống nhất Tổ quốc. Thắng lợi của phong trào “Đồng khởi” đánh dấu bước chuyển mình của cách mạng miền Nam,
chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên làm chiến tranh cách
mạng. Chấm dứt thời kỳ ổn định tạm thời của chế độ thực dân mới của Mĩ ở miền Nam, mở ra thời kì khủng hoảng của chế độ Sài Gòn.
Tóm lại, yêu cầu lớn nhất, độc đáo nhất của cách mạng Việt Nam thời kỳ 1954 – 1975 là đưa đất nước Việt Nam tiến
tới hòa bình thống nhất. Miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với cách mạng cả nước, còn miền Nam có vai trò quyết
định trực tiếp trong cuộc đấu tranh lật đổ ách thống trị của đế quốc Mĩ và tay sai, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền
Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Cách mạng hai miền có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, phối hợp với nhau, tạo điều
kiện cho nhau phát triển. Đó là quan hệ giữa hậu phương với tuyền tuyến.
2. GIAI ĐOẠN 1961-1965: XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC, PHÁT TRIỂN THẾ TIẾN CÔNG CỦA CÁCH MẠNG MIỀN NAM
2.1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960)
Vào tháng 9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã diễn ra tại Thủ đô Hà Nội. Trong buổi khai mạc,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng CNXH ở miền Bắc và ấ đ u tranh hòa bình thống
nhất nước nhà” từ đó hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước
- Nhiệm vụ chung: Đẩy mạnh, tăng cường đoàn kết toàn dân tộc, quyết tâm giữ gìn hòa bình. Đẩy mạnh cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
- Nhiệm vụ chiến lược: Tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc và giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế
quốc Mỹ, thống nhất đất nước.
=> Qua đó xác định rõ vai trò, vị trí của hai miền Nam Bắc.
2.2. Vai trò, vị trí, nhiệm vụ của cách mạng mỗi miền đối với cách mạng cả nước
2.2.1. Vai trò, vị trí, nhiệm vụ của miền Bắc
Trong giai đoạn này, miền Bắc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Lao Động Việt Nam (Đảng Cộng
sản Việt Nam) đã triển khai nhiều chính sách xã hội như hợp tác xã hóa, và tiến hành các cuộc cải cách đất đai và cải
cách xã hội,... Điều này giúp nâng cao mức sống của nhân dân v
à góp phần xây dựng nền kinh tế xã hội ổn
định ở miền Bắc. Đồng thời, nhiệm vụ của cách mạng CNXH ở miền Bắc là xây dựng tiềm lực và bảo vệ căn cứ địa của cả nước.
=> Cuộc cách mạng này giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với
sự nghiệp thống nhất nước nhà.
2.2.2. Vai trò, vị trí, nhiệm vụ của miền Nam
Trong giai đoạn này, cuộc chiến tranh giữa miền Bắc và miền Nam tiếp tục leo thang. Các lực lượng miền Bắc đã hỗ trợ
các phong trào cách mạng miền Nam bằng cách tiếp tế lương thực, gửi vũ khí và cố vấn quân sự. Mặt khác, Miền Nam
chứng kiến sự gia tăng của phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của các tổ chức như Việt Cộng (Việt Nam Cách mạng
Độc lập Thống nhất), được hỗ trợ bởi miền Bắc. Cuộc chiến tranh dần trở nên phức tạp hơn với sự tham gia của quân đội Mỹ.
=> Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền
Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.
- Con đường thống nhất đất nước: kiên quyết, kiên trì trên con đường hòa bình thống nhất theo tinh thần Hiệp nghị
Giơnevơ, sẵn sàng thực hiện đàm phán tổng tuyển cử hòa bình thống nhất Việt Nam.
- Triển vọng của Cách mạng Việt Nam: triển vọng của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này vẫn còn nhiều thách
thức, nhưng chúng ta đã dần nhận được tín hiệu tốt như sự quan tâm và phản đối chiến tranh Việt Nam tại cộng đồng quốc
tế (sự nhận thức quốc tế), sự hỗ trợ cả về vật chất lẫn tinh thần của miền Bắc,…=> Cuộc đấu tranh nhằm thực hiện thống
nhất nước nhà là cả một quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian khổ, phức tạp và lâu dài song nhờ vào sự đoàn kết và
sự quyết tâm của nhân dân Việt Nam thắng lợi cuối cùng nhất định về nhân dân ta, Nam - Bắc nhất địn h sum họp một
nhà, cả nước sẽ cùng nhau đi lên CNXH.
2.3. Ý nghĩa Đại hội đại biểu toàn quốc ầln thứ III của ả Đ ng (9/1960)
Đánh dấu bước phát triển trong quá trình xác định đường lối cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc và đường lối đấu tranh thống nhất đất nước. Là cơ sở cho toàn dân đoàn kết chặt chẽ thành một khối
thống nhất. Là “nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng, toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà.”. Đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, vừa phù hợp
với miền Bắc vừa phù hợp với miền Nam, phù hợp đất nước Việt Nam và tình hình quốc tế. Đại hội đã pháp huy và kết
hợp được sức mạnh của hậu phương tuyền tuyến, sức mạnh của cả nước và nước mạnh của ba dòng thác cách mạng trên
thế giới. Đó là sự xuất hiện 3 dòng thác cách mạng vĩ đại trong đời sống chính trị thế giới - dòng thác cách mạng xã hội
chủ nghĩa, dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc và dòng thác cách mạng đòi dân sinh, dân chủ, bảo vệ hòa bình. Tranh
thủ được sự đồng tình cảu Liên Xô và Trung Quốc. Hợp thành tổng sức mạnh giúp Tổ quốc trang bị đầy đủ sức đánh bại
đế quốc Mỹ xâm lược, “giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”. Đặt trong tình thế lúc bấy giờ, đại hội còn thể hiện
tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong việc giải quyết những vấn đề chưa tường xảy ra trong lịch sử Việt Nam,
“vừa đúng với thực tiễn Việt Nam vừa phù hợp với lợi ích của nhân loại và xu thế thời đại”.
