TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Khoa Marketing
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
Đề tài: Xu hướng sử dụng các hình thái tiền tệ trong thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
và các vấn đề đặt ra.
Nhóm: 4
Lớp học phần: 242_EFIN2811_01
Giáo viên hướng dẫn: Lê Thị Kim Nhung
Mục lục
Lời mở đầu 1
Phần 1: Tổng quan về các hình thái tiền tệ trong nền kinh tế hiện đại 2
1.1.1. Khái niệm tiền tệ 2
1.1.2. Chức năng của tiền tệ 3
1.1.3. Vai trò của tiền tệ 3
1.2.1. Hóa tệ 4
1.2.1.1. Hóa tệ phi kim loại 5
1.2.1.2. Hóa tệ kim loại 5
1.2.2. Tín tệ 6
1.2.2.1. Tín tệ kim loại 6
1.2.2.2. Tiền giấy 6
1.2.2.3. Bút tệ 8
1.2.2.4. Tiền điện tử 9
Phần 2: Xu hướng sử dụng các hình thái tiền tệ tại Việt Nam hiện nay và các vấn đề đặt
ra 11
2.1.1 Tiền mặt 11
2.1.2 Bút tệ và tiền điện tử 13
2.2.1 Rủi ro an toàn 16
2.2.2 Quản lý tiền tệ 19
2.2.3. Sự thay đổi giá trị tiền tệ 20
2.2.4. Chi phí và phí giao dịch 22
2.2.5. Tính tiện lợi và đồng bộ 28
Kết luận 31
Lời mở đầu
Trong nền kinh tế hiện đại, tiền tệ không chỉ đơn thuần công cụ trao đổi hàng
hóa và dịch vụ mà còn phản ánh các yếu tố phát triển kinh tế, chính trị và xã hội. Việc sử
dụng các hình thái tiền tệ ngày càng trở nên đa dạng và phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sự
xuất hiện của tiền điện tử các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt. Tại Việt
Nam, xu hướng sử dụng các hình thái tiền tệ cũng đang thay đổi nhanh chóng, phản ánh
sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng, cùng với sự tác động mạnh mẽ từ công nghệ và nền
kinh tế số. Tuy nhiên, bên cạnh những tiện lợi, việc sử dụng các hình thái tiền tệ mới
cũng đặt ra không ít thách thức về an toàn, quản lý và sự biến động của giá trị tiền tệ. Bài
thảo luận này sẽ đi sâu phân tích các hình thái tiền tệ trong nền kinh tế Việt Nam hiện
nay, đồng thời làm các vấn đề liên quan đến sự phát triển các thách thứcchúng
ta đang đối mặt.
Phần 1: Tổng quan về các hình thái tiền tệ trong nền kinh tế hiện đại
1.1. Tổng quan về tiền tệ
1.1.1. Khái niệm tiền tệ
Tiền tệ một phạm trù lịch sử, tiền tệ sản phẩm tất yếu của nën kinh tế hàng
hóa. chính phương tiện dùng để thực hiện việc trao đổi hàng hóa được chấp
nhận ở một nhóm người.
Tiền tệ thường được ngân hàng trung ương phát hành, tiền tệ bao gồm cả tiền xu
và tiền giấy đều có giá trị thanh toán như nhau. Con người dùng tiền để mua bán, trao đổi
hàng hóa, thanh toán các dịch vụ và hoàn trả các khoản nợ.
Theo Mác thì tiền tệ một thứ hàng hoá đặc biệt, tách ra khỏi thế giới hàng hóa,
được dùng làm vật ngang giá chung để đo lường biểu hiện giá trị của tất cả các loại
hàng hóa thực hiện trao đổi giữa chúng. ông cũng cho rằng, tiền tệ xuất hiện sau
một hành trình dài của trao đổi các hình thái giá trị Từ hình thái giá trị tương đối vật
ngang giá chung đến hình thái giá trị chung khi sự phân công lao động lần thứ 2, thủ
công nghiệp tách rời khỏi nông nghiệp.
Còn theo các nhà kinh tế hiện đại định nghĩa thì tiền được bất cứ thứ được
chấp nhận chung trong việc thanh toán để đổi lấy hàng hoá, dịch vụ thực hiện các
nghĩa vụ tài chính.
Về bản chất, tiền tệ vật trung gian môi giới trong trao đổi hàng hoá, dịch vụ,
phương tiện giúp cho quá trình trao đổi được thực hiện dễ dàng hơn. Bản chất của tiền tệ
được thể hiện rõ hơn qua hai thuộc tính sau của nó:
Giá trị sử dụng của tiền tệ khả năng thoả mãn nhu cầu trao đổi của hội, nhu
cầu sử dụng làm vật trung gian trong trao đổi. Như vậy người ta sẽ chỉ cần nắm giữ tiền
khi có nhu cầu trao đổi. Giá trị sử dụng của một loại tiền tệ là do xã hội quy định: chừng
nào xã hội còn thừa nhận nó thực hiện tốt vai trò tiền tệ (tứcvai trò vật trung gian môi
giới trong trao đổi) thì chừng đó giá trị sử dụng của với cách tiền tệ còn tồn tại.
Đây chính là lời giải thích cho sự xuất hiện cũng như biến mất của các dạng tiền tệ trong
lịch sử.
Giá trị của tiền được thể hiện qua khái niệm “sức mua tiền tệ”, đó là khả năng đổi
được nhiều hay ít hàng hoá khác trong trao đổi. Tuy nhiên khái niệm sức mua tiền tệ
không được xem xét dưới góc độ sức mua đối với từng hàng hoá nhất định xét trên
phương diện toàn thể các hàng hoá trên thị trường.
1.1.2. Chức năng của tiền tệ
Tiền tệ có 3 chức năng chính:
- Chức năng thước đo giá trị: Tiền tệ đo lường biểu hiện giá trị của các hàng
hóa khác. Điều kiện để thực hiện được chức năng này là phải có đầy đủ giá trị và phải
tiêu chuẩn giá cả. Chức năng này giúp chuyển đổi giá trị các hàng hóa khác về 1 chỉ tiêu
(tiền), giúp các hoạt động, giao lưu kinh tế được thực hiện thuận lợi hơn.
- Chức năng phương tiện trao đổi thanh toán: Tiền tệ làm môi giới trong trao
đổi hàng hóa và tiến hành thành toán. Điều kiện của chức năng này là có sức mua ổn định
hoặc không suy giảm quá nhiều trong 1 khoảng thời gian nhất định số lượng tiền tệ
phải được cung ứng đầy đủ cho nhu cầu lưu thông hàng hóa. Chức năng này giúp tách
quá trình trao đổi hàng hóa thành 2 quá trình bán-mua tách biệt về không gian thời
gian; Quá trình trao đổi hàng hóa diễn ra nhanh chóng, thuận lợi tiết kiệm chi phí lưu
thông tiền trong xã hội đồng thời hệ thống ngân hàng phát triển hơn.
- Chức năng phương tiện cất trữ/tích lũy giá trị: tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông
để chuẩn bị cho một nhu cầu tiêu dùng trong tương lai. Chức năng này sẽ được thực hiện
khi tiền là tiền thực tếchuyền tải giá trị tiền tệ cất trữ tới giá trị tiêu dùng trong tương
lai. Điều này giúp dữ trù một sức mua cho các giao dịch trong tương lai và bảo tồn giá trị
tài sản khi xảy ra lạm phát.
1.1.3. Vai trò của tiền tệ
Tiền tệ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế và đời sống xã hội. Cụ thể, tiền
tệ có 3 vai trò chính như sau:
- phương tiện mở rộng, phát triển sản xuất, trao đổi hàng hóa: Tiền tệ chất
xúc tác quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế. đóng vai trò trung gian trong
quá trình trao đổi hàng hóa dịch vụ, giúp đơn giản hóa các giao dịch thúc đẩy lưu
thông hàng hóa. Nhờ tiền tệ, các doanh nghiệp thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn để
đầu vào sản xuất, mở rộng quy kinh doanh nâng cao năng suất. Tiền tệ cũng
giúp phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả hơn thông qua cơ chế giá cả, tạo điều kiện cho
sự cạnh tranh và phát triển kinh tế.
- Là phương tiện thực hiện, mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế: Trong bối cảnh
toàn cầu hóa, tiền tệ là công cụ không thể thiếu để thực hiện các giao dịch thương mại
đầu tư quốc tế. Nó giúp các quốc gia thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu, cũng
như nhận thanh toán cho hàng hóa dịch vụ xuất khẩu. Tiền tệ cũng tạo điều kiện cho
các nhà đầu dễ dàng đầu vào các dự án doanh nghiệp nước ngoài, thúc đẩy sự
hợp tác phát triển kinh tế giữa các quốc gia. Ngoài ra, tiền tệ còn được sử dụng để
cung cấp viện trợ quốc tế, giúp các quốc gia giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội.
- Là phương tiện phục vụ mục đích của người sở hữu: Đối với mỗi cá nhân, tiền tệ
là công cụ để thực hiện các mục tiêu tài chính của mình.có thể được sử dụng để mua
sắm hàng hóa dịch vụ, thanh toán các khoản nợ, đầu vào các tài sản khác nhau
tích lũy giá trị cho tương lai. Tiền tệ mang lại sự linh hoạt và tự do cho người sở hữu, cho
phép họ đưa ra các quyết định tài chính phù hợp với nhu cầu mong muốn của mình.
Đồng thời, tiền tệ cũng là một thước đo giá trị, giúp người sở hữu đánh giá và so sánh giá
trị của các tài sản và hàng hóa khác nhau.
1.2.1. Hóa tệ
Hóa tệ là loại tiền tệ bằng hàng hóa. Hàng hóa này dần dần trở thành loại hàng hóa
đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung được sử dụng thường xuyên để trao đổi với
những hàng hóa khác. Đấy chính hình thái đầu tiên của tiền tệ được sử dụng trong
một thời gian dài.
Tùy theo đặc điểm của từng địa phương, từng vùng, từng khu vực, từng quốc gia
người ta lựa chọn những hàng hóa khác nhau làm tiền tệ. Nhưng nhìn chung, các loại
hàng hóa được dùng làm tiền tệ được chia làm hai loại: hàng hóa không phải kim loại
hàng hóa kim loại. Do vậy, hóa tệ cũng bao gồm hai loại: hóa tệ không kim loại và hóa tệ
kim loại:
1.2.1.1. Hóa tệ phi kim loại
Hóa tệ phi kim loại các vật phẩm không làm từ kim loại nhưng vẫn được sử
dụng làm phương tiện trao đổi. Loại hóa tệ này thường xuất hiện trong các xã hội nguyên
thủy hoặc những nơi thiếu nguồn cung kim loại. Các vật phẩm này thường được chọn
từ loại hàng hóa giá trị sử dụng cần thiết chung cho nhiều người, mang tính chất phổ
biến, đặc trưng cho địa phương, khu vực nơi diễn ra trao đổi, có thể làm từ vỏ sò, đá quý,
lông thú, gỗ, vải, hoặc thậm chí là muối.
Giá trị của hóa tệ phi kim loại thường dựa trên sự đồng thuận của cộng đồng hoặc
tính hữu dụng của vật phẩm đó. dụ, vỏ được sử dụng làm tiền tệ nhiều nền văn
hóa cổ đại, đặc biệt châu Phi châu Á; còn ngày nay, một số bộ lạc châu Phi
châu Úc còn dùng cá khô, thuốc lá làm vật trung gian trao đổi . Ở một số vùng lạnh, lông
thú quý hiếm được dùng làm phương tiện trao đổi, trong khi muối được coi "vàng
trắng" và có giá trị cao ở nhiều nơi.
