TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ
HỌC PHẦN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
“Xu hướng sử dụng các hình thái tiền tệ trong thực tiễn Việt Nam
hiện nay các vấn đề đặt ra?”
Nhóm:
Lớp học phần:
Giáo viên hướng dẫn:
Nội, năm 2025
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................8
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC HÌNH THÁI TIỀN TỆ TRONG
NỀN KINH TẾ HIỆN ĐẠI...................................................10
1.1. Khát quát chung về tiền tệ........................................10
1.1.1. Khái niệm về tiền.................................................10
1.1.2. Chức năng của tiền tệ..........................................10
1.1.2.1. Chức năng thước đo giá trị............................10
1.1.2.2. Chức năng phương tiện trao đổi thanh toán
...........................................................................................11
1.1.2.3. Chức năng phương tiện cất trữ/ tích lũy giá tr
...........................................................................................12
1.1.3. Vai trò của tiền tệ................................................12
1.1.3.1. Tiền tệ phương tiện để mở rộng phát triển
sản xuất trao đổi hàng hóa............................................12
1.1.3.2. Tiền tệ phương tiện để thực hiện mở rộng
các quan hệ hợp tác quốc tế..............................................13
1.1.3.3. Tiền tệ phương tiện phục vụ mục đích của
người sở hữu chúng............................................................13
1.2. Các hình thái tiền tệ trong nền kinh tế Việt Nam hiện
nay...........................................................................................13
1.2.1. Hoá tệ..................................................................13
1.2.1.1. Hoá tệ phi kim loại........................................13
1.2.1.2. Hóa tệ kim loại..............................................14
1.2.2. Tín tệ...................................................................15
3
1.2.2.1. Tín tệ kim loại................................................16
1.2.2.2. Tiền giấy........................................................16
1.2.2.3. Bút tệ............................................................18
1.2.2.4. Tiền điện t...................................................19
PHẦN 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC HÌNH THÁI TIỀN TỆ
VIỆT NAM HIỆN NAY.......................................................20
2.1. Thực trạng s dụng các hình thái tiền tệ Việt Nam
hiện nay...................................................................................20
2.1.1. Khái quát chung về các hình thái tiền tệ hiện nay
.............................................................................................. 20
2.1.2. Thực trạng s dụng các hình thái tiền tệ Việt
Nam hiện nay........................................................................20
2.1.2.1. Tiền mặt........................................................20
2.1.2.2. Thanh toán không dùng tiền mặt..................25
2.2 Xu hướng sdụng các hình thái tiền tệ Việt Nam hiện
nay...........................................................................................32
2.2.1. Tiền mặt..............................................................32
2.2.2. Bút tệ Tiền điện t..........................................34
2.2.2.1. Bút tệ............................................................34
2.2.2.2. Tiền điện t...................................................36
2.2.3. Tiền kỹ thuật số...................................................38
2.3. Các vấn đề đặt ra về sdụng tiền tại Việt Nam.........41
2.3.1. Rủi ro an toàn......................................................41
2.3.2. Quản tiền tệ.....................................................45
2.3.3 Sự thay đổi giá trị tiền tệ......................................48
2.3.4. Chi phí phí giao dịch.......................................50
4
2.3.5. Tính tiện lợi đồng bộ.......................................53
KẾT LUẬN......................................................................56
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................57
5
MỞ ĐẦU
I. do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa cách mạng công nghệ 4.0
đang diễn ra mạnh mẽ, lĩnh vực tài chính tiền tệ Việt Nam đã
đang chứng kiến sự thay đổi sâu sắc trong các hình thái tiền tệ. Từ
việc sdụng hóa tệ, tín tệ đến bút tệ tiền điện t, phương thức
thanh toán ngày càng hiện đại, tiện lợi an toàn hơn. Đặc biệt,
xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt đang được Chính phủ
khuyến khích mạnh mẽ thông qua nhiều chính sách đề án quốc
gia. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn, sự chuyển đổi này
cũng đặt ra nhiều vấn đề như an toàn bảo mật, chênh lệch hạ
tầng công nghệ giữa các vùng miền thói quen sdụng tiền mặt
truyền thống của người dân.
Xuất phát từ thực tiễn trên, nhóm chúng em lựa chọn đề tài
“Xu hướng sử dụng các hình thái tiền tệ trong thực tiễn
Việt Nam hiện nay các vấn đề đặt ra” nhằm tìm hiểu rõ
hơn về sự thay đổi trong hành vi thanh toán của người Việt, đánh
giá thực trạng phát triển của các hình thái tiền tệ.
II. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với mục tiêu tổng quát phân tích đánh giá xu
hướng sử dụng các hình thái tiền tệ trong thực tiễn Việt Nam hiện nay, từ đó ch
ra những hội, thách thức đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao
hiệu quả sử dụng tiền tệ trong nền kinh tế số. Cụ thể mục tiêu của bài nghiên cứu:
- Hệ thống hóa sở luận về các hình thái tiền tệ trong
nền kinh tế thị trường hiện đại.
- Phân tích thực trạng s dụng các hình thái tiền tệ tại Việt
Nam hiện nay, đặc biệt xu hướng chuyển dịch từ tiền mặt sang
thanh toán không dùng tiền mặt.
6
- Làm những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển các
hình thái tiền tệ, bao gồm rủi ro an toàn, bảo mật, sự thay đổi giá
trị tiền tệ chi phí giao dịch.
III. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các hình thái tiền tệ đang được s
dụng trong nền kinh tế Việt Nam (bao gồm tiền mặt, bút tệ, tiền
điện t, tiền kỹ thuật số, v.v.) hành vi sdụng tiền tệ của người
dân, doanh nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Nghiên cứu tập trung tại Việt Nam, tham
khảo kinh nghiệm quốc tế để so sánh.
- Thời gian: Phân tích số liệu, xu hướng giai đoạn 2020–2025,
đồng thời dự báo triển vọng đến năm 2030.
- Nội dung: Tập trung vào xu hướng s dụng, những thay đổi
trong hành vi thanh toán các vấn đề phát sinh trong quá trình
chuyển đổi từ tiền mặt sang các hình thái tiền tệ hiện đại.
IV. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, nhóm s dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp: tổng hợp thuyết về
các hình thái tiền tệ hệ thống hóa các khái niệm liên quan.
- Phương pháp thống so sánh: phân tích số liệu của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức tài chính báo cáo nghiên
cứu về xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt.
- Phương pháp tả đánh giá: tả thực trạng s dụng
tiền tệ Việt Nam, từ đó rút ra xu hướng, ưu điểm, hạn chế các
vấn đề đặt ra.
- Phương pháp dự báo: đưa ra những nhận định định
hướng phát triển trong tương lai của các hình thái tiền tệ.
V. Kết cấu bài nghiên cứu
7
Ngoài phần mở đầu kết luận tài liệu tham khảo, bài tiểu,
luận gồm hai chương chính:
Chương 1: Tổng quan về các hình thái tiền tệ trong nền kinh
tế hiện đại.
Chương 2: Thực trạng xu hướng s dụng các hình thái
tiền tệ Việt Nam hiện nay, cùng những vấn đề đặt ra.
8
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC HÌNH THÁI TIỀN TỆ
TRONG NỀN KINH TẾ HIỆN ĐẠI
1.1. Khát quát chung về tiền tệ
1.1.1. Khái niệm về tiền
K.Mark (1818-1883) dưới cái nhìn của một nhà biện chứng
duy vật đã nghiên cứu nguồn gốc ra đời của tiền qua sự phát triển
các hình thái giá trị ông đã khẳng định: tiền nguồn gốc từ
hàng hóa, từ thế giới hàng hóa tách ra. Theo quan điểm của
K.Mark, tiền tệ được định nghĩa như sau: Tiền tệ một loại hàng
hóa đặc biệt, tách ra khỏi thế giới hàng hóa, được dùng làm vật
ngang giá chung để đo lường biểu hiện giá trị của tất cả các
hàng hóa khác thực hiện trao đổi giữa chúng.
Cũng như các hàng hóa khác, tiền tệ hai thuộc tính: giá trị
giá trị s dụng. Với vai trò trung gian trong trao đổi hàng
hóa, thể trao đổi với tất cả các hàng hóa khác thì lúc này tiền
tệ khả năng giúp con người thỏa mãn mọi nhu cầu s dụng.