2.4. Đảng lãnh đạo miền Bắc xây dựng CNXH và làm hậu phương cho tiền tuyến miền Nam
Thông qua Đại hội lần thứ III, Đảng ta đã hoàn chỉnh đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn
mới, đồng thời Đảng ta cũng đã đề ra và chỉ đạo thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961-1965) với mục tiêu cải
cách xã hội và kinh tế, từng bước xây dựng cơ sở vật chất của CNXH, nâng cao hệ thống giáo dục và y tế, bảo đảm an ninh
quốc phòng, làm hậu thuẫn cho cuộc chiến tranh thống nhất nước nhà,…
Trong quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), ở các địa phương đã phát động và tổ chức sôi nổi
nhiều cuộc vận động và phong trào thi đua ở các ngành. Có thể nói phong trào "Mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp
lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt" theo lời kêu gọi của Hồ Chí Minh là một ví dụ tiêu biểu. Đây là một biểu hiện của
tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước trong nhân dân Việt Nam. Người dân ở miền Bắc đã tự nguyện làm việc nhiều hơn,
tiết kiệm và hỗ trợ miền Nam bằng cách sản xuất nhiều hơn, đóng góp tiền bạc và tài nguyên vào chiến dịch chiến tranh
chống xâm lược Mỹ ở miền Nam.
=> Chính điều này đã làm tăng thêm không khí phấn khởi, hăng hái vươn lên hoàn thành kế hoạch năm năm lần thứ nhất
đồng thời thể hiện rõ tình đoàn kết, tương trợ của nhân dân miền Bắc đối với cách mạng và đồng bào miền Nam. * Công tác hậu phương
- Trong những năm này, miền Bắc đã cung cấp một khối lượng lớn lương thực, vũ khí, đạn dược, thuốc men,...lên tuyền tuyến.
- Cùng với việc không ngừng tăng cường chi viện quân sự lẫn tài chính cho miền Nam, miền Bắc còn tham gia vào việc
vận chuyển quân sự và vũ khí tới miền Nam thông qua đường Trường Sơn và đường vận tải trên biển. Các "tàu không số"
chở hàng chục tấn vũ khí đã cung cấp cho quân đội miền Nam các tài liệu quân sự cần thiết để tiếp tục cuộc chiến.
Đường Trường Sơn, một hệ thống đường xuyên biên giới từ miền Bắc vào miền Nam, đã chở hàng ngàn chiến sĩ và tấn vũ
khí và đạn dược từ miền Bắc xuống miền Nam. Đây đã giúp tăng cường sức mạnh của lực lượng chiến đấu miền Nam.
Bên cạnh đó, Đại hội lần thứ III của Đảng cũng đã đề ra đường lối tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiến lược
chặt chẽ ở hai miền, tất cả đều hướng về mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, đem lại hòa bình cho Tổ Quốc.
=> Qua chiến lược trên, ta thấy điều mà Đảng ta ưu tiên ở thời điểm đó chính là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, tạo được sức mạnh tổng hợp, đoàn kết để dân tộc ta đủ sức đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước.
2.5. Phát triển thế tiến công của cách mạng miền Nam
Bối cảnh hiện tại ở miền Nam, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, thực hiện kế hoạch bình định miền
Nam trong vòng 18 tháng, dự định lập 17.000 ấp chiến lược là “quốc sách”. Chiến thuật quân sự được chúng áp dụng là
“trực thăng vận” và “thiết xa vận”. Cuộc chiến này đã gây ra nhiều hệ lụy và thiệt hại cho dân cư dân làng và gây ra sự bất
bình trong cuộc chiến tranh. Chiến tranh đặc biệt cuối cùng không thể ngăn chặn sự gia tăng của phong trào cách mạng ở
miền Nam và cuối cùng dẫn đến việc thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh.
Vào tháng 1/1961 và tháng 2 /1962, Đảng ta đã tổ chức cuộc Hội nghị của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương. Cuộc
họp này đã phân tích và đánh giá tình hình giữa ta và địch ở miền Nam kể từ sau ngày Đồng Khởi.
=> Đảng ta đã quyết định chuyển cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam từ khởi nghĩa từng phần sang chiến tranh cách mạng
=> Chỉ rõ những nhiệm vụ cụ thể cho cách mạng miền Nam là phải tiêu hao, tiêu diệt lực lượng quân đội Sài Gòn và làm
phá sản quốc sách “ấp chiến lược” của địch.
Tháng 10/1961, để tăng cường sự chỉ đạo của Trung ương Đảng đối với cách mạng miền Nam, Trung ương Cục miền Nam
được thành lập, do Nguyễn Văn Linh làm Bí thư. Và sau đó thống nhất các lượng lượng vũ trang lại lấy tên gọi là Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.
Cách mạng ở miền Nam Việt Nam tiếp tục phát triển và đối mặt với nhiều biến động quan trọng trong giai đoạn 1963-
1965, với những sự kiện quan trọng như chiến thắng Ấp Bắc (Mỹ Tho) và phong trào phá "ấp chiến lược."
=> Các phong trào này đã đẩy phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị lên cao, đặc biệt có thể kể đến phong trào đấu
tranh của đồng bào Phật giáo năm 1963 đã thể hiện sự đoàn kết và sức mạnh của các tầng lớp xã hội đang phản đối chính phủ miền Nam và Mỹ.
Trước sự lớn mạnh của phong trào Cách mạng, sự bất đồng và nội chiến trong nội bộ chính quyền miền Nam đã trở nên
ngày càng rõ ràng. Ngày 1-11 1963, dưới sự chỉ đạo của Mỹ, lực lượng quân đảo chính đã giết chết anh em Ngô Đình
Diệm, Ngô Đình Nhu. Trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 1963 đến tháng 6 năm 1965, đã diễn ra một loạt cuộc đảo
chính quân sự, với nhiều nhóm lực lượng trong chính quyền Sài Gòn cố gắng lật đổ lẫn nhau. Điều này tạo ra một tình thế
bất ổn trong chính phủ miền Nam và làm yếu đoàn kết chống lại phong trào cách mạng.
Tháng 3/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt đã có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thể
hiện khối đại đoàn kết và quyết tâm chiến đấu của nhân dân Việt Nam. Hội nghị này đã xác nhận mục tiêu bảo vệ miền
Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Tháng 9/1964, Bộ Chính trị họp và quyết định tăng cường sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, chủ trương giành
thắng lợi quyết định ở miền Nam trong một vài năm tới,. Đầu năm 1965, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc
Mỹ được triển khai đến mức cao nhất đã hoàn toàn bị phá sản.
