



















Preview text:
Mẫu sản phẩm 5.1
(Kèm theo của Phụ lục 5)
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA TÂM LÝ-GIÁO DỤC
BÀI GIẢNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM
(Dành cho chương trình và thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm)
1. Thông tin tổng quát:
1.1. Thông tin về giảng viên
Giảng viên 1: Phan Quốc Lâm
Chức danh, học hàm, học vị: Giảng viên chính, Tiến sĩ
Địa chỉ liên hệ: Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Sư phạm, Trường Đại học Vinh
Điện thoại: 0912079483. Email: lampq@vinhuni.edu.vn
Các hướng nghiên cứu chính: Tâm lý học chuyên ngành
Giảng viên 2: Dương Thị Thanh Thanh
Chức danh, học hàm, học vị: Giảng viên chính, Tiến sĩ
Địa chỉ liên hệ: Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Sư phạm, Trường Đại học Vinh
Điện thoại: 0904 768 538. Email: thanhdtt@vinhuni.edu.vn
Các hướng nghiên cứu chính: Tâm lý học chuyên nhanh
Giảng viên 3: Lê Thục Anh
Chức danh, học hàm, học vị: Giảng viên chính, Tiến sĩ
Địa chỉ liên hệ: Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Sư phạm, Trường Đại học Vinh
Điện thoại: 0912657006; email: anhlt@vinhuni.edu.vn
Các hướng nghiên cứu chính: Tâm lý học chuyên ngành
Giảng viên 4: Dương Thị Linh
Chức danh, học hàm, học vị: Giảng viên, Thạc sĩ
Địa chỉ liên hệ: Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Sư phạm, Trường Đại học Vinh
Điện thoại: 0912588975 . Email: linhdt@vinhuni.edu.vn
Các hướng nghiên cứu chính: Tâm lý học chuyên ngành
Giảng viên 5: Trần Hằng Ly
Chức danh, học hàm, học vị: Giảng viên, Tiến sỹ
Địa chỉ liên hệ: Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Sư phạm, Trường Đại học
Vinh Điện thoại, email: 0982 738 148. Email: lyth@vinhuni.edu.vn
Hướng nghiên cứu chính: Tâm lý học chuyên ngành
Giảng viên 6: Trần Mỹ Linh
Chức danh, học hàm, học vị: Giảng viên, Thạc sỹ
Địa chỉ liên hệ: Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Sư phạm, Trường Đại học Vinh
Điện thoại, email: linhtm@vinhuni.edu.vn 1
Hướng nghiên cứu chính: Tâm lý học chuyên ngành
1.2. Thông tin về học phần:
- Tên học phần (tiếng Việt): GIAO TIẾP SƯ PHẠM
(tiếng Anh): COMMUNICATION PEDAGOGY
- Mã số học phần: EDU20011
- Thuộc CTĐT: Chương trình và thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho người có bằng
cử nhân chuyên ngành phù hợp có nguyện vọng trở thành giáo viên trung học cơ sở, trung học phổ thông.
- Thuộc loại học phần: Bắt buộc x Tự chọn - Số tín chỉ: 02 + Số tiết lý thuyết: 10
+ Số tiết thảo luận/bài tập: 00 + Số tiết thực hành: 40 + Số tiết tự học: 00
- Điều kiện đăng ký học:
+ Học phần tiên quyết: Giáo dục học Mã số HP:
+ Học phần học trước: Không có Mã số HP:
- Yêu cầu của học phần: Thực hiện theo Quy chế đào tạo của Trường Đại học Vinh. Cụ thể:
+ Thời gian tối thiểu học viên phải có mặt trên lớp: 80% thời gian giảng dạy trên lớp
+ Học viên phải nộp đầy đủ bài tập, báo cáo qua hệ thống LMS (Mục 5.1).
- Bộ môn phụ trách học phần: Giáo dục học Điện thoại: Email:
2. Mô tả học phần
Học phần Giao tiếp sư phạm là học phần bắt buộc, dùng cho chương trình và
thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho người có bằng cử nhân chuyên ngành
phù hợp có nguyện vọng trở thành giáo viên trung học cơ sở, trung học phổ thông.
Học phần Giao tiếp sư phạm cung cấp cho người học những vấn đề lý luận
cơ bản về giao tiếp, giao tiếp sư phạm, hệ thống lý thuyết và thực hành nhằm hình
thành cho người học những kỹ năng và năng lực giao tiếp sư phạm; qua đó người
học có thể phân tích, đánh giá và xử lý các tình huống sư phạm nảy sinh trong hoạt
động nghề nghiệp, ứng xử chuyên nghiệp trong hoạt động nghề nghiệp và cuộc sống.
3. Yêu cầu cần đạt
Trình bày được những vấn đề cơ bản về quá trình giao tiếp sư phạm, nguyên
tắc giao tiếp sư phạm và quy tắc ứng xử trong trường học.
Phân tích được quy trình và các kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên; xử
lý được các tình huống sư phạm phổ biến đối với giáo viên.
4. Nội dung cơ bản
Nội dung 1. Khái quát về giao tiếp sư phạm
- Bản chất của hoạt động giao tiếp; văn hóa giao tiếp và ứng xử. 2
- Đặc trưng, vai trò và chức năng của giao tiếp sư phạm; đối tượng và phương
tiện giao tiếp sư phạm.
- Các giai đoạn của quá trình giao tiếp sư phạm.
- Các loại phong cách giao tiếp sư phạm; mối liên hệ giữa nhân cách của nhà
giáo với phong cách giao tiếp sư phạm.
Nội dung 2. Nguyên tắc giao tiếp sư phạm và quy tắc ứng xử trong trường học
- Các nguyên tắc đảm bảo tính mô phạm, tôn trọng nhân cách, thiện chí, đồng
cảm và tạo niềm tin trong giao tiếp sư phạm.
- Quy tắc ứng xử trong trường học.
Nội dung 3. Quy trình và kỹ năng giao tiếp sư phạm
- Quy trình giao tiếp sư phạm dựa trên các khâu của quá trình dạy học và quá trình giáo dục.
- Các kỹ năng giao tiếp sư phạm: kỹ năng định hướng giao tiếp sư phạm; kỹ
năng tạo ấn tượng ban đầu; kỹ năng lắng nghe; kỹ năng phản hồi, khen ngợi, phê
bình, trách phạt; kỹ năng kiểm soát cảm xúc bản thân và kỹ năng điều khiển, điều
chỉnh quá trình giao tiếp sư phạm.
Nội dung 4. Xử lý tình huống sư phạm
- Phân loại các tình huống giao tiếp sư phạm đối với giáo viên.
- Quy trình, kỹ năng xử lý các tình huống giao tiếp sư phạm.
- Thực hành xử lý tình huống giao tiếp giữa giáo viên và đồng nghiệp, cán bộ
quản lý giáo dục; Thực hành xử lý tình huống giao tiếp giữa giáo viên và học sinh;
Thực hành xử lý tình huống giao tiếp giữa giáo viên và cha mẹ học sinh.
5. Tài liệu học tập 5.1. Giáo trình:
[1] Trần Hằng Ly, Bài giảng Giao tiếp sư phạm, Trường ĐH Vinh, 2021
[2] Nguyễn Bá Minh, Giáo trình Nhập môn khoa học giao tiếp, NXB Đại học sư phạm 2014.
5.2. Tài liệu tham khảo
[1] Bùi Văn Huệ, Nghệ thuật ứng xử sư phạm, NXB Đại học sư phạm, 2004.
