lOMoARcPSD| 61457685
Câu 1: Lịch sử xã hội loài người đã trải qua mấy hình thái kinh tế - xã hội?
- Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ một giai đoạn
lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho hội đó, phù hợp với một trình
độ nhất định của lực lượng sản xuất, và với một kiến thức thượng tầng tương ng đối với quan
hệ sản xuất đó.
- Theo chủ nghĩa Marx-Lenin, lịch sử xã hội loài người đã trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội từ thp
đến cao:
Công xã nguyên thủy: là hình thái kinh tế xã hội đầu ên và sơ khai nhất trong lịch sử loài
người. Trong xã hội công xã nguyên thủy, tư liệu lao động được sử dụng thô sơ, chủ yếu
là đồ đá, thâny để tạo ra các công cụ lao động. Do đó, cơ sở kinh tế thời kỳ y là sự sở
hữu chung về liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Như vậy, đặc điểm về liệu sản
xuất, cơ sở kinh tế là điểm nổi bật để so sánh công xã nguyên thủy với các hình thái kinh
tế xã hội khác. Xuất phát từ cơ sở kinh tế, xã hội công xã nguyên thủy chưa có giai cấp, do
đó Nhà nước hệ thống luật pháp chưa được thiết lập. Quan hệ sản xuất lúc nàyquan
hệ bình đẳng, có phúc cùng hưởng.
Chiếm hữu nô lệ: xuất hiện tương đối sớm những nền văn minh lớn của phương Đông,
khoảng năm 3000TCN các nước Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ,... sau khi chế độ thtộc tồn
tại trong công xã nguyên thủy tan rã. Đây là xã hội có nhà nước và các cuộc c mạng xã
hội đầu ên trong lịch sử loài người. Trong hình thái kinh tế xã hội này, chế độ công hữu
được thay thế bằng chế đhữu chủ nô. Bên cạnh đó, hội biến đổi từ không thành
có giai cấp. Trong đó, có hai giai cấp chủ yếu nhất là chủ nô và nô lệ, có sự mâu thuẫn và
đối kháng gay gắt. Do đó, có thể thay thế chế độ tự quản thị tộc bằng trật tự có Nhà nước
của giai cấp chủ nô. Giai cấp chủ dùng bộ máy cai trị của mình từ đó bóc lột sức lao
động của nô lệ. Đây là kiểu nhà nước đầu ên – Nhà nước chủ nô.
Phong kiến: cấu trúc hội xoay quanh những mối quan hệ xuất phát từ viêc shữu
đất đai để đổi lấy lao động. Cũng nghĩa đây hình thái phong kiến sự thay thế
phương pháp bóc lột sức lao động trong hội chiếm hữu lệ bằng hình thức bóc lột
địa tô. Người nông dân được giao đất đai và canh tác trên những thửa ruộng của mình,
đến kỳ hạn phải có nghĩa vụ nộp tô thuế cho địa chủ. Cứ như vậy, trong hình thái kinh tế
xã hội này đã hình thành nên hai hiai cấp, đó giai cấp thống trị (quý tộc, địa chủ, điền
chủ,...) và giai cấp bị trị (nông nô, nông dân,...).
Tư bản chủ nghĩa: xuất hiện đầu ên ở châu Âu và phát triển trong ng hội phong kiến
châu Âu và chính thức được xác lập như một hình thái xã hội tại Hà Lan thế kỷ XVII. Đây
là một hệ thống kinh tế dựa trên cơ sở quyền sở hữu tư nhân đối với liệu sản xuất và
hot động sản xuất vì lợi nhuận. Chủ nghĩa tư bản có các đặc trưng đó là tài sản tư nhân,
ch lũy tư bản, lao động ền lương, trao đổi tự nguyện, một hệ thống giá ả và thị trường
cạnh tranh. Bản chất sự “bóc lộtnằm giá trị thặng dư sức lao động tạo ra khi các
nhà tư bản thuê lao động và sử dụng sức lao động. Hình thái này được thể hiện dưới các
hình thức chủ yếu như chủ nghĩa bản ên ến, chủ nghĩa bản tài chính, chủ nghĩa
trọng thương, kinh tế thtrường tự do, kinh tế thtrường hội, chủ nghĩa bản nhà
ớc, chủ nghĩa tư bản độc quyền.
lOMoARcPSD| 61457685
Cộng sản chủ nghĩa: hình thái phát triển cao nhất trong 5 hình thái kinh tế xã hội của
loài người. Cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền sản xuất công nghiệp hiện
đại gắn liền với lực lượng sản xuất đã phát triển ở trình độ cao. Trong hình thái kinh tế xã
hội này, chế độ công hữu về liệu sản xuất được thiết lập. Tđó, xóa bỏ những mâu
thuẫn đối kháng trong hội, giúp gắn bó các thành viên trong hội với nhau vì lợi ích
căn bản, được thhiện qua các đặc điểm như sau:
o Chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động: “làm theo năng
lực, hưởng theo lao động(trong hội cng sản chủ nghĩa ớc phát triển cao
hơn nữa của xã hội chủ nghĩa, khi sức sản xuất đạt tới trình độ và năng suất cực
cao – sẽ là “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”).
o Nhà nước xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa xã hội là nhà nước kiểu mới, mang bản
chất của giai cấp công nhân, mang bản chất nhân dân rộng rãi và nh dân tộc sâu
sắc, thực hiện quyền lực lợi ích của nhân dân, được lãnh đạo bởi Đảng Cộng
sản.
o Chủ nghĩa xã hội giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, thực hiện công bằng,
bình đẳng, ến bộ xã hội, tạo những điều kiện cơ bản để con người phát triển.
Như vậy, thể thấy 5 hình thái kinh tế hội sự phát triển từ thấp đến cao theo quy luật vận
động và phát triển khách quan của hội. Trong đó,sở kinh tế, quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội
tạo nên đặc điểm khác biệt của mỗi hình thái kinh tế xã hội.
Câu 2: Trong các hình thái ý thức xã hội, hình thái ý thức xã hội nào là quan trng nhất?
- Ý thức xã hội tn tại dưới nhiều hình thái khác nhau nhưng những hình thái chủ yếu của ý thức xã
hội bao gồm ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức nghệ thuật (hay còn gọi
là ý thức thẩm mỹ), ý thức tôn giáo, ý thức ý luận (hay còn gọi là ý thức khoa học) và ý thức triết
học. Tính phong phú đa dạng của các hình thái ý thức hội phản ánh nh phong phú, đa dạng
của bản thân đời sống xã hội.
- Trong các hình thái ý thức xã hội có những hình thái gần với cơ sở kinh tế của tồn tại xã hội hơn,
những hình thái ý thức hội xa skinh tế hơn so với các hình thái ý thức hội khác.
vậy các hình thái ý thức chính trị và ý thức pháp quyền gần gũi với cơ sở kinh tế hơn cả. Đầu ên
hình thái ý thức chính trị. Hình thái ý thức chính trhình thái ý thức chỉ xuất hiện và tồn tại
trong các xã hội giai cấp và nhà nước. phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa
các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia cũng như thái độ của các giai cấp đối với quyền lực nhà
ớc. Ý thức chính trị thực ễn thông thường hình thành từ trực ếp từ các hoạt động thực ễn
trong môi trường chính trị của hội. trạng thái tâm xã hội, những cảm xúc và tâm trạng về
chính trị của quần chúng cảm xúc và tâm trạng vchính trị của quần chúng thường thiếu bền vững
và không ổn định. Song, những trạng thái tâm lí xã hội như vậy lại đóng vai trò to lớn và trực ếp
đối với hành vi chính trị của quần chúng đông đảo. Thông qua đó hệ tư tưởng chính trị tác động
vào đời sống chính trị của xã hội. Hệ tư tưởng của một giai cấp chính trị nhất định phản ánh trực
ếp tập trung lợi ích giai cấp của giai cấp y. Ý thức chính trị được thể hiện trong đường lối, cương
lĩnh chính trị của các chính đảng của các giai cấp khác nhau cũng như trong luật pháp chính sách
nhà nước – công cụ của giai cấp thống trị, hệ tưởng chính trị được hình thành một cách tự giác.
lOMoARcPSD| 61457685
được các nhà tưởng của giai cấp y dựng và truyền bá. Hệ tưởng chính trị gắn với các
tổ chức chính trị, thông qua các tổ chức chính trị một giai cấp nào đó ến hành cuộc đấu tranh
giành ý thức. Vì lợi ích của giai cấp của mình, ý thức chính trị đặc biệt là hệ tư tưởng chính trị có
vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Thông qua tổ chức nhà nước nó tác động trở lại
sở kinh tế thể trong những giới hạn nhất định làm thay đổi skinh tế. Hệ tưởng
chính trị cũng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống nh thần của xã hội, nó thâm nhập vào các hình
thái ý thức xã hội khác, tác động ch cực hoặc êu cực của hệ tư tưởng chính trị cũng như ý thức
chính trị nói chung phụ thuộc vào nh ến bộ, cách mạng hoặc phản ến bộ, phản cách mạng của
giai cấp mang hệ tưởng đó. Khi giai cấp đó ến bộ, cách mạng êu biểu làm cho xu thế phát
triển đi lên của lịch sử thì hệ tưởng chính trị của tác động ch cực đến sự phát triển
hội. Khi giai cấp đó trở thành lạc hậu, phản cách động thì hệ tư tưởng chính trị của nó có tác động
êu cực, kìm hãm sự phát triển của hội. Ý thức pháp quyền toàn bộ các tưởng, quan
điểm của một giai cấp về bản chất vai trò của pháp luật, về quyền nghĩa vụ của nhà nước,
các tchức xã hội và công dân, về nh hợp pháp và không hợp pháp của hành vi con người trong
hội, cùng với nhận thức và nh cảm của con người trong việc thực thi pháp luật của Nhà nước.
Ý thức pháp quyền ra đời cùng với nhà nước. Giữa hai hình thái này có sự gần nhau về cả nội dung
và hình thức. Ý thức pháp quyền phản ánh trực ếp các quan hệ kinh tế của xã hội, trước hết
các quan hệ sản xuất được thể hiện trong hthống pháp luật. Pháp luật là ý chí của giai cấp thống
trđược thể hiện thành luật lệ do đó Pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện thành
luật lệ, do đó mỗi chế độ xã hội, mỗi nhà nước chỉ một hệ thống pháp luật của giai cấp nắm
chính quyền. Nhưng trong xã hội có các giai cấp đối kháng, các giai cấp khác nhau lại những ý
thức khác nhau về pháp luật, phản ánh lợi ích của giai cấp mình. Do đó, hiệu lực của pháp luật
không những phụ thuộc vào sức mạnh cưỡng chế của nhà nước còn phụ thuộc vào trình độ
hiểu biết và tâm lí pháp luật của xã hi.
Câu 3: Tại sao nói đi lên chủ nghĩa hội là phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân?
- Chnghĩa hội (CNXH) một trong ba ý thức hệ chính trị lớn hình thành trong thế kỷ 19. Khi
các quốc gia m kiếm cho mình một cách thức hợp lý trong phát triển và xây dựng nhà nước. Bên
cạnh chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa bảo thủ. Trong nh chất lựa chọn đối với mức độ và nh chất
chi phối trong hoạt động quản lý nhà nước. bao gồm một loạt các định hướng chính trị. Chủ
nghĩa hội Việt nam gắn liền với đường lối lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam. Đây được
coi cách thức hình thái chính trị phù hợp ến bộ nhất. Những hiệu qutrong công tác
quản lý nhà nước được phản ánh. Với sự lãnh đạo và dẫn dắt của một tầng lớp lãnh đạo. Vạch ra
những chính sách, hoạch định và đường lối cho phát triển, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội. Bên
cạnh các phối hợp, phân chia quyền lực thực thi. Mang đến sự đảm bảo cho công bằng, dân
chủ và văn minh. Các công dân được đảm bảo cho các quyền lợi bên cạnh những nghĩa vụ cơ bản
với nhà nước. Trong đó, các quyền lợi vừa mang đến lợi ích cho phát triển nền kinh tế nói chung.
- Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Với truyền thống yêu nước, từ cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX, ớc ta đã xuất hiện những phong trào yêu nước chống thực dân Pháp,
theo những khuynh hướng khác nhau: Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến, êu
biểu là phong trào Cần Vương (1885 1896) và phong trào khởi nghĩa nông dân Yên Thế; phong
trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ sản, êu biểu xu hướng bạo động do Phan Bội
lOMoARcPSD| 61457685
Châu tổ chức, lãnh đạo; xu hướng cải cách do Phan Châu Trinh đề ớng tổ chức, khởi nghĩa
của Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học đứng đầu. Tất cả những phong trào yêu nước
đó đều bị thất bại, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn. Yêu cầu
lịch sử đòi hỏi phải một tổ chức cách mạng ên phong, đường lối cứu nước đúng đắn để
giải phóng dân tộc.
