







Preview text:
HÀNH VI SỨC KHỎE DƯỚI GÓC ĐỘ VĂN HÓA
BS, ThS Trương Trọng Hoàng
MỤC TIÊU HỌC TẬP
Sau khi hoàn thành bài học, sinh viên có thể:
1. Trình bày được các khái niệm và quan điểm cơ bản về văn hóa
2. Trình bày được những cách thức ảnh hưởng của văn hóa lên hành vi sức khỏe
3. Ứng dụng vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe. 1. VĂN HÓA
Cho đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Định nghĩa sớm nhất về văn hóa
được ghi nhận của E.B.Tylor (1871): “Phức hợp tổng thể bao gồm kiến thức, niềm tin,
nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và tất cả những khả năng, thói quen khác mà
con người thu nhận được với vị trí là thành viên của xã hội”.
Ngoài ra theo nghĩa rộng, Văn hóa là “Phần môi trường do con người tạo ra”
(Herskovits, 1955) bao gồm những cái nhìn thấy được (materials) như tư liệu sản xuất, vật
dụng, kiến trúc, y phục, tác phẩm nghệ thuật... và những cái không nhìn thấy được (non-
materials) như phong tục tập quán, ý thức hệ, tín ngưỡng... Theo nghĩa hẹp, Văn hóa là “hệ
thống những ý tưởng, quan niệm, quy tắc và ý nghĩa thể hiện qua cách con người sống
(hành vi)” (Keesing, 1981).
Văn hóa được coi như là sản phẩm của quá trình thích nghi của con người với môi
trường sống bao gồm cả môi trường tự nhiên và xã hội. Ví dụ nhà sàn để thích nghi với
vùng nhiều muỗi, thứ dữ. Sữa bột, fast food để thích nghi với cuộc sống bận rộn của thành
thị. Cũng từ đó mà văn hóa không phải là bất biến, trái lại có thể thay đổi theo thời gian.
Động lực của sự thay đổi có thể là do những sự đổi mới (innovations) hoặc phát minh
(inventions) hoặc là kết quả của sự khuếch tán (diffusion) của các nền văn hóa khác.
Hai quan điểm về văn hóa:
- Chủng tộc trung tâm (Ethnocentrism): quan niệm xem nền văn hóa của mình là
trung tâm, cao hơn, văn minh hơn những nền văn hóa khác
- Tương đối Văn hóa (Cultural Relativism): quan niệm tất cả các nền văn hóa đều có
giá trị tương đối, thích hợp với hoàn cảnh tự nhiên, xã hội này nhưng không chắc thích hợp
với hoàn cảnh tự nhiên, xã hội khác. Không có nền văn hóa nào là cao hơn nền văn hóa nào.
2. NHỮNG YẾU TỐ VĂN HÓA ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI SỨC KHỎE
2.1. Nhận thức văn hóa về cơ thể và sức khỏe-bệnh tật (ill-health)
Liên quan đến cơ thể người và sức khỏe, có thể tạm phân chia những nhận thức và niềm tin thành các nhóm:
2.1.1. Nhận thức và niềm tin về hình dáng bên ngoài
Con người trong các nhóm người khác nhau (dân tộc, phái tính, tuổi tác, tầng lớp xã
hội...) có những nhận thức, niềm tin từ đó dẫn tới cách đánh giá và hành vi ứng xử khác
nhau. Ví dụ có những nhóm người vào một thời kỳ nào đó cho rằng phụ nữ ốm là đẹp từ đó
dẫn đến ăn kiêng và thậm chí bệnh chán ăn tâm thần. Một cái sẹo ở mặt ỡ phụ nữ quan trọng 1
hơn nhiều so với nam giới do đó có thể dẫn đến nhiều bất ổn về tâm lý và hành vi hơn ở nữ hơn ở nam.