Như vậy, K.Mark nhận xét: “giá trị s dụng của hàng hóa bắt đầu
từ lúc rút ra khỏi lưu thông, còn giá trị s dụng của tiền tệ với
cách phương tiện lưu thông lại chính sự lưu thông của nó”.
1.1.2. Chức năng của tiền tệ
Trong học thuyết của K.Mark, ông cho rằng vàng trong vai
trò vật ngang giá chung thể thực hiện các chức năng
1.1.2.1. Chức năng thước đo giá trị
Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền tệ trở thành
một “tiêu chuẩn” để đo lường hao phí lao động hội kết tinh
trong các hàng hóa. Để thực hiện chức năng này, tiền phải
những điều kiện sau:
- Tiền phải đầy đủ giá trị. Khi tiền được s dụng làm thước
đo giá trị của các hàng hóa khác thì bản thân tiền đó phải mang
9
giá trị đầy đủ để thể lấy giá trị của tiền so sánh với giá trị của
các hàng hóa còn lại.
- Tiền phải tiêu chuẩn giá cả: còn gọi hàm kim lượng
của dồng tiền.
Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền tệ đã chuyển
giá trị hàng hóa thành giá cả hàng hóa, cho thấy mối tương quan
giữa giá trị tiền tệ, giữa giá trị hàng hóa giá cả hàng hóa. Thực
chất giá cả hàng hóa tỷ lệ so sánh giữa giá trị của với giá trị
tiền tệ. Chính thế giá cả của hàng hóa tỷ lệ thuận với giá trị
của hàng hóa tỷ lệ nghịch với giá trị tiền tệ.
Trong nền kinh tế thị trường vận dụng chức năng này của
tiền tệ đã giúp cho các doanh nghiệp thể hạch toán tổng hợp
chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm qua đó đánh giá hiệu
quả kinh doanh để chọn hướng đầu thích hợp. Hơn nữa, tầm
trong hệ thống kế toán quốc gia, đồng tiền với chức năng
thước đo giá trị đã được vận dụng để tính toán tổng mức GDP,
GNP trong từng thời kỳ. Từ đó, ngoài việc phục vụ cho quá trình
phân phối tổng sản phẩm quốc dân, tiền còn giúp chúng ta đánh
giá hiệu quả nền kinh tế để biện pháp tận dụng những nguồn
tài nguyên quốc gia phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước.
1.1.2.2. Chức năng phương tiện trao đổi thanh toán
Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi thanh
toán khi xuất hiện trong lưu thông với cách làm môi giới
trung gian cho quá trình trao đổi hàng hoá phương tiện để
thực hiện quan hệ thanh toán các khoán nợ các nghĩa vụ tài
chính.
Sự tham gia của tiền tệ vào quá trình trao đổi hàng hoá đã
cho phép thay thế phương thức trao đổi hiện vật trực tiếp (H-H’)
bằng phương thức trao đổi gián tiếp thông qua tiền (H-T-H’). Khi
tiền thực hiện chức năng này, quá trình trao đồi hàng hoá được
tách thành hai giai đoạn riêng biệt bán mua. Hai giai đoạn
10
này thể được thực hiện hoàn toàn độc lập nhau, tách rời nhau
về không gian thời gian. Khi nền kinh tế - hội càng phát
triển, nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng mở rộng, nhưng không
phải lúc nào các chủ thể tham gia vào quan hệ trao đồi cùng đủ
lượng tiền cần thiết. Chính vậy, đã nảy sinh hiện tượng mua bán
chịu hàng hóa, từ đó. Để thực hiện việc trà nợ. người ta đã s
dụng tiền làm phương tiện thanh toán. Nói cách khác, tiền tệ đã
thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, lúc này, người ta nói
tiền tệ vận động độc lập tương đối về mặt giá trị so với hàng hóa.
Khi thực hiện chức năng phương tiện lưu thông thanh
toán, tiền tệ phải những diều kiện sau đây:
- Phải sức mua ổn định hoặc không suy giảm quá nhiều
trong 1 khoảng thời gian nhất định.
- Số lượng tiền tệ phải được cung ứng đẩy đủ cho nhu cầu lưu
thông hàng hóa trong nền kinh tế.
1.1.2.3. Chức năng phương tiện cất trữ/ tích lũy giá trị
Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện cất trữ giá trị khi
tạm thời rút khỏi lưu thông tồn tại dưới dạng giá trị dự trữ để đáp
ứng cho nhu cầu mua sắm, chi trả trong ơng lai.
Để thực hiện chức năng phương tiện cất trữ, tiền tệ phải thỏa
mãn các điều kiện sau đây:
- Tiền phải giá trị nội tại (tiền đủ giá) hoặc phải sức mua
ổn đnh, lâu i.
- Giá trị dự trữ phái được thể hiện bằng những phương tiện
hiện thực được hội thừa nhận. Hay nói cách khác, phải thể
hiện bằng tiền mặt hoặc các phương tiện chuyền tải giá trị khác.
Khi thực hiện chức năng phương tiện cất trữ. Tiền trạng thái
không vận động, không phục vụ cho quá trình lưu thông hàng hoá,
như vậy đối lập với tính chất của tiền trong chức năng phương tiện
lưu thông. Trong điều kiện lưu thông tiền vàng hay bản vị vàng,
việc thực hiện chức năng cất trữ của tiền đã tác dụng điều hoà
11
khối lượng tiền trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu của lưu thông
hàng hoá.
1.1.3. Vai trò của tiền tệ
1.1.3.1. Tiền tệ phương tiện để mở rộng phát triển sản
xuất trao đổi hàng hóa
Tiền tệ công cụ thúc đẩy sản xuất trao đổi hàng hoá
(trong nước ngoài nước) phát triển lên mức cao hơn những
do sau:
- Nhờ chức năng thước đo giá trị, giá trị của hàng hoá
dược biểu hiện một cách đơn giản. Nghĩa là, giá trị của các hàng
hoá dều được biểu hiện bằng tiền, do chúng thể so sánh dễ
dàng với nhau. Tn sở nảy, người lao động cỏ thể so sánh được
với nhau về mức độ trình độ lao động mình đã bỏ ra cho hội
trong một đơn vị thời gian.
- Nhờ chức năng phương tiện thanh toán, đã làm cho sự trao
đổi hàng hoá không bị ràng buộc về không gian thời gian, làm
cho hàng hoá di từ nơi sản xuất dến nơi tiêu dùng một cách trôi
chảy hơn.
- Nhờ chức năng phương tiện cất trữ của tiền tệ, việc hạch
toán tính toán hiệu quả kinh doanh trờ nên thuận tiện đầy
đù; quá trình tích lũy tiền tệ được thực hiện để mở rộng quy
sản xuất kinh doanh.
1.1.3.2. Tiền tệ phương tiện để thực hiện mở rộng các
quan hệ hợp tác quốc tế
Trong điều kiện nền KTTT, tiền tệ không chỉ phương tiện để
mở rộng phát triển quá trình sản xuất trao đổi hàng hóa
trong ngoài nước còn phương tiện quan trọng để thực
hiện mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực
khác như chính trị, văn hóa, hội,... Nhờ tiền, mối quan hệ
nhiều mặt giữa các quốc gia trên thế giới sẽ được hình thành
phát triển, làm cho xu thế hòa nhập trong các lĩnh vực kinh tế -
12
hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, hợp tác khoa học kỹ thuật,... giữa
các nước ngày càng sâu rộng.
1.1.3.3. Tiền tệ phương tiện phục vụ mục đích của người sở
hữu chúng
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hầu như mọi quan hệ kinh
tế - hội đều bị tiền tệ hoá, mọi nhân, tổ chức, quan... đều
không thể thoát ly khỏi các quan hệ tiền tệ. Trong điều kiện đó,
tiền tệ trở thành công cụ để x mọi ràng buộc phát sinh trong
nền kinh tế - hội (trong ngoài nước), đồng thời tất cả các
hành vi kinh tế trong nền kinh tế hiện nay đều hướng đến 1 mục
đích duy nhất , đó chính lợi nhuận (là tiền). Bên cạnh đó, thực tế
đã chứng minh, tiền tệ công cụ hữu hiệu giúp các chủ thể trong
nền kinh tế - hội đạt được các mục đích khác nhau. Từ các
nhân, đến các tổ chức, để tồn tại, hoạt động phát triển, đều
cần nguồn lực vật chất thể hiện dưới nhiều hình thái khác nhau,
tất cả các mục đích đó đều thể được thỏa mãn thông qua
việc dùng tiền để mua săm. Thậm chí, ngay Chính phủ, để thực
hiện được các chức năng nhiệm vụ cúa mình, để khuếch trương
quyền lực chính trị của mình tạo uy tín trong lòng dân chúng,
Chính phủ cũng luôn cần đến tiền như một phương tiện hữu ích
nhất, thể giúp người s dụng tiền thỏa mãn đa dạng các
mục đích nhất.
