ĐẠ I HC QU C GIA HÀ N I
TRƯỜNG ĐẠ ỘI VÀ NHÂN VĂNI HC KHOA HC XÃ H
VIỆN ĐÀO TẠO BÁO CHÍ VÀ TRUYN THÔNG
--------
TIU LU N CU I KÌ
HC PHN: L CH S ĐẢNG
Ch đề: Độc l p dân t c h i ch nghĩa được Đảng gi i quy t ế
như ế th nào trong quá trình phát tri n c a Cách m ng Vi t Nam t
1930 n nay đế
Ging viên: ThS. Nguy n Huy Cát
Ngườ i th c hi n: Hà Thúy Qunh
Mã sinh viên: 20031280
Ngành h c: Quan h công chúng
HÀ N I, 2021
Mc l c
M ĐẦU .................................................................................................................................................... 3
NI DUNG .............................................................................................................................................. 4
I. Giai đoạn năm 1930-1945 .................................................................................. 4
1.1. Trong những năm 1930-1935 ....................................................................................................... 4
1.2. Trong những năm 1936-1939 ....................................................................................................... 5
1.3 Chủ trương đấu tranh từ năm 1939 đến năm 1945 ..................................................................... 6
II. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954 ...................................................................... 7
III. Giai đoạ 1954 đến t năm n 1975 ...................................................................... 9
IV. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay ........................................................................ 9
Tài li u tham kh o .............................................................................................................................. 12
M ĐẦU
Ngay t th ời gian đầ ập nướ ệt Nam, Đảng ta đã xác được Độu thành l c Vi c lp dân tc
phi gn li n v i h i ch i qua nh ng nghĩa. Trả ững năm tháng đấu tranh kiên cườ
anh dũng, nưc Cng hòa Xã h i ch nghĩa Việt Nam ngày càng phát tri n và có ti ng ế
nói trong khu v gi i, t t c u nh s ng c a ực cũng như thế đề đấu tranh kiên
nhân dân và s o tài ba c ng C ng S n Vi t Nam. V i s nhìn nh lãnh đ ủa Đả ận đúng
đắn phương châm nghĩa ngay t Độc lp dân tc phi gn vi hi ch thu
khai mà Đảng đã tậ ết đưa ra đườ ối đúng đắp trung gii quy ng l n có hiu qu, phù hp
vi t ng hoàn c ủa đất nước t i các th ời điểm khác nhau; tuy v y v n còn t n t i m t s
hn ch khuyế ết điểm trong quá trình gi i quy ết độc l p dân t c Xã h i ch nghĩa.
Dù có t n t i khuyết điểm nh ng có th th ấy được hiu qu sau nh ững năm liên tục ghi
nhn ý ki n c a nhân dân và tích cế ực thay đi v các chính sách c ủa Đảng và Nhà nước
nhằm đưa đất nước ngày càng phát tri n.
NI DUNG
T lun và thc ti n cách m ng, có th kh nh: g c l p dân t c v i Ch ẳng đị ắn Độ
nghĩa hội con đườ ất đúng Đả nhân dân ta đã lựng duy nh ng, Bác H a
chọn. Ngay trong Chính cương v ắt, Sách lượ ương chính trịn t c vn tt Lun c
năm 1930, Đảng ta đã xác định đường l i cách m ng Vi t Nam tr ải qua hai giai đoạn:
cách mng dân t c, dân ch nhân dân cách m ạng XHCN, đưa cả nước ti n lên Ch ế
nghĩa Xã Hội b qua giai đoạn phát trin Ch nghĩa Tư Bản
I. Giai đoạn năm 1930-1945
thi k 1930- 1945, tư tưởng độc lp dân t c g n li n v i ch nghĩa xã hội đã định
hướng cho toàn Đảng toàn dân th c hi n nhi m v ch y ếu là giành cho được đc l p
để n xã h i c ng s n. đi đế
1.1. Trong những năm 1930-1935
Tháng 4-1930, Trần Phú về nước hoạt động, được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung
ương lâm thời, cùng Ban Thượng vụ chuẩn bị cho Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp
hành Trung ương.Từ ngày 14 đến 31 1930, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội -10-
nghị lần thứ nhất tại Hương Cảng, Trung Quốc do Trần Phú chủ trì. Hội nghị thống
nhất: Đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương; Thông
qua Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương do Trần Phú soạn thảo; Cử
Trần Phú làm Tổng Bí thư.