[2] Nguyễn Thị Thanh Bình, Vũ Thị Ngọc Tú, Giáo trình Giao tiếp sư phạm, NXB
Đại học Sư phạm, 2018. 3 MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ GIAO TIẾP SƯ PHẠM
1.1. Giao tiếp và văn hoá ứng xử trong trường học 1.2. Giao tiếp sư phạm
1.2.1. Những vấn đề chung về giao tiếp sư phạm
1.2.2. Các giai đoạn của quá trình giao tiếp sư phạm
1.2.3. Phương tiện giao tiếp sư phạm
1.2.4. Phong cách giao tiếp sư phạm
CHƯƠNG 2. NGUYÊN TẮC GIAO TIẾP SƯ PHẠM VÀ QUY TẮC
ỨNG XỬ TRONG TRƯỜNG HỌC
3.1. Nguyên tắc giao tiếp sư phạm
3.1.1. Khái niệm nguyên tắc giao tiếp sư phạm
3.1.2. Các nguyên tắc giao tiếp sư phạm cơ bản
3.2. Quy tắc ứng xử trong trường học
CHƯƠNG 3. QUY TRÌNH VÀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM
3.1. Khái niệm quy trình và kỹ năng giao tiếp sư phạm
3.2. Một số kỹ năng giao tiếp sư phạm
3.2.1. Kỹ năng định hướng trong giao tiếp sư phạm
3.2.2. Kỹ năng gây ấn tượng ban đầu 3.2.3. Kỹ năng lắng nghe
3.2.4. Kỹ năng kiểm soát cảm xúc của bản thân
3.2.5. Kỹ năng điều chỉnh, điều khiển trong quá trình giao tiếp sư phạm
CHƯƠNG 4. THỰC HÀNH XỬ LÝ TÌNH HUỐNG SƯ PHẠM
4.1. Quy trình xử lý tình huống sư phạm
4.2. Một số tình huống sư phạm và gợi ý cách xử lý 4 CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ GIAO TIẾP SƯ PHẠM
1.1. Giao tiếp và văn hoá giao tiếp, ứng xử
1.1.1. Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là một hiện tượng tâm lý rất phức tạp và nhiều mặt, nhiều
cấp độ khác nhau. Có nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp. Mỗi định
nghĩa đều được dựa trên một quan điểm riêng và có hạt nhân hợp lý của nó.
Tuy nhiên, các định nghĩa đều nêu ra những dấu hiệu cơ bản về giao tiếp như sau:
- Giao tiếp là một hiện tượng đặc thù của con người nghĩa là chỉ riêng
con người mới có giao tiếp thật sự khi sử dụng phương tiện ngôn ngữ (nói,
viết, hình ảnh, nghệ thuật …) và được thực hiện chỉ trong xã hội loài người.
- Giao tiếp được thể hiện ở sự trao đổi thông tin, sự hiểu biết lẫn nhau,
sự rung cảm và ảnh hưởng lẫn nhau.
- Giao tiếp dựa trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau giữa con người với con người.
Vậy: Giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa con người
với con người mà qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý và được biểu hiện ở
các quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau.
Giao tiếp thường tham gia vào hoạt động thực tiễn của con người (lao
động, học tập, vui chơi tập thể …) bảo đảm việc định hướng cho sự tác động,
tham gia vào quá trình thực hiện và kiểm tra hoạt động của con người. Giao
tiếp là nhu cầu của con người muốn tiếp xúc với con người.
A.A. Lêôngchiev đưa ra những nghĩa: Giao tiếp là một hệ thống
những quá trình có mục đích và động cơ bảo đảm sự tương tác giữa người
này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội
và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phương tiện đặc thù, mà trước hết là ngôn ngữ.
Trong tâm lý học, giao tiếp được coi như một loại hoạt động. Hoạt
động này diễn ra trong mối quan hệ người – người nhằm mục đích thiết lập
sự hiểu biết lẫn nhau và làm thay đổi mối quan hệ lẫn nhau, nhằm tác động
đến tri thức, tình cảm và toàn bộ nhân cách. Đó là sự tác động trực tiếp
người – người diễn ra trong mối quan hệ giữa chủ thể với chủ thể tiếp xúc.
Giao tiếp được điều chỉnh bởi các yếu tố có liên quan đến sản xuất, buôn
bán, các nhu cầu xã hội và do tập quán của từng địa phương, từng dân tộc,
do các chuẩn mực đạo đức … 5
1.1.2. Các loại giao tiếp
a .Căn cứ vào sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể và đối tượng
giao tiếp, người ta chia làm hai loại :
– Giao tiếp trực tiếp. Sự tiếp xúc của thầy giáo và học sinh trên lớp, sinh hoạt
tổ chuyên môn, sự gặp gỡ những người quen biết... là giao tiếp trực tiếp.
Giao tiếp trực tiếp là loại giao tiếp được tiến hành đồng thời một thời điểm
có mặt cả đối tượng và chủ thể giao tiếp. Loại giao tiếp này có đặc điểm :
+ Có thể sử dụng ngôn ngữ phụ (giọng điệu, nhịp điệu, cường độ lời
nói) và những phương tiện ngôn ngữ (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ...) để nhấn
mạnh hoặc thể hiện thái độ.
+ Giao tiếp trực tiếp rất linh hoạt, mềm dẻo, tùy hoàn cảnh, tùy phản
ứng của đối tượng giao tiếp mà ta ứng xử cho phù hợp.
– Giao tiếp gián tiếp. Những trường hợp giao tiếp được thực hiện qua các
phương tiện trung gian ( thư từ, báo chí, truyền thanh, truyền hình v.v...) là giao tiếp gián tiếp.
Giao tiếp gián tiếp là loại giao tiếp mà đối tượng giao tiếp không có
mặt ở thời điểm cần tiếp xúc. Loại giao tiếp không tận dụng được những ưu
điểm của giao tiếp trực tiếp nhất là qua ngôn ngữ viết. Tuy nhiên, nếu tiếp
xúc qua điện thoại thì giọng điệu, cách phát âm... giúp cho đối tượng giao
tiếp ở xa hiểu thêm thái độ của chủ thể giao tiếp.
b. Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ hoạt động của nhóm xã hội, cá nhân mà
người ta chia giao tiếp ra làm hai loại : – Giao tiếp chính thức
Ví dụ : giao tiếp giữa vợ chồng, con cái, cha mẹ được luật hôn nhân
và gia đình qui định (tuổi kết hôn, quyền lợi, trách nhiệm...), giao tiếp giữa
thầy giáo và học sinh được pháp luật qui định ... là giao tiếp chính thức.
Giao tiếp chính thức là sự giao tiếp giữa các thành viên trong một
nhóm xã hội hoặc các nhóm xã hội chính thức, nghi thức giao tiếp được dư
luận xã hội hoặc pháp luật, phong tục tập quán qui định.
– Giao tiếp không chính thức
Chẳng hạn, sự giao tiếp giữa các cá nhân trên một chuyến xe, tàu ;
những người cùng xem phim, nghệ thuật, cùng mua hàng...
Giao tiếp không chính thức là sự giao tiếp giữa các cá nhân trong nhóm
không chính thức với nhau.
c. Trong tâm lý học xã hội, người ta chia giao tiếp thành ba loại :
– Giao tiếp định hướng – xã hội : Chẳng hạn, nhân viên sở địa chính
đến khu dân cư ven lộ để thông báo việc mở rộng lộ giới và vận động bà con
tự giác di dời. Như vậy, giao tiếp định hướng – xã hội là loại giao tiếp mà 6
chủ thể giao tiếp với tư cách là đại diện cho xã hội nhằm truyền tin, thuyết
phụcặcccc kích thích đối tượng giao tiếp hoạt động.
– Giao tiếp định hướng – nhóm: Là loại giao tiếp mà chủ thể giao tiếp
với tư cách là đại diện cho một nhóm xã hội nhằm mục đích giải quyết những
vấn đề do nhóm đặt ra trong học tập, sản xuất, kinh doanh, chiến đấu...