=> Việc đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ là một thắng lợi quan trọng và có ý nghĩa chiến
lược của phong trào cách mạng ở miền Nam. Thắng lợi
này đã tạo cơ sở vững chắc để cho phép cách mạng miền Nam tiếp tục phát triển và tiến lên trong cuộc chiến tranh chống
xâm lược Mỹ và thống nhất đất nước. CH Đ 3
1. Giai đoạn 1965-1968: Mỹ tham chiến, đường lối của Đảng và quá trình thực hiện đường lối của 2 miền Nam- Bắc (1965-1968). 1.1. Hoàn cảnh lịch sử
Trước nguy cơ phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, những người
cầm đầu nước Mỹ đã buộc phải lên kế hoạch chặn nguồn tiếp viện lớn từ hậu phương miền Bắc, và hải quân Mỹ l à đơn
vị dàn dựng nên sự kiện Vịnh Bắc Bộ vu khống ch o t a tấn côn g tàu chiến M
ỹ ở ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ – thuộc hải phận quốc tế. Tạo r
a một chứng cứ thuyết phục để Quốc hội Mỹ bỏ phiếu thông qua nghị quyết, mở rộng cuộc chiến tranh r
a miền Bắc bằng không quân. Với mưu đồ đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá, Mỹ đã huy động lực lượng lớn
không quân và hải quân, trút hàng triệu tấn bom đạn, gây nên những tội ác tày trời với nhân dân ta.
Sau thất bại của “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ tiếp tục thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam. Đây l à
chiến lược quân sự do quân đội Mỹ, quân đồng minh và quân đội Sài Gòn tiến hành, quân số lên tới gần 1,5 triệu
người. Chính ưu thế về hỏa lực, kỹ thuật và quân s
ố của quân viễn chinh Mỹ đã tiêu diệt được Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam, đồng thời thiết lập ảnh hưởng lâu dài của Hoa Kỳ đối với miền Nam Việt Nam bằng việc xây dựng
chế độ quân phiệt. Việt Nam Cộng Hòa – vốn là tay sai của Mỹ. Đây được coi là giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến.
Trước tình hình đó, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 11 và 12 để nhận định tình hình, đề ra
nhiệm vụ lãnh đạo cả nước kháng chiến chống Mỹ.
1.2. Đường lối của Đảng và quá trình thực hiện đường lối của 2 miền Nam- Bắc
Tại miền Bắc: Nghị quyết HNTW lần thứ 11 và lần thứ 12, Ban Chấp hành hành trung ương Đảng đã kịp thời xác định các
chủ trương. Chủ trương này thể hiện sự quyết tâm của Đế quốc và nhân dân ta kiên định con đường XHCN, tăng cường sức
mạnh miền Bắc, làm chỗ dựa cho miền Nam đánh Mỹ và thắng Mỹ, đúng như lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch (17/7/1966):
“Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác có thể bị
tàn phá. Nhưng nhân dân Việt nam quyết không sợ.Không có gì quý hơnđộc lập tự do! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không
chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. ( Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. CTQG, t.12, tr.108 )
• Một là: kịp thời chuyển hướng xây dựng kinh tế cho phù hợp với tình hình có chiến tranh phá hoại .
• Hai là: tăng cường lực lượng quốc phòng cho kịp với sự phát triển tình hình cả nước ó c chiến tranh.
• Ba là: ra sức chi viện cho miền Nam với mức cao nhất để đánh bại địch ở chiến trường miền Nam. Mục đích để
cho miền Nam có đủ nhân lực vật lực để có thể đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ Mỹ ở chiến trường miền Nam
Việt Nam. “Thóc không thiếu một c
ân, quân không thiếu một người” đây là khẩu hiệu thể hiện sự chi viện nhiệt tình
của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
• Bốn là: phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức cho phù hợp với tình hình mới. (Thông tin thêm: VD như
là phát triển thêm các lực lượng ở m ề
i n Nam, điều chuyển đại tướng Nguyễn Chí Thanh vào chỉ đạo cách mạng,...).
Cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất của đế quốc Mỹ kéo dài trong 4 năm (1965 – 1968), Mỹ đã huy
động một lực lượng lớn hải quân và không quân, trút hơn một triệu tấn bom đạn, phá huỷ nhiều công trình giao thông,
thuỷ lợi, bệnh viện, trường học… giết hại hàng loạt dân thường và gây nhiều tội ác tày trời với nhân dân ta.
Thực hiện chủ trương của Đảng, quân và dân miền Bắc đã dấy lên phong trào chống Mỹ, cứu nước, vừa sản xuất,
vừa chiến đấu, với các phong trào:
• Thanh niên “Ba sẵn sàng” (1964), Phụ nữ “Ba đảm đang”, “Tay cày tay súng”, Công nhân “Tay búa,tay súng”.
• “ Nhắm thẳng quân thù mà bắn”.
• “ Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”.
• “Xe chưa qua, nhà không tiếc”.
Mặt khác: Tại miền Nam, Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965- 1966) với mục tiêu “tìm diệt” quân
giải phóng và “bình định” các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng. (Thông tin thêm: Một số thắng lợi như Chiến
thắng Vạn Tường (Quảng Ngãi) tháng 8/1965, mở ra cao trào tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt trên toàn miền Nam
hay Chiến thắng Núi Thành từ đó khẳng định “dám đánh Mỹ, biết đánh Mỹ và quyết đánh Mỹ). Để thực hiện được âm
mưu đó, Mỹ đã ồ ạt đưa quân vào miền Nam với quỷ môn ngày càng lớn và đến cuối năm 1967, cuộc “Chiến tranh cục bộ” ủ
c a Mỹ đã được đẩy đến đỉnh cao, số quân viễn chinh đổ vào miền Nam đã lên 48 vạn.
Trước tình hình đó Đảng chủ trương quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, tư tưởng chiến lược vẫn là:
• “giữ vững và phát triển thế tiến công, kiên quyết tiến công và liên tục tiến công”.