Luận cương đã vạch ra được nhiều vấn đề căn bản của cách mạng Việt Nam mà Chính
cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt đã nêu ra, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số hạn chế
như: Luận cương không nêu ra được mâu thuẫn chủ yếu của hội Việt Nam là mâu
thuẫn giữa dân tộc Việt Nam đế quốc Pháp; Không đặt nhiệm vụ chống đế quốc,
giải phóng dân tộc lên hàng đầu; Chưa đánh giá đúng vai trò cách mạng của giai cấp
tiểu tư sản, tư sản dân tộc mà cường điệu hoá những hạn chế của họ. Từ đó phủ nhận
quan điểm đúng đắn trong Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt và hạn chế này tồn
tại tới Hội nghị Trung ương 8 (5 1941) mới được khắc phục hoàn toàn.-
Nguyên nhân của hạn chế này o những người lãnh đạo nhận thức máy móc, giáo d
điều về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp trong xã hội thuộc địa nửa phong
kiến Việt Nam; hông nắm được đầy đủ đặc điểm tình hình xã hội và giai cấp ở Việt k
Nam; chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi khuynh hướng “tả” trong Quốc tế Cộng sản.
Vừa mới ra đời, Đảng trở thành đội tiên phong lãnh đạo cách mạng, phát động được
một phong trào cách mạng rộng lớn, mà đỉnh cao là Xôviết Nghệ Tĩnh. Đế quốc Pháp
và tay sai thẳng tay đàn áp, khủng bố. Lực lượng của ta đã bị tổn thất lớn: nhiều cơ sở
Đảng tan vỡ, nhiều cán bộ cách mạng, đảng viên ưu tú bị địch bắt, giết, tù đày. Phong
trào đấu tranh lắng xuống.
Thành quả lớn nhất của phong trào cách mạng 1930 1931 mà quân thù không thể xoá -
bỏ được là: Khẳng định trong thực tế vai trò và khả năng lãnh đạo cách mạng của giai
cấp vô sản, của Đảng; Hình thành một cách tự nhiên khối liên minh công-nông trong
đấu tranh cách mạng; Đem lại cho nhân dân niềm tin vững chắc vào Đảng, vào cách
mạng.
Nhờ sự cố gắng phi thường của Đảng, được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, đến cuối
1934 đầu 1935 hthống tổ chức của Đảng đã được khôi phục phong trào quần chúng
dần được nhen nhóm lại.
1.2. Trong những năm 1936-1939
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã làm cho mâu thuẫn nội tại của chủ
nghĩa tư bản thêm gay gắt và phong trào cách mạng của quần chúng dâng cao. Một số
nước đi vào con đường phát xít hoá: dùng bạo lực đđàn áp phong trào đấu tranh trong
nước và ráo riết chạy đua vũ trang phát động chiến tranh thế giới mới. Chủ nghĩa phát
xít thắng thế Đức, Ý, Nhật, chúng liên kết với nhau lập ra phe “Trục”, tuyên bố chống
Quốc tế Cộng sản và phát động chiến tranh chia lại thế giới. Nguy cơ phát xít và chiến
tranh thế giới đe doạ nghiêm trọng nền hoà bình và an ninh quốc tế.
Đại hội VII Quốc tế Cộng sản họp tại Matxcơva (7 1935) xác định: Kẻ thù nguy hiểm -
trước mắt của nhân dân thế giới chưa phải chủ nghĩa đế quốc nói chung mà là chủ
nghĩa phát xít. Nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân nhân dân lao động thế
giới chưa phải đấu tranh lật đổ chủ nghĩa bản, giành chính quyền chống
phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, hoà bình và cải thiện đời sống.
Trong nước, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới có nhiều biến động ảnh hưởng sâu sắc
tới đời sống của mọi giai cấp, tầng lớp trong hội. Trong khi đó, bọn cầm quyền phản
động ở Đông Dương ra sức vơ vét, bóc lột và khủng bố phong trào đấu tranh của nhân
dân làm cho bầu không khí chính trị trở nên ngột ngạt, yêu cầu có những cải cách dân
chủ.