1.2. Các hình thái tiền tệ trong nền kinh tế Việt Nam hiện
nay
1.2.1. Hoá tệ
1.2.1.1. Hoá tệ phi kim loại
Khi hoạt động sản xuất trao đổi hàng hoá ngày càng phát
triển, hình thức biểu hiện giá trị của hàng hoá trong trao đổi
không còn mang tính ngẫu nhiên. Phạm vi trao đổi đã vượt ra khỏi
giới hạn hẹp của một vài loại hàng hoá hay địa phương nhất định.
13
Sự mở rộng này đòi hỏi phải một loại hàng hoá đặc biệt
tính đồng nhất, dễ s dụng, thuận tiện trong vai trò vật ngang giá
chung, giúp việc trao đổi diễn ra nhanh chóng đảm bảo giá trị.
Khoảng 2000 năm trước Công nguyên, vật ngang giá chung
thường được lựa chọn từ những hàng hoá giá trị s dụng phổ
biến, cần thiết cho nhiều người, khả năng bảo quản lâu dài
mang đặc trưng địa phương. Trung Quốc cổ đại, người ta dùng
da cừu, vỏ trai, thóc, vải; Hy Lạp La s dụng súc vật;
người Tây Tạng Mông Cổ dùng chè; người Bắc Mỹ dùng thuốc
lá,... Thậm chí đến ngày nay, một số bộ lạc châu Phi châu Úc
vẫn còn sdụng khô hoặc thuốc làm vật trao đổi.
Tuy nhiên, những loại “hàng hoá tiền tệ” này nhiều hạn
chế, gây khó khăn trong quá trình trao đổi. Mỗi vùng, mỗi địa
phương lại chọn một loại vật ngang giá riêng, dẫn đến sự không
thống nhất về hình thức chất lượng. Hơn nữa, các vật như gia
súc, lương thực... tuy giá trị s dụng thiết thực nhưng khó bảo
quản lâu dài, cồng kềnh khi vận chuyển, khó chia nhỏ hoặc gộp
lại, nên không thuận tiện khi trao đổi với các hàng hoá giá trị
lớn hoặc nhỏ hơn nhiều.
Cùng với sự phát triển của sản xuất sự mở rộng của thị
trường, nhu cầu về một loại vật ngang giá chung tính phổ biến,
thống nhất dễ sdụng trên phạm vi rộng đã trở nên cấp thiết.
Chính điều đó đã dẫn đến sự ra đời s dụng tiền tệ kim loại,
đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch s trao đổi hàng
hoá.
1.2.1.2. Hóa tệ kim loại
Từ thế kỷ thứ 7 trước công nguyên, tiền kim loại bắt đầu
được đúc ng làm phương tiện trao đổi hàng hóa. Kim loại đúc
tiền phổ biến lúc đầu đồng, sau đó bạc vàng. thuận
tiện hơn nhiều so với hình thức hóa tệ ban đầu, việc lưu thông tiền
kim loại vẫn còn mt số nhược điểm:
14
Giá trị của tiền kim loại được người ta xác định dựa trên
giá trị kim loại chứa đựng trong đồng tiền (giá tr nội tại)
chứ không phải dựa trên mệnh giá được khắc. Điều này
đòi hỏi Nhà nước phải kiểm soát nghiêm ngặt việc đúc tiền
thống nhất kỹ thuật đúc, đảm bảo uy tín chất lượng
của đồng tiền.
Khi chúng ta muốn đổi mới hình thái sản xuất trao đổi
hàng hóa, cần phải thay thế một mệnh giá tiền bằng
nhiều loại tiền khác với mệnh giá hợp để phát triển các
hình thái trao đổi. Tuy nhiên, việc đúc trao đổi các loại
tiền kim loại rất tốn thời gian.
Từ đó, khoảng thế kỷ 18 19, trong giai đoạn này,
những nước đã thực hiện chế độ song song, tức cuối thế
kỷ 19, thừa nhận vàng bạc tiền tệ trong lưu thông.
Chế độ song song cuối thế kỷ 19 đã thúc đẩy tiền kim loại
phát hiện ra nhiều nhược điểm: Bạc, vàng phát ra rất
nhiều loại tiền khác nhau, gây ra sự bất tiện. Kim loại
(vàng bạc) rất quý hiếm, không thể đảm bảo đủ số
lượng cần thiết cho nhu cầu lưu thông ngày càng tăng.
thể bị cất giữ trong một thời gian dài, gây tắc nghẽn lưu
thông.Giá trị của tiền kim loại biến động thất thường, gây
ra nhiều rủi ro.
Sang chế độ bản vị vàng, các nước Đông Dương, sau đó
Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, Pháp, Đức, Anh, các nước Trung Quốc,
Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ấn Độ... đã chuyển sang chế độ bản vị vàng,
chấp nhận vàng là tiền tệ duy nhất.
Giá trị tiền tệ kim loại được xác định dựa trên hàm lượng
vàng của nó.
Giá trị danh nghĩa phải bằng giá trị nội tại của nó.
Việc khai thác, đúc lưu thông tiền kim loại tốn kém, đòi
hỏi phải sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước.
15
Hóa tệ kim loại ưu điểm là nh chất kim loại quý nh
đồng nhất cao, dễ vận chuyển, dễ bo qun, d pn chia, ít b biến
đổi, có th nung chảy để đúc lại khi cần.
1.2.2. Tín tệ
đặc biệt khi được s dụng làm tín tệ thì các ưu điểm
trên càng nổi trội hơn. Tuy nhiên, vẫn còn nhược điểm nguồn
khai thác hạn. Khi quy sản xuất trao đổi hàng hóa ngày
càng phát triển, đòi hỏi sự gia tăng của phương tiện trao đổi, thì
nguồn hóa tệ kim loại không đủ khả năng đáp ứng. Do đó, các
nước dần chuyển sang sdụng tín tệ.
Tín tệ (còn gọi tiền hiện hữu) loại tiền tệ bản thân
không giá trị nội tại (giá trị nội tại không đáng kể so với giá trị
danh nghĩa), song nhờ sự tín nhiệm của mọi người giá
trị trao đổi được sdụng trong lưu thông.
các dạng tín tệ bản sau:
- Tín tệ kim loại.
- Tiền giấy.
- Tiền ghi sổ (búttệ).
1.2.2.1. Tín tệ kim loại
Tiền bằng kim loại thuộc hình thái tín tệ khác với kim loại tiền
tệ thuộc hình thái hóa tệ. hình thái này, giá tr nội tại của kim
loại làm tiền không phù hợp với giá trị danh nghĩa của nó,
được đúc làm tín tệ kim loại.
Ưu điểm: Giá trị nội tại không đáng kể, nhưng được dùng làm
tín tệ kim loại. Tiền kim loại ngày càng nhẹ bền, giá trị kim loại
thấp, dễ cất giữ, vận chuyển.
Nhược điểm: Kim loại khó khai thác, giá trị nội tại của đồng
tiền ngày càng giảm bạc/vàng ngày càng tăng (kim loại không
đủ đáp ứng nhu cầu thanh toán). Dễ bị làm giả nếu không được
kiểm soát.
16
Ngày nay, tín tệ kim loại vẫn được s dụng trong lưu thông
dưới dạng các loại tiền đúc bằng kim loại kém giá (tiền xu của các
quốc gia).