- Năm 1917, cuộc Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi đã mở ra thời đại mới trong lịch sử loài
ngưi thời đại quá đtừ chnghĩa bản lên chủ nghĩa hội. Ngày 05/6/1911, Nguyễn Tt
Thành ra đi m đường cứu nước, tháng 7 năm 1920, Người đọc Sơ thảo Lần thứ nhất Luận cương
về các vấn đề dân tộc thuộc địa của Lênin đi đến kết luận quan trọng: Muốn cứu nước
giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Vào những
năm 1929 – 1930, phong trào công nhân ớc ta phát triển mạnh mẽ đưa đến sự ra đời các t
chức cộng sản như: Đông Dương Cộng sản Đảng (6/1929); An Nam Cộng sản Đảng (11/1929);
Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (01/1930). Việc các tổ chức cộng sản liên ếp xuất hiện chứng
tỏ phong trào công nhân của Việt Nam phát triển mạnh mẽ, nhưng nhiều tổ chức cộng sản ra đời
đã tranh giành quần chúng, ảnh hưởng không tốt đến phong trào. Nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng
sản, Hồ Chí Minh về Hương Cảng, Trung Quốc tổ chức hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản
ớc ta thành Đảng Cộng sản Việt Nam (từ ngày 06 đến ngày 07 tháng 2 năm 1930). Hội nghị đã
thông qua các văn kiện quan trọng, trong đó có Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng,
xác định Việt Nam “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng
sản”. Kể từ đây, Đảng dân tộc ta dứt khoát lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa hội. Thực
hiện Cương lĩnh của Đảng, cách mạng nước ta đã giành những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách
mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta ến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc
kháng chiến chống xâm lược, đỉnh cao chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại
thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ TQuốc, làm tròn
nghĩa vụ quốc tế. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng đã lãnh đạo ến
hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cớc. Do chủ quan nóng vội, muốn nhanh chóng
y dựng thành công chủ nghĩa xã hội dẫn đến sai lầm đường lối ở một số lĩnh vực, từ đó dẫn đến
sự khủng khoảng kinh tế - hội ớc ta (1979 -1986), nước ta rơi vào hoàn cảnh cực kỳ khó
khăn, lạm phát phi mã, đời sống nhân dân cơ cực, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội không
ổn định, yêu cầu khách quan đặt ra là cần phải đổi mới đất nước.Ngày 15/12/1986 tại Đại hội VI
với nh thần nhìn thẳng sự thật, nói đúng sự thật, Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện
gồm: Đổi mới cấu kinh tế, coi nền kinh tế có cấu nhiều thành phần một đặc trưng của
thời kỳ quá độ”; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong đó đổi mới kế hoạch hóa, kết hợp kế hoạch
hóa với thị trường, từng bước đưa nền kinh tế vận hành theo cơ chế thtrường sự quảnkinh
tế của nhà nước; đổi mới và tăng cường vai trò quản , điều hành của Nhà nước về kinh tế, “Phân
biệt rõ chức năng quản lý hành chính – kinh
tế của các quan nhà nước trung ương địa phương với chức năng quản sản xuất kinh
doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở”; đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại, trên cơ sở mở rộng và
nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, tạo điều kiện cho người nước ngoài và Việt kiều về ớc đầu
tư, hợp tác kinh doanh; Đổi mới tư duy lý luận và phong cách lãnh đạp của Đảng, trên cơ sở nâng
cao nhận thức luận, vận dụng đúng quy luật khách quan, khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí
lOMoARcPSD| 61457685
hoặc bảo thủ trì trệ. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng có ý nghĩa lịch sử trọng đại,
đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp quá độ lên chủ nghĩa hội ớc ta. Đại hội đã m lối
thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội bằng việc đề ra đường lối đổi mới, đặt nền tảng cho
việc m ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Các chủ trương, chính sách đổi mới bắt đầu mang
lại kết quả rệt, nh hình kinh tế đời sống nhân dân dần được cải thiện, sinh hoạt dân chủ
trong xã hội ngày càng được phát huy, lòng n của nhân dân vào công cuộc đổi mới tăng lên...
- Đảng ta đã đạt được những thành tựu nhất định trong công cuộc chống giặc ngoại xâm. Đảng đã
lãnh đạo quần chúng nhân dân đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ bảo vệ nền
độc lập của nước nhà. Qua đó làm cho nhân dân thêm lòng n, niềm n vào con đường hội ch
nghĩa mà Đảng đã chọn. Nhthực hiện đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền
kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tăng trưởng cao trong suốt 35 năm qua
với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy GDP không ngừng được mở rộng,
năm 2020 đạt 342,7 tđô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ trong ASEAN. Thu nhập
bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 2.779 USD/người/năm (năm 2020); Việt Nam
đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền
miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực còn trở thành
một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển
khá nhanh, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tng
kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất
khẩu đạt trên 280 tỉ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Đầu tư nước
ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỉ USD vào cuối năm 2020... Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thXIII của Đảng khẳng định: “Qua 35 năm ến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, v
chnghĩa hội con đường đi lên chủ nghĩa hội ớc ta ngày càng được hoàn thiện và
từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử,
phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất csự khiêm tốn,
chúng ta vẫn có thnói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ được đ, ềm lực, vthế và uy n
quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó sản phẩm kết nh sức sáng tạo, kết quả của c
một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân ta; ếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp
với quy luật khách quan, với thực ễn Việt Nam xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi
mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi
thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Nói về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Việt Nam hiện nay, Tng thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận định: Xây dựng chủ nghĩa xã hội
kiến tạo một kiểu hội mới về chất, hoàn toàn không hđơn giản, dễ dàng. Đây cả một sự
nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó
khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Vì vậy, bên cạnh
việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh
mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia ch cực của nhân dân. Nhân dân ếp nhận, ủng hộ và
nhiệt nh tham gia thực hiện đường lối của Đảng thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu,
nguyện vọng của mình. Ngày 22-10-2018 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về Tăng
ờng bảo vệ nền tảng tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
lOMoARcPSD| 61457685
trong nh hình mớitrong đó c định các nội dung các thế lực thù địch chống phá nước ta
bao gồm: một là, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin; hai là, phủ nhận tưởng Hồ Chí Minh; ba
chống phá quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trên
tất cả các lĩnh vực; bốn là phủ nhận những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử chúng ta đã đt
được dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Câu 4: Tại sao nói chủ nghĩa duy vật lịch sử là phát kiến vĩ đại đầu ên của Marx?
- t về góc độ phát triển của lịch sử tưởng Triết học, trước khi Triết học Mác Lenin ra đời thì
không có một nhà triết học nào dù ở phương Đông hay phương Tây, dù thời kỳ cổ đại hay thời
kỳ cận đại có thể đạt tới quan niệm duy vật biện chứng về lịch sử. Do đó chưa thể xác lập được
phương pháp luận chung cho việc nghiên cứu lý giải một cách khoa học về xã hi.
- t từ góc độ của việc hoàn thiện, phát triển chủ nghĩa duy vật trong lịch sử, trong thực tế lịch sử
tưởng của nhân loại, chủ nghĩa duy vật thường gắn chặt với lịch sử phát triển của khoa học.
Một mặt chủ nghĩa duy vật khái quát những nguyên chung từ những thành tựu nghiên cứu khoa
học của các thời đại. Mặt khác, nhờ khái quát được những nguyên chung, triết học lại thể
định hướng cho sự nghiên cứu, khám phá khoa học. Chủ nghĩa duy vật trước Mác, dù rất nhiu
thành tựu nhưng cơ bản chỉ có thể xây dựng quan điểm duy vật về thế giới tự nhiên. Hơn nữa đó
là quan niệm duy vật siêu hình. Chỉ có quan điểm duy vật biện chứng về hội mới có thể đem lại
phương pháp luận khoa học chính xác để nghiên cứu đúng đắn về hội, chỉ ra cơ cấu khách quan
và các quy luật khách quan của đời sống xã hội.
- t từ góc độ bản thân cấu trúc logic của nội dung lý luận chủ nghĩa Mác, sự ra đời của chủ nghĩa
duy vật lịch sử đóng vai trò hoàn thiện những nguyên lý cơ bản của những nội dung thuộc về ch
nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật là ền đề phương pháp luận triết học trực
ếp của việc nghiên cứu sáng tạo ra các học thuyết kinh tế về phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa trọng tâm là học thuyết giá trị thặng dư đồng thời là ền đề phương pháp luận trực ếp
của việc nghiên cứu và giải quyết những vấn đề thuộc nội dung lý luận khoa học về chủ nghĩa xã
hội.
- t từ góc độ vai trò của chủ nghĩa duy vật lịch sử với lịch sử phát triển của các khoa học xã hội,
trong lịch sử phát triển của các khoa học về xã hội như là chính trị học, pháp luật, đạo đức học,...
trước Mác về cơ bản đều theo phương pháp luận duy tâm, do đó, không thể giải thích một cách
chính xác các hiện tượng trong đời sống xã hội và lịch sử nhân loại. Đối với một số nhà nghiên cứu
kinh tế như Adam Smith, David Ricardo,... trong kinh tế chính trị học cổ điển Anh, dưới ảnh hưởng
của phương pháp duy vật tự nhiên của các nhà triết học duy vật. Thời kỳ cận đại ở Tây u đã xem
xét sự vận động của kinh tế theo quy luật khách quan nhưng coi đó cũng chính là những quy luật
tự nhiên mà chưa thấy được nh đặc thù của các quy luật xã hội.
- t từ góc độ vai trò của chủ nghĩa duy vật lịch sử đối với thực ễn cách mạng nói chung và Vit
Nam nói riêng trong thời kỳ đổi mới hiện nay, các cái nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch
sử đóng vai tròcơ sở phương pháp luận Triết học trực ếp nhất để các Đảng Cộng sản phân ch
những vấn đề kinh tế chính trị, văn hóa, xã hội của thời đại và của chính nước mình từ đó có thể
đề ra đường lối cách mạng đúng đắn.
(kết luận)
lOMoARcPSD| 61457685
Câu 5: Sản xuất vt chất là gì? Vai trò và ý nghĩa của nó?
- Sản xuất vật chất là quá trình mà trong đó, con người sử dụng công cụ lao động tác động trực ếp
hoặc gián ếp vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên để tạo ra của cải xã hội
nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người. Có thể khẳng định sản xuất vật chất
lf sở của sự tồn tại phát triển của hội loài người, quyết định toàn bộ sự vận động, phát
triển của đời sống xã hội.
- Vai trò của sản xuất vật chất:
Là ền đề trực ếp tạo ra tư liệu sinh hoạt của con người: sản xuất vật chất duy trì sự tồn
tại và phát triển cúa con người nói chung cũng như từng cá thể người nói riêng.
K.Marx khẳng định: “Đứa trẻ nào cũng biết rằng bất kdân tộc nào cũng sdiệt vong, nếu
như nó ngừng hoạt động, không phải một năm, mà chỉ mấy tuần thôi”.
Là ền đề cho mọi hoạt động lịch sử của con người: hoạt động sản xuất vật chất là cơ sở
hình thành nên quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người, từ đó hình thành nên các
mối quan hệ hội khác; cũng tạo điều kiện, phương ện đảm bảo cho hoạt động nh
thần của con người và duy trì, phát triển phương thức sản xuất nh thần của hội; đồng
thời cũng duy trì sự tồn tại và phát triển của chính bản thân con người: con người đồng
thời sáng tạo ra toàn bộ đời sống vật chất và đời sống nh thần của hội với tất cả sự
phong phú, đa dạng của nó.
điều kiện chủ yếu sáng tạo ra bản thân con người: con người hình thành nên ngôn ngữ,
nhận thức, duy nh cảm, đạo đức,... nhờ hoạt động sản xuất vật chất. Sản xuất
vật chất là điều kiện cơ bản, quyết định nhất đối với sự hình thành, phát triển phẩm chất
hội của con người. Nhờ lao động sản xuất, con người vừa tách khỏi tự nhiên, va
hòa nhập với tự nhiên, cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và nh thần, đồng
thời sáng tạo nên chính bản thân con người.
- Ý nghĩa phương pháp luận:
Nhận thức và cải tạo xã hội phải xuất phát từ đời sống sản xuất, từ nền sản xuất vật chất
xã hội.
Không thể dùng nh thần để giải thích đời sống nh thần.
Để phát triển xã hội phải bt đầu từ phát triển đời sống kinh tế - vật chất.
Câu 6: Trình bày mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất? Đảng ta đã vận dụng mối quan
hệ này như thế nào? Ý nghĩa?
- Lực lượng sản xuất (LLSX) là sự kết hợp người lao động và tư liệu sản xuất. Chính người lao động
là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng
liệu lao động, trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra
của cải vật chất. Công cụ lao động là yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất. Cùng với quá trình
ch lũy kinh nghiệm, với những phát minh sáng chế kỹ thuật, công cụ lao động không ngừng
được cải ến hoàn thiện. Chính sự cải ến và hoàn thiện không ngừng công cụ lao động đã làm
biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất. Xét đến cùng, đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi hội.
lOMoARcPSD| 61457685
Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người,
là êu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử.
- Quan hệ sản xuất (QHSX) quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất
tái sản xuất xã hội). QHSX gồm ba mặt: quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong
tổ chức quản sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra. QHSX do con người
tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc vào
ý muốn chủ quan của con người. Trong ba mặt của QHSX, quan hệ sở hữu về liệu sản xuất
quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, đặc trưng cho QHSX trong từng xã hội. Quan hệ sở hữu về tư
liệu sản xuất quyết định quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm cũng
như các quan hệ xã hội khác.
- LLSX QHSX hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động
qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật sự phù hợp của QHSX với trình độ phát
triển của LLSX – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội.