Chủ trương và nhận thức mới của Đảng
Tháng 7-1936, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ hai tại Thượng Hải.
Xuất phát từ tình hình thực tế Hội nghị đã xác định:
Mục tiêu chiến lược: không thay đổi so với Hội nghị lần thứ nhất “cách mạng tư sản -
dân quyền - phản đế và điền địa - lập chính quyền công nông bằng hình thức Xô viết”,
“để dự bị điều kiện đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Kẻ thù trước mắt và nguy hại
nhất là bọn phản động thuộc địa tay sai của chúng. Nhiệm vtrước mắt của
cách mạng: chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn phản động thuộc địa
và tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình.
Để thực hiện được nhiệm vụ này, BCH TƯ quyết định lập Mặt trận nhân dân phản đế
gồm các giai cấp, đảng phái các đoàn thể chính trị và các tôn giáo khác nhau, các dân
tộc xứ Đông Dương để cũng đấu tranh đòi những quyền dân chủ đơn sơ.
+ Về đoàn kết quốc tế: Đoàn kết với giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Pháp, ủng
hộ Mặt trận Nhân dân Pháp, ủng hộ Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp để cùng chống
kẻ thù chung là phát xít và phản động thuộc địa ở Đông Dương.
+ Về hình thức tổ chức và biện pháp đấu tranh: Hội nghị chủ trương chuyển hình thức
tổ chức mật không hợp pháp sang hình thức tổ chức và đấu tranh công khai, nửa
công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp. Mục đích mở rộng quan hệ của Đảng với quần
chúng.
Tháng 10-1936, Trung ương Đảng được tổ chức lại do đồng chí Hà Huy Tập làm Tổng
thư, trong văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới Ban Chấp hành Trung ương
cũng đặt ra vấn đề nhận thức lại mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc dân chủ,
phản đế điền địa trong cách mạng Đông Dương: cách mạng giải phóng dân tộc
không nhất thiết phải gắn kết chặt với cuộc cách mạng điền địa. “Nếu phát triển cuộc
đấu tranh chia đất mà ngăn trở cuộc đấu tranh phản đế thì phải chọn vấn đề nào quan
trọng hơn mà giải quyết trước”. Đó là nhận thức mới phù hợp với tinh thần Cương lĩnh
cách mạng đầu tiên của Đảng, bước đầu khắc phục hạn chế của Luận cương chính trị
tháng 10-1930.
Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào quần chúng từ giữa năm 1936 trở đi khẳng định
sự chuyển hướng chỉ đạo cách mạng đúng đắn của Đảng. Hội nghị lần thứ ba (3-1937),
lần thứ tư (9 1937), tiếp đó là Hội nghị lần thứ năm (3 1938) đã đi sâu về công tác tổ - -
chức của Đảng, quyết định chuyển mạnh hơn nữa về phương pháp tổ chức hoạt động
để tập hợp được đông đảo quần chúng trong mặt trận chống phản động thuộc địa, chống
phát xít, đòi tự do, cơm áo, hòa bình.
Tại Hội nghị tháng 7 1939 Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ cho xuất bản tác phẩm Tự chỉ -
trích, nhằm t kinh nghiệm về những sai lầm, thiếu sót của Đảng viên, hoạt động công
khai trong cuộc vận động tranh cử ở Hội đồng quản hạt Nam kỳ (4-1939)
Tóm lại, trong những năm 1936 1939, bám sát tình hình thực tiễn, Đảng đã phát động -
được một cao trào cách mạng rộng lớn trên tất cả các mặt trận: chính trị, kinh tế, văn
hóa tư tưởng với các hình thức đấu tranh phong phú và linh hoạt. Qua cuộc vận động
dân chủ rộng lớn, uy tín và ảnh hưởng của Đảng được mrộng và nâng cao trong quần
chúng, chủ nghĩa Mác Lênin và đường lối của Đảng được tuyên truyền rộng rãi trong -
khắp mọi tầng lớp nhân dân, tổ chức Đảng được củng cố và mở rộng.