1.2.2.2. Tiền giấy
Tiền giấy khả hoán loại tiền giấy được ấn định tiêu
chuẩn giá cả bằng vàng thể trực tiếp chuyển đổi ra vàng
theo hàm lượng Nhà nước đã công bố. Tiền giấy khả hoán đúc
bằng vàng trong chế độ bản vị vàng bằng hối đoái, khi số lượng
tiền đúc bằng vàng lưu thông không đủ để làm phương tiện trao
đổi, Nhà nước phát hành tiền giấy vào lưu thông.Và công bố kim
lượng của đồng tiền đúc bằng vàng, bạc đã được ấn định. Tiền
giấy lưu thông dưới sự bảo chứng của ngân hàng, dựa trên lòng tin
của mọi người về khả năng đổi ra vàng, bạc người ta gi
ngân hàng. Người tiền giấy này quyền đi đến ngân hàng bạc
người đã gi để lấy lại số lượng vàng bạc đã gi.
Tuy vậy, lúc bấy giờ không phải ai cũng tin rằng đồng tiền
vàng, bạc này giá trị trên tờ giấy vàng bạc họ đang dùng.
Do vậy, vào lúc này một người thể đem tiền giấy đổi
lấy bạc hay vàng tại ngân hàng không bị giới hạn về số lượng
hay chủng loại. Tiền giấy khả hoán ra đời, Trung Hoa, từ các
hình thức chứng từ lưu kho vàng, bạc, trở thành tiền giấy những
nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa. Hình thức này được phát
hành không chỉ những xưởng hay ca hàng nhân, còn bởi
những người nắm giữ tiền tệ kim loại (vàng, bạc) như các thương
nhân, nhà thám hiểm, v.v...
Việc phát hành tiền giấy cũng gặp phải một số khó khăn.
Việt Nam, vào cuối đời Trần, Hồ Quý Ly đã tìm loại tiền bằng hợp
kim (vàng, bạc, đồng) để đúc tiền. Khi Hồ Quý Ly lên ngôi, việc
phát hành tiền giấy nước ta vẫn chưa được công chúng chấp
nhận. Tiền giấy lúc bấy giờ chỉ giá trị danh nghĩa, được phát
hành dưới dạng chứng từ lưu kho hay biên nhận tiền gi tại các
17
ca hàng đổi bạc/vàng các địa phương, như Trung Quốc, Nhật
Bản, v.v...
Tiền giấy kh hoán được phát hành bởi những tổ chức tín
dụng (ngân hàng), như Ngân hàng Quốc gia Châu Âu, ngân hàng
Amsterdam, v.v... Từ đó, nhiều nước Châu Âu đã cho phát hành
tiền giấy vào thế kỷ XVII, Lan ngân hàng.
Nhưng những tờ giấy này không phải bạc nội tại chỉ
giấy giá trị danh nghĩa sự tín nhiệm của chính phủ/ngân
hàng. Tiền giấy được chấp nhận lưu thông trên thị trường, làm
phương tiện trao đổi hàng hóa.
Tuy nhiên, do nhiều loại tiền giấy được phát hành dưới dạng
giấy bạc ngân hàng (như giấy bạc Palmstruch của Ngân hàng
Quốc gia Châu Âu) giấy bạc cho vay (như tín phiếu, hối phiếu)
đã trở nên phổ biến, dần dần người ta s dụng tiền giấy như tiền
thật không cần chuyển đổi ra vàng hay bạc nữa .Với quyền
hạn mặt khác, việc phát hành tiền giấy là một nguồn lợi lớn cho
Chính phủ, không cần dùng vàng, bạc để đúc tiền vẫn
thể phát hành được.
Vương quyền các nước Châu Âu thừa nhận một ngân hàng tự
quyền phát hành tiền giấy với điều kiện nhất định:
- Điều kiện khả hoán: thể đổi lấy bất cứ lúc nào tại ngân
hàng phát hành.
- Điều kiện dự trữ vàng làm đảm bảo: Ban đầu là 100% sau
còn 40%.
- Điều kiện phải cho Nhà nước vay không tính lãi khi cần
thiết.
Tiền giấy bất khả hoán (tiền ph hiệu) tiền giấy được
ấn định tiêu chuẩn giá cả bằng pháp luật, bắt buộc lưu hành và
không thể trực tiếp chuyển đổi ra vàng theo tiêu chuẩn Nhà ớc
quy định
18
S xuất hiện của tin giy bắt đầu trong lịch sđã được đánh
dấu bởi hai cuộc chiến tranh ln là Đại chiến thế giới lần thứ nhất và
khủng hoảng kinh tế thế giới 1929.
Đại chiến thế giới lần thứ nhất đã làm cho Anh, Pháp, Đức, Ý
các nước khác buộc phải phát hành tiền giấy để chi tiêu cho
chiến tranh.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã làm cho các nước
buộc phải rút tiền vàng ra khỏi ngân hàng trung ương, dẫn đến sự
suy giảm của dự trữ vàng.
Khủng hoảng kinh tế cũng đã làm cho các nước buộc phải
phát hành tiền giấy để đắp sự thiếu hụt ngân sách chương
trình kinh tế của Chính phủ.
Năm 1936, nhiều nước Châu Âu các nước khác đã phá giá
tiền tệ (giảm giá trị của đồng tiền quốc gia) để tăng cường sức
cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Ngày nay, tiền giấy không được chuyển đổi ra vàng theo hàm
lượng nữa, chỉ được chuyển đổi ra đồng tiền của các quốc gia
khác. Tiền giấy được phát hành bảo chứng bởi Chính phủ trung
ương. Tiền tệ được s dụng làm phương tiện trao đổi hàng hóa,
dựa vào quyền mặt khác, việc phát hành tiền giấy một
nguồn lợi lớn cho Chính phủ, không cần dùng vàng, bạc để đúc
tiền vẫn thể phát hành được.
1.2.2.3. Bút tệ
Bút tệ hay còn gọi tiền ghi sổ chỉ được tạo ra thông qua
hoạt động của hệ thống ngân hàng. Bút tệ không hình thái vật
chất chỉ nhng con số thể hiện trên tài khoản ngân hàng. Bút
tệ cũng bao gồm các ưu điểm nhược điểm.
Về ưu điểm:
Bút tệ không hình thái vật chất nên giảm thiểu chi phí
in ấn, bảo quản, vận chuyển như tiền kim loại, tiền giấy.
19
Thực hiện giao dịch nhanh chóng, thuận tiện thông qua
các bút toán chuyển khoản giữa các i khoản.
Giúp cho việc kiểm soát phân phối tiền tệ trở nên dễ
dàng hơn.
An toàn hơn tiền mặt: giảm rủi ro mất mát, cướp bóc.
Tiết kiệm chi phí giao dịch so với việc giao dịch bằng tiền
mặt.
Về nhược điểm:
Phạm vi giao dịch hẹp (chủ yếu trong nước), phụ thuộc
vào hệ thống ngân hàng tài khoản.
Rủi ro tín dụng (vỡ nợ, không khả năng thanh toán) từ
các tổ chức tín dụng.
Giao dịch không toàn diện (chỉ thực hiện được khi hai bên
tài khoản ngân ng).
Bên cạnh những ưu điểm trên, bút tệ hiện đang hình thức
tiền tệ được s dụng rộng rãi, đặc biệt các nước phát triển.
Tuy nhiên, vẫn chưa phải một loại tiền tệ đầy đủ như tiền
kim loại hay tiền giấy, chưa được sdụng cho mọi giao dịch.
Chính phủ đang cố gắng biến bút tệ thành một loại tiền tệ
đầy đủ bằng cách cho phép các tổ chức tín dụng mở rộng phạm vi
hoạt động, đồng thời, phát triển hệ thống thanh toán công
nghệ thông tin để cải thiện tính bảo mật, tiện lợi phạm vi s
dụng.
1.2.2.4. Tiền điện t
Tiền điện t hình thức phát triển cao của tiền ghi sổ (bút
tệ) được s dụng qua hệ thống thanh toán tự động hay còn gọi
máy trả tiền tự động - ATM (Automated teller machine). Đây
một hệ thống máy tính điện t nối mạng với hệ thống ngân hàng
trung gian kho chứa tiền mặt cũng như hệ thống thanh toán
phục vụ cho việc thanh toán, chi trả qua các chủ thể trong hội.