Tác động của LLSX đến QHSX:
Sự vận động, phát triển của LLSX quyết định và làm thay đổi QHSX cho phù hợp với nó.
Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó QHSX phù hợp với trình độ phát triển
củA LLSX.
Sự phát triển của LLSX đến một trình độ nhất định làm cho QHSX từ chphù hợp trở
thành không phù hợp với sự phát triển của LLSX. Yêu cầu khách quan của sự phát triển
LLSX tất yếu dẫn đến thay thế QHSX cũ bằNg QHSX mới phù hợp với trình độ phát triển
mới của LLSX để thúc đẩy LLSX ếp tục phát triển. Thay thế QHSX cũ bằng QHSX mới cũng
có nghĩa là phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xut mới ra đời thay thế.
QHSX lại tác động trở lại LLSX như sau:
LLSX quyết định QHSX, nhưng QHSX cũng nh độc lập tương đối và tác động trở lại
sự phát triển của LLSX.
QHSX quy định mục đích, cách thức của sản xuất, phân phối. Do đó trực ếp nh
ởng đến thái độ của người lao động, năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản
xuất cải ến công cụ lao động.Sự tác động của QHSX và LLSX diễn ra theo hai hướng,
hoặc là ch cực, thúc đẩy LLSX phát triển khi nó phù hợp hoặc êu cực, kìm hãm LLSX khi
nó không phù hợp.
- Từ quy luật ta có thể có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận là: muốn thúc đẩy xã hội phát triển
thì phải tạo điều kiện để phát triển LLSX, phải nâng cao chất lượng lao động, cải tạo công nghệ,
công cụ sản xuất hay nói cách khác là phải phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phải thiết lp
QHSX cho phù hợp với sự phát triển của LLSX. Đối với Việt Nam ta đang y dựng nền kinh tế
thtrường định hướng XHCN, mở đường cho LLSX phát triển, nền kinh tế đa hình thức sở
hữu, đa thành phần kinh tế.
- Vận dụng quy luật này Việt Nam trước hết cần đánh giá những sai lầm, khuyết điểm thời kỳ
trước đổi mới (việc nhận thức và vận dụng quy luật này còn giản đơn và phạm phải nhiều sai lầm
nghiêm trọng, y nên nhũng hậu quả nặng nề cho nền kinh tế hội). Thể hiện tập trung
quan điểm chính sách cải tạo QHXS cũ, xây dựng QHXS mới: chủ quan duy ý chí, bất chấp quy luật
khách quan bằng cách đốt cháy giai đoạn, thực hiện sự bỏ qua gia đoạn TBCS một cách giản đơn,
y móc. Thể hiện cụ thnhư: Tách rời một cách siêu hình QHXS ra khỏi LLXS, chủ động đẩy nhanh
lOMoARcPSD| 61457685
quá trình, cải tạo và xây dựng quá trình vượt quá xa so với trình độ của LLXS. Do đó kìm hãm
sự phát triển của LLXS; Đồng nhất, đơn giản hóa QHXS chỉ còn QH sở hữu và trong shữu chỉ
nhấn mạnh đến hình thức sở hữu công cộng, tập thể. Chẳng hạn: Sai lầm khi hợp tác a, đánh
tư sản; Hành chính hóa bộ máy quản lí hành chính, thực hiện cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,
cồng kềnh kém hiệu quả; Về phân phối sản phẩm: Phương thức bình quân chủ nghĩa, cào bằng do
đó triệt êu động lực của sự phát triểnlợi ích của người lao động; Về LLXS tập trung ưu ên cho
việc phát triển công nghiệp nặng và nhận thức công nghiệp hóa chỉ đơn giản y dựng một số n
y công nặng thôi, không chú ý, ít chú ý đến hàng xuất khẩu, hàng êu dùng….; Chậm trễ
trong việc thành tựu khoa học kỹ thuật o trong sản xuất, đặc biệt đối với lĩnh vực nông nghiệp;
Chưa chú trọng đến việc nâng cao trình độ, đào tạo tay nghề cho người lao động, chưa nhận thức
rõ người lao động là yếu tố quyết định của LLSX.
- TĐại hội VI Đảng ta đã có những quan điểm đổi mới: coi trọng phát triển kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thtrường có sự quản của Nhà nước. T
sự đánh giá quá trình cải tạo XHCN đối với các thành phần kinh tế, Đại hội VI của Đảng đã chủ
trương xây dựng và củng cố các mối QHSX XHCN, có chính sách sử dụng và chỉ đạo đúng đắn các
thành phần kinh tế khác. Cải tạo XHCN và xây dựng QHSX mới ếp tục được khẳng định tại kỳ Đại
hội ếp sau đó: “Phù hợp với sự phát triển của LLSX, thiết lập từng bước QHSX XHCN từ thấp đến
cao với sự đa dạng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thtrường
có sự quản lý của nhà nước. Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nèn tảng
của nền kinh tế quốc dân.... Ngay từ Đại hội VI, Đảng đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiu
thành phần đúng, bởi đường lối đó xuất phát từ trunhf độ nh chất của LLSX nước ta vừa
thấp, lại không dồng đều nên không thể nóng vội, nhất y dựng QHSX một thành phần dựa
trên chế độ công hữu XHCN vềliệu sản xuất như trước Đại hội VI từng làm, đã đẩy QHSX đi quá
xa so với trình đđương thời của LLSX. Một nền kinh tế nhiều thành phần đã thúc đẩy sản xuất
phát triển. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần tự chứa đựng trong mình những mâu thuẫn.
Có những thành phần kinh tế vì lợi ích của mình có thể hoạt động theo hướng TBCN. Thành phần
kinh tế quốc doanh, tập thể mang nh chất XHCN nhưng chưa thích nghi với chế thtrường,
làm ăn kém hiệu quả, nên ở đây diễn ra cuộc đấu tranh “định hướng” gay gắt. Vì vậy, để thực hiện
được sự định hướng XHCN trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần thì sự lãnh đạo của Đảng và
quản lý kinh tế của Nhà nước giữ vai trò quyết định. Quan điểm chế thị trường dưới sự qun
của Đảng ta đúng. Đó quan điểm mới về kinh tế XHCN, về thời kỳ quá độ, không dị
ứng mà chấp nhận và sử dụng rộng rãi những quan hệ thị trường để xây dựng CNXH.
- TĐại hội VIII, Đảng ta khẳng định: “Mục êu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước
ta thành một nước công nghiệp sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cấu kinh tế hợp ,
QHSX ến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, đời sống vật chất và nh thần cao,
quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đến
năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. LLSX lúc đó sẽ
đạt trình độ tương đối hiện đại, phần lớn lao động thủ công được thay thế bằng lao đống ử dụng
y móc, điện khí hóa bản được thực hiện trong cả ớc, nâng cao năng suất lao động hiệu
quả sản xuất kinh doanh cao hơn nhiều so với hiện nay.
- Mối quan hệ giLLSX QHSX được phát triển thêm trọng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
IX:”Đảy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ,đưa nước ta trở
lOMoARcPSD| 61457685
thành quốc gia công nghiệp; ưu ên phát triển LLSX, đồng thời xây dựng QHSX phù hợp trên cả ba
mặt sở hữu, quản phân phối theo định hướng XHCN.... VQHSX, Đảng ta chủ trương
Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh
doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thtrường định hướng
XHCN, cùng phát triẻn lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”. Đảng ta xác định trong nh hình
hiện nay có 6 thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, ểu chủ; kinh
tế tư bản nhân; kinh tế bản Nhà nước và kinh tế vốn đầu nước ngoài. Trong đó, kinh
tế Nhà nước phát huy vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước
định hướng điều ết vĩ mô nền kinh tế. Trong chính sách phát triển các thành phần kinh tế, Đảng
ta chủ trương:”Phát triển các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở
hữu giữa các thành phần kinh tế với nhau, giữa trong nước ngoài nước, phát triển hình thức
kinh tế cổ phần nhằm huy động sử dụng rộng rãi vốn đầu xã hội; nhân rộng mô hình hợp tác,
liên kết công nông nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước kinh tế hộ nông thôn; phát triển loại hình
trang trại với quy mô phù hợp từng địa bàn”.
- Tại Đại hội X, Đảng ta khẳng định: hoàn thiện thể chế kinh tế thtrương phải giữ vũng định hướng
XHCN. Đóthực hiện mục êu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; giải
phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triẻn
kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò
chđạo; kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của
nền kinh tế quốc dân. Nâng cao vai trò và hiệu lực quản của Nhà nước: Nhà nước làm tốt các
chức năng định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch các chế; chính sách trên
sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường. Tạo ra môi trường pháp chế, chính sách
thuận lợi để phát huy các nguồn lực của xã hội để xã hội phát triển. Bảo đảm nh bền vững ch
cực của sự cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế rủi ro và tác động êu cực của cơ chế thtrường. Thực
hiện quản Nhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hot
động của thị trường doanh nghiệp... Phát triển đồng bộ quản lý có hiệu quả sự vận hành các
loại thị trường bản theo ché cạnh tranh lành mạnh. Cùng ới việc phát triển mạnh thị trưng
hàng hóa, dịch vụ và thị trường sức lao động, cần phát triển vững chắc thị truoengf tài chính, bao
gồm thị trường vốn thị trường ền tệ theo hướng đồng bộ, cấu hoàn chỉnh; phát triển thị
trường bất động sản; phát triển thị trường khoa học công nghệ trên cơ sở đổi mới cơ chế, chính
sách để phần lớn các sản phẩm khoa học công nghệ trthành hoàng hóa. Phát triển mạnh các
thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh. Nước ta có các thành phần kinh tế:
kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, ểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản
Nhà nước và kinh tế có vn đầu tư nước ngoài. Đồng thời ếp tục khẳng định các thành phần kinh
tế hot động theo pháp luật đều là bộ phận hợp
thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bình đẳng trước pháp luật, cùng
phát triển lâu dài, hợp tác cạnh tranh lành mạnh. Vchtrương đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại a gắn liền với phát triển kinh tế tri thức: Đại hội X nhấn mạnh: phải tranh thủ các
hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và ềm năng, lợi thế ớc ta để rút ngắn quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo địnhớng XHCN gắn với phát triển kinh tế tri thức, phát
triển mạnh các nền kinh tế và các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào trị thc.
lOMoARcPSD| 61457685
Tóm lại, công cuộc y dựng CNXH trên đất nước ta, đặc biệt sự nghiệp công nghiệp hóa hin
đại hóa đang đặt ra một vấn đề hết sức bản và cấp bách skết hợp chặt chẽ sự phát triển
của các LLSX QHSX Việt Nam. Cần phải đặt lên trước hết sự phát triển của LLSX những không
được sao nhãng sự phát triển của các QHSX. Cần phải không ngừng đổi mới các chính sách kinh
tế sao cho các QHSX luôn luôn phát triển, đóng vai trò ch cực thúc đẩy LLSX, hạn chế triệt êu
các tác động kìm hãm, làm cho toàn bộ nền kinh tế của đất nước luôn giữ đúng quỹ đạo độc lập
dân tộc và CNXH.
Câu 7: Phương thức sản xuất là gì? Vai trò? Ý nghĩa?
Ở mỗi giai đoạn lịch sử con người ến hành sản xuất theo một cách thức nhất định, tức là
một cách sinh sống, cách sản xuất riêng, đó phương thức sản xuất. Phương thức sản
xuất là cách thức con người ến hành quá trình sản xuất vật chất những giai đoạn lịch sử
nhất định của xã hội loài người. Phương thức sản xuất là sự thng nhất giữa lực lượng sản
xut với một trình độ nht định và quan hệ sản xuất tương ứng. Lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất là các khái niệm chỉ hai mối quan hệ “song trùngcủa nền sản xuất vật chất
hội, đó quan hệ giữa con người với tự nhiên quan hgiữa người với người trong quá
trình sản xuất vật chất. “Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo
một cách nào đó đhoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất
được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nht định với nhau; và quan hệ của h
với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất. Do vậy, phương thức sản xuất là cách thức con người
thực hiện đồng thời sự tác động giữa con người với tự nhiên và sự tác động giữa người với
người để sáng tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu con người và xã hội những giai đon
lịch sử nht đnh.
Câu 8: Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng? Nêu ý nghĩa?
- Cơ sở hạ tầng (CSHT) là toàn bộ nhng quan hệ sản xuất (QHSX) hợp thành cơ cấu kinh tế của một
hình thái kinh tế- xã hội nht đnh.
Khái niệm CSHT phản ánh chức năng hội của các QHSX với cách sở kinh tế của các hiện
ợng xã hội. CSHT của một xã hội cụ thể bao gồm những CSHT thống trị, những QHSX tàn dư của xã
hội trước và những QHSX là mầm mống của xã hội sau. Trong một CSHT có nhiều thành phần kinh tế,
nhiều QHSX thì kiểu QHSX thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các thành phần kinh tế
và các kiểu QHSX khác; nó quy định và tác động trực ếp đến xu hướng chúng của toàn bộ đời sống
kinh tế xã hội. Trong hội đối kháng giai cấp, nh giai cấp của cơ sở hạ tầng là do kiểu QHSX thống
trị quy định. Tính chất đối kháng giai cấp và sự xung đột giai cấp bắt nguồn từ ngay trong CSHT.