Tuy nhiên, hóa tệ phi kim loại thường nhược điểm gây khó khăn cho việc trao
đổi hàng hóa. Thứ nhất, do mỗi vùng, mỗi địa phương chọn 1 hay 1 số loại hàng hóa làm
vật ngang giá chung để trao đổi trong phạm vi địa phương mình nên dẫn đến tình trạng
không đồng nhất về hình thái và chất lượng của vật ngang giá chung. Bên cạnh đó, những
vật ngang giá chung ý nghĩa thiết thực với người dân như gia súc, lương thực,... dễ
bị hỏng theo thời gian, khó vận chuyển từ nơi này đến nơi khác do cồng kềnh khó
chia nhỏ hay gộp lại để phù hợp với các giao dịch nhỏ. vậy, chúng vẫn đóng vai trò
quan trọng trong việc thúc đẩy trao đổi hàng hóa dịch vụ trong các hội nguyên
thủy.
1.2.1.2. Hóa tệ kim loại
Hóa tệ kim loại các vật phẩm làm từ kim loại, thường giá trị nội tại do bản
thân kim loại đó quý hiếm hoặc có tính ứng dụng cao. Loại hóa tệ này được sử dụng rộng
rãi trong lịch sử tiền thân của tiền xu ngày nay. Các kim loại phổ biến được dùng
làm hóa tệ bao gồm vàng, bạc đồng. Những kim loại này giá trị cao do độ quý
hiếm, tính thẩm mỹ và khả năng chống ăn mòn.
Một đặc trưng quan trọng để phân biệt với đồng tiền kim loại khác giá trị danh
nghĩa của hóa tệ kim loại khi xuất xưởng luôn bằng giá trị nội tại của nó. dụ như giá
trị ghi danh trên mặt đồng tiền vàng phải bằng trọng lượng đồng cân của đồn tiền đó khi
xuất xưởng.
Một đặc điểm nổi bật của hóa tệ kim loại độ bền cao, giúp chúng thể lưu
thông trong thời gian dài không bị hỏng. Ngoài ra, kim loại thể được nấu chảy
đúc thành các kích thước, trọng lượng khác nhau, phù hợp với các mệnh giá khác
nhau. dụ, vàng bạc thường được dùng để đúc tiền xu có giá trị cao, trong khi đồng
được sử dụng cho các đồng tiền có mệnh giá nhỏ hơn.
1.2.2. Tín tệ
1.2.2.1. Tín tệ kim loại
Tiền bằng kim loại thuộc hình thái tín tệ khác với kim loại tiền tệ thuộc hình thái
hoá tệ. Ở hình thái này giá trị nội tại của kim loại thường không phù hợp với giá trị danh
nghĩa của nó. thời kz đầu của tín tệ kim loại, các kim loại giá trị cao như vàng, bạc
được sử dụng làm tín tệ kim loại. Tuy nhiên, khi việc khai thác những kim loại này ngày
càng khó khăn, giá trị những kim loại này ngày càng cao, dẫn đến việc phát hành lưu
hành đồng tín tệ là vàng và bạc cũng gặp phải những khó khăn nhất định. Vì thế, cần thiết
phải có một loại tiền tệ khác thay thế cho phù hợp với yêu cầu trong trao đổi lưu thông và
thanh toán hàng hóa dịch vụ. Ngày nay, tín tệ kim loại vẫn được sử dụng trong lưu thông
dưới dạng các loại tiền đúc bằng kim loại kém giá (tiền xu của các quốc gia).
1.2.2.2. Tiền giấy
Tiền giấy khả hoán
Tiền giấy khả hoán loại tiền giấy được ấn định tiêu chuẩn giá cả bằng vàng
thể trực tiếp chuyển đổi ra vàng theo hàm lượng Nhà nước đã công bố. Tiền giấy khả
hoán được lưu hành trong chế độ bản vị vàng hối đoái, khi số lượng tiền đúc bằng vàng
trong lưu thông không đủ để làm phương tiện trao đổi, Nhà nước phát hành tiền giấy vào
lưu thông công b hàm kim lượng của đồng tiền. Tiền giấy khả hoán 1 mảnh giấy
được in thành tiền để lưu hành, thay thế cho tiền bằng vàng hay tiền bằng bạc người
ta gửi ngân hàng. Người loại tiền giấyy thể đến ngân hàng để đổi lấy 1 số
lượng vàng hay một số lượng bạc tương đương với giá trị ghi trên tờ giấy được sử dụng
làm tiền vào bất cứ lúc nào họ cần. Như vậy, bất cứ lúc o mọi người cũng thể
đem tiền giấy khả hoán đó đổi lấy vàng hay bạc giá trị tương đương với giá trị được
ghi trên tiền giấy khả hoán đó. Ở Trung Hoa từ đời Tống đã xuất hiện tiền giấy. Vì những
nhu cầu mua bán, các thương gia hình thành từng thương hội nhiều chi nhánh khắp
các thị trấn lớn. Các thương gia ký thác vàng hay bạc vào hội sở của thương hội rồi nhận
giấy chứng nhận của hội s thương hội, với giấy chứng nhận này các thương gia thể
mua ng các thị trấn khác nhau chi nhánh của thương hội, ngoài loại giấy chứng
nhận trên triều đình nhà Tống còn phát hành tiền giấy và được dân chúng chấp nhận.
Việt Nam vào cuối đời Trần, Hồ Quý Ly đã thí nghiệm cho phát hành tiền giấy.
Nhân dân ai cũng phải nộp tiền kim loại (vàng nén hoặc bạc nén) vào cho Nhà nước, cứ 1
quan tiền kim loại đổi được 2 quan tiền giấy, việc sử dụng tiền giấy của Hồ Quý Ly thất
bại vì nhà Hồ sớm bị lật đổ, dân chưa quen s dụng tiền giấy sai lầm khi xác định
quan hệ giữa tiền kim loại và tiền giấy (bao hàm ý nghĩa tiền giấy có giá trị thấp hơn).
Nguồn gốc của tiền giấy chỉ thể được hiểu khi xem xét lịch sử tiền tệ các
nước Châu {u. Từ đầu thế k| thứ XVII, Lan ngân hàng Amsterdam đã cung cấp
cho những thân chủ gửing vào ngân hàng những giấy chứng nhận bao gồm nhiều tờ
nhỏ. Khi cần, thể đem những tờ nhỏ này đổi lấy vàng hay bạc tại ngân hàng. Trong
thanh toán cho người khác các giấy nhỏ này cũng được chấp nhận. Sau đó một ngân hàng
Thụy Điển tên Palmstruch đã mạnh dạn phát hành tiền giấy để cho vay. Từ đó ngân hàng
Palmstruch khả năng cho vay nhiều hơn vốn tự có. Với nhiều loại tiền giấy được phát
hành, lưu thông tiền tệ b rối loạn vì nhiều nhà ngân hàng lạm dụng gây nhiều thiệt hại
cho dân chúng. Do đó, vua chúa các nước phải can thiệp vì cho rằng việc đúc tiền từ xưa
vương quyền mặt khác việc phát hành tiền giấy một nguồn lợi to lớn. Vương
quyền các nước Châu {u thừa nhận một ngân hàng tự quyền phát hành tiền giấy với
những điều kiện nhất định:
+ Điều kiện khả hoán: Có thể đổi lấy bất cứ lúc nào tại ngân hàng phát hành.
+ Điều kiện dự trữ vàng làm đảm bảo: Ban đầu là 100% sau còn 40%.
+ Điều kiện phải cho Nhà nước vay không tính lãi khi cần thiết.
Tiền giấy bất khả hoán
Tiền giấy bất khả hoán (tiền phù hiệu) tiền giấy được ấn định tiêu chuẩn giá cả
bằng pháp luật, bắt buộc lưu hành không thể trực tiếp chuyển đổi ra vàng theo tiêu
chuẩn Nhà nước quy định.
Sự xuất hiện của tiền giấy bất khả hoán trong lịch s đã được đánh dấu bởi hai
mốc thời gian quan trọng Đại chiến thế giới lần thứ nhất khủng hoảng kinh tế thế
giới 1929. Thế chiến thứ nhất đã làm cho các quốc gia tham chiến không còn đủ vàng để
đổi cho dân chúng. Nước Anh từ năm 1931 đã cư•ng chế lưu hành tiền giấy bất khả
hoán, nước Pháp năm 1936. Năm 1929, khủng hoảng kinh tế thế giới dẫn đến nước
Đức mọi người đua nhau rút tiền, do đó Ngân hàng Trung ương Đức đã phải dùng vàng
trả nợ nước ngoài và do đó số trữ kim gần như không còn. Tiến sĩ Schacht (1933 – 1936)
đã áp dụng chính sách tiền tài trợ bằng cách phát hành trái phiếu, để tài trợ sản xuất
những chương trình kinh tế, hội lớn. Biện pháp này làm giảm 50% thất nghiệp, sản
xuất tăng 41% (1934). T đó, nhiều nhà kinh tế cho rằng giá trị tiền tệ không phải dựa
vào dự trữ vàng như các quan điểm trước đây.
Ngày nay các nước đều áp dụng chế độ lưu thông tiền giấy. Tiền giấy do ngân
hàng trung ương thống nhất phát hành là đồng tiền hợp pháp được lưu hành với giá trị bắt
buộc nhà nước không thực hiện chuyển đổi tiền giấy ra vàng. Tuy nhiên, vàng vẫn
được thừa nhận là một trong những cơ sở đảm bảo của giấy bạc lưu hành cũng như là một
tiêu chuẩn để xác định tính chất mạnh, yếu ca các loại tiền giấy trên thị trường quốc tế.
Tiền giấy được sử dụng làm phương tiện trao đổi ngày ng phổ biến những tiện lợi
như dễ mang theo trong người, dễ cất giữ. Mặt khác, việc in tiền với nhiều mệnh giá khác
nhau có thể đáp ứng cho nhu cầu trao đổi chi ly và chính xác. Tuy nhiên, bên cạnh những
ưu điểm trên, việc lưu hành tiền giấy cũng bộc lộ những nhược điểm, đó là dễ bị làm giả,
chi phí lưu thông cao dễ bị rách nát sau một thời gian sử dụng tiền giấy thể gây
ra hiện tượng lạm phát nếu phát hành một khối lượng tiền giấy quá lớn so với nhu cầu về
tiền của nền kinh tế.
1.2.2.3. Bút tệ
Bút tệ hay còn gọi là tiền ghi sổ, chỉ được tạo ra thông qua hoạt động của hệ thống
ngân hàng. Không tồn tại dưới dạng vật chất hữu hình, bút tệ chỉ là những con số thể hiện
số dư trên tài khoản ngân hàng.
Bút tệ hay còn gọi là tiền ghi sổ được tạo ra khi phát tín dụng thông qua tài khoản
tại ngân hàng. Do vậy, bút tệ không có hình thái vật chất; chỉ những con số trả tiền
hay chuyển tiền thể hiện trên tài khoản ngân hàng. Thực chất, bút tệ tiền phi vật chất;
nhưng cũng những tính chất giống như tiền giấy được sử dụng trong thanh toán
qua những công c thanh toán của ngân hàng như: séc, lệnh chuyển tiền… còn
những ưu điểm hơn hẳn tiền giấy; đó là: an toàn hơn; chuyển đổi ra tiền giấy dễ dàng;
thanh toán rất thuận tiện; kiểm nhận nhanh.
Về nguồn gốc, trong kinh tế học người ta cho rằng bút tệ xuất hiện đầu tiên tại
ngân hàng Anh vào giữa thế k| 19. Sau đó dần dần lan sang các quốc gia khác. Ngày nay,
bút tệ được sử dụng rộng rãi trong các cuộc giao dịch tại các nước công nghiệp, hậu công
nghiệp.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngân hàng, quá trình thanh toán ngày nay chủ
yếu được thực hiện qua các bút toán chuyển khoản hoặc trích từ tài khoản thác. Việc
sử dụng bút tệ thay thế cho tiền mặt, cùng với các chứng từ thanh toán như séc, giấy
chuyển ngân, giấy nhờ thu,... đã làm đa dạng các phương thức thanh toán, đồng thời giảm
bớt chi phí lưu hành tiền giấy như in ấn, bảo quản, kiểm đếm vận chuyển. vậy, sử
dụng bút tệ được xem là xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế hiện đại.