1.3 Chủ trương đấu tranh từ năm 1939 đến năm 1945
Ngày 1-9-1939, chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, trong đó Pháp là nước tham chiến.
Chính phủ Pháp thi hành một loạt đàn áp lực lượng dân chủ ở trong nước phong trào
cách mạng thuộc địa. 1940, Đức tấn công Pháp Chính phủ Pháp đã đầu Tháng 6-
hàng. Ngày 22-6-1941, quân phát xít Đức tấn công Liên Xô. Tính chất chiến tranh đế
quốc chuyển thành cuộc chiến tranh giữa các lực lượng dân chdo Liên làm trụ cột
với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu.
Ở Đông Dương, thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến rất phản động: thẳng tay
đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân ta, tập trung lực lượng đánh vào Đảng Cộng
sản Đông Dương. Thực hiện chính sách “kinh tế chỉ huy” tăng cường vét sức người,
sức của phục vụ chiến tranh, bắt lính sang Pháp làm bia đỡ đạn.
Lợi dụng sự thất thủ của Pháp ở Đông Dương, tháng 9 1940 Nhật Bản cho quân xâm -
lược Đông Dương, Pháp nhanh chóng đầu hàng và dâng Đông Dương cho Nhật. Chịu
cảnh “một cổ hai tròng” đời sống của nhân dân Việt Nam lâm vào cảnh ngột ngạt về
chính trị, bần cùng về kinh tế. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với Pháp, Nhật và tay
sai phản động ngày càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
Nội dung chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược được thể hiện qua các Hội nghị
Trung ương lần thứ 6 (11 Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (11 Hội nghị -1939); -1940);
Trung ương lần thứ 8 (5 quan trọng nhất-1941) -
Trên cơ sở nhận định khả năng diễn biến của Chiến tranh thế giới lần thứ hai và căn cứ
vào tình hình cụ thể ở trong nước, BCH Trung ương đã quyết định chuyển hướng chỉ
đạo chiến lược như sau:
Một là, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu Tạm gác khẩu hiểu “đánh .
đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiều “tịch thu ruộng đất
của đế quốc Việt gian chia cho dân cày nghèo” chia lại ruộng đất cho công bằng,
giảm tô, giảm tức.
Hai là, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương Ở Việt .
Nam, Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh
(Việt Minh) thu hút mọi người dân yêu nước không phân biệt thành phần, lứa tuổi,
đoàn kết bên nhau đặng cứu Tổ quốc, cứu giống nòi.
Ba là, quyết định phải xúc tiến ngay công tác khởi nghĩa vũ trang, coi đây là nhiệm
vụ trọng tâm của Đảng trong giai đoạn hiện tại. Để khởi nghĩa trang đi đến thắng
lợi cần phải phát triển lực lượng cách mạng, tiến hành xây dựng căn cứ địa cách
mạng.
Hội nghị cũng chú trọng công tác đào tạo cán bộ, nâng cao năng lực tổ chức
lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng.
Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
Với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo BCH Trung ương Đảng đã giải quyết mục tiêu
số một của cách mạng là độc lập dân tộc và đề ra nhiều chủ trương đúng đắn để thực
hiện mục tiêu ấy.
Đường lối đúng đắn gương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc đã dẫn đường cho nhân dân
ta tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp đánh Pháp đuổi Nhật, giành độc lập cho dân
tộc và tự do cho nhân dân. Chủ trương đúng đắn của Hội nghị thực sự là kim chỉ nam
đối với hoạt động của Đảng cho tới thắng lợi cuối cùng năm 1945.
II. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954
Con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH phn ánh s la chn khách quan ca
chính thực tiễn, mang tính đặc thù Việt Nam, đã được Đảng ta khẳng định. Chủ trương
chiến lược cách mạng đó được tiếp tục phát triển thêm một bước tại Hội nghị Trung
ương 8 (tháng 5 1941), dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Độc lập -
dân tộc điều kiện, là tiền đề giải phóng giai cấp, hội con người để đi tới CNXH.
Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi của chủ nghĩa Mác nin, được vận dụng sáng tạo, - Lê-
phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử xã hội loài
người trong thời đại mới. Ngay sau khi giành được độc lập, bắt tay vào xây dựng Nhà
nước dân chủ nhân dân, Đảng đã đồng thời lãnh đạo toàn dân tộc tiếp tục sự nghiệp
đấu tranh giải phóng đất nước. Trước sự trở lại xâm lược của thực dân Pháp (ngày 23-
9-1945), Việt Nam chưa điều kiện trực tiếp tiến lên CNXH. Củng cố giữ vững
nền độc lập dân tộc vừa giành lại được là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, Nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa và của toàn dân tộc.
Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội II của Đảng (tháng 2 951), Chủ tịch Hồ Chí Minh -1
nêu rõ phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam: “Đảng Lao động Việt Nam
đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống
nhất và độc lập hoàn toàn; lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều
kiện để tiến đến chủ nghĩa xã hội” . được Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam
Đại hội II thông qua, xác định: “Nhiệm vụ bản hiện nay của cách mạng Việt Nam
là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập thống nhất thật sự cho dân tộc,
xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát
triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội”. Ba nhiệm vụ đó khăng
khít với nhau. “Song nhiệm vụ chính trước mắt hoàn thành giải phóng dân tộc.
Cuộc cách mạng nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến, do nhân dân làm động lực và
giai cấp công nhân lãnh đạo, là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến
triển thành cách mạng hội chủ nghĩa. Khái niệm cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân chứa đựng cả mục tiêu, lực lượng thực hiện chế độ chính trị phù hợp đxây
dựng CNXH. Đại hội khẳng định con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam: “Con
đường tất yếu của nó tiến tới chủ nghĩa xã hội, quyết không thể có một con đường nào
khác”
Như vậy, nhận thức luận về thời kỳ quá độ lên CNXH Việt Nam lần đầu tiên được
Đảng ta nêu ra tại Đại hội này. Con đường cách mạng Việt Nam với 3 nhiệm vụ như
trên, trải qua ba giai đoạn: 1 Giai đoạn tiêu diệt đế quốc xâm lược, giải phóng dân -
tộc, củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân; 2 Giai đoạn xóa bỏ những di tích phong -
kiến và nửa phong kiến, triệt để thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”, hoàn chỉnh
chế độ dân chủ nhân dân; 3 Giai đoạn làm xong nhiệm vụ dân chủ nhân dân, tạo đầy -
đủ điều kiện để tiến lên CNXH. Trong đó, giai đoạn thứ ba là thời kỳ quá độ với nhiệm
vụ xây dựng, củng cố và hoàn thiện chế độ dân chủ nhân dân.
Đại hội phân tích, với điều kiện Việt Nam, con đường tiến lên CNXH là một sự nghiệp
khó khăn, lâu dài. “Không thể giạng chân ra mà bước một bước khổng lồ để đến ngay
chủ nghĩa xã hội. Phải bước nhiều bước, chia thành nhiều độ mà đi”. Mỗi giai đoạn có
nhiệm vụ trọng tâm, trung tâm. Giải phóng dân tộc, người cày có ruộng, xây dựng cơ
sở cho CNXH, ba nhiệm vụ đó không thể cùng làm một lúc. Đại hội chỉ rõ, trong mỗi
giai đoạn, kẻ thù và đồng minh của cách mạng có thay đổi,... đường lối cách mạng vì
thế mà phải tiếp tục hoàn thiện. Quan niệm giản đơn và “vượt bỏ giai đoạn” cũng như
khuynh hướng “từ từ từng bước” đều sai.
Đường lối đúng đắn Đại hội II đề ra chính sự bổ sung, phát triển Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng; đặc biệt là nhận thức luận về lộ trình, bước đi trong giai
đoạn quá độ lên CNXH phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam đã được Đảng nêu cụ thể, rõ
nét ngay trong hoàn cảnh kháng chiến đang diễn ra ác liệt.