• Tăng cường quân chủ lực giải phóng miền Nam.
• Sử dụng thế trận chiến tranh nhân dân, chặn đánh và tiêu diệt địch, kết hợp ba mũi giáp công. Phá kế hoạch bình định của địch. Kết quả:
Sau bốn năm thực hiện chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế, hậu phương lớn miền Bắc đã đạt được những
thành tích đáng tự hào trên các mặt chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội, chi viện tiền tuyến lớn miền Nam. Công cuộc
xây dựng CNXH tiếp tục phát triển, phát huy được tính ưu việt của nó trong thời kỳ chiến tranh. Sản xuất côn
g nghiệp và tiểu thủ công nghiệp công nghiệp vẫn duy trì, công nghiệp địa phương phát triển mạnh. Đời
sống nhân dân căn bản ổn định, văn hoá, giáo dục, y tế, đào tạo cán bộ phát triển mạnh trong thời chiến và đạt nhiều
kết quả tốt. Nhân dân miền Bắc đã đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, 3.200máy bay, bắn cháy 140 tàu
chiến của địch. Uy thế của “không lực Hoa Kỳ” bị giảm rõ rệt .
Chi viện đắc lực cho tiền tuyến lớn miền Nam với tinh thần “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”.
Chỉ tính riêng trong năm 1967, đã có hơn 94.000 cán bộ, chiến sĩ (tăng 1,5 lần so với năm 1966) được tổ chức biên
chế thành từng trung đoàn, sư đoàn bộ binh và binh chủng kỹ thuật bổ sung cho các chiến trường Trị Thiên, Khu V,
Tây Nguyên, Nam Bộ, nâng tổng số quân giải phóng miền Nam lên 220.000 quân chủ lực và 57.000 quân địa phương,
không kể lực lượng dân quân, du kích, tự vệ. Năm 1968, hơn 14 vạn cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc hành quân vào Nam
nhanh chóng tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. 1.3.
Kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam: Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân (1968)
Thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng, quân dân miền Nam đã an
h dũng chiến đấu chống lại cuộc “Chiến tranh
cục bộ” của Mỹ và tay sai. Bẻ gãy cuộc hành quân Gianxon
- Xity với 4,5 vạn quân trong cuộc phản công mùa khô năm 1966 - 1967 của Mỹ. Đây là thất bại lớn nhất của Mỹ
tính đến thời điểm đó. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhận xét: “Cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti là một cuộc hành
quân lớn nhất của quân Mỹ vào vùng căn cứ Bắc Tây Ninh lại là cuộc hành quân thua đau nhất, là cái mốc đánh dấu
đỉnh cao sự thất bại của chúng trong c ộ
u c phản công chiến lược mùa kh
ô lần thứ hai trong âm mưu tìm diệt của
chúng”. Bên cạnh đó, bị những đòn chí mạng ở Núi Thành (5 - 1965), Vạn Tường (8 - 1965), Plâyme (11 - 1965),...
lần đầu tiên quân Mỹ nếm vị đắng tổn thất nặng nề trên chiến trường. Cuối năm 1967, cuộc “Chiến tranh cục bộ” của
Mỹ được đẩy lên đến đỉnh cao, mọi thủ đoạn và biện pháp chiến tranh đã được sử dụng nhưng vẫn không sao thực
hiện được các mục tiêu chính trị và quân sự đã đề ra.
Ngày 28-1-1967, Hội nghị Trung ương khóa 13, quyết định mở mặt trận đấu tranh ngoại giao nhằm tranh thủ sự giúp
đỡ của quốc tế, vừa đánh vừa đàm. Tháng 1 - 1968, Hội nghị 14 quyết định chuyển cuộc đấu tranh các h mạng miền
Nam sang giai đoạn mới, giành thắng lợi bằng phương pháp tổng công kích - tổng khởi nghĩa và tất cả các đô thị, trung
tâm của Mỹ - Ngụy trên toàn miền Nam.
Thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng, đêm giao thừa Tết Mậu Thân 1968, thừa lúc địch sơ hở, cuộc tiến công nổi
dậy đợt I đã phát động trên toàn miền Nam. Trong các cuộc tấn công tiếp theo, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến
đấu hàng chục vạn tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, giải phóng thêm hàng triệu đồng bào. Kết quả:
Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng, tạo ra bước ngoặt của cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất
bại cơ bản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải chuyển sang chiến lược phòng ngự trên
toàn chiến trường; xuống thang chiến tranh, chuyển hướng sang “phi Mỹ hóa”, “Việt Nam hóa chiến tranh”, bắt đầu
rút quân về nước; chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị
Pari về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Cuộc nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 mang ý nghĩa to lớn trong việc thể hiện tình thần, khí phách kiên cường và sức
mạnh chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Sau thắng lợi vĩ đại này, cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước của dân tộc ta đã chuyển mới những thời cơ, thuận lợi mới để thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ
“đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc
Tổng tiến công và nội dậy Tết Mậu Thân 1968 đã thể hiện sức mạnh vô song và đoàn kết của dân tộc ta; để lại nhiều
bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, đó là khát vọng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, là
niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng; là sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại và tinh thần đoàn
kết quốc tế trong sáng.
2. Giai đoạn 1969-1975: Hội nghị Paris và quá trình vừa đánh, vừa đàm, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. 2.1.
Hội nghị Paris và quá trình “vừa đánh, vừa đàm”
Sau cuộc tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968, phiên họp đầu tiên chính thức diễn ra tại Paris vào tháng 1 năm 1969
đánh dấu quá trình đọ sức trên mặt trận ngoại giao, tạo nên cục diện “vừa đánh vừa đàm”. Bàn hội nghị có lập trường
bốn bên, mà thực chất là của hai bên, giữa Việt Nam và Mỹ, giai đoạn đàm phán này rất xa nhau, cả hai mâu thuẫn nhau,
khiến cho các cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt trên bàn hội nghị. Trong suốt quá trình đàm phán, phía Việt Nam không
bỏ qua bất cứ vấn đề quan trọng nào có liên quan đến cuộc chiến tranh, nhưng tập trung mũi nhọn đấu tranh vào hai
vấn đề mấu chốt nhất là đòi Mỹ rút hết quân viễn chinh cùng quân chư hầu khỏi miền Nam và đòi họ tôn trọng các
quyền dân tộc cơ bản và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Mỹ cũng tìm mọi cách giành thắng lợi
quyết định về quân sự để thay đổi cục diện chiến trường, nhằm gây áp lực chấm dứt chiến tranh trên thế mạnh mà cả
hai đang giành giật trên bàn đàm phán nhưng chưa đạt kết quả.
