

















Preview text:
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CUỐI KỲ TRIẾT MÁC LÊNIN
CHƯƠNG 2: Chủ nghĩa duy vật biện chứng. CÂU 1:
Vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất 1. Khái niệm:
Đinh nghĩa vật chất của Lênin:
Vật chất là một phạm trù triết học:(3)
Vật chất là sự trừu tượng hoá, khái quát hoá, không tồn tại trực quan, cảm tính.
Vật chất khác với vật thể: Vật thể là chỉ các dạng vật chất cụ thể, có
sinh ra, có mất đi, chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác; Vật chất là
chỉ vật chất nói chung, vô hạn, không sinh ra, không mất đi, về cơ bản
số lượng vật chất và vận động được bảo toàn trong thế giới.
Vật chất biểu hiện đa dạng, phong phú thông qua các vật thể mà con
người cảm nhận được thông qua các giác quan.
Vật chất dùng để chỉ thực tại khách quan (3)
là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý
thức, bất kể sự tồn tại ấy con người nhận thức được hay chưa nhận thức được.
Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hoặc trực
tiếp tác động lên các giác quan của con người.
Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất.
2. Các hình thức tồn tại của vật chất: (2)
Vật chất tồn tại thông qua phương thức Vận động (bằng cách vận động):
Khái niệm Vận động: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất... bao gồm
tất thảy mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự
thay đổi vị trí giản đơn cho đến tư duy”.
=> Vận động là mọi sự biến đổi nói chung.
Các hình thức cơ bản của vận động: (5)
Vận động cơ học:
Là hình thức vận động thấp, đơn giản nhất, dùng để
khái quát, biểu thị sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian.
Vận động vật lý:
Là hình thức dùng để khái quát sự dao động phân tử
dưới hình thức nhiệt, các quá trình nhiệt điện, quang điện, ánh sáng, từ trường...
Vận động hoá học:
Là vận động của các nguyên tử, phân tử, các quá
trình hoá hợp, phân giải các chất tạo thành các nguyên tố hoá học mới
Vận động sinh học:
gắn liền với giới hữu sinh, dùng để khái quát sự
trao đổi chất trong cơ thể sinh vật, sự trao đổi chất giữa cơ thể với môi
trường, sự tiến hoá và thoái hoá các loài, quy luật đấu tranh sinh tồn,
chọn lọc tự nhiên, di truyền, biến dị.
Vận động xã hội:
Là các sự việc diễn ra trong đời sống: sản xuất vật
chất, đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, sự thay thế chế độ xã hội cũ
bằng chế độ mới, ... xuất phát từ các mâu thuẫn xã hội và diễn ra một
cách tất yếu, khách quan thông qua hoạt động có ý thức của con người.
=> Các hình thức vận động tuy khác nhau về chất nhưng có mối quan
hệ hữu cơ với nhau.
=> Vận động là phương thức tồn tại của vật chất, thông qua vận động, các dạng
vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình.
=> Không có vật chất không vận động, không có vận động nằm ngoài vật chất.
Vật chất tồn tại trong không gian và thời gian:
Khái niệm: Không gian:
+ Là sự cùng tồn tại và tách biệt giữa các sự vật.
+ Là quy mô và mức độ kết cấu của sự vật.
+ Là vị trí và trật tự phân bố của sự vật trong thế giới và trong một hệ thống vật chất. Thời gian:
+ Thời gian phản ánh những quá trình kế tiếp nhau của mọi sự vật,
hiện tượng, theo trật tự từ trước tới sau, từ xuất hiện, tồn tại và diệt
vong của mọi quá trình vật chất trong không gian.
=> Không thể tách biệt không gian và thời gian thành 2 hiện tượng,
trạng thái, quá trình độc lập.
=> Triết học Mác Lênin khẳng định: (2)
+ Không gian – thời gian – vật chất tồn tại trong sự thống nhất.
+ Không có vật chất tồn tại ngoài không gian, thời gian và ngược lại,
không có không gian, thời gian phi vật chất.
Tính chất của không gian và thời gian: (4)
Tính khách quan: Không gian và thời gian là thuộc tính cố hữu của vật
chất, tồn tại không tách rời nhau và không tách rời vật chất.
Tính vĩnh cửu, vô tận: Không gian và thời gian là vô cùng vô tận,
không có điểm bắt đầu cũng không có điểm kết thúc.
Tính ba chiều của không gian và một chiều của thời gian: Không gian
có 3 chiều (dài, rộng, cao), thời gian có 1 chiều (từ quá khứ qua hiện tại đến tương lai).
Tính tương đối: Không gian bị co rút lại và thời gian trôi chậm đi trên
những vật thể chuyển động nhanh. CÂU 2:
Nguồn gốc và bản chất của ý thức. Ý nghĩa phương pháp luận 1. Nguồn gốc: (2)
Nguồn gốc tự nhiên: (2) CN duy vật biện chứng nhấn mạnh, sự xuất hiện của
ý thức gắn liền với 2 nhân tố: bộ óc con người và mối liên hệ giữa bộ óc con
người với thế giới khách quan.
Ý thức là sản phẩm hoạt động của bộ óc con người: (3)
Ý thức là hiện tượng chỉ có ở con ng và diễn ra trong bộ óc con người.