– Giao tiếp định hướng – cá nhân: Là loại giao tiếp mà chủ thể giao
tiếp không đại diện quyền lợi cho nhóm xã hội nào cả mà hoàn toàn vì mục
đích cá nhân, xuất phát từ động cơ, nhu cầu, hứng thú, xúc cảm của cá nhân.
Dựa vào khoảng cách không gian để người ta đánh giá mức độ thân mật hay
xã giao, thân tình hay vì trách nhiệm. Khoảng cách không gian giữa chủ thể
giao tiếp và đối tượng giao tiếp ta thường gặp :
Từ 400 cm tở lên: giao tiếp xã giao
Từ 120 cm đến 400 cm: thân mật
Từ 45 cm đến 120 cm: tình cảm
Từ 45 cm trở xuống: rất tình cảm
1.1.3. Văn hoá giao tiếp và ứng xử
Hành vi ứng xử của con người đạt tới giá trị chuẩn mực văn hóa Chân
- Thiện - Mỹ (tức là ứng xử có văn hóa), được coi là một phương diện cụ thể
của văn hóa giao tiếp, ứng xử. Có thể nói, đây chính là lĩnh vực đời sống
sinh động, phong phú của con người diễn ra hàng ngày, luôn luôn gắn liền
với sự tồn tại và phát triển của lịch sử các dân tộc và toàn thể nhân loại. Dân
tộc nào cũng có văn hóa ứng xử của riêng mình, đồng thời cũng thể hiện đặc
trưng văn hóa ứng xử chung của toàn nhân loại.
Đối với mỗi cá nhân con người, văn hóa giao tiếp, ứng xử không chỉ
ảnh hưởng đến cuộc sống đời thường hàng ngày, mà còn quyết định đến hiệu
quả làm việc ở cơ quan và xã hội cũng như mức độ thành công trong sự
nghiệp của người đó. Nếu chuyên môn chưa giỏi, thậm chí chỉ ở mức trung
bình mà biết giao tiếp, ứng xử hợp tác với đồng nghiệp một cách tốt đẹp, linh
hoạt, nhạy bén thì có thể thu hái nhiều thành công hơn những người có thể
khá về chuyên môn, nhưng kiêu ngạo, chủ quan, giao tiếp ứng xử kém, thiếu tinh thần hợp tác.
Kỹ năng giao tiếp thể hiện rõ rệt về năng lực trí tuệ, khả năng tư duy
và ứng xử văn hóa của con người, bộc lộ khả năng của người đó trong thực
tiễn cuộc sống công tác ở cơ quan công sở cũng như trong gia đình, ngoài xã hội.
Năng lực giao tiếp ứng xử có văn hóa được ông cha ta xem là tiêu
chuẩn hàng đầu để đánh giá con người: “Vàng thì thử lửa, thử than/Chuông
kêu thử tiếng, người ngoan thử lời”. Ngày nay, con người Việt Nam giao
tiếp trong môi trường giao lưu hội nhập quốc tế, cần phải phát triển văn hóa 7
ngoại giao, văn hóa đối ngoại, ứng xử văn hóa trong các quan hệ quốc tế,
phát triển sức mạnh mềm văn hóa dân tộc.
Trên thực tế, không phải ai cũng nhận thức được tầm quan trọng của
văn hóa ứng xử, và không phải ai cũng biết ứng xử có văn hóa. Giao tiếp
chính là quá trình xác lập và phát triển mối quan hệ, tiếp xúc giữa con người
với nhau, nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định của cả hai bên, từ đó hợp
tác để cùng phát huy sở trường của các bên, cùng phát triển.
1.2. Giao tiếp sư phạm
1.2.1. Những vấn đề chung về giao tiếp sư phạm Khái niệm
Hoạt động sư phạm diễn ra theo cấu trúc chung của một hoạt động,
tức là nó cũng có những yếu tố cấu thành, bao gồm một bên là điều kiện cụ
thể nơi diễn ra hoạt động, mục đích, động cơ và bên kia tương ứng là thao
tác, hành động, hoạt động và các mối quan hệ giữa các thành tố ấy. Đối
tượng của hoạt động này là tri thức, kỹ năng, thái độ … suy cho cùng là nhân cách học sinh.
Hoạt động sư phạm là quá trình dạy và học bao gồm trong đó hoạt
động của thầy (hoạt động dạy) và hoạt động của học trò (hoạt động học).
Thầy là chủ thể của hoạt động dạy, trò là chủ thể của hoạt động học. Nói
đúng hơn, thầy và trò cùng là chủ thể cùng nhau hoạt động dạy - học.
Quá trình truyền đạt và lĩnh hội này diễn ra trong mối quan hệ giao
tiếp của thầy và trò. Như vậy giao tiếp sư phạm ở đây diễn ra như điều kiện
của hoạt động sư phạm.
Theo X.L.Rubinxtêin, hoạt động của nhà giáo dục không thể nào được
thực hiện bằng một phương tiện nào khác ngoài giao tiếp. Thậm chí Lômốp
cho rằng: Hoạt động của nhà sư phạm diễn ra theo những quy luật giao tiếp.
Ông viết tiếp: Trong một vài dạng hoạt động người ta sử dụng phương tiện
và cách thức đặc trưng cho giao tiếp, còn bản thân hoạt động thì được xây
dựng theo những quy luật giao tiếp (chẳng hạn như hoạt động của nhà sư phạm).
Để nói lên sự gắn bó của hoạt động sư phạm với giao tiếp sư phạm.
Mutưric đã viết: Theo quan điểm giáo dục học, thì việc tách giao tiếp tự do
ra như là một dạng đặc biệt của hoạt động có thể coi là hoàn toàn hợp lý.
Dạng đặc biệt ở đây có thể hiểu như sau:
Thứ nhất, giao tiếp có cấu trúc chung của hoạt động, như đã trình bày ở trên.
Thứ hai, dạng hoạt động này lại là điều kiện (phương thức) để tiến
hành một hoạt động khác. Kết luận này hoàn toàn phù hợp với giao tiếp sư
phạm và hoạt động sư phạm. 8
Nói về giao tiếp sư phạm, E.V.Sukhanôva cũng có ý thống nhất với
kết luận vừa nói trên. Bà viết: Giáo dục là một phương thức chủ yếu tác
động lên các quan hệ của học sinh … Giáo dục giữa thầy và trò là một khâu
quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách, phát triển tích cực nhận
thức và xã hội của học sinh, trong quá trình hình thành tập thể học sinh.
Trong một chừng mực, ở mức độ đáng kể, thành công của việc dạy
học phụ thuộc vào chỗ: Dạy học được tổ chức như là sự tác động qua lại
giữa thầy và trò trên cơ sở một nội dung dạy học xác định.
Khía cạnh tâm lý của sự tác động qua lại giữa thầy và trò là ở chỗ nó
chính là sự giao tiếp trong quá trình dạy học. Sự tác động qua lại giữa thầy
và trò (như là một quá trình giao tiếp với mục đích dạy học) có mặt thông
tin của nó, bởi vì thầy thông báo, truyền đạt cho trò những thông tin xác
định. Sự giao tiếp này cũng là sự tổ chức hoạt động của học sinh. (mặt tổ
chức) nó không tách khỏi sự tác động giáo dục đến học sinh (mặt giáo dục).
Vì vậy, các thầy giáo cần phải suy nghĩ đến tính chất, chất lượng của thông
tin, lẫn những hình thức biểu đạt thông tin. Họ phải suy nghĩ về tính chất và
sức mạnh của tổ chức tác động phải luôn luôn nhớ rằng mỗi hoạt động giao
tiếp bằng cách này hay cách khác đều có tác động giáo dục.