- Kién trúc thượng tầng (KTTT): toàn bộ những quan điểm tưởng hội, những thiết chế tương
ứng và những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất đnh.
KTTT của xã hội có đối kháng giai cấp bao gồm: hệ tư tưởng và thể chế giai cấp thống trị, tàn dư của
các quan điểm của xã hội trước để lại; quan điểm và tổ chức của các giai cấp trung gian. Tính chất h
tư tưởng của giai cấp thống trị quyết định nh chất cơ bản của KTTT trong một hình thái xã hội nhất
lOMoARcPSD| 61457685
định. Trong đó, bộ phận mạnh nhất của KTTT nhà nước công cụ của giai cấp thống trị êu biểu
cho chế độ xã hội về mặt chính trị, pháp . Chính nhờ có nhà nước mà tư tưởng của giai cấp thống trị
mới quản lý được toàn bộ đời sống xã hội.
- Mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT:
Mỗi hình thái kinh tế - hội có CSHT KTTT của nó. Do đó, CSHT KTTT mang nh lịch sử cụ th,
giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định.
Vai trò quyết định của CSHT đối với KTTT:
CSHT nào sinh ra KTTT y. Giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị
thống trị trong đời sống nh thần. QHSX nào thống trị thì tạo ra KTTT chính trị tương ứng. Mâu
thuẫn trong lĩnh vực kinh tế quyết định nh chất mâu thuẫn trong lĩnh vực tư tưng.
Do đặc điểm nói trên, bất kỳ hiện tượng nào thuộc KTTT: nhà nước, pháp luật, đảng phái chính
trị, triết học, đạo đức,...đều không thể giải thích từ chính nó, bởi vì, chúng đều trực ếp hoặc
gián ếp phụ thuộc vào CSHT và do CSHT quyết đnh.
Do đặc điểm nói trên, bất khiện tượng nào thuộc kiến trúc thượng tầng: nhà nước, pháp luật,
đảng phái chính trị, triết học, đạo đức,.. đều không thể giải thích từ chính nó, bởi vì, chúng đu
trực ếp hoặc gián ếp phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng và do cơ sở hạ tầng quyết định.
Những biến đổi căn bản trong sở hạ tầng sớm hay muộn sdẫn đến sự biến đổi căn bản
trong kiến trúc thượng tầng. Sự biến đổi đó diễn ra trong từng hình thái kinh tế-xã hội và rõ rệt
hơn khi chuyển từ hình thái kinh tế-xã hội này sang hình thái kinh tế-hội khác. Sự biến mất của
một kiến trúc thượng tầng không diễn ra một cách nhanh chóng, những yếu tố của kiến trúc
thượng tầng cũ còn tồn tại dai dẳng sau khi cơ sở kinh tế của nó đã bị êu diệt. Có những yếu tố
của kiến trúc thượng tầng được giai cấp cầm quyền mới sử dụng để y dựng kiến trúc thượng
tầng mới.
Do đó, nh quyết định của sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng diễn ra rất phức tạp trong
quá trình chuyển từ hình thái kinh tế-xã hội này sang hình thái kinh tế-xã hội khác.
Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT:
Sự tác động trở lại của KTTT đối vớI CSHT được thể hin chc năng xã hội của KTTT là bảo vệ,
duy trì, củng cố và phát triển CSHT sinh ra nó, đấu tranh xóa bỏ CSHT và KTTT cũ.
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, KTTT bảo đảm sự thống trị chính trị và tư tưởng của giai cấp
giữ địa vị thống trị trong kinh tế.
Trong các bộ phận của KTTT, nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng, tác dụng to lớn đi
với sở hạ tầng. Nhà nước không chỉ dựa vào hệ tưởng mà còn dựa vào chức năng kiểm soát
hội đtăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp thống trị. Ăngghen viết: “bạo lực (nghĩa
quyền lực nhà nước) cũng một lực lượng kinh tế”. Các bộ phận khác của KTTT như triết học,
lOMoARcPSD| 61457685
đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cũng tác động đến CSHT, nhưng thường thường phải thông qua
nhà nước, pháp luật.
Chnghĩa duy vật lịch sử khẳng định, chỉ KTTT ến bộ nảy sinh trong quá trình của sở kinh
tế mới – mới phản ánh nhu cầu của sự phát triển kinh tế, mới có thể thúc đẩy sự phát triển kinh
tế-xã hội. Nếu KTTT sản phẩm của cơ sở kinh tế đã lỗi thời thì gây tác dụng kìm hãm sự phát
triển kinh tế - xã hội. Tất nhiên sự kìm hãm chỉ tạm thời, sớm muộn sẽ bị cách mạng khắc
phc.
- Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTTớc ta hiện nay:
ới chủ nghĩa hội hoàn chỉnh, CSHT và KTTT thuần nhất và thống nhất. Vì CSHT xã hội chủ nghĩa
không nh chất đối kháng, không bao hàm những lợi ích kinh tế đối lập nhau. Hình thức sở hữu
bao trùm là sở hữu toàn dân và tập thể, hợp tác tương trợ nhau trong quá trình sản xuất, phân phối
sản phẩm theo lao động, không còn chế độ bóc lột.
KTTT xã hội chủ nghĩa phản ánh CSHT của xã hội chủ nghĩa, vì vậy mà có sự thống trị về chính trị và
nh thần. Nhà nước phải thực hiện biện pháp kinh tế vai trò quan trọng nhằm từng bước hội
hóa nền sản xuất với hình thức và bước đi thích hợp theo hướng như: kinh tế quốc doanh được củng
cố và phát triển vươn lên giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể ới hình thức thu hút phần lớn những
nguòi sản xuất nhỏ trong các ngành nghề, các hình thức nghiệp, công cổ phần phát triển mạnh,
kinh tế tư nhân và gia đình phát huy được mọi ềm năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng
sở kinh tế hợp lý. Các thành phần đó vừa khác nhau về vai trò, chức năng, nh chất, vừa thống nhất
với nhau trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất mà còn cạnh tranh nhau, liên kết và bổ sung
cho nhau.
VKTTT, Đảng ta khẳng định: lấy chủ nghĩa Marx-Lenin tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam
cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Nội dung cốt lõi của chủ nghĩa MarxLenin
tưởng hồ Chí Minh tưởng về sự giải phóng con người khỏi chế độ áp bức bóc lột, thoát
khỏi nỗi nhục của mình là đi làm thuê bị đánh đập, lương ít. Trong cương lĩnh y dựng đất nước thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ghi rõ: “xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
nhà nước của dân, do dân và vì dân, liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp tri
thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo”.
Câu 9: Vì sao nói sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên?
Với kết luận “Sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên”. C.Mác
đã m thấy động lực phát triển của lịch sử không phải do một lực lượng siêu tnhiên nào, mà chính là
thông qua hoạt động của con người dưới sự tác động của các quy luật khách quan. Do đó, cần phải hiểu
kết luận này từ hai khía cạnh khác nhau:
- Thnhất, kết luận ấy của C.Mác biểu hiện tập trung nhất của quan niệm duy vật về lịch svà
được xuất phát từ một sự thật hiển nhiên là: “Trước hết con người cần phải ăn, uống, và mặc,
nghĩa là phải lao động, trước khi có thể đấu tranh để giành quyền thống trị, trước khi có thhot
động chính trị, tôn giáo, triết học,.... Tsự thật hiển nhiên ấy, cho phép chúng ta khẳng định rằng,
lOMoARcPSD| 61457685
lịch sử phát triển của hội loài người thực chất lịch sử phát triển của sản xuất vật chất. Để
thoả mãn nhu cầu trong quá trình tồn tại phát triển của mình, loài người phải ến hành sản
xuất ra của cải vật chất. Sản xuất vật chất lại luôn luôn vận động phát triển không ngừng, sự
phát triển đó bao giờ cũng bắt đầu từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết công cụ
lao động cái mà con người thường xuyên sáng tạo, cải ến và phát triển qua các trình độ khác
nhau. Do đó, nó kéo theo sự biến đổi, thay thế lẫn nhau của các quan hệ sản xuất và hình thành
các phương thức sản xuất kế ếp nhau. Phương thức sản xuất thay đổi kéo theo toàn bộ trật tự
xã hội thay đổi, đó chính là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế hội. Theo quy luật
phát triển, hình thái kinh tế – xã hội ến bộ hơn, cao hơn sẽ ra đời thay thế hình thái kinh tế – xã
hội cũ đã tỏ ra lỗi thời và lạc hậu. Như vậy, sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội
trong lịch smột quá trình phát triển từ thấp đến cao theo quy luật khách quan, không phụ
thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.
- Thứ hai, động lực thúc đẩy các hình thái kinh tế – xã hội phát triển lại nằm ngay trong lòng xã hội.
Đó chính là các mâu thuẫn xã hội, mà trước hết là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất, mâu thuẫn giữa sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, mâu thuẫn giữa các giai cấp
(trong hội giai cấp)… Chính sự tác động của các quy luật khách quan làm cho các hình thái
kinh tế xã hội thay thế nhau là con đường phát triển chung của lịch sử xã hội loài người. Song,
con đường phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc còn chịu sự chi phối của những điều kiện về tự
nhiên, về chính trị, về truyền thống văn hoá, vđiều kiện quốc tế và thời đại… Do đó, lịch sử phát
triển của xã hội loài người là thông qua các hình thái kinh tế – xã hội từ thấp đến cao. Tuy nhiên,
cũng có những quốc gia, dân tộc có thể bỏ qua một, vài hình thái kinh tế- xã hội nào đó. Việc bỏ
qua ấy cũng phải được diễn ra theo một quá trình lịch sử tự nhiên tuyệt đối không được xuất
phát từ ý muốn chủ quan của quốc gia, dân tộc y.
Như vậy, nếu chúng ta quy các quan hệ hội vào các quan hệ sản xuất, rồi đem quy các quan hệ
sản xuất vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thì sẽ thấy được sự phát triển của các hình
thái kinh tế – xã hội như là một quá trình lịch sử – tự nhiên.
Câu 10: Nguồn gốc ra đời của giai cấp và dân tộc?
- Giai cấp tập đoàn người, tập đoàn này thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do
chỗ tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế - xã hội nht định.
Nguyên nhân trực ếp: sự ra đời tồn tại của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
Chế độ này duy trì và thúc đẩy bất bình đẳng về kinh tế và sự phân hóa địa vị xã hội ngày một
mẽ hơn, dẫn đến hình thành các giai cấp. Chừng nào đâu còn tồn tại chế độ tư hữu về
liệu sản xuất thì ở đó còn tồn tại giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Nguyên nhân sâu xa: sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản
xuất làm cho năng suất lao động tăng lên, xuất hiện của cải thừa, tạo khả năng khách quan
cho tập đoàn người này chiếm đoạt lao động của tập đoàn người khác.
- Theo quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin, dân tộc được hiểu như sau: Dân tộc một cộng đồng người
ổn định được hình thành trong lịch sử trên cơ sở một lãnh thổ thống nhất, một ngôn ngữ thng
nhất, một nền kinh tế thống nhất, một nền văn hóa và tâm lý, nh cách thống nhất, với một nhà
ớc pháp luật thống nhất. Dân tộc có thể từ một bộ tộc phát triển lên và cũng thể do nhiều
lOMoARcPSD| 61457685
bộ tộc tập hợp lại. Tuy nhiên, các mối liên hệ giữa các thành viên trong bộ tộc còn lỏng lẻo, yếu
ớt, còn ở các dân tộc các mối liên hệ trong cộng đồng ổn định và bền vững hơn.
châu Âu: dân tộc gắn liền với sự ra đời của CNTB, hình thành theo hai phương thức chủ
yếu sau:
Dân tộc hình thành từ nhiều bộ tộc khác nhau trong một quốc gia, qtrình hình thành dân
tộc đây vừa thống nhất lãnh thổ, thị trường đồng thời đồng hóa các bộ tc khác nhau thành
một dân tộc duy nhất, quốc gia dân tộc độc lập
Do điều kiện, chế độ phong kiến bị thêu, chủ nghĩa bản phát triển còn yếu, dân tộc
được hình thành tmột bộ tộc đây không quá trình đồng hóa chỉ thống nhất các
lãnh thổ phong kiến thành một quốc gia gồm nhiều dân tộc. Trong đó mỗi dân tộc hình thành
từ một bộ tộc riêng.
Ở phương Đông (châu Á): dân tộc hình thành từ rất sớm, không gắn với sự ra đời của CNTB.
Thực ễn lịch sử của những nền văn minh lớn như Trung Quốc, Ấn Độ,... hay của chính Việt
Nam đã chứng minh cho điều đó.
Tại Việt Nam:
Dân tộc hình thành gắn với nhu cầu dựng nước, giữ ớc, chống giặc ngoại m, cải tạo
thiên nhiên, bảo vệ nền văn hóa dân tộc.
Dân tộc Việt Nam có một ngôn ngữ, một lãnh thổ, một nền kinh tế thng nhất, một nhà
ớc, luật pháp, một nền văn hóa thống nhất.
Khoa học lịch sử chứng minh quá trình hình thành dân tộc bắt đầu khi nước Đại Việt giành
được độc lập cho đến thời Lý – Trần
Hình thành dân tộc Việt Nam giống như việc hình thành nhà nước, nó tạo sự cố kết cộng
đồng của dân tộc ta.