Bộ óc con người là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài về mặt sinh
học – xã hội, là một tổ chức vật chất sống đặc biệt, bao gồm khoảng
trên 15 tỷ tế bào thần kinh, liên hệ với nhau và với các giác quan tạo
thành hệ thống thu – nhận, điều khiển hoạt động của cơ thể => Vậy
nên, bộ óc con người là cơ quan nhận thức duy nhất.
Mối liên hệ giữa bộ óc con người với thế giới khách quan:
đã tạo nên quá trình phản ánh. (Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm
của một hệ thống vật chất này ở một hệ thống vật chất khác trong quá
trình tác động qua lại giữa chúng). Các hình thức phản ánh: (3)
Phản ánh vật lý, hoá học: sự tác động qua lại giữa các chất, quang, điện, từ,
Phản ánh sinh học: + Tính kích thích: + Tính cảm ứng: + Tâm lý:
Ý thức: mang tính sáng tạo, gắn liền với hoạt động của bộ óc con người.
=> Sự tác động của thế giới KQ là nguồn gốc để hình thành ý thức
Nguồn gốc xã hội:(2) lao động và ngôn ngữ.
Vai trò của lao động trong việc hình thành ý thức:
Lao động: Là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới
tự nhiên nhằm tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của mình.
Lao động cải biến hình thể con người
Lao động giúp con người phát triển về mặt nhận thức: tư duy, nhận
thức quy luật, quan hệ xã hội.
Vai trò của ngôn ngữ trong việc hình thành ý thức:
Ngôn ngữ: Là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức, được
biểu hiện ở nhiều hình thức (cử chỉ, tiếng nói, chữ viết).
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trong xã hội, đồng thời là công cụ để tư duy
Không có ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được.
=> Nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và
phát triển của ý thức là lao động. 2. Bản chất: (3)
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan:
Ý thức là sự phản ánh TGKQ vào bộ óc con người. Ý thức là cái phản
ánh, TGKQ là cái đc phản ánh, TGKQ quy định ND phản ánh của ý thức.
Hình ảnh khách quan bên ngoài được đưa vào trong bộ óc sẽ thành hình ảnh chủ quan
Ý thức phản ánh một cách sáng tạo thế giới khách quan:
Ý thức cải biến cái vật chất được di chuyển vào trong bộ óc con người thành cái tinh thần:
Trên cơ sở những tri thức đã có, ý thức con người tự tưởng tượng ra
những cái không có trong thực tế, những điều mới
Ý thức là một hiện tượng lịch sử - xã hội
Về phía lịch sử: đó là những giá trị được kết tinh trong quá trình phát
triển của nhân loại: nét đẹp truyền thống, văn hoá từ lâu đời...tác động lên
đời sống con người làm cho suy nghĩ và lối sống của mỗi cá nhân mang màu sắc truyền thống
Về phía xã hội: điều kiện kinh tế - xã hội, thời đại tác động vào cuộc
sống, tâm lý của mỗi người => mọi người buộc phải suy tư và hành động
dựa vào hoàn cảnh đương thời.
3. Ý nghĩa phương pháp luận: (5)
Phê phán quan điểm “Duy tâm khách quan”, tuyệt đối hoá tính tồn tại độc
lập của ý thức, coi ý thức có trước thế giới, sinh ra và quyết định thế giới.
Phê phán quan điểm “Duy tâm chủ quan”, đồng nhất vật chất với cảm giác
Phê phán quan điểm “Duy vật siêu hình”, coi nhận thức con người như là
một quá trình thụ động
Phê phán quan điểm “Nhị nguyên”, coi cả vật chất và ý thức đều sinh
thành cùng một lúc, không có sự phân biệt về nguyên tắc giữa hai hiện tượng đó
Phê phán quan điểm “Chủ nghĩa duy vật tầm thường”, coi thành phần
thức ăn đóng vai trò quyết định nội dung ý thức, tư duy con người, coi
việc bộ não sản sinh ra ý thức 1 cách giản đơn. CÂU 3:
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và ý nghĩa phương pháp luận.
Liên hệ với hoạt động của bản thân.
1. Khái niệm: “Mối liên hệ phổ biến” dùng để chỉ tính phổ biến của các mối
liên hệ (bao quát mọi lĩnh vực), đồng thời cũng chỉ các mối liên hệ tồn tại ở
nhiều sự vật, hiện tượng trong thế giới.
2. Những đặc trưng cơ bản của mối liên hệ phổ biến: (3) Tính khách quan:
Mối liên hệ là cái vốn có, bên trong các sự vật, hiện tượng
Các sự vật đều là những dạng cụ thể của vật chất nên không thể tồn tại
biệt lập, tách rời mà trong sự tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau.
Bản chất của sự vật, hiện tượng bộc lộ thông qua sự tác động giữa các sự
vật, hiện tượng với nhau. Tính phổ biến:
Mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng. Không có sự vật, hiện tượng
nào tồn tại tuyệt đối biệt lập mà tồn tại với tư cách là một hệ thống mang
tính mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác.