Khi thầy giáo thông báo hay tổ chức hoạt động của học sinh, sự giao
tiếp giữa thầy – trò mang tính chất chế định, tác động của nó sẽ khác với khi
giao tiếp tự do trong giờ nghỉ, trong thời gian ngoài giờ học.
Cả hai loại giao tiếp (chế định và tự do) đều có những đặc điểm tâm
lý của mình đối với các nhóm học sinh khác nhau. Chẳng hạn có những học
sinh này sẽ tránh sự giao tiếp tự do, có những học sinh khác lại tìm kiếm nó.
Đặc điểm tâm lý giao tiếp phụ thuộc nhiều vào chính người giáo viên và kỹ
năng thực hiện hình thức giao tiếp này hay hình thức giao tiếp kia. Do đó,
trong dạy học diễn ra các loại giao tiếp sau:
- Giao tiếp giữa cá nhân (giáo viên) với cá nhân (học sinh).
- Giao tiếp giữa cá nhân (giáo viên) với nhóm hay tập thể học sinh.
- Giao tiếp giữa cá nhân (học sinh) với nhóm.
Đặc điểm tâm lý của quá trình dạy học trong loại giao tiếp này khác
với đặc điểm tâm lý của quá trình dạy học trong loại giao tiếp khác.
Giao tiếp còn là một thành tố của nội dung giáo dưỡng chúng ta cần
phải dạy cho học sinh cả nghệ thuật giao tiếp nữa. Như vậy, sự gương mẫu
của giáo viên về mặt giao tiếp cũng rất quan trọng cho sự thành công dạy học về giáo dục.
Giao tiếp trong quá trình dạy học là một công cụ hiệu lực, bảo đảm
cho việc củng cố ở học sinh cảm giác được bảo vệ và bảo trợ cần thiết với các em. 9
Tóm lại, trong hoạt động sư phạm của giáo viên, kể cả ở trên lớp cũng
như ngoài giờ lên lớp, nhất thiết phải có giao tiếp giữa thầy và trò, giữa thầy
với đồng nghiệp, giữa thầy với các nhóm học sinh, giữa các học sinh với
nhau… Có thế có giao tiếp giữa thầy với lớp; với nhóm học sinh mà tác
động tới từng học sinh.
Trong tác phẩm giao tiếp sư phạm A.A.Lêonchiev, xuất bản Mac –
xkơva năm 1979 cũng đã khẳng định, giao tiếp sư phạm là giao tiếp có tính
nghề nghiệp của giáo viên với học sinh ở trên lớp và ngoài giờ lên lớp. Giao
tiếp sư phạm là điều kiện đảm bảo hoạt động sư phạm.
Từ phân tích trên chúng ta đi đến định nghĩa như sau: Giao tiếp sư
phạm là giao tiếp có tính nghề nghiệp giữa giáo viên với học sinh trong giáo
trình giảng dạy (giáo dưỡng) và giáo dục, có chức năng sư phạm nhất định,
tạo ra các tiếp xúc tâm lý, xây dựng không khí thuận lợi, cùng các quá trình
tâm lý khác (chú ý, tư duy…) có thể tạo ra kết quả tối ưu của quan hệ thầy
trò, nội bộ tập thể học sinh và trong hoạt động dạy cũng như hoạt động học.
Từ khái niệm trên chúng ta thấy rằng: giao tiếp sư phạm là một thành phần
cơ bản của hoạt động sư phạm. Những hình thức chủ yếu của công tác giáo
dục và học tập diễn ra trong điều kiện giao tiếp như giảng bài trên lớp, phụ
đạo riêng, thi cử … Không có giao tiếp thì hoạt động của giáo viên và học
sinh không đạt được mục đích giáo dục.
Quá trình giao tiếp sư phạm giữa giáo viên và học sinh có thể khái quát theo sơ đồ. Giáo viên Học sinh 1 Chủ thể Khách thể 2 1 Chủ thể giao tiếp Đối tượng giao 3 tiếp Chủ thể giao tiếp Chủ thể tiếp nhận 4 Sơ đồ (1 Chủ ), th(2 ể ),
(3): xẩy ra khi thầy giáo lên lớp Ch gủi ản th g ể b ài, truyền 5 đạt tri thức cho học sinh. 10
Sơ đồ (4), (5): Khi học sinh thắc mắc, hỏi (trao đổi) những vấn đề mà
các em cho là có vấn đề.
Vấn đề mà các em quan tâm, có ý nghĩa, phù hợp và hứng thú, nhu
cầu nhận thức của các em.
Sơ đồ (5) còn nói lên quan hệ chủ động của học sinh đối với giáo viên.
Những đặc trưng cơ bản của giao tiếp sư phạm
Yêu cầu: Chỉ ra và phân tích được những đặc trưng của GTSP.
Giao tiếp sư phạm có một số đặc trưng như sau:
Trong giao tiếp sư phạm, giáo viên (chủ thể gián tiếp) không chỉ giao
tiếp với học sinh qua nội dung bài giảng, tri thức khoa học, mà còn là tấm
gương sáng mẫu mực về nhân cách cho học sinh noi theo yêu cầu của xã hội
quy định. Nghĩa là, ở thầy giáo thì bao giờ cũng có sự thống nhất giữa lời
nói và việc làm. Không bao giờ có mâu thuẫn xẩy ra trong hành vi ứng xử.
Tấm gương của thầy có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh.
Trong giao tiếp sư phạm, thầy giáo thường dùng các biện pháp giáo
dục tình cảm, thuyết phục vận động đối với học sinh. Không được dùng biện
pháp đánh đập, hành hạ, trù dập học sinh. Chúng ta coi đó là vấn đề thuộc
quan hệ đúng đắn giữa giáo viên và học sinh, đây là yếu tố kích thích việc
giáo dục và giảng dạy đạt hiệu quả cao nhất, là thái độ ân cần chăm sóc học
sinh trên cơ sở giáo viên hiểu thấu học sinh, tin cậy học sinh và đề ra yêu
cầu đúng đắn với học sinh.
A.X.Macarencô cho rằng sự khéo léo đối xử về sư phạm là sự biểu
hiện chân thành của lòng nhân đạo chân chính, nhưng không phải của con
người nói chung mà của nhà giáo dục lành nghề.
Theo quan điểm của chúng tôi trong giao tiếp sư phạm – giáo viên
cần tạo điều kiện để gẫn gũi hiểu biết học sinh. Sự hiểu biết đó không chỉ
bề ngoài mà phải từ trái tim mình – vì nếu không có sự chân thành của giáo
viên thì sẽ làm cho tâm hồn của trẻ em chậm mở ra trước người lớn. Sự gần
gũi thực sự học sinh trên cơ sở hiểu biết các em và biết đi sâu vào tâm trạng
chủ quan của các em; đoán trước được những phản ứng có thể xẩy ra ở học
sinh đối với các biện pháp giáo dục, đồng thời biết giữ đúng mức độ khi giải quyết các tình huống.
Luôn có sự tôn trọng của nhà nước và xã hội đối với giáo viên.
Tóm lại, chúng ta thấy rằng để giao tiếp sư phạm đạt được hiệu quả
phải tạo được bầu không khí tâm lý giao tiếp giữa giáo viên và học sinh.
Bầu không khí giao tiếp chính là những yếu tố tâm lý cả hai phía giáo viên
và học sinh, nảy sinh trong quá trình tiếp xúc - Để cho bầu không khí giao 11
tiếp sư phạm góp phần tích cực vào quá trình dạy học và giáo dục, giáo viên
thực sự là chủ thể có ý thức tổ chức, xây dựng mối quan hệ này.
Chức năng của giao tiếp sư phạm.