Ngày 8/6/1969, Tổng thống Nixon công bố chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” quyết không qua đàm phán nhưng
vẫn nhằm rút được quân r a khỏi chiến tranh m
à vẫn giữ được chính quyền và quân đội Sài Gòn.
Mỹ thực hiện chính sách với ba hành động chính:
Chuyển giao vũ khí hiện đại cho quân đội Sài Gòn, củng cố chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, ngăn chặn mọi âm mưu đảo chính.
Trên chiến trường, Mỹ tiến hành bình định quyết liệt, đồng thời mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào ngăn
chặn tiếp tế của miền Bắc vào miền Nam, cô lập lực lượng cách mạng miền Nam từ bên ngoài.
Về ngoại giao, chính quyền Nixon xây dựng một chiến lược toàn cầu mới trong khuôn khổ “Học thuyết Nixon”,
tìm cách lợi dụng mâu thuẫn Xô - Trung trong quan hệ với Việt Nam, tìm kiếm một giải pháp thương lượng theo
điều kiện có lợi cho Mỹ. Như vậy, “Việt Nam hóa chiến tranh” đã đẩy cuộc đàm phán vào bế tắc. 2.2.
Quân ta thắng lớn trên chiến trường
Đầu tiên là chiến thắng Quân giải phóng truy kích tại mặt Đường 9 – Nam Lào, Đông Bắc và Đông Nam Campuchia
trong năm 1971. Trong chiến dịch này quân giải phóng và quân ta đã tiến hành cuộc tấn công đánh đổ nhiều cứ điểm
quân đội Mỹ và Lào, đồng thời gây thiệt hại lớn cho lực lượng địch.
Chiến thắng tại mặt trận Đường 9 là một phần quan trọng trong việc c
ô lập lực lượng cách mạng miền Nam khỏi bên
ngoài, giúp tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đàm phán và chấm dứt chiến tranh sau này.
Theo sau đó là hàng loạt các chiến dịch tiến công Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Bình Định, Khu
8 Nam Bộ… trong năm 1972 đã làm quân Mỹ - ngụy bị thiệt hại nặng nề. Đặc biệt, chiến thắng trong chiến dịch Khu
8 Nam Bộ đã đóng góp vào việc tạo áp lực, đe dọa đối với quân Mỹ và quân miền Nam, đồng thời củng cố sự tự tin
và khí phách của bộ đội địa phương và du kích trong cuộc kháng chiến.
Điều này đã từng bước làm phá sản chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và tạo thế thuận lợi cho ta trên bàn đàm phán.
Vào ngày 8/10/1972, phái đoàn Việt Nam đưa cho Mỹ bản dự thảo "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa
bình ở Việt Nam" nhằm m ở cửa ch
o cuộc đàm phán nhằm kết thúc cuộc Chiến tranh Việt Nam. Ban đầu, cả hai bên
đã đồng thuận về nội dung của bản dự thảo này, và điều này được coi là một bước quan trọng trong việc chấm dứt
cuộc chiến tranh đang diễn ra.Tuy nhiên, vào ngày 22/10/1972, phía Mỹ đã đưa ra yêu cầu sửa đổi bản dự thảo, viện
dẫn chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, yêu cầu thay đổi nội dung một số điểm trong bản d ự thảo .S
ự thay đổi này đã gây ra một cuộc bế tắc trong quá trình đàm phán, và cuộc chiến tranh tiếp tục diễn ra. Vào đêm 18/12/1972, M
ỹ quyết định thực hiện một cuộc tấn công không kích mạnh vào Hà Nội và Hải Phòng bằng
máy bay B52. Cuộc tấn công này là một trong những cuộc tấn công quy mô lớn nhất trong Chiến tranh Việt Nam. Đây
được mô tả là "Trận Điện Biên Phủ trên không" do cuộc tấn công kéo dài trong 12 ngày đêm và gây thiệt hại nặng nề
cho Mỹ. Kết quả cuộc tấn công này là việc nhiều máy bay B52 và máy bay chiến đấu khác của Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội.
Thất bại của Mỹ trên chiến trường miền Nam cùng với thất bại của không quân chiến lược Mỹ trên bầu trời Hà Nội
đã đẩy Mỹ vào thế thua không thể gượng nổi, buộc chúng phải chấp nhận thất bại, nối lại đàm phán tại Paris. Trên t ư
thế bên chiến thắng, phái đoàn ta tại cuộc đàm phán đã kiên quyết đấu tranh giữ vững nội dung của dự thảo Hiệp định đã thoả thuận.
Với tư cách bên chiến thắng, phái đoàn Việt Nam trong cuộc đàm phán đã kiên quyết bảo vệ nội dung của bản dự
thảo Hiệp định đã thoả thuận. Cuối cùng, vào ngày 27/1/1973, Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt
Nam đã được ký tắt bởi Cố vấn đặc biệt của Việt Nam, Lê Đức Thọ, và Cố vấn An ninh Quốc gia của Mỹ, Henry
Kissinger, đánh dấu một bước quan trọng trong việc chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam sau hàng thập kỷ chiến đấu ác liệt. 2.3.
Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước
Theo Hiệp định Pa-ris (năm 1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, phía Mỹ buộc phải rút toàn
bộ quân đội, cam kết không dính líu về quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. Thế
nhưng, với bản chất phản động, hiếu chiến, đế quốc Mỹ đã trắng trợn phá hoại Hiệp định, tiếp tay cho ngụy quyền Sài
Gòn liên tiếp mở các cuộc hành quân “tràn ngập lãnh thổ” nhằm bình định, lấn chiếm vùng giải phóng, giành đất, dành
dân.Không những thế, đế quốc Mỹ tiếp tục duy trì lực lượng không quân và hải quân ở các vùn
g phụ cận Việt Nam để
“ngăn đe”, kết hợp tăng cường các hoạt động ngoại giao xảo quyệt, nhằm kiềm chế sự phát triển của cách mạng nước ta.