Câu 11: Con người thường chia làm hai phần, quan điểm này đúng hay sai?
- Con người trong triết học Mác-Lênin một sinh vật nh hội một trình độ cao nhất của
giới tự nhiên của lịch sử hội, là chủ thcủa lịch sử, sáng tạo nên tất cả các thành tựu của văn
minh và văn hóa.
- Theo quan niệm phổ biến hiện nay, nhiều người cho rằng con người hai phần: phần con
phần người. Phần con là phần bản năng, thể hiện bản nh sinh học cơ bản của con người có ở
mọi sinh vật sống; phần người phần có được thông qua lao động, kcả lao động chân tay lẫn
lao động trí óc, là cái khác biệt cơ bản để có thể phân biệt được giữa loài người với loài vật...
- Tuy nhiên, quan niệm trên là chưa đúng xét theo góc độ lý luận từ ch nghĩa Mác-Lênin. Bởi theo
như lý luận này, con người chỉ một phần, thực thể duy nhất mang đặc nh hội; sự thng
nhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61457685
Câu 1: Lịch sử xã hội loài người đã trải qua mấy hình thái kinh tế - xã hội? -
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ một giai đoạn
lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình
độ nhất định của lực lượng sản xuất, và với một kiến thức thượng tầng tương ứng đối với quan hệ sản xuất đó. -
Theo chủ nghĩa Marx-Lenin, lịch sử xã hội loài người đã trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao:
• Công xã nguyên thủy: là hình thái kinh tế xã hội đầu tiên và sơ khai nhất trong lịch sử loài
người. Trong xã hội công xã nguyên thủy, tư liệu lao động được sử dụng thô sơ, chủ yếu
là đồ đá, thân cây để tạo ra các công cụ lao động. Do đó, cơ sở kinh tế thời kỳ này là sự sở
hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Như vậy, đặc điểm về tư liệu sản
xuất, cơ sở kinh tế là điểm nổi bật để so sánh công xã nguyên thủy với các hình thái kinh
tế xã hội khác. Xuất phát từ cơ sở kinh tế, xã hội công xã nguyên thủy chưa có giai cấp, do
đó Nhà nước và hệ thống luật pháp chưa được thiết lập. Quan hệ sản xuất lúc này là quan
hệ bình đẳng, có phúc cùng hưởng.
• Chiếm hữu nô lệ: xuất hiện tương đối sớm ở những nền văn minh lớn của phương Đông,
khoảng năm 3000TCN ở các nước Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ,... sau khi chế độ thị tộc tồn
tại trong công xã nguyên thủy tan rã. Đây là xã hội có nhà nước và các cuộc các mạng xã
hội đầu tiên trong lịch sử loài người. Trong hình thái kinh tế xã hội này, chế độ công hữu
được thay thế bằng chế độ tư hữu chủ nô. Bên cạnh đó, xã hội biến đổi từ không có thành
có giai cấp. Trong đó, có hai giai cấp chủ yếu nhất là chủ nô và nô lệ, có sự mâu thuẫn và
đối kháng gay gắt. Do đó, có thể thay thế chế độ tự quản thị tộc bằng trật tự có Nhà nước
của giai cấp chủ nô. Giai cấp chủ nô dùng bộ máy cai trị của mình từ đó bóc lột sức lao
động của nô lệ. Đây là kiểu nhà nước đầu tiên – Nhà nước chủ nô.
• Phong kiến: là cấu trúc xã hội xoay quanh những mối quan hệ xuất phát từ viêc sở hữu
đất đai để đổi lấy lao động. Cũng có nghĩa đây là hình thái phong kiến có sự thay thế
phương pháp bóc lột sức lao động trong xã hội chiếm hữu nô lệ bằng hình thức bóc lột
địa tô. Người nông dân được giao đất đai và canh tác trên những thửa ruộng của mình,
đến kỳ hạn phải có nghĩa vụ nộp tô thuế cho địa chủ. Cứ như vậy, trong hình thái kinh tế
xã hội này đã hình thành nên hai hiai cấp, đó là giai cấp thống trị (quý tộc, địa chủ, điền
chủ,...) và giai cấp bị trị (nông nô, nông dân,...).
• Tư bản chủ nghĩa: xuất hiện đầu tiên ở châu Âu và phát triển trong lòng xã hội phong kiến
châu Âu và chính thức được xác lập như một hình thái xã hội tại Hà Lan thế kỷ XVII. Đây
là một hệ thống kinh tế dựa trên cơ sở quyền sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất và
hoạt động sản xuất vì lợi nhuận. Chủ nghĩa tư bản có các đặc trưng đó là tài sản tư nhân,
tích lũy tư bản, lao động tiền lương, trao đổi tự nguyện, một hệ thống giá ả và thị trường
cạnh tranh. Bản chất sự “bóc lột” nằm ở giá trị thặng dư mà sức lao động tạo ra khi các
nhà tư bản thuê lao động và sử dụng sức lao động. Hình thái này được thể hiện dưới các
hình thức chủ yếu như chủ nghĩa tư bản tiên tiến, chủ nghĩa tư bản tài chính, chủ nghĩa
trọng thương, kinh tế thị trường tự do, kinh tế thị trường xã hội, chủ nghĩa tư bản nhà
nước, chủ nghĩa tư bản độc quyền. lOMoAR cPSD| 61457685
• Cộng sản chủ nghĩa: là hình thái phát triển cao nhất trong 5 hình thái kinh tế xã hội của
loài người. Cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền sản xuất công nghiệp hiện
đại gắn liền với lực lượng sản xuất đã phát triển ở trình độ cao. Trong hình thái kinh tế xã
hội này, chế độ công hữu về tư liệu sản xuất được thiết lập. Từ đó, xóa bỏ những mâu
thuẫn đối kháng trong xã hội, giúp gắn bó các thành viên trong xã hội với nhau vì lợi ích
căn bản, được thể hiện qua các đặc điểm như sau:
o Chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động: “làm theo năng
lực, hưởng theo lao động” (trong xã hội cộng sản chủ nghĩa – bước phát triển cao
hơn nữa của xã hội chủ nghĩa, khi sức sản xuất đạt tới trình độ và năng suất cực
cao – sẽ là “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”).
o Nhà nước xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa xã hội là nhà nước kiểu mới, mang bản
chất của giai cấp công nhân, mang bản chất nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu
sắc, thực hiện quyền lực và lợi ích của nhân dân, được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản.
o Chủ nghĩa xã hội giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, thực hiện công bằng,
bình đẳng, tiến bộ xã hội, tạo những điều kiện cơ bản để con người phát triển.
 Như vậy, có thể thấy 5 hình thái kinh tế xã hội có sự phát triển từ thấp đến cao theo quy luật vận
động và phát triển khách quan của xã hội. Trong đó, cơ sở kinh tế, quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội
tạo nên đặc điểm khác biệt của mỗi hình thái kinh tế xã hội.
Câu 2: Trong các hình thái ý thức xã hội, hình thái ý thức xã hội nào là quan trọng nhất? -
Ý thức xã hội tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau nhưng những hình thái chủ yếu của ý thức xã
hội bao gồm ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức nghệ thuật (hay còn gọi
là ý thức thẩm mỹ), ý thức tôn giáo, ý thức ý luận (hay còn gọi là ý thức khoa học) và ý thức triết
học. Tính phong phú đa dạng của các hình thái ý thức xã hội phản ánh tính phong phú, đa dạng
của bản thân đời sống xã hội. -
Trong các hình thái ý thức xã hội có những hình thái gần với cơ sở kinh tế của tồn tại xã hội hơn,
có những hình thái ý thức xã hội xa cơ sở kinh tế hơn so với các hình thái ý thức xã hội khác. Vì
vậy các hình thái ý thức chính trị và ý thức pháp quyền gần gũi với cơ sở kinh tế hơn cả. Đầu tiên
là hình thái ý thức chính trị. Hình thái ý thức chính trị là hình thái ý thức chỉ xuất hiện và tồn tại
trong các xã hội có giai cấp và nhà nước. Nó phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa
các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia cũng như thái độ của các giai cấp đối với quyền lực nhà
nước. Ý thức chính trị thực tiễn thông thường hình thành từ trực tiếp từ các hoạt động thực tiễn
trong môi trường chính trị của xã hội. Ở trạng thái tâm lí xã hội, những cảm xúc và tâm trạng về
chính trị của quần chúng cảm xúc và tâm trạng về chính trị của quần chúng thường thiếu bền vững
và không ổn định. Song, những trạng thái tâm lí xã hội như vậy lại đóng vai trò to lớn và trực tiếp
đối với hành vi chính trị của quần chúng đông đảo. Thông qua đó hệ tư tưởng chính trị tác động
vào đời sống chính trị của xã hội. Hệ tư tưởng của một giai cấp chính trị nhất định phản ánh trực
tiếp tập trung lợi ích giai cấp của giai cấp ấy. Ý thức chính trị được thể hiện trong đường lối, cương
lĩnh chính trị của các chính đảng của các giai cấp khác nhau cũng như trong luật pháp chính sách
nhà nước – công cụ của giai cấp thống trị, hệ tư tưởng chính trị được hình thành một cách tự giác. lOMoAR cPSD| 61457685
Nó được các nhà tư tưởng của giai cấp xây dựng và truyền bá. Hệ tư tưởng chính trị gắn với các
tổ chức chính trị, thông qua các tổ chức chính trị mà một giai cấp nào đó tiến hành cuộc đấu tranh
giành ý thức. Vì lợi ích của giai cấp của mình, ý thức chính trị đặc biệt là hệ tư tưởng chính trị có
vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Thông qua tổ chức nhà nước nó tác động trở lại
cơ sở kinh tế và có thể trong những giới hạn nhất định làm thay đổi cơ sở kinh tế. Hệ tư tưởng
chính trị cũng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, nó thâm nhập vào các hình
thái ý thức xã hội khác, tác động tích cực hoặc tiêu cực của hệ tư tưởng chính trị cũng như ý thức
chính trị nói chung phụ thuộc vào tính tiến bộ, cách mạng hoặc phản tiến bộ, phản cách mạng của
giai cấp mang hệ tư tưởng đó. Khi giai cấp đó tiến bộ, cách mạng tiêu biểu làm cho xu thế phát
triển đi lên của lịch sử thì hệ tư tưởng chính trị của nó có tác động tích cực đến sự phát triển xã
hội. Khi giai cấp đó trở thành lạc hậu, phản cách động thì hệ tư tưởng chính trị của nó có tác động
tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Ý thức pháp quyền là toàn bộ các tư tưởng, quan
điểm của một giai cấp về bản chất và vai trò của pháp luật, về quyền và nghĩa vụ của nhà nước,
các tổ chức xã hội và công dân, về tính hợp pháp và không hợp pháp của hành vi con người trong
xã hội, cùng với nhận thức và tình cảm của con người trong việc thực thi pháp luật của Nhà nước.
Ý thức pháp quyền ra đời cùng với nhà nước. Giữa hai hình thái này có sự gần nhau về cả nội dung
và hình thức. Ý thức pháp quyền phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế của xã hội, trước hết là
các quan hệ sản xuất được thể hiện trong hệ thống pháp luật. Pháp luật là ý chí của giai cấp thống
trị được thể hiện thành luật lệ do đó Pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện thành
luật lệ, do đó mỗi chế độ xã hội, mỗi nhà nước chỉ có một hệ thống pháp luật của giai cấp nắm
chính quyền. Nhưng trong xã hội có các giai cấp đối kháng, các giai cấp khác nhau lại có những ý
thức khác nhau về pháp luật, phản ánh lợi ích của giai cấp mình. Do đó, hiệu lực của pháp luật
không những phụ thuộc vào sức mạnh cưỡng chế của nhà nước mà còn phụ thuộc vào trình độ
hiểu biết và tâm lí pháp luật của xã hội.