2.1.2. Nhận thức và niềm tin về cấu trúc bên trong của cơ thể
Đối với bí mật về cấu trúc bên trong của cơ thể, con nguời trong các nhóm người khác
nhau thậm chí mỗi cá nhân có thể có những nhận thức và niềm tin khác nhau. Có quan niệm
của y sinh học phương tây, có quan niệm của y học phương đông, cũng có những lý giải đơn
giản hơn như quan niệm các cơ quan trong cơ thể là những phần tử nối với nhau bằng những
ống dẫn. Những quan niệm này có thể dẫn đến những hành vi như người bị tràn nước (dịch)
màng phổi không dám uống nước vì sợ nước sẽ chảy qua làm tràn dịch nhiều hơn, thực tế không phải vậy.
2.1.3. Nhận thức và niềm tin về chức năng của các cơ quan bên trong cơ thể
Giống như trên con nguời trong các nhóm người khác nhau thậm chí mỗi cá nhân có
thể có những nhận thức và niềm tin khác nhau về chức năng của các cơ quan bên trong cơ
thể. Tim có thể là nơi tạo ra tình cảm, còn óc để dành cho sự suy nghĩ.
2.1.4. Nhận thức và niềm tin về nguyên nhân, cơ chế bệnh, cách phòng ngừa, chữa trị
và phục hồi.
Những nhận thức và niềm tin này hết sức đa dạng và thay đổi theo không gian cũng
như thời gian. Ví dụ: Sốt rét do uống nước độc.
2.1.5. Mô hình giải thích
Như trên đã đề cập, mỗi một người sống trong một nền văn hóa nào đó đều có cách lý
giải riêng về cơ thể, hoạt động của cơ thể, nguyên nhân và cơ chế của các bệnh, cách
chăm sóc sức khỏe và chăm sóc bệnh bao gồm dự phòng, điều trị, phục hồi. Tất cả những
quan niệm đó được Kleimann gọi là mô hình giải thích (Explanatory model) của một cá
nhân. Những người cùng sống trong một môi trường văn hóa có thể có những mô hình giải
thích tương tự nhau nhưng không hoàn toàn giống nhau. Mô hình giải thích của một cá nhân
cũng có thể thay đổi theo thời gian do sự ảnh hưởng của người xung quanh, nhân viên y tế,
phương tiện truyền thông.
2.2. Sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với một số tình trạng sức khỏe
Tùy theo văn hóa mỗi nơi, một số tình trạng sức khỏe có thể bị xã hội kỳ thị
(stigmatisation) và phân biệt đối xử (discrimination) chẳng hạn như bệnh tâm thần, bệnh
lao, bệnh phong, bệnh hoa liễu, các thương tật, dị dạng và hiện nay đặc biệt là bệnh AIDS.
Một số bệnh mạn tính khác như tiểu đường, động kinh, béo phì v.v... tuy mức độ kỳ thị có ít
hơn nhưng cũng để lại nhiều ảnh hưởng tâm lý trên người bệnh. Cũng có thể sự kỳ thị đến
từ cộng đồng hoặc chỉ đơn thuần là mặc cảm từ chính cá nhân. Hiểu biết về những điều này
giúp các dịch vụ sức khỏe hoặc công tác giáo dục sức khỏe phục vụ người dân tốt hơn.
2.3. Quan niệm văn hóa về giới
Một yếu tố của văn hóa cũng ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe và hành vi sức khỏe
đó là các quan niệm về giới. Ở đa số nơi trên thế giới, giới nữ vẫn bị xem thường và được
coi là những người yếu đuối, phụ thuộc vào nam giới nhưng lại phải chu toàn công việc
gia đình và nuôi con. Những quan niệm này dẫn đến các hành vi như phá thai trẻ nữ thậm
chí giết trẻ sơ sinh nữ, ít quan tâm chăm sóc sức khỏe cho giới nữ từ vấn đề dinh dưỡng cho
đến khám chữa bệnh, từ tuổi nhỏ cho đến tuổi già. Những hành vi thiên lệch dẫn đến rất
nhiều hậu quả về mặt sức khỏe cho người nữ. Ngược lại những quan niệm về nam giới là 2
giới mạnh cũng dẫn đến một số hành vi như quan hệ tình dục bừa bãi và không an toàn và
những cuộc chơi khác có hại cho sức khỏe như ma túy, rượu chè, hút thuốc, đua xe... Do đó
nhân viên y tế và đặc biệt là cán bộ truyền thông cần đặc biệt qyan tâm đến các quan niệm
về giới trong cộng đồng mình đang sống để có những ứng xử hoặc truyền thông phù hợp.