1.2.2.4. Tiền điện tử
Trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ, tiền điện tử đang dần trở thành một
phương tiện thanh toán phổ biến và không thể thiếu trong nền kinh tế hiện đại. Đây được
xem một bước tiến quan trọng của hệ thống tài chính, giúp giao dịch trở nên nhanh
chóng, tiện lợi và an toàn hơn.
Tiền điện tử hình thức phát triển cao của tiền ghi sổ (bút tệ), hoạt động thông
qua các hệ thống thanh toán tự động hoặc máy rút tiền tự động (ATM). Thay sử dụng
tiền mặt, các giao dịch được thực hiện qua hệ thống ngân hàng trung gian, giúp tối ưu hóa
quá trình thanh toán và chi trả. Hiện nay, tiền điện tử xuất hiện dưới nhiều hình thức, phổ
biến nhất thẻ tín dụng (Credit cards), thẻ ghi nợ (Debit cards) các phương thức
thanh toán trực tuyến.
Khi chúng ta đến một ngân hàng trung gian gửi tiền, bên cạnh việc trao cho chúng
ta một chứng thư xác nhận việc gửi tiền, ngân hàng này sẽ trao cho chúng ta một tấm card
bằng nhựa; bên trong được hóa điện tử một mật từ 3 đến 5 con số để sử dụng.
Hai phút sau khi chúng ta gửi tiền, toàn bộ số tiền ấy cùng với mật mã và số tài khoản của
chúng ta được máy tính điện tử thông báo trên toàn hệ thống (có thể trên phạm vi các
quốc gia).
Khi cần dùng tiền mặt, hoặc khi cần chuyển tiền vào tài khoản của một người nào
đó, chúng ta chỉ cần nhét tấm card ấy vào khe của máy ATM; sau khi bấm mật mã, màn
hình của máy tính ATM sẽ hiện lệnh; trong số tiền đã gửi, chúng ta thể rút tiền hoặc
chuyển tiền qua ngân hàng.
Sau một phút, tất cả mọi việc sẽ được hoàn tất. Chúng ta sẽ tiền mặt trong tay
hoặc đã chuyển tiền xong, mà phiếu thông báo quyết toán của máy tính in ra ngay lập tức
sau khi chúng ta rút tiền hoặc chuyển tiền. Phiếu này cho biết rõ ngày giờ đã rút tiền hoặc
chuyển tiền; số card; số tiền đã rút hoặc đã chuyển; và số tiền còn lại trong tài khoản.
Tấm card này được xem tiền; tuy nhiên, việc xem tấm card này là một hình thái
tiền tệ vẫn chưa được thống nhất, bởi lẽ một số quan điểm cho rằng đó chỉ phương
tiện chi trả.
Kết luận, sự phát triển của tiền điện tử là tất yếu trong thời đại số hóa, phản ánh sự
tiến bộ của nền kinh tế hội. Tuy nhiên, để tận dụng tối đa những lợi ích tiền
điện tử mang lại, chúng ta cần các biện pháp quản rủi ro hợp đảm bảo hệ
thống tài chính luôn vận hành một cách an toàn, hiệu quả.
Phần 2: Xu hướng sử dụng các hình thái tiền tệ tại Việt Nam hiện nay và các vấn đề
đặt ra
2.1. Xu hướng sử dụng các hình thái tiền tệ ở Việt Nam hiện nay.
2.1.1 Tiền mặt
Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy sự sụt giảm đáng kể trong giao dịch rút
tiền mặt tại ATM vào đầu năm 2024 so với cùng kz năm 2023. Điều này phản ánh rệt
sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng, khi người dân dần chuyển sang các phương thức
thanh toán điện tử.
Việt Nam đang trải qua một cuộc chuyển đổi sâu rộng trong hệ thống thanh toán,
thể hiện qua hành trình từ "thời huy hoàng" của ATM đến sự bùng nổ của thanh toán điện
tử. Từ cuối thập niên 2000, khi các kỹ tin học nước ngoài được trả lương cao để thiết
kế hệ thống ATM cho ngân hàng Việt Nam, đến năm 2024 khi số lượng máy ATM giảm
1,7% và máy POS tăng trưởng hơn 32%, chúng ta chứng kiến sự thay đổi mang tính bước
ngoặt. Sự ra đời của Timo Bank năm 2015 - ngân hàng số đầu tiên tại Việt Nam - đã đánh
dấu điểm khởi đầu cho chuỗi cải cách trong hệ thống ngân hàng, bao gồm việc miễn phí
giao dịch, áp dụng định danh điện tử thanh toán bằng QR. Thành quả của những
nỗ lực y t| lệ người trưởng thành tài khoản ngân hàng đã tăng vọt từ 40% năm
2018 lên hơn 87% vào đầu năm 2024, với nhiều ngân hàng đạt trên 95% số lượng giao
dịch được xử lý trên kênh tài chính số, trong khi thanh toán qua ví điện tử và mã QR duy
trì tốc độ tăng trưởng bình quân trên 100% mỗi năm từ 2017 đến 2023.
Mặc sự bùng nổ của các phương thức thanh toán điện tử, tiền mặt vẫn đang
đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế Việt Nam. Theo báo cáo của FIS năm
2023, Việt Nam hiện quốc gia có t| lệ thanh toán bằng tiền mặt cao thứ tư trong 40 thị
trường được khảo sát châu Á, với t| lệ sử dụng tiền mặt tại các điểm POS đạt 38%, so
với điện tử 31% thẻ tín dụng 19%. Điều này phản ánh một thực tế rằng, như TS.
Phạm Nguyễn Anh Huy từ trường Kinh doanh thuộc Đại học RMIT đã nhận định, "tiền
mặt không thể biến mất" đang tồn tại song song bổ sung cho các hình thức thanh
toán điện tử. Sự đánh đổi giữa việc sử dụng tiền mặt thanh toán số phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, bao gồm sự tiện lợi, an toàn, thậm chí lòng trung thành với thương
hiệu - như trường hợp của Starbucks tại Việt Nam từ chối thanh toán bằng tiền mặt, buộc
khách hàng phải lựa chọn giữa việc chuyển sang thanh toán điện tử hoặc tìm kiếm thương
hiệu khác chấp nhận tiền mặt.
Chặng đường để Việt Nam đạt được mục tiêu giảm t| lệ tiền mặt xuống dưới 8%
trên tổng phương tiện thanh toán vào cuối năm 2025 còn nhiều thách thức, đặc biệt khi so
sánh với các quốc gia có t| lệ sử dụng tiền mặt thấp nhất thế giới như New Zealand (6%),
Úc Trung Quốc (7%), hay Hàn Quốc (10%). Tuy nhiên, xu hướng giảm sử dụng tiền
mặt tại Việt Nam được dự đoán "khó thể thay đổi hay đảo ngược", đặc biệt đối với
thế hệ Gen Z. Không giống như hiện tượng Cash Out Day ở Úc - một sự kiện đơn lẻ phản
đối sự phụ thuộc vào thanh toán điện tử - xu hướng thanh toán không tiền mặt tại Việt
Nam đang được thúc đẩy mạnh mẽ bởi sự phát triển công nghệ và thay đổi trong hành vi
tiêu dùng. Điều này được minh chứng qua sự cải thiện liên tục trong hạ tầng thanh toán
số, với việc giảm số lượng máy ATM đi đôi với sự gia tăng đáng kể của các điểm chấp
nhận thanh toán điện tử, phản ánh một hành trình không ngừng tiến về phía xã hội không
tiền mặt tại Việt Nam.
Ông Nguyễn Hoàng Long, Phó tổng giám đốc NAPAS cho biết: “Trong các tuần
đầu năm 2025, so với cùng kz năm ngoái, số lượng giao dịch qua NAPAS tăng khoảng
13-15%. Hiện nay, giao dịch chạy qua hệ thống NAPAS trong ngày cao điểm khoảng 35
triệu giao dịch/ngày. Lượng giao dịch chuyển tiền qua quét QR tăng mạnh, thể hiện
nhu cầu chuyển tiền, thanh toán của người dân. Đặc biệt, xu hướng rút tiền đều thấy sụt
giảm. So với cùng kz năm trước, giao dịch rút tiền qua máy ATM giảm gần 20%. Đây là
xu hướng rất tốt, mọi người đã thực hiện thanh toán thông qua luôn tài khoản ngân hàng,
thay vì rút tiền mặt để chi tiêu như trước đây”.
Ông Phạm Tiến Dũng - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phát biểu về chủ đề
này tại “Hội thảo Thúc đẩy hoạt động thẻ Xu hướng thanh toán tương lai” cho biết,
hiện nay thanh toán tiền mặt và thanh toán thẻ đã có mặt trong mọi lĩnh vực sản xuất kinh
doanh, cung cấp dịch vụ và trong đời sống hàng ngày.
Mặc xu hướng thanh toán không tiền mặt đang phát triển, tiền mặt vẫn
phương thức thanh toán phổ biến, đặc biệt khu vực nông thôn trong các giao dịch
nhỏ lẻ và có phần chiếm ưu thế hơn trong các giao dịch.
Từ cuối năm 2016, khi Chính phủ ban hành Đề án phát triển thanh toán không
dùng tiền mặt giai đoạn 2016 - 2020, loại hình thanh toán này đã bắt đầu được sử dụng
nhiều hơn. Đến đầu năm 2020, khi dịch Covid 19 bắt đầu diễn biến phức tạp, thanh toán
điện tử đã thực sự “bùng nổ”, mang lại sự nhanh gọn tiện lợi cho các giao dịch tài
chính, thương mại của cả nhân doanh nghiệp. Với định hướng của Chính phủ, xu
hướng thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam đang ghi nhận những thay đổi tích
cực khi các phương thức thanh toán mới phủ sóng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày
của người dân. Hình thức thanh toán mới đã phủ sóng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày
của người dân. Từ các trung tâm mua sắm, cửa hàng, quán ăn, tới các tiệm nhỏ, chợ
truyền thống đều áp dụng các phương thức thanh toán điện tử. Người dùng có thể dễ dàng
sử dụng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, chuyển khoản, quét QR... để thanh toán nhanh
chóng, an toàn mà không cần mang theo tiền mặt.
2.1.2 Bút tệ và tiền điện tử
Tại Việt Nam, xu hướng thanh toán đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng
hạn chế sử dụng tiền mặt. Người dân, đặc biệt các đô thị lớn, ngày càng quen thuộc
với các phương thức thanh toán điện tử. Các ngân hàng đơn vị cung cấp điện tử
cũng đang tích cực khuyến khích hình thức thanh toán này bằng nhiều chương trình ưu
đãi hấp dẫn.
Việc thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) đang trở thành một xu thế tất
yếu trên toàn cầu, Việt Nam không nằm ngoài xu hướng này. Nhận thức được vai trò
quan trọng của TTKDTM, cuối m 2016, Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển
TTKDTM giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định số 2545/QĐ-TTg.
Mục tiêu của TTKDTM tăng cường tính bảo mật, an toàn trong giao dịch, nâng
cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng cũng như quản nhà nước. Đồng thời,
việc này còn giúp minh bạch hóa các giao dịch tài chính, hỗ trợ công tác phòng chống
tham nhũng, tội phạm kinh tế, rửa tiền và tài trợ khủng bố.
Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam:
Năm 2020
Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ, TTKDTM tại Việt Nam đã có những bước
phát triển đáng kể từ năm 2018 và tiếp tục ghi nhận sự tăng trưởng vào năm 2019.
Trước tốc độ phát triển mạnh mẽ của TTKDTM, trong năm 2020, Ngân hàng Nhà
nước (NHNN) đã yêu cầu các chi nhánh trên toàn quốc thúc đẩy việc áp dụng hình
thức thanh toán này, đặc biệt trong các lĩnh vực y tế giáo dục. Các trường học,
bệnh viện đã được trang bị thiết bị hỗ trợ thanh toán bằng thẻ, QR, giúp phụ
huynh, sinh viên và bệnh nhân có thể thanh toán dễ dàng qua thiết bị di động hoặc
thẻ ngân hàng, tương tự như hình thức thanh toán tại siêu thị.