Câu 3: Tại sao nói đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân? -
Chủ nghĩa xã hội (CNXH) là một trong ba ý thức hệ chính trị lớn hình thành trong thế kỷ 19. Khi
các quốc gia tìm kiếm cho mình một cách thức hợp lý trong phát triển và xây dựng nhà nước. Bên
cạnh chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa bảo thủ. Trong tính chất lựa chọn đối với mức độ và tính chất
chi phối trong hoạt động quản lý nhà nước. Nó bao gồm một loạt các định hướng chính trị. Chủ
nghĩa xã hội ở Việt nam gắn liền với đường lối lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam. Đây được
coi là cách thức và hình thái chính trị phù hợp và tiến bộ nhất. Những hiệu quả trong công tác
quản lý nhà nước được phản ánh. Với sự lãnh đạo và dẫn dắt của một tầng lớp lãnh đạo. Vạch ra
những chính sách, hoạch định và đường lối cho phát triển, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội. Bên
cạnh các phối hợp, phân chia quyền lực và thực thi. Mang đến sự đảm bảo cho công bằng, dân
chủ và văn minh. Các công dân được đảm bảo cho các quyền lợi bên cạnh những nghĩa vụ cơ bản
với nhà nước. Trong đó, các quyền lợi vừa mang đến lợi ích cho phát triển nền kinh tế nói chung. -
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Với truyền thống yêu nước, từ cuối thế kỷ
XIX – đầu thế kỷ XX, ở nước ta đã xuất hiện những phong trào yêu nước chống thực dân Pháp,
theo những khuynh hướng khác nhau: Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến, tiêu
biểu là phong trào Cần Vương (1885 – 1896) và phong trào khởi nghĩa nông dân Yên Thế; phong
trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản, tiêu biểu là xu hướng bạo động do Phan Bội lOMoAR cPSD| 61457685
Châu tổ chức, lãnh đạo; xu hướng cải cách do Phan Châu Trinh đề xướng và tổ chức, khởi nghĩa
của Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học đứng đầu. Tất cả những phong trào yêu nước
đó đều bị thất bại, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn. Yêu cầu
lịch sử đòi hỏi phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc. -
Năm 1917, cuộc Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi đã mở ra thời đại mới trong lịch sử loài
người – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Ngày 05/6/1911, Nguyễn Tất
Thành ra đi tìm đường cứu nước, tháng 7 năm 1920, Người đọc Sơ thảo Lần thứ nhất Luận cương
về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin và đi đến kết luận quan trọng: Muốn cứu nước và
giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Vào những
năm 1929 – 1930, phong trào công nhân ở nước ta phát triển mạnh mẽ đưa đến sự ra đời các tổ
chức cộng sản như: Đông Dương Cộng sản Đảng (6/1929); An Nam Cộng sản Đảng (11/1929);
Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (01/1930). Việc các tổ chức cộng sản liên tiếp xuất hiện chứng
tỏ phong trào công nhân của Việt Nam phát triển mạnh mẽ, nhưng nhiều tổ chức cộng sản ra đời
đã tranh giành quần chúng, ảnh hưởng không tốt đến phong trào. Nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng
sản, Hồ Chí Minh về Hương Cảng, Trung Quốc tổ chức hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở
nước ta thành Đảng Cộng sản Việt Nam (từ ngày 06 đến ngày 07 tháng 2 năm 1930). Hội nghị đã
thông qua các văn kiện quan trọng, trong đó có Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng,
xác định Việt Nam “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng
sản”. Kể từ đây, Đảng và dân tộc ta dứt khoát lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực
hiện Cương lĩnh của Đảng, cách mạng nước ta đã giành những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách
mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc
kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại
thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ Quốc, làm tròn
nghĩa vụ quốc tế. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng đã lãnh đạo tiến
hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Do chủ quan nóng vội, muốn nhanh chóng
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội dẫn đến sai lầm đường lối ở một số lĩnh vực, từ đó dẫn đến
sự khủng khoảng kinh tế - xã hội ở nước ta (1979 -1986), nước ta rơi vào hoàn cảnh cực kỳ khó
khăn, lạm phát phi mã, đời sống nhân dân cơ cực, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội không
ổn định, yêu cầu khách quan đặt ra là cần phải đổi mới đất nước.Ngày 15/12/1986 tại Đại hội VI
với tinh thần nhìn thẳng sự thật, nói đúng sự thật, Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện
gồm: Đổi mới cơ cấu kinh tế, “coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của
thời kỳ quá độ”; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong đó đổi mới kế hoạch hóa, kết hợp kế hoạch
hóa với thị trường, từng bước đưa nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý kinh
tế của nhà nước; đổi mới và tăng cường vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước về kinh tế, “Phân
biệt rõ chức năng quản lý hành chính – kinh
tế của các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương với chức năng quản lý sản xuất – kinh
doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở”; đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại, trên cơ sở mở rộng và
nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, tạo điều kiện cho người nước ngoài và Việt kiều về nước đầu
tư, hợp tác kinh doanh; Đổi mới tư duy lý luận và phong cách lãnh đạp của Đảng, trên cơ sở nâng
cao nhận thức lý luận, vận dụng đúng quy luật khách quan, khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí lOMoAR cPSD| 61457685
hoặc bảo thủ trì trệ. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng có ý nghĩa lịch sử trọng đại,
đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội đã tìm lối
thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội bằng việc đề ra đường lối đổi mới, đặt nền tảng cho
việc tìm ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Các chủ trương, chính sách đổi mới bắt đầu mang
lại kết quả rõ rệt, tình hình kinh tế và đời sống nhân dân dần được cải thiện, sinh hoạt dân chủ
trong xã hội ngày càng được phát huy, lòng tin của nhân dân vào công cuộc đổi mới tăng lên... -
Đảng ta đã đạt được những thành tựu nhất định trong công cuộc chống giặc ngoại xâm. Đảng đã
lãnh đạo quần chúng nhân dân đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ bảo vệ nền
độc lập của nước nhà. Qua đó làm cho nhân dân thêm lòng tin, niềm tin vào con đường xã hội chủ
nghĩa mà Đảng đã chọn. Nhờ thực hiện đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền
kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tăng trưởng cao trong suốt 35 năm qua
với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng,
năm 2020 đạt 342,7 tỉ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập
bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 2.779 USD/người/năm (năm 2020); Việt Nam
đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền
miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành
một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển
khá nhanh, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng
kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất
khẩu đạt trên 280 tỉ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Đầu tư nước
ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỉ USD vào cuối năm 2020... Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII của Đảng khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về
chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và
từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử,
phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn,
chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín
quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả
một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp
với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi
mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi
thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Nói về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam hiện nay, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận định: Xây dựng chủ nghĩa xã hội là
kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự
nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó
khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Vì vậy, bên cạnh
việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh
mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và
nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu,
nguyện vọng của mình. Ngày 22-10-2018 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng
cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lOMoAR cPSD| 61457685
trong tình hình mới” trong đó xác định các nội dung mà các thế lực thù địch chống phá nước ta
bao gồm: một là, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin; hai là, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh; ba là
chống phá quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trên
tất cả các lĩnh vực; bốn là phủ nhận những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử chúng ta đã đạt
được dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Câu 4: Tại sao nói chủ nghĩa duy vật lịch sử là phát kiến vĩ đại đầu tiên của Marx? -
Xét về góc độ phát triển của lịch sử tư tưởng Triết học, trước khi Triết học Mác Lenin ra đời thì
không có một nhà triết học nào dù ở phương Đông hay phương Tây, dù ở thời kỳ cổ đại hay thời
kỳ cận đại có thể đạt tới quan niệm duy vật biện chứng về lịch sử. Do đó chưa thể xác lập được
phương pháp luận chung cho việc nghiên cứu lý giải một cách khoa học về xã hội. -
Xét từ góc độ của việc hoàn thiện, phát triển chủ nghĩa duy vật trong lịch sử, trong thực tế lịch sử
tư tưởng của nhân loại, chủ nghĩa duy vật thường gắn chặt với lịch sử phát triển của khoa học.
Một mặt chủ nghĩa duy vật khái quát những nguyên lý chung từ những thành tựu nghiên cứu khoa
học của các thời đại. Mặt khác, nhờ khái quát được những nguyên lý chung, triết học lại có thể
định hướng cho sự nghiên cứu, khám phá khoa học. Chủ nghĩa duy vật trước Mác, dù có rất nhiều
thành tựu nhưng cơ bản chỉ có thể xây dựng quan điểm duy vật về thế giới tự nhiên. Hơn nữa đó
là quan niệm duy vật siêu hình. Chỉ có quan điểm duy vật biện chứng về xã hội mới có thể đem lại
phương pháp luận khoa học chính xác để nghiên cứu đúng đắn về xã hội, chỉ ra cơ cấu khách quan
và các quy luật khách quan của đời sống xã hội. -
Xét từ góc độ bản thân cấu trúc logic của nội dung lý luận chủ nghĩa Mác, sự ra đời của chủ nghĩa
duy vật lịch sử đóng vai trò hoàn thiện những nguyên lý cơ bản của những nội dung thuộc về chủ
nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật là tiền đề phương pháp luận triết học trực
tiếp của việc nghiên cứu sáng tạo ra các học thuyết kinh tế về phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa mà trọng tâm là học thuyết giá trị thặng dư đồng thời là tiền đề phương pháp luận trực tiếp
của việc nghiên cứu và giải quyết những vấn đề thuộc nội dung lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội. -
Xét từ góc độ vai trò của chủ nghĩa duy vật lịch sử với lịch sử phát triển của các khoa học xã hội,
trong lịch sử phát triển của các khoa học về xã hội như là chính trị học, pháp luật, đạo đức học,...
trước Mác về cơ bản đều theo phương pháp luận duy tâm, do đó, không thể giải thích một cách
chính xác các hiện tượng trong đời sống xã hội và lịch sử nhân loại. Đối với một số nhà nghiên cứu
kinh tế như Adam Smith, David Ricardo,... trong kinh tế chính trị học cổ điển Anh, dưới ảnh hưởng
của phương pháp duy vật tự nhiên của các nhà triết học duy vật. Thời kỳ cận đại ở Tây u đã xem
xét sự vận động của kinh tế theo quy luật khách quan nhưng coi đó cũng chính là những quy luật
tự nhiên mà chưa thấy được tính đặc thù của các quy luật xã hội. -
Xét từ góc độ vai trò của chủ nghĩa duy vật lịch sử đối với thực tiễn cách mạng nói chung và Việt
Nam nói riêng trong thời kỳ đổi mới hiện nay, các cái nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch
sử đóng vai trò là cơ sở phương pháp luận Triết học trực tiếp nhất để các Đảng Cộng sản phân tích
những vấn đề kinh tế chính trị, văn hóa, xã hội của thời đại và của chính nước mình từ đó có thể
đề ra đường lối cách mạng đúng đắn.  (kết luận) lOMoAR cPSD| 61457685
Câu 5: Sản xuất vật chất là gì? Vai trò và ý nghĩa của nó? -
Sản xuất vật chất là quá trình mà trong đó, con người sử dụng công cụ lao động tác động trực tiếp
hoặc gián tiếp vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên để tạo ra của cải xã hội
nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người. Có thể khẳng định sản xuất vật chất
lf sơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, quyết định toàn bộ sự vận động, phát
triển của đời sống xã hội. -
Vai trò của sản xuất vật chất:
• Là tiền đề trực tiếp tạo ra tư liệu sinh hoạt của con người: sản xuất vật chất duy trì sự tồn
tại và phát triển cúa con người nói chung cũng như từng cá thể người nói riêng.
K.Marx khẳng định: “Đứa trẻ nào cũng biết rằng bất kể dân tộc nào cũng sẽ diệt vong, nếu
như nó ngừng hoạt động, không phải một năm, mà chỉ mấy tuần thôi”.
• Là tiền đề cho mọi hoạt động lịch sử của con người: hoạt động sản xuất vật chất là cơ sở
hình thành nên quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người, từ đó hình thành nên các
mối quan hệ xã hội khác; nó cũng tạo điều kiện, phương tiện đảm bảo cho hoạt động tinh
thần của con người và duy trì, phát triển phương thức sản xuất tinh thần của xã hội; đồng
thời cũng duy trì sự tồn tại và phát triển của chính bản thân con người: con người đồng
thời sáng tạo ra toàn bộ đời sống vật chất và đời sống tinh thần của xã hội với tất cả sự
phong phú, đa dạng của nó.
• Là điều kiện chủ yếu sáng tạo ra bản thân con người: con người hình thành nên ngôn ngữ,
nhận thức, tư duy tình cảm, đạo đức,... là nhờ có hoạt động sản xuất vật chất. Sản xuất
vật chất là điều kiện cơ bản, quyết định nhất đối với sự hình thành, phát triển phẩm chất
xã hội của con người. Nhờ có lao động sản xuất, con người vừa tách khỏi tự nhiên, vừa
hòa nhập với tự nhiên, cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần, đồng
thời sáng tạo nên chính bản thân con người. -
Ý nghĩa phương pháp luận:
• Nhận thức và cải tạo xã hội phải xuất phát từ đời sống sản xuất, từ nền sản xuất vật chất xã hội.
• Không thể dùng tinh thần để giải thích đời sống tinh thần.
• Để phát triển xã hội phải bắt đầu từ phát triển đời sống kinh tế - vật chất.
Câu 6: Trình bày mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất? Đảng ta đã vận dụng mối quan
hệ này như thế nào? Ý nghĩa? -
Lực lượng sản xuất (LLSX) là sự kết hợp người lao động và tư liệu sản xuất. Chính người lao động
là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng
tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra
của cải vật chất. Công cụ lao động là yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất. Cùng với quá trình
tích lũy kinh nghiệm, với những phát minh và sáng chế kỹ thuật, công cụ lao động không ngừng
được cải tiến và hoàn thiện. Chính sự cải tiến và hoàn thiện không ngừng công cụ lao động đã làm
biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất. Xét đến cùng, đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội. lOMoAR cPSD| 61457685
Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người,
là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử. -
Quan hệ sản xuất (QHSX) là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và
tái sản xuất xã hội). QHSX gồm ba mặt: quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong
tổ chức và quản lý sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra. QHSX do con người
tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc vào
ý muốn chủ quan của con người. Trong ba mặt của QHSX, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là
quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, đặc trưng cho QHSX trong từng xã hội. Quan hệ sở hữu về tư
liệu sản xuất quyết định quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm cũng
như các quan hệ xã hội khác. -
LLSX và QHSX là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động
qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật sự phù hợp của QHSX với trình độ phát
triển của LLSX – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội.
• Tác động của LLSX đến QHSX:
Sự vận động, phát triển của LLSX quyết định và làm thay đổi QHSX cho phù hợp với nó.
Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó QHSX phù hợp với trình độ phát triển củA LLSX.
Sự phát triển của LLSX đến một trình độ nhất định làm cho QHSX từ chỗ phù hợp trở
thành không phù hợp với sự phát triển của LLSX. Yêu cầu khách quan của sự phát triển
LLSX tất yếu dẫn đến thay thế QHSX cũ bằNg QHSX mới phù hợp với trình độ phát triển
mới của LLSX để thúc đẩy LLSX tiếp tục phát triển. Thay thế QHSX cũ bằng QHSX mới cũng
có nghĩa là phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thay thế.
• QHSX lại tác động trở lại LLSX như sau:
LLSX quyết định QHSX, nhưng QHSX cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại
sự phát triển của LLSX.
QHSX quy định mục đích, cách thức của sản xuất, phân phối. Do đó nó trực tiếp ảnh
hưởng đến thái độ của người lao động, năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản
xuất và cải tiến công cụ lao động.Sự tác động của QHSX và LLSX diễn ra theo hai hướng,
hoặc là tích cực, thúc đẩy LLSX phát triển khi nó phù hợp hoặc tiêu cực, kìm hãm LLSX khi nó không phù hợp. -
Từ quy luật ta có thể có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận là: muốn thúc đẩy xã hội phát triển
thì phải tạo điều kiện để phát triển LLSX, phải nâng cao chất lượng lao động, cải tạo công nghệ,
công cụ sản xuất hay nói cách khác là phải phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phải thiết lập
QHSX cho phù hợp với sự phát triển của LLSX. Đối với Việt Nam ta là đang xây dựng nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN, mở đường cho LLSX phát triển, là nền kinh tế có đa hình thức sở
hữu, đa thành phần kinh tế. -
Vận dụng quy luật này ở Việt Nam trước hết cần đánh giá những sai lầm, khuyết điểm thời kỳ
trước đổi mới (việc nhận thức và vận dụng quy luật này còn giản đơn và phạm phải nhiều sai lầm
nghiêm trọng, gây nên nhũng hậu quả nặng nề cho nền kinh tế và xã hội). Thể hiện tập trung ở
quan điểm chính sách cải tạo QHXS cũ, xây dựng QHXS mới: chủ quan duy ý chí, bất chấp quy luật
khách quan bằng cách đốt cháy giai đoạn, thực hiện sự bỏ qua gia đoạn TBCS một cách giản đơn,
máy móc. Thể hiện cụ thể như: Tách rời một cách siêu hình QHXS ra khỏi LLXS, chủ động đẩy nhanh lOMoAR cPSD| 61457685
quá trình, cải tạo và xây dựng quá trình vượt quá xa so với trình độ của LLXS. Do đó nó kìm hãm
sự phát triển của LLXS; Đồng nhất, đơn giản hóa QHXS chỉ còn là QH sở hữu và trong sở hữu chỉ
nhấn mạnh đến hình thức sở hữu công cộng, tập thể. Chẳng hạn: Sai lầm khi hợp tác hóa, đánh
tư sản; Hành chính hóa bộ máy quản lí hành chính, thực hiện cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,
cồng kềnh kém hiệu quả; Về phân phối sản phẩm: Phương thức bình quân chủ nghĩa, cào bằng do
đó triệt tiêu động lực của sự phát triển là lợi ích của người lao động; Về LLXS tập trung ưu tiên cho
việc phát triển công nghiệp nặng và nhận thức công nghiệp hóa chỉ đơn giản xây dựng một số nhà
máy công nặng mà thôi, không chú ý, ít chú ý đến hàng xuất khẩu, hàng tiêu dùng….; Chậm trễ
trong việc thành tựu khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, đặc biệt là đối với lĩnh vực nông nghiệp;
Chưa chú trọng đến việc nâng cao trình độ, đào tạo tay nghề cho người lao động, chưa nhận thức
rõ người lao động là yếu tố quyết định của LLSX. -
Từ Đại hội VI Đảng ta đã có những quan điểm đổi mới: coi trọng phát triển kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Từ
sự đánh giá quá trình cải tạo XHCN đối với các thành phần kinh tế, Đại hội VI của Đảng đã chủ
trương xây dựng và củng cố các mối QHSX XHCN, có chính sách sử dụng và chỉ đạo đúng đắn các
thành phần kinh tế khác. Cải tạo XHCN và xây dựng QHSX mới tiếp tục được khẳng định tại kỳ Đại
hội tiếp sau đó: “Phù hợp với sự phát triển của LLSX, thiết lập từng bước QHSX XHCN từ thấp đến
cao với sự đa dạng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của nhà nước. Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nèn tảng
của nền kinh tế quốc dân...”. Ngay từ Đại hội VI, Đảng đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần là đúng, bởi đường lối đó xuất phát từ trunhf độ và tính chất của LLSX nước ta vừa
thấp, lại không dồng đều nên không thể nóng vội, nhất là xây dựng QHSX một thành phần dựa
trên chế độ công hữu XHCN về tư liệu sản xuất như trước Đại hội VI từng làm, đã đẩy QHSX đi quá
xa so với trình độ đương thời của LLSX. Một nền kinh tế nhiều thành phần đã thúc đẩy sản xuất
phát triển. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần tự nó chứa đựng trong mình những mâu thuẫn.
Có những thành phần kinh tế vì lợi ích của mình có thể hoạt động theo hướng TBCN. Thành phần
kinh tế quốc doanh, tập thể mang tính chất XHCN nhưng chưa thích nghi với cơ chế thị trường,
làm ăn kém hiệu quả, nên ở đây diễn ra cuộc đấu tranh “định hướng” gay gắt. Vì vậy, để thực hiện
được sự định hướng XHCN trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần thì sự lãnh đạo của Đảng và
quản lý kinh tế của Nhà nước giữ vai trò quyết định. Quan điểm cơ chế thị trường dưới sự quản
lý vĩ mô của Đảng ta là đúng. Đó là quan điểm mới về kinh tế XHCN, về thời kỳ quá độ, không dị
ứng mà chấp nhận và sử dụng rộng rãi những quan hệ thị trường để xây dựng CNXH. -
Từ Đại hội VIII, Đảng ta khẳng định: “Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước
ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý,
QHSX tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, đời sống vật chất và tinh thần cao,
quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đến
năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. LLSX lúc đó sẽ
đạt trình độ tương đối hiện đại, phần lớn lao động thủ công được thay thế bằng lao đống ử dụng
máy móc, điện khí hóa cơ bản được thực hiện trong cả nước, nâng cao năng suất lao động và hiệu
quả sản xuất kinh doanh cao hơn nhiều so với hiện nay”. -
Mối quan hệ giữ LLSX và QHSX được phát triển thêm trọng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
IX:”Đảy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ,đưa nước ta trở lOMoAR cPSD| 61457685
thành quốc gia công nghiệp; ưu tiên phát triển LLSX, đồng thời xây dựng QHSX phù hợp trên cả ba
mặt sở hữu, quản lý và phân phối theo định hướng XHCN...”. Về QHSX, Đảng ta có chủ trương
“Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh
doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, cùng phát triẻn lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”. Đảng ta xác định trong tình hình
hiện nay có 6 thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh
tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản Nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, kinh
tế Nhà nước phát huy vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước
định hướng điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Trong chính sách phát triển các thành phần kinh tế, Đảng
ta chủ trương:”Phát triển các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở
hữu giữa các thành phần kinh tế với nhau, giữa trong nước và ngoài nước, phát triển hình thức
kinh tế cổ phần nhằm huy động sử dụng rộng rãi vốn đầu tư xã hội; nhân rộng mô hình hợp tác,
liên kết công và nông nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước và kinh tế hộ nông thôn; phát triển loại hình
trang trại với quy mô phù hợp từng địa bàn”. -
Tại Đại hội X, Đảng ta khẳng định: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trương phải giữ vũng định hướng
XHCN. Đó là thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; giải
phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triẻn
kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò
chủ đạo; kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của
nền kinh tế quốc dân. Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước: Nhà nước làm tốt các
chức năng định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch và các cơ chế; chính sách trên
cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường. Tạo ra môi trường pháp lý và cơ chế, chính sách
thuận lợi để phát huy các nguồn lực của xã hội để xã hội phát triển. Bảo đảm tính bền vững và tích
cực của sự cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường. Thực
hiện quản lý Nhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt
động của thị trường và doanh nghiệp... Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các
loại thị trường cơ bản theo cơ ché cạnh tranh lành mạnh. Cùng ới việc phát triển mạnh thị trường
hàng hóa, dịch vụ và thị trường sức lao động, cần phát triển vững chắc thị truoengf tài chính, bao
gồm thị trường vốn là thị trường tiền tệ theo hướng đồng bộ, cơ cấu hoàn chỉnh; phát triển thị
trường bất động sản; phát triển thị trường khoa học công nghệ trên cơ sở đổi mới cơ chế, chính
sách để phần lớn các sản phẩm khoa học công nghệ trở thành hoàng hóa. Phát triển mạnh các
thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh. Nước ta có các thành phần kinh tế:
kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản
Nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đồng thời tiếp tục khẳng định các thành phần kinh
tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp
thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bình đẳng trước pháp luật, cùng
phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Về chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa gắn liền với phát triển kinh tế tri thức: Đại hội X nhấn mạnh: phải tranh thủ các cơ
hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế nước ta để rút ngắn quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN gắn với phát triển kinh tế tri thức, phát
triển mạnh các nền kinh tế và các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào trị thức. lOMoAR cPSD| 61457685
 Tóm lại, công cuộc xây dựng CNXH trên đất nước ta, đặc biệt là sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện
đại hóa đang đặt ra một vấn đề hết sức cơ bản và cấp bách là sự kết hợp chặt chẽ sự phát triển
của các LLSX và QHSX Việt Nam. Cần phải đặt lên trước hết sự phát triển của LLSX những không
được sao nhãng sự phát triển của các QHSX. Cần phải không ngừng đổi mới các chính sách kinh
tế sao cho các QHSX luôn luôn phát triển, đóng vai trò tích cực thúc đẩy LLSX, hạn chế triệt tiêu
các tác động kìm hãm, làm cho toàn bộ nền kinh tế của đất nước luôn giữ đúng quỹ đạo độc lập dân tộc và CNXH.
Câu 7: Phương thức sản xuất là gì? Vai trò? Ý nghĩa?
Ở mỗi giai đoạn lịch sử con người tiến hành sản xuất theo một cách thức nhất định, tức là
có một cách sinh sống, cách sản xuất riêng, đó là phương thức sản xuất. Phương thức sản
xuất là cách thức con người tiến hành quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử
nhất định của xã hội loài người. Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản
xuất với một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng. Lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất là các khái niệm chỉ hai mối quan hệ “song trùng” của nền sản xuất vật chất xã
hội, đó là quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa người với người trong quá
trình sản xuất vật chất. “Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo
một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất
được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ
với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất”. Do vậy, phương thức sản xuất là cách thức con người
thực hiện đồng thời sự tác động giữa con người với tự nhiên và sự tác động giữa người với
người để sáng tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu con người và xã hội ở những giai đoạn lịch sử nhất định.
Câu 8: Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng? Nêu ý nghĩa? -
Cơ sở hạ tầng (CSHT) là toàn bộ những quan hệ sản xuất (QHSX) hợp thành cơ cấu kinh tế của một
hình thái kinh tế- xã hội nhất định.
Khái niệm CSHT phản ánh chức năng xã hội của các QHSX với tư cách là cơ sở kinh tế của các hiện
tượng xã hội. CSHT của một xã hội cụ thể bao gồm những CSHT thống trị, những QHSX tàn dư của xã
hội trước và những QHSX là mầm mống của xã hội sau. Trong một CSHT có nhiều thành phần kinh tế,
nhiều QHSX thì kiểu QHSX thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các thành phần kinh tế
và các kiểu QHSX khác; nó quy định và tác động trực tiếp đến xu hướng chúng của toàn bộ đời sống
kinh tế xã hội. Trong xã hội có đối kháng giai cấp, tính giai cấp của cơ sở hạ tầng là do kiểu QHSX thống
trị quy định. Tính chất đối kháng giai cấp và sự xung đột giai cấp bắt nguồn từ ngay trong CSHT. -
Kién trúc thượng tầng (KTTT): là toàn bộ những quan điểm tư tưởng xã hội, những thiết chế tương
ứng và những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
KTTT của xã hội có đối kháng giai cấp bao gồm: hệ tư tưởng và thể chế giai cấp thống trị, tàn dư của
các quan điểm của xã hội trước để lại; quan điểm và tổ chức của các giai cấp trung gian. Tính chất hệ
tư tưởng của giai cấp thống trị quyết định tính chất cơ bản của KTTT trong một hình thái xã hội nhất lOMoAR cPSD| 61457685
định. Trong đó, bộ phận mạnh nhất của KTTT là nhà nước – công cụ của giai cấp thống trị tiêu biểu
cho chế độ xã hội về mặt chính trị, pháp lý. Chính nhờ có nhà nước mà tư tưởng của giai cấp thống trị
mới quản lý được toàn bộ đời sống xã hội. -
Mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT:
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có CSHT và KTTT của nó. Do đó, CSHT và KTTT mang tính lịch sử cụ thể,
giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định.