Khi xem xét các hình thức giao tiếp sư phạm có thể dựa vào các căn cứ sau:
Căn cứ vào quan hệ xã hội và khoảng cách không gian giao tiếp: Giao
tiếp trực tiếp giữa thầy giáo và học sinh; Giao tiếp gián tiếp để hiểu học sinh,
giáo viên có thể tiếp xúc với bạn bè học sinh, phụ huynh học sinh.
Căn cứ vào môi trường trong nhà trường và ngoài nhà trường chúng
ta có: Giao tiếp sư phạm trong nhà trường; Giao tiếp ngoài nhà trường.
Căn cứ vào các quy chế, quy định của luật phổ cập giáo dục tiểu học
và các điều luật ban hành về bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em của nước ta
(năm 1991) chúng ta có: Giao tiếp sư phạm chính thức trên lớp học trong
văn phòng nhà trường; Giao tiếp sư phạm không chính thức, xảy ra ngoài nhà trường…
Để tìm hiểu chức năng của giao tiếp sư phạm, chúng ta đi sâu xem
xét đến chức năng của hai hình thức giao tiếp cơ bản là dựa vào môi trường giáo dục đó là:
Giao tiếp sư phạm trong nhà trường.
Khi xem xét các đặc trưng cơ bản của giao tiếp sư phạm trong và
ngoài nhà trường chúng ta chú ý đến mục đích, đối tượng, phương tiện và
thời gian không gian diễn ra quá trình giao tiếp giữa thầy giáo và học sinh.
+ Mục đích giao tiếp sư phạm trong nhà trường là giúp học sinh lĩnh
hội tri thức và hình thành kỹ năng cũng như các phẩm chất nhân cách theo
nội dung chương trình qua đó kích thích sự phát triển trí tuệ, phát triển tư
duy sáng tạo ở học sinh, từng bước cung cấp phương pháp học và tự học ở trên lớp và ở nhà.
+ Đối tượng: Giao tiếp sư phạm - là học sinh.
+ Nội dung giao tiếp sư phạm – chủ yếu là tri thức khoa học về lĩnh
vực tự nhiên, xã hội và con người.
+ Phương tiện giao tiếp sư phạm – được thể hiện qua các phương tiện chủ yếu sau:
- Ngôn ngữ nói: Đảm bảo văn phong khoa học, dễ hiểu, đặc biệt các
khái niệm mới. Ngữ pháp chuẩn tiếng Việt, phát âm chuẩn …
- Ngôn ngữ viết trên bảng theo một dàn bài, trình tự lôgic của bài, các
mục, đề, theo quy định. Những khái niệm mới, công thức, tiền đề … cần
được chứng minh, giảng giải khúc chiết qua cách trình bày bảng hợp lý.
- Phong cách, tư thế đĩnh đạc đường hoàng, tự tin. 12
- Y phục: gọn gàng, sạch sẽ, trang nhã, lịch thiệp theo quy định của
nhà nước đối với viên chức (không loè loẹt về màu sắc, không cầu kỳ hoặc
hở hang về kiểu dáng …).
- Sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu, vở ghi (của học sinh) cần được
thầy cô giáo hướng dẫn cách học và cách làm bài, khuyến khích học sinh
làm bài tập, tự học ở nhà và nên ghi chép ở lớp những gì? Cần được hướng dẫn rõ ràng.
+ Giao tiếp sư phạm được tiến hành trong điều kiện đặc biệt có trường
lớp, bàn ghế, bảng đen theo những quy cách phù hợp với đặc điểm phát triển
tâm sinh lý trẻ. Trường lớp đủ ánh sáng, đủ ấm về mùa đông, thoáng mát về
mùa hè. Không gian và thời gian, quan hệ thầy trò đảm bảo cho học sinh
một cảm giác an toàn, tự tin, thoải mái, đích thực.
Tóm lại, hình thức giao tiếp sư phạm trong nhà trường giữ vị trí quan
trọng, góp phần phát triển nhân cách toàn diện, đặc biệt phát triển trí tuệ, tư
duy sáng tạo ở học sinh.
Giao tiếp sư phạm ngoài nhà trường
+ Mục đích của GTSPNT: truyền đạt và lĩnh hội những vốn sống kinh
nghiệm xã hội: về tổ chức đời sống vật chất xã hội, cung cách hành vi ứng
xử trong các quan hệ xã hội mà nhà trường chưa đề cập đến hoặc ít chú ý
đến. Ví dụ, hành vi ứng xử cách nói năng với bạn bè, bề trên, người dưới.
Thói quen ăn, ngủ, vui chơi, giải trí… Những kinh nghiệm xã hội này rất
sinh động, thay đổi theo thời gian, không gian, đối tượng và các sự kiện xã
hội. Đặc biệt các sinh hoạt trong nhóm xã hội như: gia đình, làng xóm, phố
phường, láng giềng, đồng nghiệp… Sự mẫu mực của thầy giáo đối với các
thành viên trong xã hội, được coi như giao tiếp sư phạm ngoài nhà trường.
Sự mẫu mực giao tiếp ngoài nhà trường của giáo viên gián tiếp tác động vào
các tầng lớp xã hội, đặc biệt là đối với thanh thiếu niên, với gia đình học
sinh, như những điểm sáng văn hoá trong thôn, xã, phố phường nơi thầy
giáo sống và sinh hoạt thường nhật (không loại trừ việc giao tiếp với học
sinh ở ngoài đường phố, ở nhà riêng …).
+ Đối tượng giao tiếp: - Các thành viên trong các nhóm xã hội (gia
đình, xóm, làng, đường phố, các đoàn thể mà giáo viên sinh hoạt ở đó).
- Học sinh khi tiếp xúc với giáo viên (học sinh ở gần nhà thầy, cô;
cùng đường phố, xóm làng, láng giềng …)
Như vậy, đối tượng giao tiếp sư phạm ở đây ngoài sự tiếp xúc giáo
viên – học sinh không chính thức, còn mở rộng ra các quan hệ xã hội khác;
Sự mẫu mực nhân cách của giáo viên vừa mang tính chất “đón đầu” làm
mẫu cho học sinh, sau này lớn lên sẽ bắt chước, mặt khác vừa khích lệ các 13
bậc phụ huynh dạy dỗ con cái theo các mẫu hành vi đó (như đối với cha mẹ, anh em…)
+ Nội dung giao tiếp: Là hệ thống các thao tác, hành vi ứng xử, các
tư thế, phong cách (bam hàm cả ngôn ngữ và phi ngôn ngữ) nhận thức, biểu
cảm, tổ chức đời sống cá nhân, cộng đồng với môi trường tự nhiên, môi
trường XH(1). Như vậy, sự khác biệt giữa hai hình thức giao tiếp sư phạm
trong và ngoài nhà trường chính là: một bên là các tri thức khoa học thuộc
các lĩnh vực tự nhiên, XH, con người, được thể hiện trong nội dung chương
trình của các bộ môn khoa học dưới dạng sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu
tham khảo …. một bên là hệ thống văn hoá được thể hiện không thành văn
qua hệ thống các thao tác, hành vi ứng xử, các tư thế phong cách trong tổ
chức sinh hoạt vật chất, tinh thần cá nhân và cộng đồng (các nhóm XH).
+ Phương tiện giao tiếp: Phương tiện giao tiếp trong nhà trường giữa
giáo viên và học sinh ưu thế thuộc về ngôn ngữ nói và viết; trong khi đó,
giao tiếp sư phạm ngoài nhà trường (GTSPNT) ưu thế thuộc về hành vi cử
chỉ, điệu bộ, tư thế, phong cách (phi ngôn ngữ). Tất cả các phương tiện giao
tiếp khác được sử dụng tùy theo hoàn cảnh, đối tượng và điều kiện nội dung và mục đích giao tiếp.
+ Giao tiếp sư phạm nhà trường được tiến hành trong điều kiện bình
thường, rất linh hoạt và phức tạp hơn nhiều, bởi lẽ, nội dung, mục đích và
đối tượng giao tiếp khác nhau. Ngay cả đối với học sinh, việc tiếp xúc giữa
thầy – trò ngoài nhà trường cũng sinh động, phong phú, có khi những nghi
thức giao tiếp cũng đơn giản hơn, tự nhiên, đời thường.
GTSPNT, khác hẳn với giao tiếp sư phạm trong nhà trường (GTSPTNT), sự
khác biệt này được quy định bởi mục đích, đối tượng, nội dung, phương tiện
và các điều kiện giao tiếp. Tuy nhiên, có cái chung nhất là sự mẫu mực về
hành vi ngôn ngữ, hành vi cử chỉ, cách nói năng… của giáo viên (đúng với
quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm và bổn phận) phù hợp với vị trí, vai trò xã
hội, trong các quan hệ xã hội (ông, bà, cha mẹ, bè bạn, đồng chí, anh em, kẻ
trên, người dưới…) Tương tự như vậy, học sinh coi hành vi mẫu mực của
thầy giáo mà ứng xử trong mọi lúc, mọi nơi.
Giao tiếp sư phạm trong trường và ngoài trường thể hiện lối sống văn
hoá, kết tinh truyền thống dân tộc Việt Nam, kết hợp có chọn lọc với văn
minh nhân loại mà Thầy – Trò là tấm gương sáng trong các giai đoạn phát triển xã hội.
1.2.2. Các giai đoạn của quá trình giao tiếp sư phạm
Lập kế hoạch giao tiếp sư phạm 14
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học (Xô viết cũ) A.A.
Bôđalôv, V.A.Cancalích, N.V.Cudơmina, A.A. Leonchiev giao tiếp có thể
chia thành năm giai đoạn sau đây:
a) Giai đoạn định hướng trước khi thực hiện giao tiếp
Trong giai đoạn này, người giáo viên tìm hiểu đối tượng giao tiếp (từng
học sinh, nhóm, tổ, lớp…). Người giáo viên mô hình hoá việc giao tiếp với
nhóm, lớp học sinh, để chuẩn bị cho hoạt động giảng dạy sắp diễn ra. Do
đó người giáo viên phải xác định mục đích và nhiệm vụ giáo dục; hoàn cảnh
tâm lý, đạo đức ở lớp học sinh; những đặc điểm tâm lý lứa tuổi và cá nhân
học sinh; những đặc điểm nhân cách của chính bản thân giáo viên; hệ thống
các phương pháp giáo dục và giảng dạy dược sử dụng trong giao tiếp.
b) Bên cạnh giai đoạn định hướng chung, trong trường hợp với
một lớp học mới, thì giao tiếp sư phạm ở đây còn phải qua giai đoạn tạo
ra bầu không khí tiền giao tiếp. Giai đoạn này dựa vào thông tin ban đầu của
giáo viên về học sinh và của học sinh về giáo viên. Trong giai đoạn này một
việc hết sức có ý nghĩa là làm sao tạo ra được ấn tượng ban đầu chân thật,
mạnh mẽ có thể để lại dấu ấn tốt đẹp cho quá trình giao tiếp sư phạm sau
đó. Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn mở đầu của quá trình giao tiếp nghĩa
là người giáo viên tổ chức trực tiếp ở trên lớp với học sinh ngay lúc đầu tiên
tiếp xúc với họ: giáo viên cụ thể hoá kế hoạch giao tiếp, chính xác các điều
kiện giáo tiếp và thực hiện sơ bộ giai đoạn khởi đầu giao tiếp trực tiếp.
c) Giai đoạn thứ ba là giai đoạn thăm dò tâm hồn của đối tượng
Ví dụ trước khi trình bày bài giáo viên tưởng tượng ra lớp học, dự kiến
các tình huống giao tiếp của học sinh với mình, dự báo trước sẽ tiếp thu bài
như thế nào. Đây là giai đoạn cuối cùng thời kỳ chuẩn bị, đồng thời giai
đoạn này cũng chính là bắt đầu cuộc giao tiếp, thầy giáo hiểu tâm trạng học
sinh, học sinh đồng cảm với thầy giáo, hai bên hiểu biết lẫn nhau. Đây là
bảo đảm cho giao tiếp sư phạm nói riêng, cho cả quá trình giảng dạy, giáo dục nói riêng.
d) Giai đoạn điều chỉnh, điều khiển và phát triển quá trình giao tiếp
Giai đoạn thu hút sự chú ý của học sinh: giảng bài, trả lời, giữ trật tự
trong giờ giảng. Đây là giai đoạn một loạt thao tác cần thiết như cách nói
với học sinh, cách im lặng giữa chừng, một số động tác tín hiệu: giơ thước,
chỉ bảng v.v… Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn ngôn từ, trình bày bài
giảng, truyền thụ tri thức; đây là trọng điểm, hạt nhân trong giao tiếp sư phạm.
c) Giai đoạn cuối cùng là phân tích hệ thống giao tiếp đã được
thực hiện và xây dựng mô hình giao tiếp cho hoạt động tiếp theo
Sự phân chia các giai đoạn giao tiếp ở trên không hoàn toàn tuyệt đối, 15
không có nghĩa các giai đoạn đó độc lập với nhau mà giữa các giai đoạn có
sự liên quan mật thiết, giai đoạn trước sẽ là cơ sở cho giai đoạn tiếp theo.
Vì vậy mỗi giai đoạn cũng có thể là một số kỹ năng.
Ví dụ: khi nói về sự cần thiết phải có ngôn ngữ rõ ràng, chính xác biểu
cảm…, Cancalich nói rằng ở đây có cả “kỹ năng làm cho học sinh nhìn thấy
điều nghe thấy”. Tóm lại, muốn giao tiếp đạt kết quả thì hiểu mục đích, nội dung, cấu
trúc, phương tiện giao tiếp chưa đủ mà còn phải có được những kỹ năng, kỹ
xảo, những “thủ thuật” giao tiếp.
Mở đầu quá trình giao tiếp sư phạm
Chức năng cơ bản của giai đoạn này là nhận thức. Vậy, mở đầu quá
trình nhận thức xẩy ra như thế nào.
Nhận thức cảm tính là hạt nhân của giai đoạn này, khi chưa quen biết
những thông tin về nhận thức cảm tính như dáng người, nét mặt, đôi mắt, y
phục Những thông tin ban đầu, phần lớn nhận từ thị giác (mắt), vì vậy, trong
quản lý xã hội người ta quy định sắc phục cho một số nghề nghiệp (quân
đội, công an, hàng không, đường sắt, gần đây một số trường THCS đã cho
các em mặc đồng phục …). Sự khác biệt về nhận thức cảm tính khác nhau
ở các giới tính và lứa tuổi. Các em học sinh nữ thường chú ý đến quần áo, y
phục của thầy cô. Do vậy, thầy cô cần mặc lịch sự, trang nhã, gọn gàng …
Còn các em nam thì lại chú ý đến cách trình bày, diễn đạt bài giảng một cách trí tuệ của thầy cô.
Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn định hướng, đối với người lạ lần
đầu tiên tiếp xúc, các giác quan của cả chủ thể và đối tượng giao tiếp đều
hoạt động tích cực để tiếp nhận thông tin về phía bên kia; Mở đầu quá trình
giao tiếp, có sự tham gia của trực giác. Trực giác ở đây còn gọi là trực –
cảm giác, nghĩa là sau khi nhìn, nghe, sờ, mó hoặc nếm, ngửi một vật gì đó,
tiếp xúc với người lạ biết ngay sự tốt, xấu, lành, giữ hoặc có một dự báo
quan trọng để cuộc giao tiếp diễn biến theo chiều hướng nào. Trực giác được
hình thành bằng vốn sống kinh nghiệm nghề nghiệp lâu dài của giáo viên
khi tiếp xúc với học sinh, ví dụ: Hai em học sinh đánh nhau, chửi tục đột
ngột cô giáo qua đường bắt gặp, một em cúi đầu biết lỗi, em khác nét mặt
tỉnh khô - cô giáo nhận xét ngay em biết lỗi giáo dục trở thành học sinh tốt
dễ dàng, còn em kia cô mời gia đình đến hợp tác để giáo dục (và đúng với
trực giác của cô mẹ em đã chết, bố đi làm suốt ngày không ai chăm sóc giáo dục em).
Mục đích của giai đoạn này phải tạo ra được sự thiện cảm và tin yêu
của học sinh đối với giáo viên; muốn vậy từ y phục, đến ánh mắt, nụ cười
(hiền dịu) về cách đi đứng, tư thế, phong cách cần đĩnh đạc, đường hoàng, 16
tự tin – tạo cảm giác an toàn cho học sinh, tạo nơi các em một sự gần gũi
nhưng kính trọng thầy cô.
- Mở đầu quá trình giao tiếp thường diễn ra khi thầy cô giáo tiếp nhận
lớp mới, học trò mới, lần tiếp xúc đầu tiên; cũng có thể xẩy ra những sự kiện
mới như giảng viên mới, tiết học mới, nhận nhiệm vụ mới, vai trò vị trí mới.
- Mở đầu quá trình giao tiếp sư phạm, được chuẩn bị chu đáo nên nói
những gì? thông thường cần giới thiệu vài nét về thầy cô để làm quen với
các em, sau đó đến những nội dung cần nói, cố gắng nói gọn, rõ ràng, mạch
lạc. Nếu là giới thiệu môn học mới, chương trình mới, cần định hướng rõ
với học sinh môn học bao nhiêu tiết, mỗi tuần học bao nhiêu tiết, có mấy
lần kiểm tra, thi vào thời gian nào? Nếu là các giáo viên chủ nhiệm thì nội
dung giao tiếp lần đầu phong phú hơn, phức tạp hơn … Mọi thói quen ứng
xử với thầy cô, ở học sinh được hình thànhngay từ buổi ban đầu. Thầy cô
dễ dãi quá mức- các em sẽ xem thường, khinh nhờn, thầy cô cứng rắn quá
- các em sẽ sợ hãi, Thầy cô lúng túng – các em coi thường … ấn tượng ban
đầu là cửa ngõ quan trọng của quá trình giao tiếp, nó chỉ đạo, định hướng
suốt quá trình giao tiếp giữa giáo viên và học sinh. Tuy nhiên, ấn tượng ban
đầu, cũng vẫn là ấn tượng ban đầu, thành công trong giao tiếp sư phạm là cả
một quá trình tiếp xúc lâu dài giữa thầy cô với các em trong suốt năm học, thậm chí 3,4 năm.
Diễn biến quá trình giao tiếp sư phạm
Mọi mục đích giao tiếp được thực hiện ở giai đoạn này. Sự thành công
hay thất bại của quá trình giao tiếp do giai đoạn này quyết định. Vậy, bản
chất, nội dung quy luật diễn ra như thế nào ?
Bản chất giai đoạn này – là sự bộc lộ bản chất của chủ thể giao tiếp
với đối tượng giao tiếp, bản chất đích thực của giáo viên và học sinh được
biểu hiện một cách sinh động và chân thực nhất.
Hãy giao tiếp với học sinh bằng bản chất đích thực của giáo viên.
Chúng ta đều thừa nhận rằng, mỗi thầy cô có cá tính riêng, vẫn là thương
yêu học sinh, nhưng cách biểu hiện tình thương, lòng nhân ái mỗi thầy cô
lại thể hiện bằng những thao thác, hành vi ứng xử khác nhau, có thầy cô rất
tế nhị nhưng lại yêu cầu cao, có giáo viên lại đập bàn, gõ thước để răn đe,
có người lặng yên rồi gặp riêng từng em có sai lầm khuyến điểm… Phương
pháp giao tiếp, ứng xử tùy thuộc vào đối tượng, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ nhiệm
vụ và nội dung giao tiếp… thậm chí cách ứng xử khác nhau vẫn chỉ đối với
một số học sinh trong hoàn cảnh khác nhau. Đó là nghệ thuật giao tiếp.
Nội dung giao tiếp sư phạm trong nhà trường chủ yếu là: những tri
thức khoa học của bộ môn: bao gồm những phạm trù, khái niệm, công thức,
tiền đề, sự kiện, quy luật … là điểm tựa, là cái khung. Còn ngôn ngữ nói 17
của thầy cô là phương tiện chủ yếu để chuyển tải những nội dung bài giảng,
sao cho các em dễ hiểu, dễ nhớ, ghi chép được, có thể vận dụng sáng tạo, để
làm bài tập, thực hành được trong đời sống sinh hoạt một cách tự giác.
Sự hiểu biết tâm sinh lý của các em, sự hiểu biết ban đầu khi tiếp xúc
với học sinh, giúp thầy cô giáo thiết kế bài giảng (soạn bài) sao cho mỗi lời
thầy cô, các cử chỉ, thao tác hành vi của mình thực hiện các chức năng minh
hoạ, giải thích, khẳng định, phủ định, thuyết phục, cảm hoá, thậm chí cả nhắc nhở, răn đe …
- Để thu hút sự chú ý của học sinh một cách không chủ định, giọng
nói của giáo viên cần được thay đổi lên bổng, xuống trầm, nhịp điệu tránh
đơn điệu (dễ gây buồn ngủ, chóng chán) kèm theo là cử chỉ, ánh mắt, nụ
cười, tư thế đứng, ngồi sao cho hợp lý với thói quen cá nhân, phù hợp với
khung cảnh không gian, thời gian, tiết trời (mưa, nắng, gió, rét …).
- Lời giảng cần súc tích, nhiều thông tin … kích thích được sự động
não liên tưởng với tri thức cũ, tạo thành hệ thống tri thức của chính học sinh.
Cách giảng cần chú ý đến phương pháp luận nhận thức, cách đặt vấn đề có
bao nhiêu cách tiếp cận, có bao nhiêu phương án đi tới kết luận, giải quyết nhiệm vụ.
- Việc lên lớp và kết thúc tiết giảng, cần đúng giờ (theo trống, kẻng).
- Các bước lên lớp ở mỗi loại tiết học nên theo một trình tự khoa học nghiệp vụ sư phạm.
- Ngoài lời giảng, tư thế, tác phong, hành vi, điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt,
nụ cười, giáo viên cần sử dụng các phương tiện kỹ thuật khác để giao tiếp
sư phạm trên lớp với các em như sau: Viết bảng, viết bảng theo dàn ý của
bài, chữ viết trên bảng cần rõ, đọc được (về phía học sinh). Các phương tiện
nghe nhìn, giáo cụ trực quan cần được đưa ra trình bày đúng mức, đặt đúng
chỗ (để học sinh dễ theo dõi).
- Những thắc mắc, câu hỏi của học sinh liên quan đến bài giảng cần
được giải đáp rõ ràng, dễ hiểu (nếu chưa chuẩn bị kịp thì hẹn các em giờ
sau, tiết sau, tránh câu trả lời tuỳ tiện).
- Nhất thiết các tiết học phải giảng bài mới, phải có trọng tâm, trọng
điểm, cần trình bày một cách có hệ thống và khái quát ở mức độ cần thiết
để giúp học sinh khắc sâu, nhớ lâu, dễ hiểu, dễ vận dụng.
- Việc hướng dẫn bài tập về nhà làm, cần được soạn chu đáo, để nếu
có khó khăn gì cần gợi ý, nêu vấn đề cho học sinh có thể thực hiện tốt ở nhà.