Theo NHNN, Việt Nam có 78 tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán qua Internet và
45 tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán di động. Theo số liệu từ Cục Thương mại
điện tử Kinh tế số (Bộ Công Thương), giao dịch trực tuyến qua Internet di
động đã tăng đến 238% về giá trị.
Tuy nhiên, tiền mặt vẫn chiếm t| trọng lớn trong giao dịch tại Việt Nam, với
khoảng 90% giao dịch vẫn được thực hiện bằng tiền mặt. Điều này cho thấy t| lệ
TTKDTM chỉ chiếm khoảng 10% - thấp hơn nhiều so với mục tiêu hơn 30%
Chính phủ đặt ra vào năm 2020.
Thống từ NHNN cũng cho thấy chỉ khoảng 31% người dân có tài khoản ngân
hàng, trong khi 69% còn lại - chủ yếu vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa - vẫn
chưa tiếp cận được dịch vụ này. Đây một thách thức lớn cần giải quyết sở
hữu tài khoản ngân hàng là điều kiện tiên quyết để có thể sử dụng các phương thức
TTKDTM. Ngay cả với những người có tài khoản ngân hàng, hình thức thanh toán
khi nhận hàng (COD) vẫn là lựa chọn phổ biến nhất khi mua sắm trực tuyến.
Năm 2021
Theo NHNN, t| lệ sdụng tiền mặt tại Việt Nam tiếp tục giảm trong năm 2021.
Cụ thể, tổng giá trị thanh toán bằng tiền mặt chỉ còn chiếm khoảng 14,02% tổng
giá trị thanh toán toàn thị trường, giảm so với mức 16,37% của năm 2020.
Cùng với đó, số lượng thẻ tín dụng thẻ ghi nợ tăng 13,73% so với năm trước,
phản ánh xu hướng dịch chuyển từ thanh toán tiền mặt sang các phương thức hiện
đại như thẻ ngân hàng, ví điện tử và mobile banking.
Năm 2022
Báo cáo từ Vụ Thanh toán (NHNN) cho thấy trong năm 2022, các phương tiện
thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển nhanh chóng, đặc biệt các
dịch vụ thanh toán điện tử qua Internet điện thoại di động, thu hút lượng lớn
người dùng.
T| lệ giao dịch rút tiền mặt đã giảm từ 12% vào năm 2021 xuống còn 6,56% vào
năm 2022. Trước đó, t| trọng giao dịch rút tiền mặt qua hệ thống NAPAS cũng
giảm từ 26% năm 2020 xuống 12% năm 2021.
Trong khi đó, thanh toán điện tử tiếp tục tăng trưởng mạnh:
+ Tổng số lượng giao dịch tăng 96,5%, tổng giá trị giao dịch tăng 87,3% so với
năm 2021.
+ T| trọng giao dịch thẻ chip qua hệ thống NAPAS tăng từ 26% (2021) lên hơn
60% (2022).
+ Giao dịch qua Internet tăng 89,36% về số lượng và 40,55% về giá trị.
+ Giao dịch qua điện thoại di động tăng 116,1% về số lượng và 92,3% về giá trị.
+ Thanh toán qua QR Code đạt hơn 59,6 triệu giao dịch, tổng giá trị trên 58,4
nghìn t| đồng, tăng lần lượt 182,5% và 210,6% so với năm trước.
+ Giao dịch qua POS đạt hơn 564,54 triệu lượt, giá trị gần 932,93 nghìn t| đồng,
tăng lần lượt 53,57% và 48,78% so với năm 2021.
Đáng chú ý, phương thức định danh điện tử (eKYC) đã giúp khoảng 18,8 triệu tài
khoản ngân hàng được mở trực tuyến. Theo báo cáo của NHNN, đến nay 20 ngân
hàng triển khai mở thẻ trực tuyến theo quy định của Thông tư số 17/2021/TT-NHNN, với
hơn 13,2 triệu thẻ đang hoạt động.
Năm 2023
Trong 3 tháng đầu năm 2023 so với cùng kz năm 2022, hoạt động thanh toán
không dùng tiền mặt tiếp tục tăng trưởng khá. Số lượng giao dịch qua hệ thống
thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng 8,55% về giá trị; số lượng giao dịch qua hệ
thống chuyển mạch tài chính trừ điện tử tăng 70,77% về số lượng tăng
18,55% về giá trị”, ông Phạm Anh Tuấn (Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng
Nhà nước cho biết).
Đến cuối tháng 3/2023, toàn thị trường 21.347 máy ATM 430.625 máy
POS; tăng tương ứng 3,88% 26,34% so với cùng kz năm 2022. Số lượng giao
dịch qua POS tăng 37,57% về số lượng tăng 32,09% về giá trị, giao dịch qua
ATM tiếp tục giảm 2,37% về số lượng giảm 4,02% về giá trị, cho thấy xu
hướng dịch chuyển từ rút tiền mặt sang thanh toán không dùng tiền mặt.
Năm 2024
Cũng trong báo cáo của Ngân hàng Nhà nước đầu năm 2024, các kênh thanh toán
điện tử đang dẫn đầu xu hướng Cashless bao gồm ngân hàng internet (tăng
57,85% về số lượng 32,43% v giá trị) ngân hàng di động (tăng 68,54% về
số lượng và 41,12% về giá trị). Đặc biệt, thanh toán bằng mã QR bùng nổ với mức
tăng trưởng 892,95% về số lượng và 1.062,01% về giá trị.
Sau khi công bố số liệu trên, đại diện của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa ra
nhận xét rằng, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt đang chứng kiến sự phát
triển bùng nổ chưa từng có. Từ siêu thị, nhà hàng, cửa hàng đến chợ dân sinh,
thậm chí cả quán trà đá vỉa hè, người dùng dễ dàng bắt gặp các hình thức thanh
toán không dùng tiền mặt đa dạng. Trong số đó, QR Code nổi lên như phương
thức thống trị thị trường với tốc độ tăng trưởng phi về cả s lượng giá trị
giao dịch. Năm sau luôn ghi nhận mức tăng trưởng cao hơn nhiều lần so với năm
trước.
Trong năm 2024, thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam đạt hơn 17 t| giao
dịch. Một số đơn vị trung gian cũng triển khai các giải pháp thanh toán số cho các
cửa hàng nhỏ, hộ kinh doanh để tiết giảm chi phí vận hành. Hiện đã có đến 10.000
điểm thanh toán sử dụng giải pháp này. Trong thời gian tới, đơn vị cung cấp dịch
vụ thanh toán tiếp tục phát triển phần mềm, như thêm tính năng thanh toán qua mã
QR cho người dùng.
2.2. Các vấn đề đặt ra về sử dụng tiền tại Việt Nam
2.2.1 Rủi ro an toàn
Rủi ro liên quan đến bảo mật và gian lận
Một trong những rủi ro lớn nhất đối với thanh toán không dùng tiền mặt bảo
mật. Mặc dù các ngân hàng và các tổ chức thanh toán luôn cố gắng cải thiện hệ thống bảo
mật, nhưng sự gia tăng của các giao dịch điện tử đồng nghĩa với việc có nhiều cơ hội hơn
cho các hacker các nhóm tội phạm mạng tấn công hệ thống thanh toán. Việc gian lận
thể xảy ra qua việc lừa đảo người dùng để lấy thông tin tài khoản ngân hàng hoặc mã
OTP, thậm chí là tấn công vào các hệ thống thanh toán để đánh cắp tiền của người dùng.
Các hình thức gian lận có thể bao gồm:
+ Tội phạm sử dụng chiêu trò gọi điện hoặc gửi email giả mạo các ngân hàng để
yêu cầu người dùng cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng, mật khẩu, OTP,
từ đó thực hiện các giao dịch trái phép.
+ Tấn công mạng vào hệ thống thanh toán với các giao dịch được thực hiện trực
tuyến qua các nền tảng và ví điện tử, tấn công DDoS (tấn công từ chối dịch vụ) và
hack o các hệ thống này để chiếm đoạt tài sản một mối nguy hiểm thường
xuyên.
+ Các ứng dụng thanh toán giả mạo hoặc không nguồn gốc có thể đánh cắp
thông tin tài khoản người dùng khi cài đặt và sử dụng.
Rủi ro về quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu cá nhân
Trong khi thanh toán không dùng tiền mặt mang lại sự tiện lợi trong việc thực hiện
giao dịch, cũng khiến người dùng dễ dàng bị xâm phạm quyền riêng bảo mật
thông tin nhân. Các phương thức thanh toán điện tử yêu cầu người dùng cung cấp
thông tin nhạy cảm như tên, địa chỉ, số điện thoại, số tài khoản ngân hàng, OTP,...
Nếu các thông tin này bị rỉ hoặc bị lạm dụng, người dùng sẽ gặp phải các vấn đề
nghiêm trọng, như bị lừa đảo, mất tài sản, hoặc bị tấn công tống tiền.
Điều này cũng đặt ra câu hỏi về việc bảo vệ dữ liệu người dùng trong các hệ thống
thanh toán. Mặc dù các ngân hàng và các tổ chức thanh toán thực hiện các biện pháp bảo
vệ dữ liệu, nhưng nếu khôngsự quản lý chặt chẽ minh bạch, các tổ chức có thể trở
thành mục tiêu của các vụ rò rỉ dữ liệu lớn.
Rủi ro liên quan đến sự phát triển của mã QR và các phương thức thanh toán mới.
Một trong những xu hướng nổi bật trong thanh toán không dùng tiền mặt việc
sử dụng QR để thanh toán. Mặc đây phương thức thanh toán tiện lợi nhanh
chóng, nhưng nó cũng tiềm ẩn một số rủi ro an toàn.
Tội phạm có thể in QR giả mạo hoặc thay thế QR hợp pháp bằng QR
của riêng họ để thu tiền từ khách hàng. Khi người dùng quét QR này, họ thể
chuyển tiền vào tài khoản của kẻ gian mà không nhận ra.
Các hệ thống thanh toán dựa trên mã QR có thể bị tấn công bởi các phần mềm độc
hại hoặc virus, làm giả mạo QR hoặc thay đổi nội dung của QR trước khi người
dùng thực hiện thanh toán.
Rủi ro lỗi hệ thống
Một trong những yếu tố quan trọng để việc thanh toán không dùng tiền mặt phát
triển hạ tầng công nghệ. Tuy nhiên, nếu hệ thống này không được duy trì, bảo trì
nâng cấp đúng mức, các sự cố kỹ thuật thể xảy ra. dụ, nếu sự cố với hệ thống
thanh toán của các ngân hàng, các giao dịch thể bị gián đoạn, gây mất lòng tin từ
người sử dụng thiệt hại tài chính. Nguyên nhân thể do đường truyền mạng không
ổn định, hệ thống thanh toán bảo trì hoặc quá tải dẫn tới giao dịch bị lỗi.
Ngoài ra, sự phát triển mạnh mẽ của điện tử và các ứng dụng thanh toán trên di
động khiến các tổ chức cần phải đảm bảo tính ổn định liên tục của hệ thống. Nếu
không có hệ thống bảo mật vững chắc và các cơ chế khôi phục khi có sự cố, các giao dịch
có thể gặp phải lỗi, dẫn đến mất mát tiền bạc của người sử dụng.