2.4. Bệnh dưới những góc nhìn khác nhau
Một hiện tượng bệnh lý ở một cá nhân có thể được nhìn nhận và đánh giá không giống nhau bởi nhiều người.
- Bệnh dưới góc nhìn của thầy thuốc (disease): là bệnh được chẩn đoán dựa trên một
hệ thống phân loại nào đó trong y học (phương tây, phương đông...) có thể trùng với các góc
nhìn khác, cũng có thể không.
- Bệnh dưới góc nhìn của bệnh nhân (illness): là ý nghĩa mà bệnh nhân gán cho
những biểu hiện chủ quan và khách quan trong cơ thể mình, có thể trùng với các góc nhìn
khác, cũng có thể không.
- Bệnh dưới góc nhìn của những người xung quanh (sickness): là bệnh được gán
bởi những người xung quanh, có thể trùng với các góc nhìn khác, cũng có thể không.
Ví dụ: Rối loạn thần kinh thực vật gây hồi hộp, khó tiêu được bệnh nhân coi là bệnh
nhưng thầy thuốc coi là không. Bệnh tâm thần được thầy thuốc coi là bệnh nhưng bệnh nhân
có thể không tự nhận mình là bệnh trong khi những người xung quanh thì có khi xem đó là
ma nhập hoặc cho đó là hậu quả của việc cha mẹ ăn ở thất đức. Thầy thuốc cần có hiểu biết
toàn diện và sự quan tâm về các góc nhìn này để có những ứng xử phù hợp giúp cho việc
chăm sóc sức khỏe cho cá nhân hoặc can thiệp sức khỏe cho cộng đồng được hiệu quả hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Many authors. Applied Health Research Manual: Anthropology of Health and Health Care. 1995.
- Helman, Cecil G. Culture, Health and Illness: An Introduction for Health
Professionals. Butterworth-Heinemann, 1990. 3 HÀNH VI SỨC KHỎE
DƯỚI GÓC ĐỘ XÃ HỘI HỌC
ThS, BS Trương Trọng Hoàng
MỤC TIÊU HỌC TẬP
Sau khi hoàn thành bài học, sinh viên có thể:
1. Trình bày được các khái niệm cơ bản về xã hội học
2. Phân tích được ảnh hưởng của các yếu tố xã hội lên hành vi sức khỏe.
1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
Thuật ngữ Sociology (Xã hội học) được sử dụng lần đầu tiên năm 1780 bởi học giả
người Pháp Emmanuel Joseph Sieyès bắt nguồn từ: Societas=Xã hội, Socius=người đồng
hành, Logos=Môn học trong tiếng Hy Lạp. August Comte dùng lại từ này vào năm 1838.
Về định nghĩa, theo Emile Durkheim thì Xã hội học là khoa học nghiên cứu các sự kiện xã hội (social facts).
Một số khái niệm cơ bản của xã hội học:
- Cấu trúc xã hội (social structure): hệ thống bao gồm nhiều hệ thống nhỏ và nhỏ dần
đến đơn vị cơ bản là con người. Ví dụ: trường học, gia đình.
- Quan hệ xã hội (social relation): quan hệ được xác lập giữa các cộng đồng xã hội
và các cá nhân với tư cách là chủ thể của hoạt động xã hội khác nhau. Ví dụ: quan
hệ giữa sinh viên-sinh viên, giảng viên-sinh viên, sinh viên-trường.