Tính đa dạng, phong phú:
Mỗi sự vật, hiện tượng khác nhau, tồn tại nhiều mối liên hệ khác nhau
Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ còn thể hiện ở những điều
kiện thời gian, ko gian cụ thể
Dựa trên các cơ sở khác nhau để phân chia các mối liên hệ khác nhau:
Mối liên hệ bên trong – bên ngoài
Mối liên hệ cơ bản – không cơ bản
Mối liên hệ bản chất – k bản chất
Mối liên hệ k gian – thời gian
=> Việc phân chia các mối liên hệ giúp xác định trong từng điều kiện, hoàn
cảnh, mối liên hệ nào là mối liên hệ cơ bản,=> từ đó có phương pháp tác động
đúng đắn, phù hợp, mang lại hiệu quả cao 3. Ý nghĩa pp luận:
Quan điểm toàn diện yêu cầu: (6)
Nghiên cứu các yếu tố cấu thành đối tượng, tìm mối liên hệ cơ bản
Cần xem xét đối tượng một cách bao quát, nhiều mặt, nhiều góc độ và hoàn cảnh khác nhau
Phải tìm hiểu đầy đủ các mqh giữa đối tượng với thế giới xung quanh
Không nên có tư tưởng giàn đều, cào bằng,
Vận dụng nhiều pp khi nghiên cứu đối tượng
Khi giải quyết những vấn đề thực tiễn phải biết kết hợp nhiều biện pháp
và phương tiện khác nhau,
Quan điểm toàn diện yêu cầu tránh: Tư tưởng chiết trung, Tư tưởng phiến
diện, Thuật nguỵ biện, Quan điểm xa rời thực tiễn.
4. Liên hệ bản thân
+ Khi nhìn nhận 1 vấn đề, cần nhìn đa chiều, đặt nó trong nhiều mối liên hệ với
các sự vật, hiện tượng khác để cho ra 1 kết quả hay quyết định khách quan nhất.
+ Khi làm bài kiểm tra Toán, lý, Hoá, chúng ta phải vận dụng kiến thức văn học
để phân tích đề bài, đánh giá đề thi. Đồng thời khi học các môn xã hội, ta cũng
cần vận dụng tối đa tư duy, logic của các môn tự nhiên CÂU 4:
Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả. Ý nghĩa phương pháp luận.
Vận dụng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn. 1. Khái niệm:
Nguyên nhân: Là PTTH chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự
vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định.
Nguyên nhân khác với điều kiện. Điều kiện là những yếu tố phụ trợ, là
MT, chất xúc tác (bên ngoài) để các yếu tố nguyên nhân (bên trong) tác thành kết quả.
Nguyên nhân khác với nguyên cớ. Nguyên cớ không sinh ra kết quả, là
những yếu tố được 1 chủ thể nào đó sử dụng, có liên quan đến vấn đề
nhằm che đậy, làm cho người khác không nhận thức đc nguyên nhân chính sinh ra kết quả.
Căn cứ vào tính chất, vai trò: (5) Ng nhân chủ yếu – thứ yếu, trực tiếp –
gián tiếp, bên trong – bên ngoài, khách quan – chủ quan, cơ bản – k cơ bản
Kết quả: Là PTTH dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn
nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả:
Mối quan hệ này được gọi là quan hệ nhân quả hay luật nhân quả. Quan hệ
nhân quả có các tính chất: (4)
Quan hệ nhân quả mang tính đa dạng, phức tạp:
Một nguyên nhân có thể phát sinh nhiều kết quả tuỳ vào từng điều kiện,
hoàn cảnh, mục đích nhất định
Một kết quả có thể được tạo nên bởi nhiều nguyên nhân tác động độc lập
hoặc cùng chiều, cùng lúc
Quan hệ nhân quả mang tính tất yếu, khách quan:
Quan hệ nhân quả tác động độc lập, không phụ thuôc vào ý thức con
người. Con người không thể bằng ý thức của mình để tạo nên quan hệ nhân quả.
Tính tất yếu khách quan của quan hệ nhân quả thể hiện: nguyên nhân nào thì kết quả đó.
Quan hệ nhân quả mang tính phổ biến:
Luật nhân quả bao trùm toàn bộ sự vận động và phát triển của vạn vật trong thế giới.
Luật nhân quả trong tự nhiên diễn ra một cách tự phát, luật nhân quả trong
xã hội diễn ra có sự tham gia của con người.
=> Nhân – quả là vòng tuần hoàn liên tục, nguyên nhân tạo thành kết quả,
đến lượt mình, trong kết quả lại hình thành nguyên nhân để sinh ra một kết quả mới.
Kết quả tác động trở lại đối với nguyên nhân:
Nếu kết quả có ý nghĩa tích cực sẽ tác động tốt, thúc đẩy nguyên nhân,
làm cho kết quả mới trở nên tốt hơn.
Nếu kết quả có ý nghĩa tiêu cực thì sẽ tác động xấu trở lại nguyên nhân
Khi nghiên cứu luật nhân quả, cần chú ý: (3)
Nguyên nhân có trước kết quả về mặt thời gian, nhưng đôi khi do đkiện
vật lý, trạng thái tâm lý, bối cảnh không gian, nên ta thấy ngược lại
Không phải cái gì nối tiếp nhau cũng là quan hệ nhân quả.