20

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ
HỌC PHẦN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
“Xu hướng sử dụng các hình thái tiền tệ trong thực tiễn Việt Nam
hiện nay các vấn đề đặt ra?” Nhóm:
Lớp học phần:
Giáo viên hướng dẫn:
Nội, năm 2025 2 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................8
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC HÌNH THÁI TIỀN TỆ TRONG
NỀN KINH TẾ HIỆN ĐẠI...................................................10
1.1. Khát quát chung về tiền tệ........................................10
1.1.1. Khái niệm về tiền.................................................10
1.1.2. Chức năng của tiền tệ..........................................10
1.1.2.1. Chức năng thước đo giá trị............................10
1.1.2.2. Chức năng phương tiện trao đổi và thanh toán
........................................................................................... 11
1.1.2.3. Chức năng phương tiện cất trữ/ tích lũy giá trị
........................................................................................... 12
1.1.3. Vai trò của tiền tệ................................................12
1.1.3.1. Tiền tệ là phương tiện để mở rộng và phát triển
sản xuất và trao đổi hàng hóa............................................12
1.1.3.2. Tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng
các quan hệ hợp tác quốc tế..............................................13
1.1.3.3. Tiền tệ là phương tiện phục vụ mục đích của
người sở hữu chúng............................................................13
1.2. Các hình thái tiền tệ trong nền kinh tế Việt Nam hiện
nay...........................................................................................13
1.2.1. Hoá tệ..................................................................13
1.2.1.1. Hoá tệ phi kim loại........................................13
1.2.1.2. Hóa tệ kim loại..............................................14
1.2.2. Tín tệ...................................................................15 3
1.2.2.1. Tín tệ kim loại................................................16
1.2.2.2. Tiền giấy........................................................16
1.2.2.3. Bút tệ............................................................18
1.2.2.4. Tiền điện t ...................................................19
PHẦN 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC HÌNH THÁI TIỀN TỆ
VIỆT NAM HIỆN NAY.......................................................20
2.1. Thực trạng s dụng các hình thái tiền tệ ở Việt Nam
hiện nay...................................................................................20
2.1.1. Khái quát chung về các hình thái tiền tệ hiện nay
.............................................................................................. 20
2.1.2. Thực trạng s dụng các hình thái tiền tệ ở Việt
Nam hiện nay........................................................................20
2.1.2.1. Tiền mặt........................................................20
2.1.2.2. Thanh toán không dùng tiền mặt..................25
2.2 Xu hướng s dụng các hình thái tiền tệ ở Việt Nam hiện
nay...........................................................................................32
2.2.1. Tiền mặt..............................................................32
2.2.2. Bút tệ và Tiền điện t ..........................................34
2.2.2.1. Bút tệ............................................................34
2.2.2.2. Tiền điện t ...................................................36
2.2.3. Tiền kỹ thuật số...................................................38
2.3. Các vấn đề đặt ra về s dụng tiền tại Việt Nam.........41
2.3.1. Rủi ro an toàn......................................................41
2.3.2. Quản lý tiền tệ.....................................................45
2.3.3 Sự thay đổi giá trị tiền tệ......................................48
2.3.4. Chi phí và phí giao dịch.......................................50 4
2.3.5. Tính tiện lợi và đồng bộ.......................................53
KẾT LUẬN......................................................................56
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................57 5 MỞ ĐẦU
I. do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghệ 4.0
đang diễn ra mạnh mẽ, lĩnh vực tài chính – tiền tệ Việt Nam đã và
đang chứng kiến sự thay đổi sâu sắc trong các hình thái tiền tệ. Từ
việc s dụng hóa tệ, tín tệ đến bút tệ và tiền điện t , phương thức
thanh toán ngày càng hiện đại, tiện lợi và an toàn hơn. Đặc biệt,
xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt đang được Chính phủ
khuyến khích mạnh mẽ thông qua nhiều chính sách và đề án quốc
gia. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn, sự chuyển đổi này
cũng đặt ra nhiều vấn đề như an toàn bảo mật, chênh lệch hạ
tầng công nghệ giữa các vùng miền và thói quen s dụng tiền mặt
truyền thống của người dân.
Xuất phát từ thực tiễn trên, nhóm chúng em lựa chọn đề tài
“Xu hướng sử dụng các hình thái tiền tệ trong thực tiễn
Việt Nam hiện nay các vấn đề đặt ra” nhằm tìm hiểu rõ
hơn về sự thay đổi trong hành vi thanh toán của người Việt, đánh
giá thực trạng phát triển của các hình thái tiền tệ.
II. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với mục tiêu tổng quát là phân tích và đánh giá xu
hướng sử dụng các hình thái tiền tệ trong thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, từ đó ch
ra những cơ hội, thách thức và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao
hiệu quả sử dụng tiền tệ trong nền kinh tế số. Cụ thể mục tiêu của bài nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về các hình thái tiền tệ trong
nền kinh tế thị trường hiện đại.
- Phân tích thực trạng s dụng các hình thái tiền tệ tại Việt
Nam hiện nay, đặc biệt là xu hướng chuyển dịch từ tiền mặt sang
thanh toán không dùng tiền mặt. 6
- Làm rõ những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển các
hình thái tiền tệ, bao gồm rủi ro an toàn, bảo mật, sự thay đổi giá
trị tiền tệ và chi phí giao dịch.
III. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các hình thái tiền tệ đang được s
dụng trong nền kinh tế Việt Nam (bao gồm tiền mặt, bút tệ, tiền
điện t , tiền kỹ thuật số, v.v.) và hành vi s dụng tiền tệ của người dân, doanh nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Nghiên cứu tập trung tại Việt Nam, có tham
khảo kinh nghiệm quốc tế để so sánh.
- Thời gian: Phân tích số liệu, xu hướng giai đoạn 2020–2025,
đồng thời dự báo triển vọng đến năm 2030.
- Nội dung: Tập trung vào xu hướng s dụng, những thay đổi
trong hành vi thanh toán và các vấn đề phát sinh trong quá trình
chuyển đổi từ tiền mặt sang các hình thái tiền tệ hiện đại.
IV. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, nhóm s dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: tổng hợp lý thuyết về
các hình thái tiền tệ và hệ thống hóa các khái niệm liên quan.
- Phương pháp thống kê – so sánh: phân tích số liệu của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức tài chính và báo cáo nghiên
cứu về xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt.
- Phương pháp mô tả và đánh giá: mô tả thực trạng s dụng
tiền tệ ở Việt Nam, từ đó rút ra xu hướng, ưu điểm, hạn chế và các vấn đề đặt ra.
- Phương pháp dự báo: đưa ra những nhận định và định
hướng phát triển trong tương lai của các hình thái tiền tệ.
V. Kết cấu bài nghiên cứu 7
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, bài tiểu
luận gồm hai chương chính:
Chương 1: Tổng quan về các hình thái tiền tệ trong nền kinh tế hiện đại.
Chương 2: Thực trạng và xu hướng s dụng các hình thái
tiền tệ ở Việt Nam hiện nay, cùng những vấn đề đặt ra. 8
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC HÌNH THÁI TIỀN TỆ
TRONG NỀN KINH TẾ HIỆN ĐẠI
1.1. Khát quát chung về tiền tệ
1.1.1. Khái niệm về tiền
K.Mark (1818-1883) dưới cái nhìn của một nhà biện chứng
duy vật đã nghiên cứu nguồn gốc ra đời của tiền qua sự phát triển
các hình thái giá trị và ông đã khẳng định: tiền có nguồn gốc từ
hàng hóa, từ thế giới hàng hóa tách ra. Theo quan điểm của
K.Mark, tiền tệ được định nghĩa như sau: Tiền tệ là một loại hàng
hóa đặc biệt, tách ra khỏi thế giới hàng hóa, được dùng làm vật
ngang giá chung để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các
hàng hóa khác và thực hiện trao đổi giữa chúng.
Cũng như các hàng hóa khác, tiền tệ có hai thuộc tính: giá trị
và giá trị s dụng. Với vai trò là trung gian trong trao đổi hàng
hóa, có thể trao đổi với tất cả các hàng hóa khác thì lúc này tiền
tệ có khả năng giúp con người thỏa mãn mọi nhu cầu s dụng.
Như vậy, K.Mark nhận xét: “giá trị s dụng của hàng hóa bắt đầu
từ lúc nó rút ra khỏi lưu thông, còn giá trị s dụng của tiền tệ với
tư cách là phương tiện lưu thông lại chính là sự lưu thông của nó”.