 Vai trò quyết định của CSHT đối với KTTT:
CSHT nào sinh ra KTTT ấy. Giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị
thống trị trong đời sống tinh thần. QHSX nào thống trị thì tạo ra KTTT chính trị tương ứng. Mâu
thuẫn trong lĩnh vực kinh tế quyết định tính chất mâu thuẫn trong lĩnh vực tư tưởng.
Do đặc điểm nói trên, bất kỳ hiện tượng nào thuộc KTTT: nhà nước, pháp luật, đảng phái chính
trị, triết học, đạo đức,...đều không thể giải thích từ chính nó, bởi vì, chúng đều trực tiếp hoặc
gián tiếp phụ thuộc vào CSHT và do CSHT quyết định.
Do đặc điểm nói trên, bất kỳ hiện tượng nào thuộc kiến trúc thượng tầng: nhà nước, pháp luật,
đảng phái chính trị, triết học, đạo đức,.. đều không thể giải thích từ chính nó, bởi vì, chúng đều
trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng và do cơ sở hạ tầng quyết định.
Những biến đổi căn bản trong cơ sở hạ tầng sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự biến đổi căn bản
trong kiến trúc thượng tầng. Sự biến đổi đó diễn ra trong từng hình thái kinh tế-xã hội và rõ rệt
hơn khi chuyển từ hình thái kinh tế-xã hội này sang hình thái kinh tế-xã hội khác. Sự biến mất của
một kiến trúc thượng tầng không diễn ra một cách nhanh chóng, có những yếu tố của kiến trúc
thượng tầng cũ còn tồn tại dai dẳng sau khi cơ sở kinh tế của nó đã bị tiêu diệt. Có những yếu tố
của kiến trúc thượng tầng cũ được giai cấp cầm quyền mới sử dụng để xây dựng kiến trúc thượng tầng mới.
Do đó, tính quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng diễn ra rất phức tạp trong
quá trình chuyển từ hình thái kinh tế-xã hội này sang hình thái kinh tế-xã hội khác.
 Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT:
Sự tác động trở lại của KTTT đối vớI CSHT được thể hiện ở chức năng xã hội của KTTT là bảo vệ,
duy trì, củng cố và phát triển CSHT sinh ra nó, đấu tranh xóa bỏ CSHT và KTTT cũ.
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, KTTT bảo đảm sự thống trị chính trị và tư tưởng của giai cấp
giữ địa vị thống trị trong kinh tế.
Trong các bộ phận của KTTT, nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có tác dụng to lớn đối
với cơ sở hạ tầng. Nhà nước không chỉ dựa vào hệ tư tưởng mà còn dựa vào chức năng kiểm soát
xã hội để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp thống trị. Ăngghen viết: “bạo lực (nghĩa là
quyền lực nhà nước) cũng là một lực lượng kinh tế”. Các bộ phận khác của KTTT như triết học, lOMoAR cPSD| 61457685
đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cũng tác động đến CSHT, nhưng thường thường phải thông qua nhà nước, pháp luật.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định, chỉ có KTTT tiến bộ nảy sinh trong quá trình của cơ sở kinh
tế mới – mới phản ánh nhu cầu của sự phát triển kinh tế, mới có thể thúc đẩy sự phát triển kinh
tế-xã hội. Nếu KTTT là sản phẩm của cơ sở kinh tế đã lỗi thời thì gây tác dụng kìm hãm sự phát
triển kinh tế - xã hội. Tất nhiên sự kìm hãm chỉ là tạm thời, sớm muộn nó sẽ bị cách mạng khắc phục. -
Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT ở nước ta hiện nay:
Dưới chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh, CSHT và KTTT thuần nhất và thống nhất. Vì CSHT xã hội chủ nghĩa
không có tính chất đối kháng, không bao hàm những lợi ích kinh tế đối lập nhau. Hình thức sở hữu
bao trùm là sở hữu toàn dân và tập thể, hợp tác tương trợ nhau trong quá trình sản xuất, phân phối
sản phẩm theo lao động, không còn chế độ bóc lột.
KTTT xã hội chủ nghĩa phản ánh CSHT của xã hội chủ nghĩa, vì vậy mà có sự thống trị về chính trị và
tính thần. Nhà nước phải thực hiện biện pháp kinh tế có vai trò quan trọng nhằm từng bước xã hội
hóa nền sản xuất với hình thức và bước đi thích hợp theo hướng như: kinh tế quốc doanh được củng
cố và phát triển vươn lên giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể dưới hình thức thu hút phần lớn những
nguòi sản xuất nhỏ trong các ngành nghề, các hình thức xí nghiệp, công ti cổ phần phát triển mạnh,
kinh tế tư nhân và gia đình phát huy được mọi tiềm năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng
cơ sở kinh tế hợp lý. Các thành phần đó vừa khác nhau về vai trò, chức năng, tính chất, vừa thống nhất
với nhau trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất mà còn cạnh tranh nhau, liên kết và bổ sung cho nhau.
Về KTTT, Đảng ta khẳng định: lấy chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam
cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Nội dung cốt lõi của chủ nghĩa MarxLenin
và tư tưởng hồ Chí Minh là tư tưởng về sự giải phóng con người khỏi chế độ áp bức bóc lột, thoát
khỏi nỗi nhục của mình là đi làm thuê bị đánh đập, lương ít. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ghi rõ: “xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
nhà nước của dân, do dân và vì dân, liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp tri
thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo”.
Câu 9: Vì sao nói sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên?
Với kết luận “Sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên”. C.Mác
đã tìm thấy động lực phát triển của lịch sử không phải do một lực lượng siêu tự nhiên nào, mà chính là
thông qua hoạt động của con người dưới sự tác động của các quy luật khách quan. Do đó, cần phải hiểu
kết luận này từ hai khía cạnh khác nhau: -
Thứ nhất, kết luận ấy của C.Mác là biểu hiện tập trung nhất của quan niệm duy vật về lịch sử và
được xuất phát từ một sự thật hiển nhiên là: “Trước hết con người cần phải ăn, uống, ở và mặc,
nghĩa là phải lao động, trước khi có thể đấu tranh để giành quyền thống trị, trước khi có thể hoạt
động chính trị, tôn giáo, triết học,...”. Từ sự thật hiển nhiên ấy, cho phép chúng ta khẳng định rằng, lOMoAR cPSD| 61457685
lịch sử phát triển của xã hội loài người thực chất là lịch sử phát triển của sản xuất vật chất. Để
thoả mãn nhu cầu trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, loài người phải tiến hành sản
xuất ra của cải vật chất. Sản xuất vật chất lại luôn luôn vận động và phát triển không ngừng, sự
phát triển đó bao giờ cũng bắt đầu từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ
lao động – cái mà con người thường xuyên sáng tạo, cải tiến và phát triển qua các trình độ khác
nhau. Do đó, nó kéo theo sự biến đổi, thay thế lẫn nhau của các quan hệ sản xuất và hình thành
các phương thức sản xuất kế tiếp nhau. Phương thức sản xuất thay đổi kéo theo toàn bộ trật tự
xã hội thay đổi, đó chính là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội. Theo quy luật
phát triển, hình thái kinh tế – xã hội tiến bộ hơn, cao hơn sẽ ra đời thay thế hình thái kinh tế – xã
hội cũ đã tỏ ra lỗi thời và lạc hậu. Như vậy, sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội
trong lịch sử là một quá trình phát triển từ thấp đến cao theo quy luật khách quan, không phụ
thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. -
Thứ hai, động lực thúc đẩy các hình thái kinh tế – xã hội phát triển lại nằm ngay trong lòng xã hội.
Đó chính là các mâu thuẫn xã hội, mà trước hết là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất, mâu thuẫn giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, mâu thuẫn giữa các giai cấp
(trong xã hội có giai cấp)… Chính sự tác động của các quy luật khách quan làm cho các hình thái
kinh tế – xã hội thay thế nhau là con đường phát triển chung của lịch sử xã hội loài người. Song,
con đường phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc còn chịu sự chi phối của những điều kiện về tự
nhiên, về chính trị, về truyền thống văn hoá, về điều kiện quốc tế và thời đại… Do đó, lịch sử phát
triển của xã hội loài người là thông qua các hình thái kinh tế – xã hội từ thấp đến cao. Tuy nhiên,
cũng có những quốc gia, dân tộc có thể bỏ qua một, vài hình thái kinh tế- xã hội nào đó. Việc bỏ
qua ấy cũng phải được diễn ra theo một quá trình lịch sử – tự nhiên tuyệt đối không được xuất
phát từ ý muốn chủ quan của quốc gia, dân tộc ấy.
 Như vậy, nếu chúng ta quy các quan hệ xã hội vào các quan hệ sản xuất, rồi đem quy các quan hệ
sản xuất vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thì sẽ thấy được sự phát triển của các hình
thái kinh tế – xã hội như là một quá trình lịch sử – tự nhiên.
Câu 10: Nguồn gốc ra đời của giai cấp và dân tộc? -
Giai cấp là tập đoàn người, mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do
chỗ tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế - xã hội nhất định.
• Nguyên nhân trực tiếp: sự ra đời và tồn tại của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
Chế độ này duy trì và thúc đẩy bất bình đẳng về kinh tế và sự phân hóa địa vị xã hội ngày một
mẽ hơn, dẫn đến hình thành các giai cấp. Chừng nào ở đâu còn tồn tại chế độ tư hữu về tư
liệu sản xuất thì ở đó còn tồn tại giai cấp và đấu tranh giai cấp.
• Nguyên nhân sâu xa: sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản
xuất làm cho năng suất lao động tăng lên, xuất hiện của cải dư thừa, tạo khả năng khách quan
cho tập đoàn người này chiếm đoạt lao động của tập đoàn người khác. -
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin, dân tộc được hiểu như sau: Dân tộc là một cộng đồng người
ổn định được hình thành trong lịch sử trên cơ sở một lãnh thổ thống nhất, một ngôn ngữ thống
nhất, một nền kinh tế thống nhất, một nền văn hóa và tâm lý, tính cách thống nhất, với một nhà
nước và pháp luật thống nhất. Dân tộc có thể từ một bộ tộc phát triển lên và cũng có thể do nhiều lOMoAR cPSD| 61457685
bộ tộc tập hợp lại. Tuy nhiên, các mối liên hệ giữa các thành viên trong bộ tộc còn lỏng lẻo, yếu
ớt, còn ở các dân tộc các mối liên hệ trong cộng đồng ổn định và bền vững hơn.
• Ở châu Âu: dân tộc gắn liền với sự ra đời của CNTB, hình thành theo hai phương thức chủ yếu sau:
Dân tộc hình thành từ nhiều bộ tộc khác nhau trong một quốc gia, quá trình hình thành dân
tộc ở đây vừa thống nhất lãnh thổ, thị trường đồng thời đồng hóa các bộ tộc khác nhau thành
một dân tộc duy nhất, quốc gia dân tộc độc lập
Do điều kiện, chế độ phong kiến bị thủ tiêu, chủ nghĩa tư bản phát triển còn yếu, dân tộc
được hình thành từ một bộ tộc ở đây không có quá trình đồng hóa mà chỉ thống nhất các
lãnh thổ phong kiến thành một quốc gia gồm nhiều dân tộc. Trong đó mỗi dân tộc hình thành từ một bộ tộc riêng.
• Ở phương Đông (châu Á): dân tộc hình thành từ rất sớm, không gắn với sự ra đời của CNTB.
Thực tiễn lịch sử của những nền văn minh lớn như Trung Quốc, Ấn Độ,... hay của chính Việt
Nam đã chứng minh cho điều đó. • Tại Việt Nam:
Dân tộc hình thành gắn với nhu cầu dựng nước, giữ nước, chống giặc ngoại xâm, cải tạo
thiên nhiên, bảo vệ nền văn hóa dân tộc.
Dân tộc Việt Nam có một ngôn ngữ, một lãnh thổ, một nền kinh tế thống nhất, một nhà
nước, luật pháp, một nền văn hóa thống nhất.
Khoa học lịch sử chứng minh quá trình hình thành dân tộc bắt đầu khi nước Đại Việt giành
được độc lập cho đến thời Lý – Trần
Hình thành dân tộc ở Việt Nam giống như việc hình thành nhà nước, nó tạo sự cố kết cộng đồng của dân tộc ta.
Câu 11: Con người thường chia làm hai phần, quan điểm này đúng hay sai? -
Con người trong triết học Mác-Lênin là một sinh vật có tính xã hội ở một trình độ cao nhất của
giới tự nhiên và của lịch sử xã hội, là chủ thể của lịch sử, sáng tạo nên tất cả các thành tựu của văn minh và văn hóa. -
Theo quan niệm phổ biến hiện nay, nhiều người cho rằng con người có hai phần: phần con và
phần người. Phần con là phần bản năng, thể hiện bản tính sinh học cơ bản của con người có ở
mọi sinh vật sống; phần người là phần có được thông qua lao động, kể cả lao động chân tay lẫn
lao động trí óc, là cái khác biệt cơ bản để có thể phân biệt được giữa loài người với loài vật... -
Tuy nhiên, quan niệm trên là chưa đúng xét theo góc độ lý luận từ chủ nghĩa Mác-Lênin. Bởi theo
như lý luận này, con người chỉ có một phần, là thực thể duy nhất mang đặc tính xã hội; có sự thống
nhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội.