












Preview text:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
HỌC PHẦN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Giảng viên: ThS. Hồ Thị Liên Hương
Sinh viên thực hiện: Đỗ Thị Lan Anh MSSV : 20031666
Khoa/ Bộ môn: K65- Quốc tế học hệ chuẩn Mã học phần: HIS1001 11
Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 2021.
MỤC LỤC
ĐỀ BÀI . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
LỜI MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU THẮNG LỢI CÁCH
MẠNG THÁNG 8/1945: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
1.1. Tình hình Thế giới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
1.2. Tình hình trong nước . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1.2.1. Tình hình kinh tế - xã hội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1.2.2. Tình hình chính trị . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
CHƯƠNG 2. CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG TRONG QUAN
HỆ NGOẠI GIAO VỚI PHÁP TỪ THÁNG 9/1945 ĐẾN 19/12/1946: . . . . . . . . . 4
2.1. Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” (25/11/1945) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
2.1.1. Nội dung Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” (25/11/1945) . . . . . . . . . . . . . . . 5
2.1.2. Đánh giá về chính sách quan hệ của Đảng với thực dân Pháp . . . . . . . . . . . 5
2.2. Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Chỉ thị “Hoà để tiến” (9/3/1946) . . . . . . . . . . . 6
2.2.1. Nội dung của Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
2.2.2. Đánh giá về Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Chỉ thị “Hoà để tiến” (9/3/1946)
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
2.3. Bản Tạm ước (14/9/1946) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
2.3.1. Nội dung Bản Tạm ước (14/9/1946) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
2.3.2. Đánh giá về Bản Tạm ước (14/9/1946) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC RÚT RA TỪ NHỮNG CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH
CỦA ĐẢNG TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT
NAM HIỆN NAY. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
TỔNG KẾT . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11 1 ĐỀ BÀI:
Anh (Chị) hãy trình bày và đánh giá về chủ trương, chính sách của Việt Nam trong
quan hệ với Pháp từ tháng 9/1945 đến trước ngày 19/12/1946? Theo quan điểm của
Anh (Chị), có thể rút ra được bài học gì từ những chủ trương, chính sách đó trong công
cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam hiện nay? BÀI LÀM
LỜI MỞ ĐẦU:
Sau thắng lợi vang dội của Cách mạng tháng 8, với sự chuẩn bị lực lượng chu
đáo, tập hợp sức mạnh toàn dân, đặc biệt là sự nắm bắt đúng thời cơ của Đảng mà cuộc
chiến diễn ra nhanh chóng và ít thương vong. Sau bao năm tháng sống kiếp nô lệ dưới
tay bọn thực dân, phong kiến, chịu đủ mọi tầng kìm kẹp thì cuối cùng lá cờ độc lập
cũng tung bay, lần đầu tiên chính quyền thuộc về tay nhân dân.
Tuy nhiên, niềm vui ấy chưa thực sự chọn vẹn vì sau chiến tranh là những hệ luỵ
của sự bóc lột để lại trên đất nước ta, phải đối mặt với những khó khăn, thử thách về
việc khôi phục đất nước và xây dựng chính quyền của nhân dân, bên cạnh đó còn phải
đứng trước sự xâm lược trở lại của thực dân Pháp cùng mưu đồ đang nhen nhóm ở
Đông Dương của đế quốc Mĩ. Trước tình hình đó Đảng ta đã có những đường lối, chính
sách kịp thời và sáng suốt không chỉ trong quan hệ ngoại giao với Pháp xuyên suốt giai
đoạn từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946 mà còn trên nhiều lĩnh vực khác, đưa đất nước
thoát ra khỏi thế bị động “ngàn cân treo sợi tóc”.
CHƯƠNG 1. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU THẮNG LỢI CÁCH
MẠNG THÁNG 8/1945:
1.1. Tình hình Thế giới:
Trong 5 nước chiến thắng trong Thế Chiến thứ 2, chỉ có Liên Xô là không chống
lại Việt Nam nhưng cũng không công nhận và ủng hộ chính quyền Việt Nam ngay lúc
đó, mãi đến năm 1950 mới chính thức công nhận. Còn các cường quốc khác đều chống 2
lại chính quyền độc lập của Việt Nam để tạo thế đứng có lợi riêng của họ ở Đông Nám
Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
Anh thì lo sợ việc Việt Nam giành được độc lập sẽ thúc đẩy các thuộc địa ở Châu
Á của Anh vùng lên đấu tranh. Đối với Trung Hoa, sau Chiến tranh Thế giới thứ 2,
quyền lãnh đạo nằm trong tay họ Tưởng- một chính quyền cực kỳ phản động, siêu
phong kiến và vô cùng tham nhũng với chủ trương triệt để chống Cộng, với bản chất
như vậy, tất nhiên là họ có ác cảm với chính quyền Việt Nam. Đối với Mỹ, sau cái chết
của Tổng Thống Roosevelt, Phó Tổng Thống Harry Truman lên thay thế, cũng muốn
Mỹ phải có ảnh hưởng ở lục địa Châu Á. Riêng với Pháp đã lợi dụng và khai thác ý
muốn thành lập Tổ Chức Minh Ước Bắc Đại Tây Dương để yêu sách Hoa Kỳ phải triệt
để ủng hộ và viện trợ tài chánh cho Liên Minh Pháp - Vatican theo đuổi cuộc chiến tái chiếm Đông Dương.1
Còn Liên Xô sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, vị thế được thiết lập. Từ đó, điều
kiện cho phong trào cách mạng giải phòng dân tộc trên khắp thế giới có điều kiện để
phát triển. Phong trào dân chủ và hòa bình cũng vươn lên mạnh mẽ.
1.2. Tình hình trong nước:
1.2.1. Tình hình kinh tế - xã hội:
Sau khi chiến tranh kết thúc, kinh tế - xã hội của nước ta bị tổn hại vô cùng nặng
nề. Nạn đói ở miền Bắc chưa được khắc phục, ruộng đất bỏ hoang vô số kể dẫn đến
nông nghiệp trì trệ, thiếu lương thực. Công nghiệp đình đốn. Hàng hóa ngày càng khan
hiếm, giá cả đội giá tăng vọt, ngoại thương gần như đóng băng. Tình hình tài chính đất
nước rất khó khăn, trong kho bạc chỉ vỏn vẹn 1,2 triệu đồng, quá nửa là tiền rách không
sử dụng được. Tỉ lệ số dân không biết chữ lên tới 90%. Các tệ nạn do xã hội cũ để lại
tác động hết sức nặng nề.
1.2.2. Tình hình chính trị:
1 Nguyễn Mạnh Quang (2007), Giáo hội La Mã: Lịch sử và hồ sơ tội ác, Chương XIV: Liên minh xâm lăng Pháp-
Vatican gây hấn tấn công Việt Nam. 3
Trong nước, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được kiến lập có hệ
thống phân hóa từ Trung ương đến cơ sở. Lực lượng vũ trang nhân dân đang từng bước
phát triển. Toàn dân một lòng tin tưởng và ủng hộ hết mình Việt Minh, ủng hộ Hồ Chủ Tịch.
Tuy nhiên, độc lập của chúng ta lại bị đe dọa một lần nữa. Theo thỏa thuận của
Đồng minh ở Hội nghị Pốtxđam , cuối tháng 8/1945 gần 20 vạn quân của chính phủ
Tưởng Giới Thạch kéo vào nước ta từ vĩ tuyến 16 trở ra làm nhiệm vụ giải giáp quân
đội Nhật. Theo chân chúng còn có lực lượng tay sai phản động trong hai tổ chức “Việt
Nam quốc dân Đảng” và “Việt Nam cách mạng đồng minh hội”. Quân Tưởng vào Việt
Nam ta, chúng ráo riết âm mưu tiêu diệt Đảng, phá tan Việt Minh, đánh đổ chính quyền
cách mạng, lập chính quyền phản động làm tay sai cho chúng. Đằng sau quân Tưởng
là thế lực của đế quốc Mỹ âm mưu đặt Đông Dương dưới chế độ “ủy trị”, một chế độ
trá hình cho chế độ thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Trong khi đó từ vĩ tuyến 16 trở xuống
miền Nam, quân đội Anh với danh nghĩa quân Đồng minh giải giáp quân đội Nhật đã
tiếp tay cho thực dân Pháp quay lại với ý định tái đánh chiếm Đông Dương. Vào 23-9-
1945, Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở ra cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai.
Nhân cơ hội đó, các tổ chức phản động ráo riết hoạt động, dựa vào thế lực bên ngoài
chống phá cách mạng. Chúng ngang nhiên phá hoại, cướp của, giết người, tuyên truyền,
kích động một số thành phần đi theo chúng chống lại chính quyền cách mạng và đòi cải
tổ Chính phủ lâm thời. Chúng còn lập chính quyền phản động ở nhiều nơi trên nước ta.
Chưa bao giờ, lịch sử chúng ta chứng kiên trên đất nước có nhiều thù trong giặc ngoài
tới như vậy, đặt ra một bài toán nan giải cho Đảng và Nhà nước.2
CHƯƠNG 2. CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG TRONG QUAN
HỆ NGOẠI GIAO VỚI PHÁP TỪ THÁNG 9/1945 ĐẾN 19/12/1946:
Trước tình thế khó khăn liên tiếp dồn dập và có khả năng phải cùng lúc chống lại
nhiều kẻ thù trong khi binh lực chưa hồi phục hoàn toàn mà kinh tế lại đang yếu kém,
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội (2005), tr. 153-155. 4
Đảng ta với sự chỉ đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những chủ trương,
chính sách ngoại giao với Pháp hết sức kịp thời, nắm bắt đúng tình hình.
2.1. Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” (25/11/1945):
2.1.1. Nội dung Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” (25/11/1945):
Về nội dung cơ bản của Chỉ thị như sau, Chỉ thị đã vạch rõ nhiệm vụ chiến lược
và nhiệm vụ cần kíp của cách mạng nước ta, xác định: “Cách mạng Đông Dương lúc
này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng. Khẩu hiệu đấu tranh vẫn là “Dân tộc
trên hết, Tổ quốc trên hết”. Kẻ thù chính của cách mạng lúc này là thực dân Pháp xâm
lược. Nhiệm vụ cơ bản, trước mắt của toàn dân tộc ta là: củng cố chính quyền cách
mạng, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống của nhân
dân. Nhiệm vụ bao trùm là bảo vệ, củng cố chính quyền cách mạng. Chỉ thị vạch ra
những biện pháp cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ, đặc biệt về ngoại giao: kiên trì
nguyên tắc “bình đẳng, tương trợ”, thêm bạn bớt thù. Đối với quân đội Tưởng, thực
hiện khẩu hiệu “Hoa – Việt thân thiện”. Đặc biệt chủ trương “độc lập về chính trị, nhân
nhượng về kinh tế” đối với Pháp.3
2.1.2. Đánh giá về chính sách quan hệ của Đảng với thực dân Pháp:
Trên thực tế, Đảng ta đã nhanh chóng xác định kẻ thù chính lúc này là thực dân
Pháp xâm lược, với chủ trương này chúng ta đã loại bỏ được ba kẻ thù, chỉ phải đối phó
với kẻ thù chính là thực dân Pháp. Nếu không có chủ trương đúng đắn chúng ta sẽ cùng
lúc phải đối phó với một lúc 3 kẻ thù xâm lăng. Với chủ trưởng “độc lập về chính trị”
là vì chính trị thể hiện sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền của nhân dân mà dân ta vừa
giành được độc lập, không có lí do nào lại để chính quyền rơi vào tay kẻ thù thao túng
một lần nữa. Thứ hai, đó là Chủ tịch Hồ Chi Minh đã đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”
khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, là một nước có nền độc lập và chủ
quyền riêng nên tất nhiên chúng ta có thể nhân nhượng về kinh tế nhưng chính trị chắc chắn phải độc lập.
3 PGS.TS Ngô Đăng Tri, 82 năm Đảng Cộng sản Việt Nam và những chặng đường lịch sử (1930-2012), NXB Thông tin
và truyền thông (2012), tr.108. 5
Việc “nhân nhượng về kinh tế” với Pháp chỉ để tránh gây căng thẳng trong thời
điểm đó, vì chính quyền ta vẫn còn non trẻ, đất nước vừa bước ra khỏi một cuộc chiến
tranh, mọi mặt đều đang kiệt quệ, rất khó để có thể đối mặt trực tiếp với Pháp, chủ
trương nhđể kéo dài thời gian giúp Đảng ta nhanh chóng củng cố chính quyền, lực
lượng cách mạng. Cũng giống như việc nhân nhượng với quân Trung Hoa, tìm cách để
hoà hoãn tránh đối mặt cùng lúc với nhiều kẻ thù.
Có thể nói, tại thời điểm đó sự nhân nhượng này là sự nhân nhượng vô cùng khôn
khéo, trong tình thế cấp bách Đảng ta vẫn bình tĩnh, cân bằng được thế cục. Như Lênin
đã từng dạy những người cách mạng rằng: “Thấy cuộc chiến đấu rõ ràng có lợi cho kẻ
thù chứ không có lợi cho ta mà cứ nghênh chiến, đó là một tội ác; và những nhà chính
trị nào của giai cấp cách mạng, không biết “lựa chiêu, liên minh và thỏa hiệp” để tránh
một cuộc chiến đấu bất lợi rõ rệt thì đó là những người vô dụng4”.
2.2. Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Chỉ thị “Hoà để tiến” (9/3/1946):
2.2.1. Nội dung của Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946):
Trước tình hình Hiệp ước Hoa-Pháp được kí kết (28/2/1946), Pháp nhân nhượng
một số quyền lợi cho chính quyền Tưởng để được đưa quân ra miền Bắc Việt Nam,
Tưởng nhân nhượng Pháp để rút quân về đối phó với Quân giải phóng nhân dân Trung
Quốc. Đảng ta trước sự lựa chọn đánh hay hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Thường
vụ Trung ương Đảng đã quyết định chọn giải pháp hoà hoãn. Thực hiện chủ trương đó,
Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ ta ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ
bộ 06/3/1946, nhân nhượng cho Pháp một số quyền hạn có điều kiện nhất định đó là
Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế quân Tưởng, sau 5 năm
phải rút hết về nước, hai bên đình chỉ xung đột ở miền Nam và mở cuộc đàm phán để
đi đến ký hiệp định chính thức. Và Pháp phải công nhận Việt Nam là một quốc gia tự
do có nghị viện, chính phủ, quân đội và tài chính riêng nằm trong liên bang Đông Dương
và trong Khối Liên hiệp Pháp. Sau khi kí Hiệp định Sơ bộ, Ban Thường vụ Trung ương
Đảng ra Chỉ thị “Hoà để tiến”, nêu rõ ý nghĩa quan trọng của việc ký hiệp định với Pháp
4 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, tr.77 6
nhằm thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng, ngăn ngừa các khuynh hướng sai lầm “tả”
và hữu có thể xảy ra trong đảng viên, cán bộ và nhân dân làm ảnh hưởng đến việc phải
cảnh giác đề phòng, tỉnh táo chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu nếu Pháp bội ước.5
2.2.2. Đánh giá về Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Chỉ thị “Hoà để tiến” (9/3/1946):
Chọn thương lượng với Pháp là vì Đảng ta lúc này đang tranh thủ thời cơ để buộc
quân Tưởng phải rút ngay về nước, tránh tình trạng phải đối đầu với nhiều kẻ thù, tranh
thủ thời gian hoà hoãn để chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu mới, tiến lên giành thắng
lợi. Hai văn kiện trên ra đời đã thể hiện thái độ quan hệ của Đảng ta với Pháp, Đảng đã
phân tích đúng tình hình để việc nhân nhượng này chúng ta không bị ảnh hưởng quá
nhiều mà còn giành được một vài quyền lợi chính trị. Có thể thấy, sự ra đời của Hiệp
định Sơ bộ là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa và Chính phủ Pháp. Hiệp định Sơ bộ đã làm được một điều quan trọng đó là chứng
tỏ rằng: Việt Nam là một quốc gia sánh ngang với Pháp, không còn là thuộc địa của
Pháp và càng không cần đến sự bảo hộ của Pháp 6hay bất kì một nước nào. Đồng thời,
nó còn “mở đường cho sự công nhận của quốc tế. . dẫn chúng ta đến một vị trí quốc tế
ngày càng vững vàng và đó là một thắng lợi chính trị lớn lao”7. Như vậy, Hiệp định Sơ
bộ chính là cơ sở để khẳng định vị trí của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đối với quốc tế.
Đồng thời việc Đảng ta chủ động ký Hiệp ước Sơ bộ đã cho thấy rõ tầm nhìn, tư
duy chiến lược sắc bén của Đảng về vận dụng những điều kiện thực tiễn khách quan để
thay đổi tình thế cách mạng, biến trong cái rủi lại có cái may. Trước mắt, với bản Hiệp
định này, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ chỗ bị gạt ra ngoài thỏa thuận
Pháp - Hoa, đã trở thành một bên chủ thể quyết định đến việc thực hiện các điều khoản
thay quân trong Hiệp ước Trùng Khánh, kết thúc về mặt pháp lý vai trò của quân Tưởng
tại Việt Nam, theo quy định của Hội nghị Pốt-xđam. Đây là một nước đi “nhất cử lưỡng
5 PGS.TS Ngô Đăng Tri, Sđd, tr.113-114.
6 Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 228.
7 Philippe Devillers - Tài liệu lưu trữ chiến tranh 1944-1947, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1993, tr. 218. 7
tiện”, vừa tránh phải đối đầu với Pháp trong điều kiện bất lợi cả về thế và lực, vừa mượn
tay Pháp đuổi 20 vạn quân Tưởng ra khỏi bờ cõi. Đó là đòn tiến công ngoại giao hết
sức chủ động, sáng tạo, nhằm phân hóa kẻ thù, thúc đẩy chúng tự loại trừ lẫn nhau, tạo
thuận lợi để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.
2.3. Bản Tạm ước (14/9/1946):
2.3.1. Nội dung bản Tạm ước (14/9/1946):
Với thiện chí và sự kiên trì đấu tranh của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà, cuộc hội nghị chính thức giữa ta và Pháp đã họp ở Phôngtennơblô từ ngày
6-7-1946 đến ngày 10-9-1946, tuy nhiên với bản chất thực dân, trong thời gian đàm
phán thực dân Pháp vẫn ráo riết chuẩn bị mở rộng địa bàn xâm lược trên nước ta. Trong
thời gian ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ rõ thiện chí mong muốn hoà bình
hữu nghị và độc lập tự do của nhân dân và Chính phủ Việt Nam. Để tỏ rõ thiện chí và
giành thêm thời gian hòa bình, trước khi rời nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký
với Chính phủ Pháp bản Tạm ước (ngày 14-9-1946).
Bản Tạm ước 14/9 không giải quyết cụ thể vấn đề nào cả, chỉ nêu những thỏa
thuận về nguyên tắc mà những tiểu ban hỗn hợp sau này sẽ cụ thể hóa cách thức thực
hiện. Tạm ước 14/9/1946 quy định hai bên sẽ tiếp tục cuộc đàm phán chậm nhất là
tháng 1/1947, sẽ cùng ấn định thể thức trưng cầu dân ý ở Nam Bộ và đảm bảo các quyền
tự do, dân chủ ở Nam Bộ. Tạm ước 14/9/1946, có hiệu lực thi hành từ ngày 30/10/1946,
chứa đựng những nhân nhượng cao nhất về kinh tế, thương mại mà Chính phủ Việt
Nam có thể dành cho Pháp. Đó là những nhân nhượng cuối cùng mà Hồ Chủ tịch và
Chính phủ ta có thể cam kết.
Tuy nhiên, với những nhân nhượng như vậy thực dân Pháp vẫn tiếp tục lấn tới,
ngày 20/11/1946, quân Pháp đã mở cuộc tấn công chiếm đóng liên tiếp trong những
ngày tiếp theo. Tình thế đã buộc chúng ta không thể nhân nhượng hơn nữa, Ban Thường
vụ Trung ương Đảng đã họp tại làng Vạn Phúc do Hồ Chí Minh chủ trì đã kịp thời hạ
quyết tâm phát động toàn dân kháng chiến và chủ động mở cuộc giao chiến lịch sử
trước khi thực dân Pháp thực hiện màn kịch đảo chính quân sự ở Hà Nội. Mệnh lệnh 8
kháng chiến được phát đi vào lúc 20 giờ ngày 19/12/1946, tất cả chiến trường trên cả
nước đồng loạt nổ súng.8
2.3.2. Đánh giá về Bản Tạm ước (14/9/1946):
Tuy thiện chí và sự cố gắng của Chính phủ ta không đạt được mục đích ký hiệp
định chính thức, nhưng đã giúp chúng ta có thêm thời gian hoà bình để tiếp tục xây
dựng và phát triển lực lượng nòng cốt, khôi phục về mọi mặt. Bên cạnh đó, sự thiện chí
của chúng ta còn tác động rất lớn làm cho nhân dân Pháp hiểu và ủng hộ ta, khiến cho
dư luận quốc tế chú ý hơn đến Việt Nam và hiểu nguyện vọng tha thiết hoà bình của dân tộc ta.
Đồng thời, Bản Tạm ước cũng thể hiện sự nhạy bén, tư duy sáng tạo, bản lĩnh và
trí tuệ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là cơ sở để chúng ta có thời gian chuẩn
bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ và giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp lần thứ hai chứ không phải tư tưởng “sợ Pháp” hay đầu hàng thực dân
Pháp như một số phần tử phản động đang ra sức xuyên tạc, vu cáo nhằm hạ thấp vai trò
của Đảng, uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC RÚT RA TỪ NHỮNG CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH
CỦA ĐẢNG TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM HIỆN NAY:
Dân tộc ta đã trải qua những năm tháng kháng chiến đầy gian khổ và khó khăn,
nếu như không có sự sáng suốt, tầm nhìn xa trông rộng, vận dụng sách lược linh hoạt
hòa hoãn, nhân nhượng với kẻ thù, giữ vững nguyên tắc chiến lược của Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh, thì có lẽ công cuộc thống nhất đất nước của nhân dân ta không biết
sẽ kéo dài đến bao lâu. Những chủ trương, chính sách ấy là đúc kết từ hoàn cảnh hiện
thực của đất nước từ mọi mặt kinh tế, xã hội, chính trị, cho nên giá trị của chúng ngay
từ khi ra đời đã không chỉ gói gọn trong thời kì chiến tranh mà còn mang giá trị sâu sắc
tới ngày nay với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước để chúng ta học hỏi.
8 PGS.TS Ngô Đăng Tri, Sđd, tr.118. 9
Đó là luôn phải tận dụng sức mạnh đoàn kết dân tộc, dựa vào dân để xây dựng
và bảo vệ chính quyền, đất nước.
Luôn giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, Đảng là nòng cốt của giữ cho chính
quyền của nhân dân không bị lung lay, là ngọn đèn soi sáng con đường phát triển của đất nước.
Phải kiên trì với mục tiêu hoà bình là trên hết, trước những thế lực đả phá cần
nắm bắt, phân tích rõ tình hình, xác định những mâu thuẫn nội tại của kẻ thù, để đưa ra
những biện pháp, chính sách phù hợp, với thù địch trong nước thì triệt để loại trừ, với
những thế lực bên ngoài cần khôn khéo ưu tiên giải quyết bằng thương lượng hoà bình,
và đặc biệt là tranh thủ sự ủng hộ từ các nước trên Thế giới cũng như các mỗi quan hệ
hợp tác hữu nghị khác.
Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 hoành hành như hiện nay, chúng ta càng
cần nhìn về những chủ trương, chính sách của Đảng. Đảng và Nhà nước ta cần bình
tĩnh, sáng suốt đưa ra những quyết sách đúng đắn, chính xác vào vấn đề, làm chỗ dựa
vững chắc cho nhân dân. Khó khăn từ COVID-19 cũng tạo cơ hội cho những thành
phần nhũng nhiều, gây phá đất nước, chính vì vậy Đảng cần tỉnh táo, luôn chủ trương
lo cho dân, vì dân, lấy dân làm gốc. Cuộc đại dịch chỉ được dập tắt khi toàn dân đồng
lòng, nghe theo chỉ định đúng đắn của Đảng và Nhà nước, thực hiện đúng mọi quy định
được đề ra, không nghe theo những xúi giục, ý đồ xấu. Đảng và Nhà nước cần xác định
rõ muốn khôi phục nền kinh tế trước hết mục tiêu chính là đẩy lùi dịch bệnh, bên cạnh
đó là nỗ lực tìm và đưa ra những giải pháp giữ vững nền kinh tế, tránh suy sụp, suy
giảm nền kinh tế ở mức tối đa có thể mà không ảnh hưởng tới việc chống dịch, phòng dịch.
Thực tế đã chứng minh, chúng ta đã đạt được những thành tựu nhất định trong
việc phòng chống dịch. Không những vậy, nên kinh tế của chúng ta không hề bị suy
giảm nhiều, vẫn luôn đạt top những nước có tốc độ phát triển nhanh nhất. Ngày càng
thể hiện con đường mà nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đã chọn là đúng đắn, là cần
thiết. Hiện tại, chúng ta đang phải đối phó với một làn sóng dịch bùng phát mới, song 10
với sự chỉ đạo gắt gao, nhanh chòng khoanh vùng và cách ly, chủ trương chống dịch
như chống giặc, cùng nhau đồng lòng nhất định chúng ta sẽ sớm đẩy lùi dịch bệnh.
TỔNG KẾT:
Thông qua việc tìm hiểu về các chủ trương, chính sách của Đảng ta với Pháp giai
đoạn từ tháng 9/1945 đến ngày 19/12/1946, đã cho chúng ta những cái nhìn sâu sắc
hơn, toàn diện hơn về con đường làm cách mạng, đặc biệt là con đường ngoại giao đầy
tinh tế, trí tuệ và khéo léo của Đảng, cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa cách mạng vượt
qua những thử thách hiểm nghèo, giành thắng lợi từng bước, đưa cách mạng cả nước
tiến lên, vững chắc đi tới thắng lợi hoàn toàn. Từ đó mà ta có thể rút ra được nhiều bài
học ý nghĩa không chỉ cho sự nghiệp xây dựng đất nước lâu dài mà mỗi cá nhân cũng
có được không ít bài học cho mình. Là những thế hệ sinh viên, người được trao cho
những tri thức cao quý, chúng ta cần học cách nhìn nhận đúng giá trị và tài năng của
bản thân, để không ngừng học hỏi, cố gắng, rèn luyện cả kiến thức và thân thể hoàn
thiện những gì còn thiếu xót, cần biết xây dựng cho mình những mỗi quan hệ tốt đẹp,
mang lại lợi ích cho hành trang tương lai sau này. Một đất nước giàu mạnh là một đất
nước luôn biết hướng về tương lai và vận dụng tốt những giá trị lịch sử.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Nguyễn Mạnh Quang. 2007. Giáo hội La Mã: Lịch sử và hồ sơ tội ác, chương XIV:
Liên minh xâm lăng Pháp-Vatican gấy hấn tấn công Việt Nam. Truy cập từ
https://www.sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/VATICAN_Main.php (truy vào 6/12/2021).
(2) PGS.TS. Ngô Đăng Tri. 2012. 82 năm Đảng Cộng sản Việt Nam những chặng
đường lịch sử (1930-2012), NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.
(3) Bộ Giáo dục và Đào tạo. 2005. Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB
Chính trị Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
(4) V.I.Lênin.1977, Toàn tập- tập 41, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va. 11
(5) Hồ Chí Minh.2011, Toàn tập- tập 4, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
(6) Philippe Devillers.1993, Tài liệu lưu trữ chiến tranh 1944-1947, NXB TP.Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
(7) Trường Chính trị Bình Phước. 2021. Sách lược hòa hoãn, nhân nhượng với kẻ thù
trong giai đoạn (1945 - 1946) - Một chủ trương lớn, có ý nghĩa chiến lược, quyết
định của cách mạng Việt Nam. Truy cập từ Sách lược hòa hoãn, nhân nhượng với
kẻ thù trong giai đoạn (1945 - 1946) - Một chủ trương lớn, có ý nghĩa chiến lược,
quyết định của cách mạng Việt Nam (truongchinhtri.edu.vn) ( truy cập vào 6/12/2021).
(8) Trường Chính trị Bình Phước. 2020. Hiệp định Sơ bộ 6/3 và Tạm ước 14/9/1946
thể hiện bản lĩnh, trí tuệ sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Truy cập từ
https://truongchinhtri.edu.vn/home/thong-tin-tuyen-truyen/hiep-dinh-so-bo-6-3-
va-tam-uoc-14-9-1946-the-hien-ban-linh-tri-tue-sang-tao-va-khon-kheo-cua-dang-
va-chu-tich-ho-chi-minh-864.html. Truy cập vào 6/12/2021).
(9) Đào Thị Hải Yến.2021, Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Đại
học KHXH và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Kết quả kiểm tra đạo văn là 23,6%. 12