1.1.2. Chức năng của tiền tệ
Trong học thuyết của K.Mark, ông cho rằng vàng trong vai
trò là vật ngang giá chung có thể thực hiện các chức năng
1.1.2.1. Chức năng thước đo giá trị
Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền tệ trở thành
một “tiêu chuẩn” để đo lường hao phí lao động xã hội kết tinh
trong các hàng hóa. Để thực hiện chức năng này, tiền phải có những điều kiện sau:
- Tiền phải có đầy đủ giá trị. Khi tiền được s dụng làm thước
đo giá trị của các hàng hóa khác thì bản thân tiền đó phải mang 9
giá trị đầy đủ để có thể lấy giá trị của tiền so sánh với giá trị của các hàng hóa còn lại.
- Tiền phải có tiêu chuẩn giá cả: còn gọi là hàm kim lượng của dồng tiền.
Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền tệ đã chuyển
giá trị hàng hóa thành giá cả hàng hóa, cho thấy mối tương quan
giữa giá trị tiền tệ, giữa giá trị hàng hóa và giá cả hàng hóa. Thực
chất giá cả hàng hóa là tỷ lệ so sánh giữa giá trị của nó với giá trị
tiền tệ. Chính vì thế mà giá cả của hàng hóa tỷ lệ thuận với giá trị
của hàng hóa và tỷ lệ nghịch với giá trị tiền tệ.
Trong nền kinh tế thị trường vận dụng chức năng này của
tiền tệ đã giúp cho các doanh nghiệp có thể hạch toán tổng hợp
chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm và qua đó đánh giá hiệu
quả kinh doanh để chọn hướng đầu tư thích hợp. Hơn nữa, ở tầm
vĩ mô trong hệ thống kế toán quốc gia, đồng tiền với chức năng
thước đo giá trị đã được vận dụng để tính toán tổng mức GDP,
GNP trong từng thời kỳ. Từ đó, ngoài việc phục vụ cho quá trình
phân phối tổng sản phẩm quốc dân, tiền còn giúp chúng ta đánh
giá hiệu quả nền kinh tế để có biện pháp tận dụng những nguồn
tài nguyên quốc gia phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước.
1.1.2.2. Chức năng phương tiện trao đổi thanh toán
Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi và thanh
toán khi nó xuất hiện trong lưu thông với tư cách làm môi giới
trung gian cho quá trình trao đổi hàng hoá và là phương tiện để
thực hiện quan hệ thanh toán các khoán nợ và các nghĩa vụ tài chính.
Sự tham gia của tiền tệ vào quá trình trao đổi hàng hoá đã
cho phép thay thế phương thức trao đổi hiện vật trực tiếp (H-H’)
bằng phương thức trao đổi gián tiếp thông qua tiền (H-T-H’). Khi
tiền thực hiện chức năng này, quá trình trao đồi hàng hoá được
tách thành hai giai đoạn riêng biệt là bán và mua. Hai giai đoạn 10
này có thể được thực hiện hoàn toàn độc lập nhau, tách rời nhau
về không gian và thời gian. Khi nền kinh tế - xã hội càng phát
triển, nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng mở rộng, nhưng không
phải lúc nào các chủ thể tham gia vào quan hệ trao đồi cùng có đủ
lượng tiền cần thiết. Chính vì vậy, đã nảy sinh hiện tượng mua bán
chịu hàng hóa, từ đó. Để thực hiện việc trà nợ. người ta đã s
dụng tiền làm phương tiện thanh toán. Nói cách khác, tiền tệ đã
thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, lúc này, người ta nói
tiền tệ vận động độc lập tương đối về mặt giá trị so với hàng hóa.
Khi thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và thanh
toán, tiền tệ phải có những diều kiện sau đây:
- Phải có sức mua ổn định hoặc không suy giảm quá nhiều
trong 1 khoảng thời gian nhất định.
- Số lượng tiền tệ phải được cung ứng đẩy đủ cho nhu cầu lưu
thông hàng hóa trong nền kinh tế.
1.1.2.3. Chức năng phương tiện cất trữ/ tích lũy giá trị
Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện cất trữ giá trị khi nó
tạm thời rút khỏi lưu thông tồn tại dưới dạng giá trị dự trữ để đáp
ứng cho nhu cầu mua sắm, chi trả trong tương lai.
Để thực hiện chức năng phương tiện cất trữ, tiền tệ phải thỏa
mãn các điều kiện sau đây:
- Tiền phải có giá trị nội tại (tiền đủ giá) hoặc phải có sức mua ổn định, lâu dài.
- Giá trị dự trữ phái được thể hiện bằng những phương tiện
hiện thực và được xã hội thừa nhận. Hay nói cách khác, phải thể
hiện bằng tiền mặt hoặc các phương tiện chuyền tải giá trị khác.
Khi thực hiện chức năng phương tiện cất trữ. Tiền ờ trạng thái
không vận động, không phục vụ cho quá trình lưu thông hàng hoá,
như vậy đối lập với tính chất của tiền trong chức năng phương tiện
lưu thông. Trong điều kiện lưu thông tiền vàng hay bản vị vàng,
việc thực hiện chức năng cất trữ của tiền đã có tác dụng điều hoà 11
khối lượng tiền trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu của lưu thông hàng hoá.
1.1.3. Vai trò của tiền tệ
1.1.3.1. Tiền tệ phương tiện để mở rộng phát triển sản
xuất trao đổi hàng hóa
Tiền tệ là công cụ thúc đẩy sản xuất và trao đổi hàng hoá
(trong nước và ngoài nước) phát triển lên ở mức cao hơn vì những lí do sau:
- Nhờ có chức năng thước đo giá trị, giá trị của hàng hoá
dược biểu hiện một cách đơn giản. Nghĩa là, giá trị của các hàng
hoá dều được biểu hiện bằng tiền, do dó chúng có thể so sánh dễ
dàng với nhau. Trên cơ sở nảy, người lao động cỏ thể so sánh được
với nhau về mức độ và trình độ lao động mình đã bỏ ra cho xã hội
trong một đơn vị thời gian.
- Nhờ chức năng phương tiện thanh toán, đã làm cho sự trao
đổi hàng hoá không bị ràng buộc về không gian và thời gian, làm
cho hàng hoá di từ nơi sản xuất dến nơi tiêu dùng một cách trôi chảy hơn.
- Nhờ chức năng phương tiện cất trữ của tiền tệ, việc hạch
toán và tính toán hiệu quả kinh doanh trờ nên thuận tiện và đầy
đù; quá trình tích lũy tiền tệ được thực hiện để mở rộng quy mô sản xuất và kinh doanh.
1.1.3.2. Tiền tệ phương tiện để thực hiện mở rộng các
quan hệ hợp tác quốc tế
Trong điều kiện nền KTTT, tiền tệ không chỉ là phương tiện để
mở rộng và phát triển quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa ở
trong và ngoài nước mà nó còn là phương tiện quan trọng để thực
hiện và mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực
khác như chính trị, văn hóa, xã hội,... Nhờ có tiền, mối quan hệ
nhiều mặt giữa các quốc gia trên thế giới sẽ được hình thành và
phát triển, làm cho xu thế hòa nhập trong các lĩnh vực kinh tế - xă 12
hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, hợp tác khoa học kỹ thuật,... giữa
các nước ngày càng sâu rộng.
1.1.3.3. Tiền tệ phương tiện phục vụ mục đích của người sở hữu chúng
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hầu như mọi quan hệ kinh
tế - xã hội đều bị tiền tệ hoá, mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan... đều
không thể thoát ly khỏi các quan hệ tiền tệ. Trong điều kiện đó,
tiền tệ trở thành công cụ để x lí mọi ràng buộc phát sinh trong
nền kinh tế - xã hội (trong và ngoài nước), đồng thời tất cả các
hành vi kinh tế trong nền kinh tế hiện nay đều hướng đến 1 mục
đích duy nhất , đó chính là lợi nhuận (là tiền). Bên cạnh đó, thực tế
đã chứng minh, tiền tệ là công cụ hữu hiệu giúp các chủ thể trong
nền kinh tế - xã hội đạt được các mục đích khác nhau. Từ các cá
nhân, đến các tổ chức, để tồn tại, hoạt động và phát triển, đều
cần có nguồn lực vật chất thể hiện dưới nhiều hình thái khác nhau,
và tất cả các mục đích đó đều có thể được thỏa mãn thông qua
việc dùng tiền để mua săm. Thậm chí, ngay cà Chính phủ, để thực
hiện được các chức năng và nhiệm vụ cúa mình, để khuếch trương
quyền lực chính trị của mình và tạo uy tín trong lòng dân chúng,
Chính phủ cũng luôn cần đến tiền như là một phương tiện hữu ích
nhất, và có thể giúp người s dụng tiền thỏa mãn đa dạng các mục đích nhất.