Các nguyên nhân tác động ngược chiều nhau có thể triệt tiêu kết quả, các
nguyên nhân tác động cùng chiều làm cho kết quả có thể tăng thêm.
3. Ý nghĩa phương pháp luận: (5)
Vì nhân quả mang tính tất yếu, khách quan, nên muốn nhận thức kết quả,
phải xuất phát từ nguyên nhân
Vì nhân quả mang tính phổ biến nên khi nhận thức kết quả phải tìm đúng
nguyên nhân (phân loại nguyên nhân)
Muốn có kết quả tốt, cần phát huy những ng nhân tích cực, muốn loại bỏ
hậu quả phải loại bỏ các ng nhân sinh ra nó.
Chống lối suy diễn chủ quan, lấy nguyên cớ thay cho ng nhân, hoặc khi
hậu quả xảy ra thì đổ lỗi cho hoàn cảnh.
Trong thực tiễn, cần chú ý dến đkiện, hoàn cảnh, nhân tố để thúc đẩy hoặc
kìm hãm nguyên nhân nhằm thu được kết quả mong muốn
4. Vận dụng trong hoạt động thực tiễn CÂU 5:
Cặp phạm trù bản chất và hiện tượng. Ý nghĩa phương pháp luận.
Vận dụng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn 1. Khái niệm:
Bản chất: là PTTH dùng để biểu thị sự tổng hợp tất cả những mặt, những
mối liên hệ tất yếu tương đối ổn định hợp thành một thể thống nhất hữu cơ
bên trong sự vật, quy định sự tồn tại, vận động, ptr và diệt vong của sự vật đó.
Hiện tượng: là những biểu hiện ra bên ngoài của bản chất.
Bản chất có 3 đặc điểm:
Thuộc tính chung của 1 giống loài nào đó là cái cơ bản để tạo nên bản
chất của loài đó; những cái chung cơ bản mang tính tất yếu mới tạo nên
bản chất, những cái chung mang tính ngẫu nhiên thì kh phải là bản chất.
Một bản chất có thể thể hiện qua nhiều quy luật (vận động và phát triển) khác nhau.
Bản chất mang tính tất yếu
2. Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng (3)
Bản chất và hiện tượng thống nhất biện chứng với nhau:
Bản chất bộc lộ qua hiện tượng, còn hiện tượng là sự phản ánh những
mặt, khía cạnh, thuộc tính nào đó của bản chất.
Không có bản chất nào không bộc lộ qua hiện tượng, không có hiện tượng
nào mà không phản ánh bất kỳ một thuộc tính nào của bản chất.
Bản chất và hiện tượng bao hàm mâu thuẫn:
Bản chất phản ánh cái chung, cái tất yếu, còn hiện tượng phản ánh cái
riêng, ngẫu nhiên. Một bản chất có thể được thể hiện bằng nhiều hiện
tượng. Do vậy, hiện tượng đa dạng và phong phú hơn bản chất.
Hiện tượng phản ánh bản chất, nhưng nhiều khi xuyên tạc, làm sai khác
bản chất (hiện tượng giả).
Bản chất tương đối ổn định, còn hiện tượng thường xuyên biến đổi.
Hiện tượng tác động trở lại bản chất:
Hiện tượng tác động trở lại bản chất, có thể dần dần làm cho bản chất bị tha hóa, biến đổi.
Điển hình là trong đời sống xã hội, các hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành
thói quen, thói quen tạo nên bản tính con người.
3. Ý nghĩa phương pháp luận: (4)
Nhận thức bản chất phải xuất phát từ hiện tượng (từ nhiều góc độ, hoàn
cảnh, thời điểm). Tránh thái độ hấp tấp, nóng vội, phiến diện trong nhận
thức, tư tưởng chủ quan, định kiến, suy luận một chiều.
Nhận thức không dừng lại ở hiện tượng mà cần đi sâu vào tìm hiểu
bản chất sâu xa của đối tượng.
Vì bản chất là cái vốn có, khách quan của sự vật, nên cải biến sự vật phải
bắt đầu từ nhận thức và cải biến bản chất.
Nếu con người có hiện tượng xấu thì loại bỏ tránh tạo thành thói quen bản
chất. Trong nhận thức và thực tiễn cần phân biệt hiện tượng thật và hiện tượng giả.
CÂU 6: Cặp phạm trù khả năng và hiện thực. Ý nghĩa phương pháp luận.
Vận dụng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn. 1. Khái niệm:
Hiện thực: là PTTH dùng để biểu hiện tất cả những gì đang tồn tại trên thực
tế. Chia thành 2 loại:
Hiện thực khách quan: là tất cả những gì tồn tại bên ngoài đầu óc con người
Hiện thực chủ quan: tồn tại trong đầu óc con người (ý thức, tư duy)
Khả năng: là PTTH dùng để biểu thị cái tồn tại dưới dạng mầm mống bên
trong sự vật, hiện tượng mà nếu có đủ điều kiện thích hợp thì sẽ biến thành một
hiện thực. 2 loại:
Khả năng tất nhiên (khả năng thực tế): là khả năng chắc chắn biến thành
hiện thực (khả thi). Căn cứ vào thời gian biến thành hiện thực, người ta
phân khả năng tất nhiên thành khả năng gần và khả năng xa.
Khả năng ngẫu nhiên: là khả năng khó có thể trở thành hiện thực, hoặc
trở thành hiện thực nhờ có yếu tố ngẫu nhiên hay gặp may.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa hiện thực và khả năng (3)
Hiện thực và khả năng tồn tại trong sự thống nhất biện chứng, chuyển
hóa lẫn nhau tạo thành quá trình ptr kh ngừng của sự vật, hiện tượng.
Quan hệ giữa khả năng và hiện thực có tính phức tạp: Một sự vật, cùng
một lúc có thể có nhiều khả năng chứ không phải chỉ có một khả năng.
Khả năng chỉ biến thành hiện thực khi có điều kiện. Khả năng của sự
vật không tự thân biến thành hiện thực mà cần có sự tác động của điều
kiện khách quan và nhân tố chủ quan.
3. Ý nghĩa phương pháp luận: (4)
Trong nhận thức và thực tiễn, cần dựa vào hiện thực, không dựa vào khả
năng, cần tránh bệnh chủ quan, duy ý chí.
Xác định đúng khả năng vốn có trong hiện thực, không dựa vào điều kiện
bên ngoài, không trông chờ, ỷ lại.
Cần lựa chọn khả năng khả thi đề biến thành hiện thực. Chống bệnh thành
tích, lựa chọn những khả năng quá tầm hiện thực, bất khả thi.
Phát huy nhân tố chủ quan, tận dụng điều kiện, năng động biến khả năng
thành hiện thực. Không thụ động, trông chờ điều kiện hoặc đổ lỗi cho
hoàn cảnh khi khả năng không thành hiện thực. CÂU 7:
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi
về chất và ngược lại. Ý nghĩa phương pháp luận. Ví dụ minh họa. 1. Khái niệm:
Chất: Là 1 PTTH dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là
sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ kh phải là cái khác.
Chất bao giờ cũng là chất của một sự vật nhất định.
Quan hệ giữa chất và thuộc tính:
+ Chất là sự thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính
+ Một sự vật có nhiều thuộc tính, trong đó chỉ những thuộc tính đặc trưng
cho sự vật mới được gọi là chất.
Chất mang tính khách quan và ổn định:
+ Chất tồn tại khách quan, độc lập đối với ý thức và cảm giác con người.
Lượng: Là PTTH dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số
lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các
thuộc tính của sự vật.
Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng ít hay nhiều,
quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm...
Lượng bao giờ cũng là lượng của 1 chất xác định, kh có lượng thuần tuý
=> Phân biệt lượng và chất chỉ mang tính tương đối, phụ thuộc vào mqh.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng: (4)
Sự thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất. Sự vật, hiện tượng có
sự thống nhất giữa chất và lượng. Chúng luôn có sự quy định, tác động qua lại
và chuyển hoá lẫn nhau. Mọi thay đổi về lượng đều ảnh hưởng tới chất và ngược lại.
Sự chuyển hoá về chất của sự vật phải thông qua bước nhảy. Sự vật tích
luỹ đủ về lượng tại điểm nút, bước nhảy diễn ra làm cho chất mới ra đời. Lượng
mới và chất mới thống nhất với nhau tạo nên độ mới và điểm nút mới của sự vật
ấy. Quá trình đó diễn ra liên tiếp làm cho sự vật luôn phát triển.
Quy luật lượng đổi – chất đổi tác động trong tự nhiên, xã hội, tư duy:
Tự nhiên: sự chuyển hoá trạng thái của nước từ lỏng sang hơi, lỏng sang
rắn nhờ sự tăng lên hay giảm đi nhiệt độ của nó.
Xã hội: sự vận động của xh qua các hình thái kinh tế xh từ thấp đến cao.
Tư duy: giáo dục là quá trình con người tích luỹ lượng tri thức để làm
thay đổi trình độ nhận thức thông qua “bước nhảy” là các kì thi.
Sự tác động trở lại của chất đối với lượng. Khi chất mới hình thành sẽ tác
động trở lại lượng theo hướng làm tăng lên hoặc giảm đi về: quy mô, tốc độ,
nhịp điệu sự vận động, năng suất, ... của sự vật.
3. Ý nghĩa phương pháp luận: (4)
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, con người phải từng bước tích luỹ về
lượng để làm biến đổi về chất, tránh tư tưởng chủ quan, nôn nóng, đốt cháy giai đoạn
Khi đã tích luỹ đủ về lượng, phải có quyết tâm thực hiện bước nhảy, khắc phục
tư tưởng bảo thủ, trì trệ. Vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy.
Chống quan điểm phiến diện, giản đơn cho rằng cứ thay đổi về lượng là thay
đổi về chất. Trong đời sống xh, tư tưởng này biểu hiện thành bệnh thành tích, coi
trọng số lượng mà không để ý đến chất lượng.
Sự biến đổi về chất còn có nhiều cách thức khác như: thay đổi cấu trúc,
phương thức liên kết, thay đổi hoàn cảnh. Do vậy, cần sử dụng nhiều phương
thức làm cho sự vật biến đổi về chất, chứ không phải một chiều duy nhât là thay đổi lượng.
CHƯƠNG 3: Chủ nghĩa duy vật lịch sử. CÂU 8:
Lực lượng sản xuất và yếu tố cấu thành LLSX. Liên hệ với LLSX ở nước ta hiện nay 1. Khái niệm:
Lực lượng sản xuất: là sự tổng hợp tất cả mọi yếu tố vật chất mà con người
sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất. Lực lượng sản xuất biểu thị mối quan
hệ giữa con người với giới tự nhiên và trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người.
2. Yếu tố cấu thành LLSX: (3)
Người lao động: là LLSX hàng đầu của xã hội, sở hữu thể lực và trí lực, là
chủ thể sản xuất và tiêu dùng.
Tư liệu sản xuất: là những tư liệu để triển khai sản xuất, bao gồm tư liệu lao
động (TLLĐ) và đối tượng lao động (ĐTLĐ):
Tư liệu lao động (TLLĐ): gồm công cụ lao động, là yếu tố năng động,
thay đổi nhanh nhất của TLSX (cày, cuốc, máy móc,..) và tư liệu lao động
khác (hệ thống GTVT, thông tin liên lạc, nhà xưởng, kho,...những đồ
dùng chứa đựng sản phẩm)
Đối tượng lao động: đối tượng sẵn có trong tự nhiên (gỗ, than đá,...) và
đối tượng đã qua chế biến (polime,...)
Khoa học công nghệ: là 1 hệ thống tri thức về các giải pháp thực hiện quá
trình chế biến vật chất và thông tin. Ngày nay, KHCN đang trở thành LLSX trực
tiếp, quyết định năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
3. Liên hệ với LLSX ở nước ta hiện nay
CÂU 9: Quan hệ sản xuất và các yếu tố cấu thành QHSX.
Liên hệ với vấn
đề QHSX nước ta hiện nay. 1. Khái niệm:
QHSX: là quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất.
=> Đây là quan hệ kinh tế cơ bản giữ vai trò quyết định mọi quan hệ xã hội
khác như quan hệ pháp luật, quan hệ chính trị, quan hệ giai cấp,... => Khi
QHSX thay đổi thì mọi quan hệ xã hội khác tất yếu phải thay đổi theo.
2. Các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất: (3 tiểu quan hệ)
Quan hệ sở hữu TLSX: đây là yếu tố then chốt của QHSX, vì cá nhân nào,
nhóm ng nào, g/cấp nào nắm quyền sở hữu TLSX thì sẽ nắm quyền quyết định
Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất: là quan hệ trong việc tổ chức quá trình
sản xuất, quản lý nhân sự.
Quan hệ phân phối sản phẩm lao động: quyết định việc trả tiền công cho người lao động.
=> Những QHSX này tồn tại trong một mối quan hệ thống nhất và chi phối, tác
động lẫn nhau trên cơ sở quyết định của quan hệ sở hữu về TLSX.
3. Liên hệ với vấn đề QHSX nước ta hiện nay. CÂU 10:
Quy luật QHSX phù hợp với LLSX
, Liên hệ với thực tiễn xây
dựng với vấn đề xd nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
1. Quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển LLSX
+ Trong một phương thức sản xuất, LLSX đóng vai trò như là nội dung, còn
QHSX đóng vai trò như là hình thức tồn tại và phát triển của nội dung đó. Sự tác
động qua lại giữa chúng tạo nên quy luật vận động cơ bản của xã hội, chi phối mọi quy luật khác: (4)
Quy luật đấu tranh giai cấp
Quy luật cách mạng xã hội
Quy luật tăng cường nhu cầu
Quy luật thay thế hình thái KT-XH cũ bằng hình thái KT-XH mới cao hơn
+ Trình độ phát triển của LLSX cụ thể ở các khía cạnh: (4)
Trình độ của công cụ lao động (đơn giản hay hiện đại)
Năng lực tổ chức sản xuất và phân công lao động của người quản lý
Kinh nghiệm chuyên môn, kĩ năng nghề nghiệp và sự làm chủ KHCN của người lao động Năng suất lao động
Nội dung quy luật: (4)
Quan hệ giữa LLSX và QHSX là mqh thống nhất biện chứng, trong đó
LLSX quyết định QHSX và QHSX tác động trở lại LLSX.
Là 2 mặt của 1 phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau,
tác động qua lại biện chứng cho nhau. LLSX đóng vai trò ND vật chất,
QHSX là hình thức xã hội. Với một LLSX nhất định sẽ có QHSX tương ứng.
QHSX có tính độc lập tương đối, tác động trở lại LLSX. Nó quy định
tính mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của người lđ, ảnh
hưởng đến sự phân công lđ, ứng dụng KHCN
Bên cạnh đó, quan hệ giữa LLSX và QHSX còn là mqh thống nhất bao
hàm cả mâu thuẫn. Tính mâu thuẫn được thể hiện ở chỗ: LLSX là yếu tố
động, luôn phát triển; QHSX là yếu tố tĩnh, thay đổi chậm. Đến một lúc
nào đó sẽ xảy ra mâu thuẫn giữa 2 yếu tố này => QHSX trở thành xiềng
xích trói buộc LLSX, kìm hãm LLSX phát triển.
2. Liên hệ với thực tiễn xây dựng với vấn đề xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta. CÂU 1
1: Mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT 1. Khái niệm:
Cơ sở hạ tầng: là toàn bộ quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định.