- Thiết chế xã hội (social institution): các ràng buộc được xã hội chấp nhận và mọi
cá nhân, nhóm cộng đồng và toàn thể xã hội chấp nhận và tuân thủ. Ví dụ: thiết chế
giáo dục, y tế, giao thông…
- Phân tầng xã hội (social stratification): Vị trí của những con người trong một nhóm
xã hội, một phạm trù, một vùng địa lý hoặc một đơn vị xã hội nào đó. Ví dụ: giai
cấp, chủng tộc, dân tộc.
2. XÃ HỘI HỌC SỨC KHỎE
Xã hội học Sức khỏe là ngành nghiên cứu ứng dụng của Xã hội học sử dụng cách tiếp
cận của xã hội học (nhãn quan, lý thuyết, phương pháp luận) để nghiên cứu các vấn đề liên
quan đến y tế, sức khỏe và bệnh tật của con người.
Các lĩnh vực nghiên cứu của XHHSK:
- Nghiên cứu các nguyên nhân xã hội của tình trạng sức khỏe như cấu trúc xã hội,
thiết chế xã hội, biến chuyển xã hội v.v… đến hoạt động của hệ thống y tế, đến sức
khỏe và các bất bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe.
- Nghiên cứu hệ quả xã hội của tình trạng sức khỏe.
Năm 1950, Xã hội học Sức khỏe trở thành một ngành chính thức của xã hội học. Tuy
nhiên trước những năm 1970, vị trí của Xã hội học Sức khỏe còn mờ nhạt, được ít người chú
ý và cũng chưa có nhiều nhà xã hội học hoạt động trong lĩnh vực Xã hội học Sức khỏe. Trong
những năm 1970, hầu hết các nước trên thế giới đều trải qua giai đoạn cải cách hệ thống
chăm sóc sức khỏe. Hội nghị Alma Ata 1978 đưa ra cách tiếp cận Chăm sóc sức khỏe ban
đầu và kể từ đó ngành Y tế bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến các yếu tố như chính sách y tế,
khả năng tiếp cận, chất lượng của dịch vụ chăm sóc sức khỏe… Xã hội học sức khỏe trở 4
thành ngành xã hội học chuyên biệt lớn nhất ở Anh, Bắc Mỹ, Úc… và đã có một vị trí vững
vàng trong hệ thống các ngành khoa học xã hội.
3. CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH SỨC KHỎE 3.1. Định nghĩa
“Các yếu tố tác động dẫn đến sự thay đổi về sức khỏe theo chiều hướng tốt lên hoặc
xấu đi” (Daniel Reidpath, 2002, dẫn trong 1).
3.2. Tại sao cần phân tích các yếu tố quyết định sức khỏe?
- Để biết các yếu tố tác động làm thay đổi sức khỏe như thế nào.
- Phục vụ cho việc thiết kế nghiên cứu: Xác định các biến số nghiên cứu; Xây dựng
khung lý thuyết, Cây vấn đề….
- Có cơ sở xây dựng, thực hiện các chương trình can thiệp dựa trên việc xác định các cấp độ can thiệp.
3.3. Các cấp độ phân tích các yếu tố quyết định sức khỏe
Có 2 cách phân chia cấp độ:
Phân chia 3 cấp độ (Theo Turrell và cộng sự, dẫn trong 1):
- Cấp độ vi mô (Downstream): các yếu tố sinh học, vật lý, hóa học… (tác động trực
tiếp làm thay đổi sức khỏe)
- Cấp độ trung mô (Midstream): lối sống, hành vi…
- Cấp độ vĩ mô (Upstream): chính sách, cơ cấu kinh tế, xã hội. Còn được gọi là Yếu
tố xã hội quyết định sức khỏe – Social health determinants. Phân chia 2 cấp độ:
- Cấp độ gần (Proximal determinants): tương đương cấp độ vi mô
- Cấp độ xa (Distal determinants): tương đương cấp độ trung và vĩ mô.