Rủi ro từ việc thiếu sự hiểu biết và phổ cập của người dùng
Mặc thanh toán không dùng tiền mặt đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam,
nhưng vẫn còn một bộ phận lớn người dân chưa hiểu về các phương thức thanh toán

Preview text:


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI Khoa Marketing
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
Đề tài: Xu hướng sử dụng các hình thái tiền tệ trong thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
và các vấn đề đặt ra. Nhóm: 4
Lớp học phần: 242_EFIN2811_01
Giáo viên hướng dẫn: Lê Thị Kim Nhung Mục lục Lời mở đầu 1
Phần 1: Tổng quan về các hình thái tiền tệ trong nền kinh tế hiện đại 2
1.1.1. Khái niệm tiền tệ 2
1.1.2. Chức năng của tiền tệ 3
1.1.3. Vai trò của tiền tệ 3 1.2.1. Hóa tệ 4
1.2.1.1. Hóa tệ phi kim loại 5
1.2.1.2. Hóa tệ kim loại 5 1.2.2. Tín tệ 6
1.2.2.1. Tín tệ kim loại 6 1.2.2.2. Tiền giấy 6 1.2.2.3. Bút tệ 8
1.2.2.4. Tiền điện tử 9
Phần 2: Xu hướng sử dụng các hình thái tiền tệ tại Việt Nam hiện nay và các vấn đề đặt ra 11 2.1.1 Tiền mặt 11
2.1.2 Bút tệ và tiền điện tử 13 2.2.1 Rủi ro an toàn 16 2.2.2 Quản lý tiền tệ 19
2.2.3. Sự thay đổi giá trị tiền tệ 20
2.2.4. Chi phí và phí giao dịch 22
2.2.5. Tính tiện lợi và đồng bộ 28 Kết luận 31 Lời mở đầu
Trong nền kinh tế hiện đại, tiền tệ không chỉ đơn thuần là công cụ trao đổi hàng
hóa và dịch vụ mà còn phản ánh các yếu tố phát triển kinh tế, chính trị và xã hội. Việc sử
dụng các hình thái tiền tệ ngày càng trở nên đa dạng và phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sự
xuất hiện của tiền điện tử và các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt. Tại Việt
Nam, xu hướng sử dụng các hình thái tiền tệ cũng đang thay đổi nhanh chóng, phản ánh
sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng, cùng với sự tác động mạnh mẽ từ công nghệ và nền
kinh tế số. Tuy nhiên, bên cạnh những tiện lợi, việc sử dụng các hình thái tiền tệ mới
cũng đặt ra không ít thách thức về an toàn, quản lý và sự biến động của giá trị tiền tệ. Bài
thảo luận này sẽ đi sâu phân tích các hình thái tiền tệ trong nền kinh tế Việt Nam hiện
nay, đồng thời làm rõ các vấn đề liên quan đến sự phát triển và các thách thức mà chúng ta đang đối mặt.
Phần 1: Tổng quan về các hình thái tiền tệ trong nền kinh tế hiện đại
1.1. Tổng quan về tiền tệ
1.1.1. Khái niệm tiền tệ
Tiền tệ là một phạm trù lịch sử, tiền tệ là sản phẩm tất yếu của nën kinh tế hàng
hóa. Nó chính là phương tiện dùng để thực hiện việc trao đổi hàng hóa và nó được chấp
nhận ở một nhóm người.
Tiền tệ thường được ngân hàng trung ương phát hành, tiền tệ bao gồm cả tiền xu
và tiền giấy đều có giá trị thanh toán như nhau. Con người dùng tiền để mua bán, trao đổi
hàng hóa, thanh toán các dịch vụ và hoàn trả các khoản nợ.
Theo Mác thì tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt, tách ra khỏi thế giới hàng hóa,
được dùng làm vật ngang giá chung để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại
hàng hóa và thực hiện trao đổi giữa chúng. Và ông cũng cho rằng, tiền tệ xuất hiện sau
một hành trình dài của trao đổi và các hình thái giá trị Từ hình thái giá trị tương đối vật
ngang giá chung đến hình thái giá trị chung khi có sự phân công lao động lần thứ 2, thủ
công nghiệp tách rời khỏi nông nghiệp.
Còn theo các nhà kinh tế hiện đại định nghĩa thì tiền được là bất cứ thứ gì được
chấp nhận chung trong việc thanh toán để đổi lấy hàng hoá, dịch vụ và thực hiện các nghĩa vụ tài chính.
Về bản chất, tiền tệ là vật trung gian môi giới trong trao đổi hàng hoá, dịch vụ, là
phương tiện giúp cho quá trình trao đổi được thực hiện dễ dàng hơn. Bản chất của tiền tệ
được thể hiện rõ hơn qua hai thuộc tính sau của nó:
Giá trị sử dụng của tiền tệ là khả năng thoả mãn nhu cầu trao đổi của xã hội, nhu
cầu sử dụng làm vật trung gian trong trao đổi. Như vậy người ta sẽ chỉ cần nắm giữ tiền
khi có nhu cầu trao đổi. Giá trị sử dụng của một loại tiền tệ là do xã hội quy định: chừng
nào xã hội còn thừa nhận nó thực hiện tốt vai trò tiền tệ (tức là vai trò vật trung gian môi
giới trong trao đổi) thì chừng đó giá trị sử dụng của nó với tư cách là tiền tệ còn tồn tại.
Đây chính là lời giải thích cho sự xuất hiện cũng như biến mất của các dạng tiền tệ trong lịch sử.
Giá trị của tiền được thể hiện qua khái niệm “sức mua tiền tệ”, đó là khả năng đổi
được nhiều hay ít hàng hoá khác trong trao đổi. Tuy nhiên khái niệm sức mua tiền tệ
không được xem xét dưới góc độ sức mua đối với từng hàng hoá nhất định mà xét trên
phương diện toàn thể các hàng hoá trên thị trường.
1.1.2. Chức năng của tiền tệ
Tiền tệ có 3 chức năng chính:
- Chức năng thước đo giá trị: Tiền tệ đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng
hóa khác. Điều kiện để thực hiện được chức năng này là phải có đầy đủ giá trị và phải có
tiêu chuẩn giá cả. Chức năng này giúp chuyển đổi giá trị các hàng hóa khác về 1 chỉ tiêu
(tiền), giúp các hoạt động, giao lưu kinh tế được thực hiện thuận lợi hơn.
- Chức năng phương tiện trao đổi và thanh toán: Tiền tệ làm môi giới trong trao
đổi hàng hóa và tiến hành thành toán. Điều kiện của chức năng này là có sức mua ổn định
hoặc không suy giảm quá nhiều trong 1 khoảng thời gian nhất định và số lượng tiền tệ
phải được cung ứng đầy đủ cho nhu cầu lưu thông hàng hóa. Chức năng này giúp tách
quá trình trao đổi hàng hóa thành 2 quá trình bán-mua tách biệt về không gian và thời
gian; Quá trình trao đổi hàng hóa diễn ra nhanh chóng, thuận lợi và tiết kiệm chi phí lưu
thông tiền trong xã hội đồng thời hệ thống ngân hàng phát triển hơn.
- Chức năng phương tiện cất trữ/tích lũy giá trị: tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông
để chuẩn bị cho một nhu cầu tiêu dùng trong tương lai. Chức năng này sẽ được thực hiện
khi tiền là tiền thực tế và chuyền tải giá trị tiền tệ cất trữ tới giá trị tiêu dùng trong tương
lai. Điều này giúp dữ trù một sức mua cho các giao dịch trong tương lai và bảo tồn giá trị
tài sản khi xảy ra lạm phát.
1.1.3. Vai trò của tiền tệ
Tiền tệ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế và đời sống xã hội. Cụ thể, tiền
tệ có 3 vai trò chính như sau:
- Là phương tiện mở rộng, phát triển sản xuất, trao đổi hàng hóa: Tiền tệ là chất
xúc tác quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế. Nó đóng vai trò là trung gian trong
quá trình trao đổi hàng hóa và dịch vụ, giúp đơn giản hóa các giao dịch và thúc đẩy lưu
thông hàng hóa. Nhờ có tiền tệ, các doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn để
đầu tư vào sản xuất, mở rộng quy mô kinh doanh và nâng cao năng suất. Tiền tệ cũng
giúp phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả hơn thông qua cơ chế giá cả, tạo điều kiện cho
sự cạnh tranh và phát triển kinh tế.
- Là phương tiện thực hiện, mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế: Trong bối cảnh
toàn cầu hóa, tiền tệ là công cụ không thể thiếu để thực hiện các giao dịch thương mại và
đầu tư quốc tế. Nó giúp các quốc gia thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu, cũng
như nhận thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu. Tiền tệ cũng tạo điều kiện cho
các nhà đầu tư dễ dàng đầu tư vào các dự án và doanh nghiệp ở nước ngoài, thúc đẩy sự
hợp tác và phát triển kinh tế giữa các quốc gia. Ngoài ra, tiền tệ còn được sử dụng để
cung cấp viện trợ quốc tế, giúp các quốc gia giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội.
- Là phương tiện phục vụ mục đích của người sở hữu: Đối với mỗi cá nhân, tiền tệ
là công cụ để thực hiện các mục tiêu tài chính của mình. Nó có thể được sử dụng để mua
sắm hàng hóa và dịch vụ, thanh toán các khoản nợ, đầu tư vào các tài sản khác nhau và
tích lũy giá trị cho tương lai. Tiền tệ mang lại sự linh hoạt và tự do cho người sở hữu, cho
phép họ đưa ra các quyết định tài chính phù hợp với nhu cầu và mong muốn của mình.
Đồng thời, tiền tệ cũng là một thước đo giá trị, giúp người sở hữu đánh giá và so sánh giá
trị của các tài sản và hàng hóa khác nhau. 1.2.1. Hóa tệ
Hóa tệ là loại tiền tệ bằng hàng hóa. Hàng hóa này dần dần trở thành loại hàng hóa
đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung và được sử dụng thường xuyên để trao đổi với
những hàng hóa khác. Đấy chính là hình thái đầu tiên của tiền tệ và được sử dụng trong một thời gian dài.
Tùy theo đặc điểm của từng địa phương, từng vùng, từng khu vực, từng quốc gia
người ta lựa chọn những hàng hóa khác nhau làm tiền tệ. Nhưng nhìn chung, các loại
hàng hóa được dùng làm tiền tệ được chia làm hai loại: hàng hóa không phải kim loại và
hàng hóa kim loại. Do vậy, hóa tệ cũng bao gồm hai loại: hóa tệ không kim loại và hóa tệ kim loại:
1.2.1.1. Hóa tệ phi kim loại
Hóa tệ phi kim loại là các vật phẩm không làm từ kim loại nhưng vẫn được sử
dụng làm phương tiện trao đổi. Loại hóa tệ này thường xuất hiện trong các xã hội nguyên
thủy hoặc ở những nơi thiếu nguồn cung kim loại. Các vật phẩm này thường được chọn
từ loại hàng hóa có giá trị sử dụng cần thiết chung cho nhiều người, mang tính chất phổ
biến, đặc trưng cho địa phương, khu vực nơi diễn ra trao đổi, có thể làm từ vỏ sò, đá quý,
lông thú, gỗ, vải, hoặc thậm chí là muối.
Giá trị của hóa tệ phi kim loại thường dựa trên sự đồng thuận của cộng đồng hoặc
tính hữu dụng của vật phẩm đó. Ví dụ, vỏ sò được sử dụng làm tiền tệ ở nhiều nền văn
hóa cổ đại, đặc biệt là ở châu Phi và châu Á; còn ngày nay, một số bộ lạc ở châu Phi và
châu Úc còn dùng cá khô, thuốc lá làm vật trung gian trao đổi . Ở một số vùng lạnh, lông
thú quý hiếm được dùng làm phương tiện trao đổi, trong khi muối được coi là "vàng
trắng" và có giá trị cao ở nhiều nơi.
Tuy nhiên, hóa tệ phi kim loại thường có nhược điểm gây khó khăn cho việc trao
đổi hàng hóa. Thứ nhất, do mỗi vùng, mỗi địa phương chọn 1 hay 1 số loại hàng hóa làm
vật ngang giá chung để trao đổi trong phạm vi địa phương mình nên dẫn đến tình trạng
không đồng nhất về hình thái và chất lượng của vật ngang giá chung. Bên cạnh đó, những
vật ngang giá chung có ý nghĩa thiết thực với người dân như gia súc, lương thực,... là dễ
bị hư hỏng theo thời gian, khó vận chuyển từ nơi này đến nơi khác do cồng kềnh và khó
chia nhỏ hay gộp lại để phù hợp với các giao dịch nhỏ. Dù vậy, chúng vẫn đóng vai trò
quan trọng trong việc thúc đẩy trao đổi hàng hóa và dịch vụ trong các xã hội nguyên thủy.