Trước tình hình đó 7/1973 Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III - năm 1973) tiếp tục khẳng
định “Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng”.
Nửa cuối năm 1974, cuộc chiến tranh của quân và dân ta ở miền Nam chống lại chiến lược “Việt Nam hóa chiến
tranh” đã giành được thắng lợi lớn.
Tháng 7/1974, Đảng ta chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam xây dựng kế hoạch chiến lược giải
phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976, nếu thời cơ đến sẽ giải phóng miền Nam trong năm 1975.
Chiến thắng toàn tỉnh Phước Long cuối năm 1974 - đầu năm 1975 càng cho thấy thực tế suy yếu của quân ngụy Sài
Gòn và khả năng Mỹ khó quay lại được Việt Nam.
Đảng ta nhận định thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam đã đến.
Ngày 4/3/1975 Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 bắt đầu bằng ba đòn chiến lược: Chiến dịch
Tây Nguyên mở đầu bằng trận đột phá đánh chiếm Buôn Ma Thuột, giải phóng Tây Nguyên; chiến dịch giải phóng
Huế - Đà Nẵng và chiến dịc h Hồ Chí Minh lịch sử.
5 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, Quân đội nhân dân Việt Nam mở đợt tiến công cuối cùng, tiến thẳng vào trung tâm Sài
Gòn, 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975 cờ Giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. . Đó chính l à thời khắc báo hiệu
Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã toàn thắng giải phón
g hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là thắng lợi
vĩ đại nhất, trọn vẹn nhất, kết thúc 30 năm chiến tranh lâu dài, gian khổ, ác liệt nhất nhưng cũng vẻ vang nhất của dân tộc Việt Nam. Với c ộ u c Tổng tiến côn
g và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, quân dân ta đã toàn thắng, kết thúc 21 năm kháng chiến
chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền nam, thống nhất đất nước.
3. Kết quả, ý nghĩa của giai đoạn 1954 - 1975 3.1. Kết quả
" ... Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nửa, song nhất định
thắng lợi hoàn toàn… Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà…”. Dưới
tâm nguyện của Người, quân và dân ta quyết chí hòa làm một, để rồi ngày 30.4.1975 - lá cờ đỏ sao vàng bay phấp
phới trên nóc Dinh Độc Lập, khép lại hành trình đấu tranh giữ nước dân khổ của những người con Cách mạng, đất
nước ta bước vào 1 kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc ậ l p và tự do.
Kết quả của giai đoạn Kháng chiến chống đế quốc Mỹ:
Ở miền Bắc: trong suốt 21 năm giữ vai trò dựng nước và hậu phương, miền Bắc đã giành được những thành tựu to lớn:
Đánh thắng 2 cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ (thời Giôn-xơn 8/1964 - 11/1968 và thời Ních-xơn 4/1972 - 1/1973).
Bắn rơi 4.181 máy bay gồm 48 kiểu hiện đại nhất, trong đó có 68 B52; 13 F111, diệt và bắt sống hàng ngàn giặc lái,
271 lần bắn cháy và bắn chìm tàu chiến, tàu biệt kích địch.
Tiếp bước công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội: Dù chiến tranh ác liệt, bị tổn thất nặng nề về vật chất ,thiệt hại
lớn về người ,song không có nạn đói ,dịc
h bệnh và sự rối loạn xã hội. Văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục không những
được duy trì mà còn có sự phát triển mạnh; sản xuất nông nghiệp phát triển, công nghiệp địa phương được tăng cường
trở thành hậu phương vững chắc, hậu thuẫn cho đồng bào ở chiến trường miền Nam yên tâm hoàn thành sứ mệnh Cách mạng.
Ở miền Nam, với sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng, quân dân ta đã vượt lên mọi gian khổ hy sinh, bền bỉ và
anh dũng chiến đấu, lần lượt đánh bại cá
c chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.
Trong giai đoạn 1954-1960, ta đã đánh bại "Chiến tranh đơn phương" của Mỹ - ngụy, đưa cách mạng từ t ế h giữ gìn
lực lượng sang thế tiến công.
Trong giai đoạn 1961 -1965, ta tiếp tục giữ vững và phát triển thế tiến công, đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ.
Trong giai đoạn 1965- 1968, dưới sự nỗ lực không ngừng, quân và dân ta đã đánh bại chiến lược "Chiến tranh cục
bộ" của Mỹ và chư hầu, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Pari.
Trong giai đoạn 1969-1975, thất bại của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" với đỉnh cao là Đại thắng Mùa
Xuân 1975 trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã đập tan toàn bộ chính quyền địch, buộc chúng phải tuyên bố đầu
hàng vô điều kiện, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Việt Nam đã diệt và loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1 triệu quân ngụy, giết và làm bị thương 905.537 quân Mỹ và chư
hầu. Thu và phá hủy hơn 46.500 máy bay các loại, hơn
13.000 khẩu pháo, 38.000 xe tăng, xe bọc thép, 10.000 tàu xuồng chiến đấu, 45.260 tấn chất độc hóa học, 47.000 tấn
bom đạn không quân trong đó có khoảng 338.000 tấn bom napan. Tổng chi phí Mỹ đã tiêu tốn cho cuộc chiến tranh
xâm lược Việt Nam là 400 tỷ đô la, gấp 20 lần chi phí của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Triều Tiên và gấp 2 lần chi
phí của Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ hai (250 tỷ đô la).