3.4. Các mô hình yếu tố quyết định sức khỏe
3.4.1. Mô hình y học
Sức khỏe tốt lên hay xấu đi là do kết quả của sự tương tác 2 chiều giữa:
- sự phát triển của bệnh (các mầm bệnh, các rối loạn sinh học…)
- hoạt động chữa bệnh của cá nhân và xã hội. Bệnh Hoạt động chữa bệnh
Nhận xét về mô hình Y học : - Đơn giản
- Tuy nhiên chỉ tập trung vào yếu tố dịch vụ y tế. dẫn đến tác động kém hiệu quả đối
với tình hình bệnh và làm gia tăng chi phí y tế và quá tải bệnh viện. 5
3.4.2. Mô hình của Marc Lalonde (1981)
Năm 1974, Marc Lalonde đã biên soạn tài liệu “Một nhãn quan mới về sức khỏe của người
Canada” (A new perspective on the health of Canadians) trong đó đề cập đến 4 nhóm yếu
tố quyết định sức khỏe theo mô hình sau :
Nhận xét về mô hình Lalonde :
- Đề cập vai trò của yếu tố sinh học, lối sống, môi trường ngang hàng với dịch vụ y tế - Dễ hình dung
- Chưa cho thấy được mối liên hệ giữa các yếu tố đặc biệt là chưa cho thấy được
nguồn gốc xã hội của hành vi, lối sống.
3.4.3. Mô hình Dahlgren và Whitehead
Năm 1991, 2 tác giả Goran Dahlgren và Margaret Whitehead đã đề xuất mô hình các
yếu tố quyết định sức khỏe trong đó các yếu tố tạo thành nhiều lớp yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe. 6
- Hành vi, lối sống: Đây là các yếu tố mang tính cá nhân. Tuy nhiên hành vi, lối sống
không thể tự nhiên mà có, trái lại chúng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố xã hội.
- Mạng lưới cộng đồng và xã hội: Đây là các yếu tố xã hội gần nhất đối với mỗi cá nhân, bao gồm: + Gia đình, người thân + Bạn bè + Láng giềng
+ Đồng nghiệp, tổ chức nơi làm việc
+ Các tổ chức tôn giáo, thiện nguyện
+ Các đoàn thể địa phương…
- Điều kiện sống và làm việc: Có phần trách nhiệm rất lớn của nhà nước:
+ Lương thực, thực phẩm
+ Nước và vệ sinh môi trường + Nhà ở + Điều kiện làm việc + Giáo dục
+ Giải trí, thể dục thể thao
+ Dịch vụ y tế (Phòng ngừa, Chữa trị, Phục hồi)
+ Các điều kiện an sinh khác (hỗ trợ người tàn tật…)…
- Điều kiện kinh tế-xã hội, văn hóa, môi trường: Đây là những yếu tố liên quan đến
thể chế, văn hóa không chỉ trong một nước mà cả khu vực và toàn thế giới.
Nhận xét về mô hình Dahlgren và Whitehead: + Tương đối đơn giản
+ Chỉ ra được các cấp độ của các nhóm yếu tố quyết định sức khỏe trong đó
đặc biệt là các yếu tố xã hội 7
+ Chỉ ra các yếu tố cụ thể trong nhóm các yếu tố
+ Chỉ ra mối liên hệ và hướng tác động.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe. Bài giảng lớp Cao học Y tế công cộng,
Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội, 23/01/2008.
- Các yếu tố quyết định sức khỏe. Bài powerpoint lớp Cao học Y tế công cộng,
Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội, 18/02/2008.
- Dương Thu Hương. Các bài giảng về Xã hội học sức khỏe (ppt).
- Giáo trình Xã hội học. Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẳng.
- Nguyễn Thị Ngọc Bích. Các bài giảng về Xã hội học sức khỏe (ppt). 8