+ Được tạo nên bởi 3 quan hệ: QH sản xuất thống trị, QH sản xuất tàn dư và
QH sản xuất mầm mống đại diện cho chế độ XH sau. => Trong đó, QHSX thống
trị đóng vai trò chủ đạo, quyết định bản chất của CSHT và định hướng cho sự phát triển của XH.
Kiến trúc thượng tầng: là hệ thống kết cấu các hình thái ý thức xã hội cùng
với các thiết chế chính trị - xã hội tương ứng, được hình thành trên một CSHT nhất định.
+ KTTT của mỗi XH là 1 kết cấu phức tạp, có thể được phân tích từ những góc độ khác nhau,
+ KTTT cũng mang tính đối kháng, nghĩa là có hệ tư tưởng của giai cấp thống
trị và giai cấp bị trị. Trong đó hệ tư tưởng của giai cấp thống trị luôn giữ vị trí chủ đạo.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
CSHT quyết định KTTT: (4)
KTTT tầng được xây dựng trên nền tảng CSHT tương ứng. => Nếu nền
tảng vật chất – kỹ thuật của CSHT khang trang, đầy đủ thì sự vận hành
của KTTT có hiệu quả và ngược lại
CSHT quyết định tính chất của KTTT
Mọi mâu thuẫn phát sinh trong KTTT đều có nguồn gốc từ CSHT
Cơ sở hạ tầng thay đổi, kiến trúc thượng tầng sớm muộn sẽ thay đổi theo.
Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng: (2)
Trong KTTT, nhà nước là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất tới sơ sở hạ tầng,
các yếu tố khác tùy từng điều kiện mà có sự tác động khác nhau tới CSHT.
KTTT tác động trở lại CSHT theo 2 hướng, tích cực và tiêu cực. Nếu kiến
trúc thượng tầng phù hợp sẽ duy trì, bảo vệ, củng cố, tạo điều kiện cho cơ
sở hạ tầng phát triển. Nếu kiến trúc thượng tầng không phù hợp (lạc hậu
quá, hoặc tân tiến quá) thì sẽ kìm hãm cơ sở hạ tầng.
3. Vấn đề cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở Việt Nam
+ Trước đổi mới: CSHT của Việt Nam yếu kém (kinh tế kém phát triển). KTTT
đồ sộ (bộ máy cồng kềnh, số lượng công chức lớn, viện nghiên cứu không hiệu
quả). Thực trạng: nền kinh tế suy yếu, kìm hãm sản xuất và tiến bộ xã hội.
+ Công cuộc đổi mới: thiết lập cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN,
phát triển kinh tế, tinh giảm biên chế, nâng cao hiệu lực vận hành của bộ máy
nhà nước, xây dựng dân chủ xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển, củng cố KTTT. CÂU 12:
Nguồn gốc hình thành giai cấp
. Liên hệ với vấn đề phân hóa giai
cấp ở nước ta hiện nay. 1. Khái niệm:
Giai cấp: là những tập đoàn người to lớn, khác nhau về địa vị trong 1 hệ thống
sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ đối với những
TLSX, về vai trò trong tổ chức lao động xã hội, và do đó khác nhau về cách thức
hưởng thụ và phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng.
+ tập đoàn người này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác.
2. Nguồn gốc hình thành giai cấp:
Bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa là trình độ phát triển của LLSX chưa
đạt tới trình độ xã hội hóa cao và nguyên nhân trực tiếp là chế độ tư hữu về
TLSX. Ăngghen cho rằng, sự xuất hiện giai cấp gắn liền với sự ra đời của chế độ
tư hữu về TLSX. Quan điểm của Ăngghen đã được lịch sử hiện thực chứng
minh: trong XH nguyên thuỷ, do LLSX thấp kém, công cụ lao động đơn giản,
năng suất lao động thấp, sản phẩm làm ra vừa đủ ăn, chưa có dư thừa để tích luỹ
nên người nguyên thuỷ phải hợp tác để dùng chung TLSX, vì vậy cũng chưa có
cơ sở khách quan cho sự phân hoá giàu – nghèo. Theo tiến trình phát triển của
lịch sử, công cụ lao động bằng kim loại xuất hiện, NSLĐ tăng, của cải làm ra dư
thừa, đó là cơ sở khách quan cho việc xuất hiện chế độ tư hữu. TLSX được phân
về từng cá nhân, từng gia đình, sự phân công lao động do đó cũng hình thành.
Giai cấp cũng được hình thành qua 2 con đường. Một là, do nhân tố
bạo lực. Tù binh bắt được trong các cuộc chiến tranh không bị giết mà được sử
dụng làm nô lệ cho những người giàu và có địa vị trong xã hội. Hai là, do sự tác
động của các quy luật kinh tế phân hoá những người sản xuất hàng hoá trong
nội bộ cộng đồng xã hội.
CÂU 13: Nguồn gốc và chức năng của Nhà nước. Liên hệ với vấn đề nhà
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1. Nguồn gốc của Nhà nước:
Nhà nước: là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy
chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt
nhằm duy trì trật tự xã hội và bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội.