1.2.1.2. Hóa tệ kim loại
Hóa tệ kim loại là các vật phẩm làm từ kim loại, thường có giá trị nội tại do bản
thân kim loại đó quý hiếm hoặc có tính ứng dụng cao. Loại hóa tệ này được sử dụng rộng
rãi trong lịch sử và là tiền thân của tiền xu ngày nay. Các kim loại phổ biến được dùng
làm hóa tệ bao gồm vàng, bạc và đồng. Những kim loại này có giá trị cao do độ quý
hiếm, tính thẩm mỹ và khả năng chống ăn mòn.
Một đặc trưng quan trọng để phân biệt với đồng tiền kim loại khác là giá trị danh
nghĩa của hóa tệ kim loại khi xuất xưởng luôn bằng giá trị nội tại của nó. Ví dụ như giá
trị ghi danh trên mặt đồng tiền vàng phải bằng trọng lượng đồng cân của đồn tiền đó khi xuất xưởng.
Một đặc điểm nổi bật của hóa tệ kim loại là độ bền cao, giúp chúng có thể lưu
thông trong thời gian dài mà không bị hư hỏng. Ngoài ra, kim loại có thể được nấu chảy
và đúc thành các kích thước, trọng lượng khác nhau, phù hợp với các mệnh giá khác
nhau. Ví dụ, vàng và bạc thường được dùng để đúc tiền xu có giá trị cao, trong khi đồng
được sử dụng cho các đồng tiền có mệnh giá nhỏ hơn. 1.2.2. Tín tệ
1.2.2.1. Tín tệ kim loại
Tiền bằng kim loại thuộc hình thái tín tệ khác với kim loại tiền tệ thuộc hình thái
hoá tệ. Ở hình thái này giá trị nội tại của kim loại thường không phù hợp với giá trị danh
nghĩa của nó. Ở thời kz đầu của tín tệ kim loại, các kim loại có giá trị cao như vàng, bạc
được sử dụng làm tín tệ kim loại. Tuy nhiên, khi việc khai thác những kim loại này ngày
càng khó khăn, giá trị những kim loại này ngày càng cao, dẫn đến việc phát hành và lưu
hành đồng tín tệ là vàng và bạc cũng gặp phải những khó khăn nhất định. Vì thế, cần thiết
phải có một loại tiền tệ khác thay thế cho phù hợp với yêu cầu trong trao đổi lưu thông và
thanh toán hàng hóa dịch vụ. Ngày nay, tín tệ kim loại vẫn được sử dụng trong lưu thông
dưới dạng các loại tiền đúc bằng kim loại kém giá (tiền xu của các quốc gia).
1.2.2.2. Tiền giấy
Tiền giấy khả hoán
Tiền giấy khả hoán là loại tiền giấy được ấn định tiêu chuẩn giá cả bằng vàng và
có thể trực tiếp chuyển đổi ra vàng theo hàm lượng Nhà nước đã công bố. Tiền giấy khả
hoán được lưu hành trong chế độ bản vị vàng hối đoái, khi số lượng tiền đúc bằng vàng
trong lưu thông không đủ để làm phương tiện trao đổi, Nhà nước phát hành tiền giấy vào
lưu thông và công bố hàm kim lượng của đồng tiền. Tiền giấy khả hoán là 1 mảnh giấy
được in thành tiền để lưu hành, thay thế cho tiền bằng vàng hay tiền bằng bạc mà người
ta kí gửi ở ngân hàng. Người có loại tiền giấy này có thể đến ngân hàng để đổi lấy 1 số
lượng vàng hay một số lượng bạc tương đương với giá trị ghi trên tờ giấy được sử dụng
làm tiền vào bất cứ lúc nào mà họ cần. Như vậy, bất cứ lúc nào mọi người cũng có thể
đem tiền giấy khả hoán đó đổi lấy vàng hay bạc có giá trị tương đương với giá trị được
ghi trên tiền giấy khả hoán đó. Ở Trung Hoa từ đời Tống đã xuất hiện tiền giấy. Vì những
nhu cầu mua bán, các thương gia hình thành từng thương hội có nhiều chi nhánh ở khắp
các thị trấn lớn. Các thương gia ký thác vàng hay bạc vào hội sở của thương hội rồi nhận
giấy chứng nhận của hội sở thương hội, với giấy chứng nhận này các thương gia có thể
mua hàng ở các thị trấn khác nhau có chi nhánh của thương hội, ngoài loại giấy chứng
nhận trên triều đình nhà Tống còn phát hành tiền giấy và được dân chúng chấp nhận.
Ở Việt Nam vào cuối đời Trần, Hồ Quý Ly đã thí nghiệm cho phát hành tiền giấy.
Nhân dân ai cũng phải nộp tiền kim loại (vàng nén hoặc bạc nén) vào cho Nhà nước, cứ 1
quan tiền kim loại đổi được 2 quan tiền giấy, việc sử dụng tiền giấy của Hồ Quý Ly thất
bại vì nhà Hồ sớm bị lật đổ, dân chưa quen sử dụng tiền giấy và sai lầm khi xác định
quan hệ giữa tiền kim loại và tiền giấy (bao hàm ý nghĩa tiền giấy có giá trị thấp hơn).
Nguồn gốc của tiền giấy chỉ có thể được hiểu rõ khi xem xét lịch sử tiền tệ các
nước Châu {u. Từ đầu thế k| thứ XVII, ở Hà Lan ngân hàng Amsterdam đã cung cấp
cho những thân chủ gửi vàng vào ngân hàng những giấy chứng nhận bao gồm nhiều tờ
nhỏ. Khi cần, có thể đem những tờ nhỏ này đổi lấy vàng hay bạc tại ngân hàng. Trong
thanh toán cho người khác các giấy nhỏ này cũng được chấp nhận. Sau đó một ngân hàng
Thụy Điển tên Palmstruch đã mạnh dạn phát hành tiền giấy để cho vay. Từ đó ngân hàng
Palmstruch có khả năng cho vay nhiều hơn vốn tự có. Với nhiều loại tiền giấy được phát
hành, lưu thông tiền tệ bị rối loạn vì nhiều nhà ngân hàng lạm dụng gây nhiều thiệt hại
cho dân chúng. Do đó, vua chúa các nước phải can thiệp vì cho rằng việc đúc tiền từ xưa
là vương quyền và mặt khác việc phát hành tiền giấy là một nguồn lợi to lớn. Vương
quyền các nước Châu {u thừa nhận một ngân hàng tự có quyền phát hành tiền giấy với
những điều kiện nhất định:
+ Điều kiện khả hoán: Có thể đổi lấy bất cứ lúc nào tại ngân hàng phát hành.
+ Điều kiện dự trữ vàng làm đảm bảo: Ban đầu là 100% sau còn 40%.
+ Điều kiện phải cho Nhà nước vay không tính lãi khi cần thiết.
Tiền giấy bất khả hoán
Tiền giấy bất khả hoán (tiền phù hiệu) là tiền giấy được ấn định tiêu chuẩn giá cả
bằng pháp luật, bắt buộc lưu hành và không thể trực tiếp chuyển đổi ra vàng theo tiêu
chuẩn Nhà nước quy định.
Sự xuất hiện của tiền giấy bất khả hoán trong lịch sử đã được đánh dấu bởi hai
mốc thời gian quan trọng là Đại chiến thế giới lần thứ nhất và khủng hoảng kinh tế thế
giới 1929. Thế chiến thứ nhất đã làm cho các quốc gia tham chiến không còn đủ vàng để
đổi cho dân chúng. Nước Anh từ năm 1931 đã cư•ng chế lưu hành tiền giấy bất khả
hoán, nước Pháp năm 1936. Năm 1929, khủng hoảng kinh tế thế giới dẫn đến ở nước
Đức mọi người đua nhau rút tiền, do đó Ngân hàng Trung ương Đức đã phải dùng vàng
trả nợ nước ngoài và do đó số trữ kim gần như không còn. Tiến sĩ Schacht (1933 – 1936)
đã áp dụng chính sách tiền tài trợ bằng cách phát hành trái phiếu, để tài trợ sản xuất và
những chương trình kinh tế, xã hội lớn. Biện pháp này làm giảm 50% thất nghiệp, sản
xuất tăng 41% (1934). Từ đó, nhiều nhà kinh tế cho rằng giá trị tiền tệ không phải dựa
vào dự trữ vàng như các quan điểm trước đây.
Ngày nay các nước đều áp dụng chế độ lưu thông tiền giấy. Tiền giấy do ngân
hàng trung ương thống nhất phát hành là đồng tiền hợp pháp được lưu hành với giá trị bắt
buộc và nhà nước không thực hiện chuyển đổi tiền giấy ra vàng. Tuy nhiên, vàng vẫn
được thừa nhận là một trong những cơ sở đảm bảo của giấy bạc lưu hành cũng như là một
tiêu chuẩn để xác định tính chất mạnh, yếu của các loại tiền giấy trên thị trường quốc tế.
Tiền giấy được sử dụng làm phương tiện trao đổi ngày càng phổ biến vì những tiện lợi
như dễ mang theo trong người, dễ cất giữ. Mặt khác, việc in tiền với nhiều mệnh giá khác
nhau có thể đáp ứng cho nhu cầu trao đổi chi ly và chính xác. Tuy nhiên, bên cạnh những
ưu điểm trên, việc lưu hành tiền giấy cũng bộc lộ những nhược điểm, đó là dễ bị làm giả,
chi phí lưu thông cao vì dễ bị rách nát sau một thời gian sử dụng và tiền giấy có thể gây
ra hiện tượng lạm phát nếu phát hành một khối lượng tiền giấy quá lớn so với nhu cầu về tiền của nền kinh tế.
1.2.2.3. Bút tệ
Bút tệ hay còn gọi là tiền ghi sổ, chỉ được tạo ra thông qua hoạt động của hệ thống
ngân hàng. Không tồn tại dưới dạng vật chất hữu hình, bút tệ chỉ là những con số thể hiện
số dư trên tài khoản ngân hàng.
Bút tệ hay còn gọi là tiền ghi sổ được tạo ra khi phát tín dụng thông qua tài khoản
tại ngân hàng. Do vậy, bút tệ không có hình thái vật chất; nó chỉ là những con số trả tiền
hay chuyển tiền thể hiện trên tài khoản ngân hàng. Thực chất, bút tệ là tiền phi vật chất;
nhưng nó cũng có những tính chất giống như tiền giấy là được sử dụng trong thanh toán
qua những công cụ thanh toán của ngân hàng như: séc, lệnh chuyển tiền… mà còn có
những ưu điểm hơn hẳn tiền giấy; đó là: an toàn hơn; chuyển đổi ra tiền giấy dễ dàng;
thanh toán rất thuận tiện; kiểm nhận nhanh.
Về nguồn gốc, trong kinh tế học người ta cho rằng bút tệ xuất hiện đầu tiên tại
ngân hàng Anh vào giữa thế k| 19. Sau đó dần dần lan sang các quốc gia khác. Ngày nay,
bút tệ được sử dụng rộng rãi trong các cuộc giao dịch tại các nước công nghiệp, hậu công nghiệp.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngân hàng, quá trình thanh toán ngày nay chủ
yếu được thực hiện qua các bút toán chuyển khoản hoặc trích từ tài khoản ký thác. Việc
sử dụng bút tệ thay thế cho tiền mặt, cùng với các chứng từ thanh toán như séc, giấy
chuyển ngân, giấy nhờ thu,... đã làm đa dạng các phương thức thanh toán, đồng thời giảm
bớt chi phí lưu hành tiền giấy như in ấn, bảo quản, kiểm đếm và vận chuyển. Vì vậy, sử
dụng bút tệ được xem là xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế hiện đại.