1.2. Các hình thái tiền tệ trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay 1.2.1. Hoá tệ
1.2.1.1. Hoá tệ phi kim loại
Khi hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hoá ngày càng phát
triển, hình thức biểu hiện giá trị của hàng hoá trong trao đổi
không còn mang tính ngẫu nhiên. Phạm vi trao đổi đã vượt ra khỏi
giới hạn hẹp của một vài loại hàng hoá hay địa phương nhất định. 13
Sự mở rộng này đòi hỏi phải có một loại hàng hoá đặc biệt – có
tính đồng nhất, dễ s dụng, thuận tiện trong vai trò vật ngang giá
chung, giúp việc trao đổi diễn ra nhanh chóng và đảm bảo giá trị.
Khoảng 2000 năm trước Công nguyên, vật ngang giá chung
thường được lựa chọn từ những hàng hoá có giá trị s dụng phổ
biến, cần thiết cho nhiều người, có khả năng bảo quản lâu dài và
mang đặc trưng địa phương. Ở Trung Quốc cổ đại, người ta dùng
da cừu, vỏ trai, thóc, vải; ở Hy Lạp và La Mã s dụng súc vật;
người Tây Tạng và Mông Cổ dùng chè; người Bắc Mỹ dùng thuốc
lá,... Thậm chí đến ngày nay, một số bộ lạc ở châu Phi và châu Úc
vẫn còn s dụng cá khô hoặc thuốc lá làm vật trao đổi.
Tuy nhiên, những loại “hàng hoá – tiền tệ” này có nhiều hạn
chế, gây khó khăn trong quá trình trao đổi. Mỗi vùng, mỗi địa
phương lại chọn một loại vật ngang giá riêng, dẫn đến sự không
thống nhất về hình thức và chất lượng. Hơn nữa, các vật như gia
súc, lương thực... tuy có giá trị s dụng thiết thực nhưng khó bảo
quản lâu dài, cồng kềnh khi vận chuyển, khó chia nhỏ hoặc gộp
lại, nên không thuận tiện khi trao đổi với các hàng hoá có giá trị
lớn hoặc nhỏ hơn nhiều.
Cùng với sự phát triển của sản xuất và sự mở rộng của thị
trường, nhu cầu về một loại vật ngang giá chung có tính phổ biến,
thống nhất và dễ s dụng trên phạm vi rộng đã trở nên cấp thiết.
Chính điều đó đã dẫn đến sự ra đời và s dụng tiền tệ kim loại,
đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch s trao đổi hàng hoá.
1.2.1.2. Hóa tệ kim loại
Từ thế kỷ thứ 7 trước công nguyên, tiền kim loại bắt đầu
được đúc và dùng làm phương tiện trao đổi hàng hóa. Kim loại đúc
tiền phổ biến lúc đầu là đồng, sau đó là bạc và vàng. Dù thuận
tiện hơn nhiều so với hình thức hóa tệ ban đầu, việc lưu thông tiền
kim loại vẫn còn một số nhược điểm: 14
Giá trị của tiền kim loại được người ta xác định dựa trên
giá trị kim loại chứa đựng trong đồng tiền (giá trị nội tại)
chứ không phải dựa trên mệnh giá được khắc. Điều này
đòi hỏi Nhà nước phải kiểm soát nghiêm ngặt việc đúc tiền
và thống nhất kỹ thuật đúc, đảm bảo uy tín và chất lượng của đồng tiền.
Khi chúng ta muốn đổi mới hình thái sản xuất và trao đổi
hàng hóa, cần phải thay thế một mệnh giá tiền bằng
nhiều loại tiền khác với mệnh giá hợp lý để phát triển các
hình thái trao đổi. Tuy nhiên, việc đúc và trao đổi các loại
tiền kim loại rất tốn thời gian.
Từ đó, ở khoảng thế kỷ 18 và 19, trong giai đoạn này, có
những nước đã thực hiện chế độ song song, tức là cuối thế
kỷ 19, thừa nhận vàng và bạc là tiền tệ trong lưu thông.
Chế độ song song cuối thế kỷ 19 đã thúc đẩy tiền kim loại
phát hiện ra nhiều nhược điểm: Bạc, vàng phát ra rất
nhiều loại tiền khác nhau, gây ra sự bất tiện. Kim loại
(vàng và bạc) rất quý hiếm, không thể đảm bảo đủ số
lượng cần thiết cho nhu cầu lưu thông ngày càng tăng. Có
thể bị cất giữ trong một thời gian dài, gây tắc nghẽn lưu
thông.Giá trị của tiền kim loại biến động thất thường, gây ra nhiều rủi ro.
Sang chế độ bản vị vàng, các nước Đông Dương, sau đó có
Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, Pháp, Đức, Anh, các nước Trung Quốc,
Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ấn Độ... đã chuyển sang chế độ bản vị vàng,
chấp nhận vàng là tiền tệ duy nhất.
Giá trị tiền tệ kim loại được xác định dựa trên hàm lượng vàng của nó.
Giá trị danh nghĩa phải bằng giá trị nội tại của nó.
Việc khai thác, đúc và lưu thông tiền kim loại tốn kém, đòi
hỏi phải có sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước. 15
Hóa tệ kim loại có ưu điểm là tính chất kim loại quý và tính
đồng nhất cao, dễ vận chuyển, dễ bảo quản, dễ phân chia, ít bị biến
đổi, có thể nung chảy để đúc lại khi cần. 1.2.2. Tín tệ
Và đặc biệt là khi được s dụng làm tín tệ thì các ưu điểm
trên càng nổi trội hơn. Tuy nhiên, vẫn còn nhược điểm là nguồn
khai thác có hạn. Khi quy mô sản xuất và trao đổi hàng hóa ngày
càng phát triển, đòi hỏi sự gia tăng của phương tiện trao đổi, thì
nguồn hóa tệ kim loại không đủ khả năng đáp ứng. Do đó, các
nước dần chuyển sang s dụng tín tệ.
Tín tệ (còn gọi là tiền hiện hữu) là loại tiền tệ mà bản thân nó
không có giá trị nội tại (giá trị nội tại không đáng kể so với giá trị
danh nghĩa), song nhờ có sự tín nhiệm của mọi người mà nó có giá
trị trao đổi và được s dụng trong lưu thông.
Có các dạng tín tệ cơ bản sau: - Tín tệ kim loại. - Tiền giấy. - Tiền ghi sổ (bút tệ).
1.2.2.1. Tín tệ kim loại
Tiền bằng kim loại thuộc hình thái tín tệ khác với kim loại tiền
tệ thuộc hình thái hóa tệ. Ở hình thái này, giá trị nội tại của kim
loại làm tiền không phù hợp với giá trị danh nghĩa của nó, mà
được đúc làm tín tệ kim loại.
Ưu điểm: Giá trị nội tại không đáng kể, nhưng được dùng làm
tín tệ kim loại. Tiền kim loại ngày càng nhẹ và bền, giá trị kim loại
thấp, dễ cất giữ, vận chuyển.
Nhược điểm: Kim loại khó khai thác, giá trị nội tại của đồng
tiền ngày càng giảm và bạc/vàng ngày càng tăng (kim loại không
đủ đáp ứng nhu cầu thanh toán). Dễ bị làm giả nếu không được kiểm soát. 16
Ngày nay, tín tệ kim loại vẫn được s dụng trong lưu thông
dưới dạng các loại tiền đúc bằng kim loại kém giá (tiền xu của các quốc gia).