Trải qua 21 năm kháng chiến bền bỉ chống đế quốc Mỹ và tay sai, thắng lợi của Chiến dịch HCM mà đỉnh cao là
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã trở thành “cột mốc vàng” của lịch sử dân tộc, một trong
những thắng lợi vĩ đại và vẻ vang nhất trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của nhân dân Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo
của Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Việt Nam trên cả hai miền Nam - Bắc đã anh
dũng chiến đấu chống đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai ở miền Nam, bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa,
giải phóng hoàn toàn miền Nam. Từ
đ ây, Viê tNam ta đã không còn bóng quân xâm lược, đất nước thống nhất, nối liền
một dải, vùng trời và chủ quyền biển đảo được giữ vững. 3.2. Ý nghĩa
Thắng lợi vĩ đại của c ộ
u c kháng chiến chống Mỹ, giải phóng m ề
i n Nam đã kết thúc hành trình 21 năm kháng chiến
đấu chống đế quốc Mỹ, 30 năm chiến tranh cách mạng, 117 năm chống đế quốc xâm lược giành lại độc lập và toàn vẹn lãnh thổ ch
o đất nước ta. Chiến thắng ấy đã mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc: kỷ nguyên độc lập, thống nhất, thiết
lập quyền làm chủ thật sự của nhân dân; cả nước ta cùng chung một nhiệm vụ chiến lược, đi lên CNXH; làm tăng
thêm sức mạnh vật chất, tinh thần, thế và lực cho cách mạnh dân tộc Việt Nam, nâng cao uy tín của Đảng và dân tộc
trên trường quốc tế; nâng cao khí phách, niềm tự hào và để những kinh nghiệm quý cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
Ngoài ra, thắng lợi của cuộc cách mạng còn làm thất bại âm mưu và thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc tiến công vào
CNXH và cách mạng thế giới; đánh bại c ộ
u c chiến tranh xâm lược quy mô lớn nhất, dài ngày nhất của chủ nghĩa đế
quốc kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, làm phá sản các chiến lược chiến tranh thực dân kiểu mới của đế quốc
Mỹ và tác động đến nội tình nước Mỹ; làm suy yếu trận địa của chủ nghĩa đế quốc, phá vỡ một phòng tuyến quan
trọng của chúng ở khu vực Đông Nam Á, góp phần làm đảo lộn “chiến lược toàn cầu” phản cách mạng của chúng.
Đối với thế giới, thắng lợi của nhân dân Việt Nam góp phần tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của cách mạng thế
giới, đem lại lòng tin và niềm phấn khởi cho hàng trăm triệu người trên trái đất đang đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi này, cùng với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, hai
tiếng “Việt Nam” đã trở thành biểu tượng chiến thắng đối với phong trào giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực
dân trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt là đối với cá
c nước châu Á, Phi và Mĩ La-tinh.
Như vậy, chúng ta có thể tự hào khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất,
một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử
thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. CH Đ 4
1. Bối cảnh Việt Nam sau năm 1975
Sau đại thắng mùa xuân 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất và bước vào kỷ nguyên
hoà bình xây dựng, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh những thuận lợi để tiến hành xây dựng
CNXH ở 2 miền, tàn dư của chiến tranh cũng đưa hoàn cảnh của Việt Nam vào nhiều khó khăn và thử thách:
mọi miền đất nước bị tàn phá, hàng triệu nạn nhân chiến tranh cần được nuôi sống và hỗ trợ, nguy cơ ngoại xâm
và nội phản vẫn còn len lỏi trong thời kỳ n
ày. Và đây là bối cảnh lịch sử của Việt Nam trong giai đoạn 1976 - 1986: 1.1. Kinh tế:
Miền Bắc: hai cuộc chiến tranh phá hoại của Mĩ đã tàn phá nặng nề, sản xuất nhỏ còn phổ biến, nền kinh tế
nông nghiệp lạc hậu. Qua hơn 20 năm (1954 - 1975) tiến hành cách mạng xã hội ch
ủ nghĩa, miền Bắc đạt được
những thành tựu to lớn và toàn diện, đã xây dựng được những cơ sở vật chất - kĩ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội.
Miền Nam: hậu quả của 30 năm kháng chiến (1945 – 1975) còn hết sức nặng nề; nhiều làng mạc, đồng ruộng
bị tàn phá, bỏ hoang, chất độc hóa học và bom mìn còn bị vùi lấp nhiều nơi, số người thất nghiệp lên tới hàng
triệu người. Miền Nam có nền kinh tế trong chừng mực nhất định phát triển theo hướng tư bản, song về cơ bản
vẫn mang tính chất của nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ và phân tán, phát triển mất cân đối, lệ
thuộc nặng nề vào viện trợ từ bên ngoài. 1.2. Chính trị - Xã hội :
- Quan hệ với nước ngoài:
+ Việt Nam phải chịu chính sách cấm vận của Mỹ, việc nhìn nhận chưa thấu đáo về M
ỹ và sức mạnh của Mỹ
trong khu vực dẫn đến việc Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ và cơ hội tháo gỡ nút
thắt trong quan hệ đối ngoại của mình. Bên cạnh đó, do chưa nắm bắt chuẩn xác về s
ự thay đổi trong tam giác
chiến lược Mỹ - Xô - Trung nên Việt Nam cũng chưa có những đối sách phù hợp, nhất là với Trung Quốc.
+ Chưa kết nối được với các nước xung quanh và đang cố gắng giữ liên kết với các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa. - Quan hệ trong nước:
Sau đại thắng mùa Xuân 1975, đất nước ta bước vào kỉ nguyên độc lập và quá độ đi lên XHCN. Tuy nhiên
trong những ngày tháng đầu của giai đoạn, đất nước ta song vẫn tồn tại hai chính quyền khác nhau ở hai miền
là Chính phủ Việt Nam Dân ch
ủ Cộng hòa ở Miền Bắc và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở
Việt Nam. Điều này gây ra tình trạng đất nước tuy đã hòa bình và độc lập về lãnh thổ nhưng lại chưa thực sự
thống nhất về bộ máy quyền lực.
- Về cuộc sống của người dân của hai miền:
+ Ở miền Bắc người dân dần có được cuộc sống tốt hơn, được đi học, được thăm khám, chăm sóc sức khỏe
+ Miền Nam bị chiến tranh phá hoại nặng nề, mọi mặt của cuộc sống đều bị ảnh hưởng nặng nề, người dân khốn khổ, nghèo đói. 1.3. Quốc phòng
- Mối đe dọa đến từ Campuchia (phía Tây), Trung Quốc (miền Bắc)
Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam đã phải chịu mối đe dọa mới từ quân Khmer Đỏ tại Campuchia.
Khmer Đỏ đã bắt đầu tấn công Việt Nam chỉ 4 ngày sau khi chiến tranh kết thúc
Trung Quốc (đồng minh của Khmer Đỏ) huy động hàng chục vạn quân tấn công vào miền Bắc Việt Nam, gây
ra Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979. Hai cuộc chiến này kéo dài tới năm 1989 mới chấm dứt.