1.2.2.4. Tiền điện tử
Trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ, tiền điện tử đang dần trở thành một
phương tiện thanh toán phổ biến và không thể thiếu trong nền kinh tế hiện đại. Đây được
xem là một bước tiến quan trọng của hệ thống tài chính, giúp giao dịch trở nên nhanh
chóng, tiện lợi và an toàn hơn.
Tiền điện tử là hình thức phát triển cao của tiền ghi sổ (bút tệ), hoạt động thông
qua các hệ thống thanh toán tự động hoặc máy rút tiền tự động (ATM). Thay vì sử dụng
tiền mặt, các giao dịch được thực hiện qua hệ thống ngân hàng trung gian, giúp tối ưu hóa
quá trình thanh toán và chi trả. Hiện nay, tiền điện tử xuất hiện dưới nhiều hình thức, phổ
biến nhất là thẻ tín dụng (Credit cards), thẻ ghi nợ (Debit cards) và các phương thức thanh toán trực tuyến.
Khi chúng ta đến một ngân hàng trung gian gửi tiền, bên cạnh việc trao cho chúng
ta một chứng thư xác nhận việc gửi tiền, ngân hàng này sẽ trao cho chúng ta một tấm card
bằng nhựa; bên trong được mã hóa điện tử và một mật mã từ 3 đến 5 con số để sử dụng.
Hai phút sau khi chúng ta gửi tiền, toàn bộ số tiền ấy cùng với mật mã và số tài khoản của
chúng ta được máy tính điện tử thông báo trên toàn hệ thống (có thể trên phạm vi các quốc gia).
Khi cần dùng tiền mặt, hoặc khi cần chuyển tiền vào tài khoản của một người nào
đó, chúng ta chỉ cần nhét tấm card ấy vào khe của máy ATM; sau khi bấm mật mã, màn
hình của máy tính ATM sẽ hiện lệnh; trong số tiền đã gửi, chúng ta có thể rút tiền hoặc
chuyển tiền qua ngân hàng.
Sau một phút, tất cả mọi việc sẽ được hoàn tất. Chúng ta sẽ có tiền mặt trong tay
hoặc đã chuyển tiền xong, mà phiếu thông báo quyết toán của máy tính in ra ngay lập tức
sau khi chúng ta rút tiền hoặc chuyển tiền. Phiếu này cho biết rõ ngày giờ đã rút tiền hoặc
chuyển tiền; số card; số tiền đã rút hoặc đã chuyển; và số tiền còn lại trong tài khoản.
Tấm card này được xem là tiền; tuy nhiên, việc xem tấm card này là một hình thái
tiền tệ vẫn chưa được thống nhất, bởi lẽ có một số quan điểm cho rằng đó chỉ là phương tiện chi trả.
Kết luận, sự phát triển của tiền điện tử là tất yếu trong thời đại số hóa, phản ánh sự
tiến bộ của nền kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, để tận dụng tối đa những lợi ích mà tiền
điện tử mang lại, chúng ta cần có các biện pháp quản lý rủi ro hợp lý và đảm bảo hệ
thống tài chính luôn vận hành một cách an toàn, hiệu quả.
Phần 2: Xu hướng sử dụng các hình thái tiền tệ tại Việt Nam hiện nay và các vấn đề đặt ra
2.1. Xu hướng sử dụng các hình thái tiền tệ ở Việt Nam hiện nay. 2.1.1 Tiền mặt
Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy sự sụt giảm đáng kể trong giao dịch rút
tiền mặt tại ATM vào đầu năm 2024 so với cùng kz năm 2023. Điều này phản ánh rõ rệt
sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng, khi người dân dần chuyển sang các phương thức thanh toán điện tử.
Việt Nam đang trải qua một cuộc chuyển đổi sâu rộng trong hệ thống thanh toán,
thể hiện qua hành trình từ "thời huy hoàng" của ATM đến sự bùng nổ của thanh toán điện
tử. Từ cuối thập niên 2000, khi các kỹ sư tin học nước ngoài được trả lương cao để thiết
kế hệ thống ATM cho ngân hàng Việt Nam, đến năm 2024 khi số lượng máy ATM giảm
1,7% và máy POS tăng trưởng hơn 32%, chúng ta chứng kiến sự thay đổi mang tính bước
ngoặt. Sự ra đời của Timo Bank năm 2015 - ngân hàng số đầu tiên tại Việt Nam - đã đánh
dấu điểm khởi đầu cho chuỗi cải cách trong hệ thống ngân hàng, bao gồm việc miễn phí
giao dịch, áp dụng định danh điện tử và thanh toán bằng mã QR. Thành quả của những
nỗ lực này là t| lệ người trưởng thành có tài khoản ngân hàng đã tăng vọt từ 40% năm
2018 lên hơn 87% vào đầu năm 2024, với nhiều ngân hàng đạt trên 95% số lượng giao
dịch được xử lý trên kênh tài chính số, trong khi thanh toán qua ví điện tử và mã QR duy
trì tốc độ tăng trưởng bình quân trên 100% mỗi năm từ 2017 đến 2023.
Mặc dù có sự bùng nổ của các phương thức thanh toán điện tử, tiền mặt vẫn đang
đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế Việt Nam. Theo báo cáo của FIS năm
2023, Việt Nam hiện là quốc gia có t| lệ thanh toán bằng tiền mặt cao thứ tư trong 40 thị
trường được khảo sát ở châu Á, với t| lệ sử dụng tiền mặt tại các điểm POS đạt 38%, so
với ví điện tử 31% và thẻ tín dụng 19%. Điều này phản ánh một thực tế rằng, như TS.
Phạm Nguyễn Anh Huy từ trường Kinh doanh thuộc Đại học RMIT đã nhận định, "tiền
mặt không thể biến mất" mà đang tồn tại song song và bổ sung cho các hình thức thanh
toán điện tử. Sự đánh đổi giữa việc sử dụng tiền mặt và thanh toán số phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, bao gồm sự tiện lợi, an toàn, và thậm chí là lòng trung thành với thương
hiệu - như trường hợp của Starbucks tại Việt Nam từ chối thanh toán bằng tiền mặt, buộc
khách hàng phải lựa chọn giữa việc chuyển sang thanh toán điện tử hoặc tìm kiếm thương
hiệu khác chấp nhận tiền mặt.
Chặng đường để Việt Nam đạt được mục tiêu giảm t| lệ tiền mặt xuống dưới 8%
trên tổng phương tiện thanh toán vào cuối năm 2025 còn nhiều thách thức, đặc biệt khi so
sánh với các quốc gia có t| lệ sử dụng tiền mặt thấp nhất thế giới như New Zealand (6%),
Úc và Trung Quốc (7%), hay Hàn Quốc (10%). Tuy nhiên, xu hướng giảm sử dụng tiền
mặt tại Việt Nam được dự đoán là "khó có thể thay đổi hay đảo ngược", đặc biệt đối với
thế hệ Gen Z. Không giống như hiện tượng Cash Out Day ở Úc - một sự kiện đơn lẻ phản
đối sự phụ thuộc vào thanh toán điện tử - xu hướng thanh toán không tiền mặt tại Việt
Nam đang được thúc đẩy mạnh mẽ bởi sự phát triển công nghệ và thay đổi trong hành vi
tiêu dùng. Điều này được minh chứng qua sự cải thiện liên tục trong hạ tầng thanh toán
số, với việc giảm số lượng máy ATM đi đôi với sự gia tăng đáng kể của các điểm chấp
nhận thanh toán điện tử, phản ánh một hành trình không ngừng tiến về phía xã hội không tiền mặt tại Việt Nam.
Ông Nguyễn Hoàng Long, Phó tổng giám đốc NAPAS cho biết: “Trong các tuần
đầu năm 2025, so với cùng kz năm ngoái, số lượng giao dịch qua NAPAS tăng khoảng
13-15%. Hiện nay, giao dịch chạy qua hệ thống NAPAS trong ngày cao điểm khoảng 35
triệu giao dịch/ngày. Lượng giao dịch chuyển tiền qua quét mã QR tăng mạnh, thể hiện
nhu cầu chuyển tiền, thanh toán của người dân. Đặc biệt, xu hướng rút tiền đều thấy sụt
giảm. So với cùng kz năm trước, giao dịch rút tiền qua máy ATM giảm gần 20%. Đây là
xu hướng rất tốt, mọi người đã thực hiện thanh toán thông qua luôn tài khoản ngân hàng,
thay vì rút tiền mặt để chi tiêu như trước đây”.
Ông Phạm Tiến Dũng - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phát biểu về chủ đề
này tại “Hội thảo Thúc đẩy hoạt động thẻ và Xu hướng thanh toán tương lai” cho biết,
hiện nay thanh toán tiền mặt và thanh toán thẻ đã có mặt trong mọi lĩnh vực sản xuất kinh
doanh, cung cấp dịch vụ và trong đời sống hàng ngày.
Mặc dù xu hướng thanh toán không tiền mặt đang phát triển, tiền mặt vẫn là
phương thức thanh toán phổ biến, đặc biệt ở khu vực nông thôn và trong các giao dịch
nhỏ lẻ và có phần chiếm ưu thế hơn trong các giao dịch.
Từ cuối năm 2016, khi Chính phủ ban hành Đề án phát triển thanh toán không
dùng tiền mặt giai đoạn 2016 - 2020, loại hình thanh toán này đã bắt đầu được sử dụng
nhiều hơn. Đến đầu năm 2020, khi dịch Covid 19 bắt đầu diễn biến phức tạp, thanh toán
điện tử đã thực sự “bùng nổ”, mang lại sự nhanh gọn và tiện lợi cho các giao dịch tài
chính, thương mại của cả cá nhân và doanh nghiệp. Với định hướng của Chính phủ, xu
hướng thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam đang ghi nhận những thay đổi tích
cực khi các phương thức thanh toán mới phủ sóng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày
của người dân. Hình thức thanh toán mới đã phủ sóng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày
của người dân. Từ các trung tâm mua sắm, cửa hàng, quán ăn, tới các tiệm nhỏ, chợ
truyền thống đều áp dụng các phương thức thanh toán điện tử. Người dùng có thể dễ dàng
sử dụng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, chuyển khoản, quét mã QR... để thanh toán nhanh
chóng, an toàn mà không cần mang theo tiền mặt.
2.1.2 Bút tệ và tiền điện tử
Tại Việt Nam, xu hướng thanh toán đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng
hạn chế sử dụng tiền mặt. Người dân, đặc biệt là ở các đô thị lớn, ngày càng quen thuộc
với các phương thức thanh toán điện tử. Các ngân hàng và đơn vị cung cấp ví điện tử
cũng đang tích cực khuyến khích hình thức thanh toán này bằng nhiều chương trình ưu đãi hấp dẫn.
Việc thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) đang trở thành một xu thế tất
yếu trên toàn cầu, và Việt Nam không nằm ngoài xu hướng này. Nhận thức được vai trò
quan trọng của TTKDTM, cuối năm 2016, Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển
TTKDTM giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định số 2545/QĐ-TTg.
Mục tiêu của TTKDTM là tăng cường tính bảo mật, an toàn trong giao dịch, nâng
cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng cũng như quản lý nhà nước. Đồng thời,
việc này còn giúp minh bạch hóa các giao dịch tài chính, hỗ trợ công tác phòng chống
tham nhũng, tội phạm kinh tế, rửa tiền và tài trợ khủng bố.
Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam: ●Năm 2020
Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ, TTKDTM tại Việt Nam đã có những bước
phát triển đáng kể từ năm 2018 và tiếp tục ghi nhận sự tăng trưởng vào năm 2019.