1.2.2.2. Tiền giấy
Tiền giấy khả hoán là loại tiền giấy được ấn định tiêu
chuẩn giá cả bằng vàng và có thể trực tiếp chuyển đổi ra vàng
theo hàm lượng Nhà nước đã công bố. Tiền giấy khả hoán đúc
bằng vàng trong chế độ bản vị vàng bằng hối đoái, khi số lượng
tiền đúc bằng vàng lưu thông không đủ để làm phương tiện trao
đổi, Nhà nước phát hành tiền giấy vào lưu thông.Và công bố kim
lượng của đồng tiền đúc bằng vàng, bạc đã được ấn định. Tiền
giấy lưu thông dưới sự bảo chứng của ngân hàng, dựa trên lòng tin
của mọi người về khả năng đổi ra vàng, bạc mà người ta kí g i ở
ngân hàng. Người có tiền giấy này có quyền đi đến ngân hàng bạc
mà người đã ký g i để lấy lại số lượng vàng bạc đã ký g i.
Tuy vậy, lúc bấy giờ không phải ai cũng tin rằng đồng tiền
vàng, bạc này có giá trị gì trên tờ giấy vàng bạc mà họ đang dùng.
Do vậy, vào lúc này có một người có thể đem tiền giấy đổi
lấy bạc hay vàng tại ngân hàng mà không bị giới hạn về số lượng
hay chủng loại. Tiền giấy khả hoán ra đời, ở Trung Hoa, từ các
hình thức chứng từ lưu kho vàng, bạc, trở thành tiền giấy vì những
nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa. Hình thức này được phát
hành không chỉ ở những xưởng hay c a hàng tư nhân, mà còn bởi
những người nắm giữ tiền tệ kim loại (vàng, bạc) như các thương
nhân, nhà thám hiểm, v.v...
Việc phát hành tiền giấy cũng gặp phải một số khó khăn. Ở
Việt Nam, vào cuối đời Trần, Hồ Quý Ly đã tìm loại tiền bằng hợp
kim (vàng, bạc, đồng) để đúc tiền. Khi Hồ Quý Ly lên ngôi, việc
phát hành tiền giấy ở nước ta vẫn chưa được công chúng chấp
nhận. Tiền giấy lúc bấy giờ chỉ có giá trị danh nghĩa, được phát
hành dưới dạng chứng từ lưu kho hay biên nhận tiền g i tại các 17
c a hàng đổi bạc/vàng ở các địa phương, như ở Trung Quốc, Nhật Bản, v.v...
Tiền giấy khả hoán được phát hành bởi những tổ chức tín
dụng (ngân hàng), như Ngân hàng Quốc gia Châu Âu, ngân hàng
Amsterdam, v.v... Từ đó, nhiều nước Châu Âu đã cho phát hành
tiền giấy vào thế kỷ XVII, ở Hà Lan ngân hàng.
Nhưng những tờ giấy này không phải bạc nội tại mà chỉ là
giấy có giá trị danh nghĩa và sự tín nhiệm của chính phủ/ngân
hàng. Tiền giấy được chấp nhận và lưu thông trên thị trường, làm
phương tiện trao đổi hàng hóa.
Tuy nhiên, do nhiều loại tiền giấy được phát hành dưới dạng
giấy bạc ngân hàng (như giấy bạc Palmstruch của Ngân hàng
Quốc gia Châu Âu) và giấy bạc cho vay (như tín phiếu, hối phiếu)
đã trở nên phổ biến, dần dần người ta s dụng tiền giấy như tiền
thật mà không cần chuyển đổi ra vàng hay bạc nữa .Với quyền
hạn và mặt khác, việc phát hành tiền giấy là một nguồn lợi lớn cho
Chính phủ, vì không cần dùng vàng, bạc để đúc tiền mà vẫn có thể phát hành được.
Vương quyền các nước Châu Âu thừa nhận một ngân hàng tự
có quyền phát hành tiền giấy với điều kiện nhất định:
- Điều kiện khả hoán: Có thể đổi lấy bất cứ lúc nào tại ngân hàng phát hành.
- Điều kiện dự trữ vàng làm đảm bảo: Ban đầu là 100% sau còn 40%.
- Điều kiện phải cho Nhà nước vay không tính lãi khi cần thiết.
Tiền giấy bất khả hoán (tiền ph hiệu) là tiền giấy được
ấn định tiêu chuẩn giá cả bằng pháp luật, bắt buộc lưu hành và
không thể trực tiếp chuyển đổi ra vàng theo tiêu chuẩn Nhà nước quy định 18
Sự xuất hiện của tiền giấy bắt đầu trong lịch s đã được đánh
dấu bởi hai cuộc chiến tranh lớn là Đại chiến thế giới lần thứ nhất và
khủng hoảng kinh tế thế giới 1929.
Đại chiến thế giới lần thứ nhất đã làm cho Anh, Pháp, Đức, Ý
và các nước khác buộc phải phát hành tiền giấy để chi tiêu cho chiến tranh.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã làm cho các nước
buộc phải rút tiền vàng ra khỏi ngân hàng trung ương, dẫn đến sự
suy giảm của dự trữ vàng.
Khủng hoảng kinh tế cũng đã làm cho các nước buộc phải
phát hành tiền giấy để bù đắp sự thiếu hụt ngân sách và chương
trình kinh tế của Chính phủ.
Năm 1936, nhiều nước Châu Âu và các nước khác đã phá giá
tiền tệ (giảm giá trị của đồng tiền quốc gia) để tăng cường sức
cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Ngày nay, tiền giấy không được chuyển đổi ra vàng theo hàm
lượng nữa, mà chỉ được chuyển đổi ra đồng tiền của các quốc gia
khác. Tiền giấy được phát hành và bảo chứng bởi Chính phủ trung
ương. Tiền tệ được s dụng làm phương tiện trao đổi hàng hóa,
dựa vào quyền và mặt khác, việc phát hành tiền giấy là một
nguồn lợi lớn cho Chính phủ, vì không cần dùng vàng, bạc để đúc
tiền mà vẫn có thể phát hành được.
1.2.2.3. Bút tệ
Bút tệ hay còn gọi là tiền ghi sổ chỉ có được tạo ra thông qua
hoạt động của hệ thống ngân hàng. Bút tệ không có hình thái vật
chất và chỉ là những con số thể hiện trên tài khoản ngân hàng. Bút
tệ cũng bao gồm các ưu điểm và nhược điểm. Về ưu điểm:
Bút tệ không có hình thái vật chất nên giảm thiểu chi phí
in ấn, bảo quản, vận chuyển như tiền kim loại, tiền giấy. 19
Thực hiện giao dịch nhanh chóng, thuận tiện thông qua
các bút toán chuyển khoản giữa các tài khoản.
Giúp cho việc kiểm soát và phân phối tiền tệ trở nên dễ dàng hơn.
An toàn hơn tiền mặt: giảm rủi ro mất mát, cướp bóc.
Tiết kiệm chi phí giao dịch so với việc giao dịch bằng tiền mặt. Về nhược điểm:
Phạm vi giao dịch hẹp (chủ yếu trong nước), phụ thuộc
vào hệ thống ngân hàng và tài khoản.
Rủi ro tín dụng (vỡ nợ, không có khả năng thanh toán) từ các tổ chức tín dụng.
Giao dịch không toàn diện (chỉ thực hiện được khi hai bên có tài khoản ngân hàng).
Bên cạnh những ưu điểm trên, bút tệ hiện đang là hình thức
tiền tệ được s dụng rộng rãi, đặc biệt là ở các nước phát triển.
Tuy nhiên, nó vẫn chưa phải là một loại tiền tệ đầy đủ như tiền
kim loại hay tiền giấy, vì chưa được s dụng cho mọi giao dịch.
Chính phủ đang cố gắng biến bút tệ thành một loại tiền tệ
đầy đủ bằng cách cho phép các tổ chức tín dụng mở rộng phạm vi
hoạt động, đồng thời, phát triển hệ thống thanh toán và công
nghệ thông tin để cải thiện tính bảo mật, tiện lợi và phạm vi s dụng.
1.2.2.4. Tiền điện t
Tiền điện t là hình thức phát triển cao của tiền ghi sổ (bút
tệ) được s dụng qua hệ thống thanh toán tự động hay còn gọi là
máy trả tiền tự động - ATM (Automated teller machine). Đây là
một hệ thống máy tính điện t nối mạng với hệ thống ngân hàng
trung gian và kho chứa tiền mặt cũng như hệ thống thanh toán
phục vụ cho việc thanh toán, chi trả qua các chủ thể trong xã hội. 20