Có thể hiểu rằng, khi LLSX phát triển, chế độ tư hữu xuất hiện thì từ một XH
bình đẳng phân hoá thành XH có giai cấp. Khi Giai cấp thống trị bóc lột giai cấp
bị trị thì mâu thuẫn giữa các giai cấp phát sinh, mâu thuẫn phát triển đến một
mức nhất định sẽ diễn ra đấu tranh giai cấp, các giai cấp chăng những tiêu diệt
lẫn nhau mà còn tiêu diệt cả XH. Từ đó, nhà nước ra đời như một cơ quan quyèn
lực đóng vai trò hoà giải.
Nhà nước ra đời mang tính tất yếu khách quan của lịch sử
Nhà nước mang bản chất của giai cấp thống trị.
2. Chức năng của Nhà nước:
Chức năng đối nội: Nhà nước thực hiẹn đường lối đối nội nhằm duy trì trật tự
XH thông qua các công cụ: chính sách XH, luật pháp, cơ quan truyền thông, văn
hoá, giáo dục,... => Đối nội là chức năng quan trọng, quyết định bản chất và
tính ưu việt của nhà nước.
Chức năng đối ngoại: Nhà nước thực hiện chính sách đối ngoại nhằm bảo vệ
lãnh thổ quốc gia, đáp ứng nhu cầu hội nhập, phát triển. => Trong xu hướng
toàn cầu hoá hiện nay, chức năng đối ngoại của nhà nước là quan trọng,
phản ánh trách nhiệm của nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề toàn
cầu của thời đại. => Chức năng đối nội giữ vai trò chủ yếu
, tính chất chức năng đối nội quyết
dịnh chức năng đối ngoại, làm tốt chức năng đối nội, nhà nước mới có điều kiện
thực hiện tốt chức năng đối ngoại.
CÂU 14: Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội
và ý thức xã hội và ý
nghĩa phương pháp luận
Tồn tại xã hội: là khái niệm dùng để chỉ phương thức và điều kiện sinh hoạt
vật chất của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Bao gồm 3 yếu tố:
Phương thức sản xuất, điều kiện tự nhiên và dân số. Trong 3 nhân tố đó, phương
thức sản xuất là nhân tố quyết định đối với tồn tại xã hội.
Ý thức xã hội: là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội như tâm lý, tình cảm,
tập quán, truyền thống, ... và hệ thống các quan điểm tư tưởng được đúc kết
trong các hình thái ý thức xã hội như: Chính trị, Pháp luật, Đạo đức, Tôn giáo,
Văn hóa, Triết học, v.v. Bao gồm: Tâm lý xã hội (ý thức đời thường) và hệ tư
tưởng (ý thức lý luận). Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng là 2 cấp độ của quá trình
phản ánh tồn tại xã hội, do vậy chúng tồn tại trong sự thống nhất biện chứng. Ý
thức xã hội mang tính dân tộc và tính giai cấp.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội: (2)
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội: (2)
Cơ sở lý luận của nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xh: vật chất
sinh ra và quyết định ý thức
ND nguyên lý tồn tại xh quyết định ý thức xh:
+ Tồn tại xã hội là nguồn gốc, cơ sở, điều kiện và động lực cho sự hình
thành, phát triển của ý thức xã hội, còn ý thức xã hội chỉ là sự phản ánh
của tồn tại xã hội, phát triển phụ thuộc vào tồn tại xã hội.
+ Khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội cũng sớm muộn phải thay đổi theo.
=> Ý nghĩa: Đánh giá YTXH phải xuất phát từ điều kiện vật chất; Mọi dự
định, mong ước phải xuất phát từ điều kiện vật chất, tránh chủ quan, duy
ý chí; YTXH có khi phản ánh sai TTXH (trình độ, lợi ích giai cấp)
Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội: (5)
Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội. (Có lúc TTXH
đã biến đổi song YTXH còn tồn tại thời gian dài)
Ý thức xã hội có tính tiên phong (vượt trước). (Đó là những tư tưởng
tiến bộ, khoa học)
Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển. (Ý thức xã hội được
chuyển giao giữa các thế hệ, các thời đại trong dòng chảy của lịch sử, tạo
nên truyền thống bản sắc văn hóa, đời sống tinh thần của mỗi dân tộc, của xã hội..)
Ý thức xã hội có nhiều hình thái khác nhau, giữa chúng có sự tác động
qua lại lẫn nhau. (Mỗi thời đại, tùy thuộc hoàn cảnh lịch sử cụ thể, sẽ có
hình thái ý thức xã hội nổi lên hàng đầu, chi phối, quyết định những hình
thức xã hội còn lại.)
Ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội theo 2 hướng: Nếu ý thức xh
phản ánh đúng tồn tại xh thì sẽ đóng vai trò định hướng, chỉ đường, thúc
đẩy sự phát triển của TTXH. Nếu YTXH phản ánh sai lệch, xuyên tạc
TTXH thì sẽ kìm hãm sự phát triển của TTXH.
3. ý nghĩa phương pháp luận (3)
Cần tôn trọng hiện thực khách quan, chống chủ quan duy ý chí trong hoạt động thực tiễn
Giải thích ý thức xh, tinh thần, quan niệm phải dựa trên TTXH, điều kiện vật chất XH
Chú ý tính độc lập tương đối của YTXH trong quá trình hoạt động thực tiễn