- Nhiều hình thức chống phá Đảng
Trước năm 1975, họ đã hỗ trợ phong trào ly khai của các dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên thành lập 5 trại huấn
luyện, chiêu mộ 3.000 thanh niên người dân tộc tổ chức thành Mặt trận FULRO với mục tiêu đòi độc lập ch o
vùng này. Năm 1965, cuộc nổi dậy của FULRO thất bại v
à bị quân đội Việt Nam Cộng Hòa đàn áp ,4 lãnh đạo
bị tòa án xử tử hình và bị hành hình công khai, 15 người khác bị án tù, nhưng phong trào vẫn chưa bị triệt hạ
hẳn. Tháng 4 năm 1975, một nhóm ủng hộ FULRO điều đình và thỏa thuận với các quan chức Mỹ sẽ tiếp tục
chiến đấu chống lại chính phủ mới tại miền Nam Việt Nam. Kể từ đó, sau năm 1975, những thành viên FULRO
chạy trốn sang Campuchia đã liên kết với Khmer Đỏ để tiến hành chiến tranh du kích chống chính phủ Việt
Nam. Hai cuộc chiến tranh liên tiếp và các vụ đột kích của FULRO đã buộc Việt Nam phải tiếp tục duy trì một
đội quân thường trực đông đảo để đối phó với những mối nguy hiểm vẫn tiếp tục hiện hữu, cùng với đó là một 19
lượng lớn ngân sách phải dành cho quốc phòng thay vì đầu tư cho kinh tế, khiến nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề.
2. Đảng lãnh đạo hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước 2.1. Nguyên nhân
- Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông đã thu về một mối, nhưng ở hai miền vẫn tồn tại hai
nhà nước với hai chính phủ, đó là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời
Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Lúc này, vấn đề cấp bách trước mắt mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đề r
a là phải thực hiện thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước.
“Thống nhất đất nước vừa là nguyện vọng tha thiết bậc nhất của đồng bào cả nước, vừa l à quy luật khách quan
của sự phát triển cách mạng Việt Nam, củ
a lịch sử dân tộc Việt Nam”.
- Thống nhất đất nước sẽ tạo ra sức mạnh mới, những thuận lợi mới để phát triển kinh tế, xã hội v à củng cố
quốc phòng, tăng cường vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đập tan âm mưu tiếp tục thâu tóm quyền lực của ế đ quốc .
Vì vậy, thống nhất càng sớm thì càng phát huy nhanh sức mạnh toàn diện của đất nước, đồng thời mở rộng quan
hệ quốc tế, phá tan âm mưu chia rẽ của các thế lực thù địch. 2.2. Quá trình
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 24 (8-1975) đã đề r
a nhiệm vụ hoàn thành thống nhất đất
nước về mặt Nhà nước; đưa cả nước “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”.
Ngày 27/10/1975, UB Thường vụ Quốc hội Họp phiên đặc biệt để bàn chủ trương.
Từ ngày 15 đến ngày 21-11-1975, Hội nghị hiệp thương đã nhất trí hoàn toàn việc thống nhất hai miền trong
một Nhà nước chung. Tổ chức tổng tuyển cử trên toàn lãnh thổ Việt Nam bầu ra Quốc hội chung cho cả nước
vào nửa đầu năm 1976 theo nguyên tắc “dân chủ, phổ thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín”.
Ngày 3/1/1946, Bộ Chính trị Trung Ương Đảng ra Chỉ thị số 228 - CT/TW nêu rõ tầm quan trọng của Tổng tuyển cử. Ngày 2 -
5 4-1976, cuộc Tổng tuyển c
ử bầu Quốc hội chung được tiến hành trong cả nước dưới sự chỉ đạo của
Đảng. Trong đó, tỷ lệ cử tri bỏ phiếu: hơn 23 triệu người, tổng số đại biểu được bầu: 492.
Từ ngày 24-6 đến ngày 3-7-1976, Quốc hội khoá VI của nước Việt Nam thống nhất họp kỳ đầu tiên tại Hà
Nội. Thông qua chính sách đối nội, đối ngoại.
Quyết định lấy tên nước là Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Hà Nội là Thủ đô, Quốc huy mang dòng
chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng; Quốc ca l
à bài Tiến quân ca; Đổi tên
thành phố Sài Gòn- Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bầu các cơ quan, chức vụ lãnh đạo cao nhất của nước nhà.
• Phó Chủ tịch nước: Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Hữu Thọ.
• Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, gồm 21 thành viên chính thức và 2 thành viên dự khuyết .
• Chánh án Toà án nhân dân tối cao: Phạm Văn Bạch
• Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Trần Hữu Dực .
• Quốc hội thành lập 6 Uỷ ban của Quốc hội: Uỷ ban kế hoạch và ngân sách; Uỷ ban dự án pháp luật; Uỷ
ban dân tộc; Uỷ ban văn hoá và giáo dục; Uỷ ban y tế và xã hội; Uỷ ban đối ngoại.
- Bầu ra Ban Dự thảo Hiến pháp
- Ở địa phương, Quốc hội tổ chức thành ba cấp tỉnh, huyện, xã.
Ngày 31/7/1977: Đại hội đại biểu các mặt trận ở hai miền Nam - Bắc họp tại TP. Hồ Chí Minh quyết định
thống nhất thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Ngày 18/12/1980: Quốc hội thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. 2.3. Ý nghĩa
Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng và sâu sắc đối với Việt Nam trong nhiều khía cạnh.
- Là yêu cầu tất yếu, khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam.
- Thống nhất đất nước v
ề mặt nhà nước đã thể c ế
h hóa thống nhất lãnh thổ: Quá trình thống nhất đất nước
đã đảm bảo rằng cả Bắc và Nam Việt Nam đều thuộc quyền kiểm soát của một chính phủ và một chế độ nhà
nước. Chấm dứt tình trạng chia cắt lịch sử và khôi phục toàn vẹn chủ quyền v
à lãnh thổ của Việt Nam.
- Tạo cơ sở pháp lý để hoàn thành thống nhất đất nước trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội. 20