Giờ giảng cần tạo ra một bầu không khí hiểu biết lẫn nhau, học sinh
tin tưởng vào thầy cô, uy tín của thầy cô bao trùm cả lớp học, học sinh tự
giác nghe, ghi hiểu bài ngay trên lớp.
Kết thúc quá trình giao tiếp sư phạm 18
Có rất nhiều cách kết thúc quá trình giao tiếp sư phạm xẩy ra trong
hoạt động dạy và học ở trường. Trong thực tế, có thầy cô say sưa giảng bài
quên cả hết giờ (trống, kẻng đánh hết giờ) bài vẫn chưa hết. Có thầy cô kết
thúc sớm trước giờ (những phút còn lại tổ chức giao tiếp lúng túng), có
người kết thúc bài miễn cưỡng, kết thúc buổi gặp gỡ đột ngột, gây sự hụt
hững nơi học sinh, đối tượng giao tiếp.
Mục đích kết thúc quá trình giao tiếp sư phạm – phải được cả giáo
viên và học sinh nhận thức đã thực hiện được nội dung, nhiệm vụ giao tiếp;
cả hai bên đều đồng ý có ý thức được điểm dừng tại đó (tri thức, sự kiện…).
- Thường trong dạy học đến bước củng cố bài, dặn gò học sinh về nhà
làm bài tập, hoặc làm bài tập (Toán, Lý, Hoá …) ứng dụng lý thuyết là
những tín hiệu sắp báo hết giờ.
- Mỗi thầy cô có những tín hiệu riêng để kết thúc bài giảng, buổi giao
tiếp. Kết thúc quá trình giao tiếp sư phạm là để hẹn gặp tiếp theo, do đó cần
thiết: Có tín hiệu (bằng lời nói, bằng cử chỉ, điệu bộ, tư thế hoặc hành vi
như: xoá bảng, cho sách vở, giáo án vào cặp, hoặc xem đồng hồ …) chuẩn
bị kết thúc quá trình giao tiếp. Không nên tạo ra một sự hụt hẫm đột ngột,
khi nội dung bài giảng còn đang giang giở, hoặc dừng mà mục đích, yêu cầu
giao tiếp chưa đạt được.
Có thể dừng giao tiếp, nhưng để lại sự lưu luyến ở các em học sinh,
biết tạo cho các em tâm thế chờ đợi giờ tiếp theo được giải đáp; hoặc nêuvấn
đề để học sinh về nhà suy nghĩ, khơi dậy hứng thú học tập bộ môn của các
em. Nhà tâm lý học người Mỹ Luchin bằng kết quả nghiên cứu của mình đã
nhận xét khi tri giác người quen thì thông tin cuối cùng lại có ý nghĩa hơn cả.
Ấn tượng cuối cùng của một tiết giảng, một buổi giảng bài, một cuộc
gặp gỡ cũng để lại những kỷ niệm đẹp cho học sinh. Hãy kết thúc quá trình
giao tiếp sư phạm, mà học sinh mong muốn gặp lại thầy cô cả về sự mẫu
mực nhân cách, chiều sâu về năng lực chuyên môn, sự bản lĩnh về trí tuệ.
Sự thống nhất các giai đoạn trong tình huống giao tiếp sư phạm
Sự phân chia các giai đoạn của quá trình giao tiếp mang tính chất
nghiên cứu, vạch ra các nội dung, nhiệm vụ cũng như những đặc trưng tâm
lý cơ bản của giáo viên và học sinh ở mỗi giai đoạn, thường thì giai đoạn
mở đầu cả hai bên có những lúng túng nhất định; Bởi lẽ, chưa hiểu biết về
nhau. Khi đã làm quen được với nhau thì tiến trình giao tiếp thuận lợi hơn
nhiều và kết thúc quá trình giao tiếp thường nhẹ nhàng và đạt hiệu quả. Ba
giai đoạn này, bao giờ cũng thống nhất với nhau, tác động qua lại lẫn nhau.
Nếu định hướng chính xác, những thông tin ban đầu giúp chúng ta lựa chọn
các giao tiếp sư phạm ứng xử phù hợp, thực hiện trọn vẹn các nhiệm vụ giao 19
tiếp sư phạm thì giai đoạn kết thúc diễn ra tự nhiên và cả giáo viên và học
sinh cảm thấy thoải mái. Chất lượng giáo dục, dạy học được nâng cao khi
kết thúc để lại những ấn tượng tốt và là nền tảng cho các quá trình giao tiếp,
tiếp theo; mặc dù học sinh quen thuộc nhưng cứ mỗi lần tiếp xúc cũng cần
có thông tin chính xác phục vụ cho nội dung và nhiệm vụ giao tiếp đó.
Không nên vì quen áp đặt các định kiến của giáo viên đối với học sinh. Bởi
lẽ sự phát triển cơ thể, quan hệ xã hội, tâm lý của học sinh biến đổi hàng
ngày. Mọi sự định kiến, quy gán, áp đặt của thầy cô đối với học sinh đã quen
thuộc, dễ dẫn đến giao tiếp sư phạm không thành công.
Bốn giai đoạn này bao giờ cũng thống nhất tác động qua lại lẫn nhau
trong một tình huống giao tiếp cụ thể ; không ít những trường hợp chính khi
diễn biến quá trình giao tiếp thầy cô mới hiểu rõ học sinh, thay đổi quan
điểm, nhận xét, đánh giá lại học sinh. Khi kết thúc giao tiếp sư phạm mới
có đủ thông tin về học sinh. Điều chỉnh định hướng, đánh giá nhận xét học
sinh xảy ra liên tục ở các giai đoạn … Mỗi tình huống giao tiếp sư phạm ,
học sinh lại bộc lộ một phần bản chất của mình. Sẽ là ngộ nhận chủ quan
nếu chỉ qua một vài tình huống sư phạm mà đánh giá nhân cách các em;
nhưng nếu không có định hướng mô hình nhân cách của học sinh giáo viên
sẽ sử dụng các phương pháp giao tiếp không phù hợp dẫn đến hiệu quả dạy
học và giáo dục sẽ thấp.
1.2.3. Phương tiện giao tiếp sư phạm
Ngôn ngữ trong giao tiếp sư phạm
Ngôn ngữ thực chất là hệ thống ký hiệu tượng trưng về sự vật, hiện
tượng cũng như những thuộc tính và quan hệ của chúng, được con người
quy ước và sử dụng trong giao tiếp giữa con người với con người. Loài
người trong quá trình phát triển đã sáng tạo ra rất nhiều loại ngôn ngữ như
ngôn ngữ nói, ngôn ngữ toán học, âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, ngôn ngữ
kỹ thuật (trên máy vi tính, mật mã …). Do vậy ngôn ngữ có đặc điểm sau:
+ Ngôn ngữ là sản phẩm văn hoá xã hội loài người, được phát triển
trên nền tảng sinh học qua hàng nghìn năm tiến hoá.
+ Ngôn ngữ mang tính chất tổng hợp tượng trưng, có thể truyền đi
đến bất kỳ một loại thông tin nào, đặc biệt để diễn tả các trạng thái tâm lý,
đời sống tinh thần của con người. Nhờ có đặc điểm này mà con người mới
hợp tác với nhau để tổ chức xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ và văn minh.
+ Ngôn ngữ mang tính chất lịch sử phát triển xã hội, bao giờ nó cũng
mang tính kế thừa và phát triển liên tục cùng với sự phát triển nền văn hoá, văn minh của xã hội.
Trong các loại ngôn ngữ sử dụng trong giao tiếp sư phạm thì ngôn
ngữ nói giữ một vị trí hàng đầu trong quá trình dạy học và giáo dục. 20