Trước tốc độ phát triển mạnh mẽ của TTKDTM, trong năm 2020, Ngân hàng Nhà
nước (NHNN) đã yêu cầu các chi nhánh trên toàn quốc thúc đẩy việc áp dụng hình
thức thanh toán này, đặc biệt trong các lĩnh vực y tế và giáo dục. Các trường học,
bệnh viện đã được trang bị thiết bị hỗ trợ thanh toán bằng thẻ, mã QR, giúp phụ
huynh, sinh viên và bệnh nhân có thể thanh toán dễ dàng qua thiết bị di động hoặc
thẻ ngân hàng, tương tự như hình thức thanh toán tại siêu thị.
Theo NHNN, Việt Nam có 78 tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán qua Internet và
45 tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán di động. Theo số liệu từ Cục Thương mại
điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), giao dịch trực tuyến qua Internet và di
động đã tăng đến 238% về giá trị.
Tuy nhiên, tiền mặt vẫn chiếm t| trọng lớn trong giao dịch tại Việt Nam, với
khoảng 90% giao dịch vẫn được thực hiện bằng tiền mặt. Điều này cho thấy t| lệ
TTKDTM chỉ chiếm khoảng 10% - thấp hơn nhiều so với mục tiêu hơn 30% mà
Chính phủ đặt ra vào năm 2020.
Thống kê từ NHNN cũng cho thấy chỉ khoảng 31% người dân có tài khoản ngân
hàng, trong khi 69% còn lại - chủ yếu ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa - vẫn
chưa tiếp cận được dịch vụ này. Đây là một thách thức lớn cần giải quyết vì sở
hữu tài khoản ngân hàng là điều kiện tiên quyết để có thể sử dụng các phương thức
TTKDTM. Ngay cả với những người có tài khoản ngân hàng, hình thức thanh toán
khi nhận hàng (COD) vẫn là lựa chọn phổ biến nhất khi mua sắm trực tuyến. ●Năm 2021
Theo NHNN, t| lệ sử dụng tiền mặt tại Việt Nam tiếp tục giảm trong năm 2021.
Cụ thể, tổng giá trị thanh toán bằng tiền mặt chỉ còn chiếm khoảng 14,02% tổng
giá trị thanh toán toàn thị trường, giảm so với mức 16,37% của năm 2020.
Cùng với đó, số lượng thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ tăng 13,73% so với năm trước,
phản ánh xu hướng dịch chuyển từ thanh toán tiền mặt sang các phương thức hiện
đại như thẻ ngân hàng, ví điện tử và mobile banking. ●Năm 2022
Báo cáo từ Vụ Thanh toán (NHNN) cho thấy trong năm 2022, các phương tiện
thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển nhanh chóng, đặc biệt là các
dịch vụ thanh toán điện tử qua Internet và điện thoại di động, thu hút lượng lớn người dùng.
T| lệ giao dịch rút tiền mặt đã giảm từ 12% vào năm 2021 xuống còn 6,56% vào
năm 2022. Trước đó, t| trọng giao dịch rút tiền mặt qua hệ thống NAPAS cũng
giảm từ 26% năm 2020 xuống 12% năm 2021.
Trong khi đó, thanh toán điện tử tiếp tục tăng trưởng mạnh:
+ Tổng số lượng giao dịch tăng 96,5%, tổng giá trị giao dịch tăng 87,3% so với năm 2021.
+ T| trọng giao dịch thẻ chip qua hệ thống NAPAS tăng từ 26% (2021) lên hơn 60% (2022).
+ Giao dịch qua Internet tăng 89,36% về số lượng và 40,55% về giá trị.
+ Giao dịch qua điện thoại di động tăng 116,1% về số lượng và 92,3% về giá trị.
+ Thanh toán qua QR Code đạt hơn 59,6 triệu giao dịch, tổng giá trị trên 58,4
nghìn t| đồng, tăng lần lượt 182,5% và 210,6% so với năm trước.
+ Giao dịch qua POS đạt hơn 564,54 triệu lượt, giá trị gần 932,93 nghìn t| đồng,
tăng lần lượt 53,57% và 48,78% so với năm 2021.
Đáng chú ý, phương thức định danh điện tử (eKYC) đã giúp khoảng 18,8 triệu tài
khoản ngân hàng được mở trực tuyến. Theo báo cáo của NHNN, đến nay có 20 ngân
hàng triển khai mở thẻ trực tuyến theo quy định của Thông tư số 17/2021/TT-NHNN, với
hơn 13,2 triệu thẻ đang hoạt động. ●Năm 2023
Trong 3 tháng đầu năm 2023 so với cùng kz năm 2022, hoạt động thanh toán
không dùng tiền mặt tiếp tục tăng trưởng khá. Số lượng giao dịch qua hệ thống
thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng 8,55% về giá trị; số lượng giao dịch qua hệ
thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử tăng 70,77% về số lượng và tăng
18,55% về giá trị”, ông Phạm Anh Tuấn (Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước cho biết).
Đến cuối tháng 3/2023, toàn thị trường có 21.347 máy ATM và có 430.625 máy
POS; tăng tương ứng 3,88% và 26,34% so với cùng kz năm 2022. Số lượng giao
dịch qua POS tăng 37,57% về số lượng và tăng 32,09% về giá trị, giao dịch qua
ATM tiếp tục giảm 2,37% về số lượng và giảm 4,02% về giá trị, cho thấy xu
hướng dịch chuyển từ rút tiền mặt sang thanh toán không dùng tiền mặt. ●Năm 2024
Cũng trong báo cáo của Ngân hàng Nhà nước đầu năm 2024, các kênh thanh toán
điện tử đang dẫn đầu xu hướng Cashless bao gồm ngân hàng internet (tăng
57,85% về số lượng và 32,43% về giá trị) và ngân hàng di động (tăng 68,54% về
số lượng và 41,12% về giá trị). Đặc biệt, thanh toán bằng mã QR bùng nổ với mức
tăng trưởng 892,95% về số lượng và 1.062,01% về giá trị.
Sau khi công bố số liệu trên, đại diện của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa ra
nhận xét rằng, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt đang chứng kiến sự phát
triển bùng nổ chưa từng có. Từ siêu thị, nhà hàng, cửa hàng đến chợ dân sinh,
thậm chí cả quán trà đá vỉa hè, người dùng dễ dàng bắt gặp các hình thức thanh
toán không dùng tiền mặt đa dạng. Trong số đó, QR Code nổi lên như phương
thức thống trị thị trường với tốc độ tăng trưởng phi mã về cả số lượng và giá trị
giao dịch. Năm sau luôn ghi nhận mức tăng trưởng cao hơn nhiều lần so với năm trước.
Trong năm 2024, thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam đạt hơn 17 t| giao
dịch. Một số đơn vị trung gian cũng triển khai các giải pháp thanh toán số cho các
cửa hàng nhỏ, hộ kinh doanh để tiết giảm chi phí vận hành. Hiện đã có đến 10.000
điểm thanh toán sử dụng giải pháp này. Trong thời gian tới, đơn vị cung cấp dịch
vụ thanh toán tiếp tục phát triển phần mềm, như thêm tính năng thanh toán qua mã QR cho người dùng.
2.2. Các vấn đề đặt ra về sử dụng tiền tại Việt Nam 2.2.1 Rủi ro an toàn
Rủi ro liên quan đến bảo mật và gian lận
Một trong những rủi ro lớn nhất đối với thanh toán không dùng tiền mặt là bảo
mật. Mặc dù các ngân hàng và các tổ chức thanh toán luôn cố gắng cải thiện hệ thống bảo
mật, nhưng sự gia tăng của các giao dịch điện tử đồng nghĩa với việc có nhiều cơ hội hơn
cho các hacker và các nhóm tội phạm mạng tấn công hệ thống thanh toán. Việc gian lận
có thể xảy ra qua việc lừa đảo người dùng để lấy thông tin tài khoản ngân hàng hoặc mã
OTP, thậm chí là tấn công vào các hệ thống thanh toán để đánh cắp tiền của người dùng.
Các hình thức gian lận có thể bao gồm:
+ Tội phạm sử dụng chiêu trò gọi điện hoặc gửi email giả mạo các ngân hàng để
yêu cầu người dùng cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng, mật khẩu, mã OTP,
từ đó thực hiện các giao dịch trái phép.
+ Tấn công mạng vào hệ thống thanh toán với các giao dịch được thực hiện trực
tuyến qua các nền tảng và ví điện tử, tấn công DDoS (tấn công từ chối dịch vụ) và
hack vào các hệ thống này để chiếm đoạt tài sản là một mối nguy hiểm thường xuyên.
+ Các ứng dụng thanh toán giả mạo hoặc không rõ nguồn gốc có thể đánh cắp
thông tin tài khoản người dùng khi cài đặt và sử dụng.
Rủi ro về quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu cá nhân
Trong khi thanh toán không dùng tiền mặt mang lại sự tiện lợi trong việc thực hiện
giao dịch, nó cũng khiến người dùng dễ dàng bị xâm phạm quyền riêng tư và bảo mật
thông tin cá nhân. Các phương thức thanh toán điện tử yêu cầu người dùng cung cấp
thông tin nhạy cảm như tên, địa chỉ, số điện thoại, số tài khoản ngân hàng, mã OTP,...
Nếu các thông tin này bị rò rỉ hoặc bị lạm dụng, người dùng sẽ gặp phải các vấn đề
nghiêm trọng, như bị lừa đảo, mất tài sản, hoặc bị tấn công tống tiền.
Điều này cũng đặt ra câu hỏi về việc bảo vệ dữ liệu người dùng trong các hệ thống
thanh toán. Mặc dù các ngân hàng và các tổ chức thanh toán thực hiện các biện pháp bảo
vệ dữ liệu, nhưng nếu không có sự quản lý chặt chẽ và minh bạch, các tổ chức có thể trở
thành mục tiêu của các vụ rò rỉ dữ liệu lớn.
Rủi ro liên quan đến sự phát triển của mã QR và các phương thức thanh toán mới.
Một trong những xu hướng nổi bật trong thanh toán không dùng tiền mặt là việc
sử dụng mã QR để thanh toán. Mặc dù đây là phương thức thanh toán tiện lợi và nhanh
chóng, nhưng nó cũng tiềm ẩn một số rủi ro an toàn.
Tội phạm có thể in mã QR giả mạo hoặc thay thế mã QR hợp pháp bằng mã QR
của riêng họ để thu tiền từ khách hàng. Khi người dùng quét mã QR này, họ có thể
chuyển tiền vào tài khoản của kẻ gian mà không nhận ra.
Các hệ thống thanh toán dựa trên mã QR có thể bị tấn công bởi các phần mềm độc
hại hoặc virus, làm giả mạo mã QR hoặc thay đổi nội dung của mã QR trước khi người
dùng thực hiện thanh toán.
Rủi ro lỗi hệ thống
Một trong những yếu tố quan trọng để việc thanh toán không dùng tiền mặt phát
triển là hạ tầng công nghệ. Tuy nhiên, nếu hệ thống này không được duy trì, bảo trì và
nâng cấp đúng mức, các sự cố kỹ thuật có thể xảy ra. Ví dụ, nếu có sự cố với hệ thống
thanh toán của các ngân hàng, các giao dịch có thể bị gián đoạn, gây mất lòng tin từ
người sử dụng và thiệt hại tài chính. Nguyên nhân có thể do đường truyền mạng không
ổn định, hệ thống thanh toán bảo trì hoặc quá tải dẫn tới giao dịch bị lỗi.
Ngoài ra, sự phát triển mạnh mẽ của ví điện tử và các ứng dụng thanh toán trên di
động khiến các tổ chức cần phải đảm bảo tính ổn định và liên tục của hệ thống. Nếu
không có hệ thống bảo mật vững chắc và các cơ chế khôi phục khi có sự cố, các giao dịch
có thể gặp phải lỗi, dẫn đến mất mát tiền bạc của người sử dụng.
Rủi ro từ việc thiếu sự hiểu biết và phổ cập của người dùng
Mặc dù thanh toán không dùng tiền mặt đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam,
nhưng vẫn còn một bộ phận lớn người dân chưa hiểu rõ về các phương thức thanh toán