III. Giai đoạn từ năm 1954 đến 1975
Nhận thức về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn trong tiến
trình cách mạng sau đó
Trong thời kỳ 1954 - 1975, Đảng lãnh đạo nhân dân đồng thời thực hiện hai chiến lược:
Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Độc lập dân tộc và CNXH được thể hiện sinh
động và mạnh mẽ trên cả 2 miền Bắc Nam, tác động, thúc đẩy nhau tạo nguồn xung -
lực để đưa sự nghiệp thống nhất đất nước đến thành công. Trong suốt cuộc kháng chiến,
CNXH không chỉ phương hướng mà đã trở thành phong trào cách mạng hiện thực
trên toàn miền Bắc, đóng vai trò quan trọng quyết định bảo đảm thắng lợi của nhân dân
Việt Nam trong công cuộc giải phóng dân tộc. Cách mạng giải phóng dân tộc tiếp tục
nguồn động lực từ ý chí, khát vọng độc lập, tự do, lòng yêu nước của mỗi người
Việt Nam, từ mâu thuẫn nội tại bản vẫn chưa được xóa bỏ chủ nghĩa thực dân
mới ở miền Nam; được bổ sung nguồn động lực từ xã hội xã hội chủ nghĩa đang được
xây dựng trên miền Bắc.
Cách mạng giải phóng dân tộc giành thắng lợi, Tổ quốc thống nhất, nhiều tiền đề cho
thời kỳ quá độ đã được tạo dựng, các nguồn lực tự nhiên, xã hội, tiềm năng, thế mạnh
của các vùng, miền trên cả nước được phát huy; sức mạnh ý chí, tinh thần dân tộc, vị
thế, uy tín quốc tế của dân tộc được nâng cao. Các yếu tố đó mở ra điều kiện, tiền đề
to lớn cho sự nghiệp xây dựng CNXH trên cả nước, gắn với bảo vệ vững chắc độc lập
dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Đó thắng lợi của chiến lược cách mạng được
Đại hội II của Đảng vạch ra. Trong đó, cốt lõi là quan điểm, tiến trình về độc lập dân
tộc và CNXH.
IV. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Trong giai đoạn 1975 g CNXH đạt đượ- 1986, s nghip xây dn c nhng thành tu
nhất đị ến lượnh; tuy nhiên, nhng sai lm trong ch đạo chi c và t chc thc hin do
chủ quan duy ý ệm, đã làm cho đất nướ ào khủng chí, nóng vi, thiếu kinh nghi c lâm v
hoảng trầm trọng về kinh tế ội. Đại hội VI của Đảng (tháng 12 1986) với tinh - xã h -
thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói sự thật, đã thẳng thắn đánh
giá những sai lầm đề ra đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để; đặc biệt là,
đổi mới tư duy lý luận, nhận thức đúng đắn về CNXH và những đặc trưng, những quy
luật khách quan, những hình thức, bước đi của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam,
đã mở ra thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng trên con đường đi lên CNXH.
Đại hội VII của Đảng (năm 1991), diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế phức tạp,
hình CNXH hiện thực các nước Đông Âu và Liên sụp đổ, phong trào cách
mạng thế giới lâm vào khủng hoảng trầm trọng thoái trào; đất nước sau 15 năm
thống nhất, xây dựng CNXH, sau 5 năm thực hiện đường lối đổi mới với nhiều khó
khăn, nguy cơ, thách thức. Trước tình hình đó, Đảng ta tiếp tục kiên định con đường
cách mạng đã lựa chọn, thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên CNXH (Cương lĩnh năm 1991) Trong Cương lĩnh năm 1991, Đảng đã đúc kết: .
Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc CNXH bài học xuyên suốt của cách mạng
nước ta khẳng định, đối với nước ta, không còn con đường nào khác ngoài con
đường duy nhất đúng đắn là đi lên CNXH để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh
phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa
chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng.
Tại Đại hội VII, nhiều nội dung luận ới được Đảng nêu ra, trong đó thc tin m
đã xác định những đặc trưng của x ã hội xã hội chủ nghĩa m à Việtt Nam xây dựng. Đây
là m c ph t tri n l i mang t t phột bướ á ý luận mớ ính đ á. Từ 6 đặc trưng được nêu tại
Cương lĩnh năm 1991, Đại hội X của Đảng đã bổ sung, nêu 8 đặc trưng của xã hội xã
hội chủ nghĩa Việt Nam phấn đấu xây dựng. Đây những phác thảo quan trọng
làm cơ sở để Đại hội XI của Đảng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định xã hội xã hội chủ nghĩa
mà Vi t Nam xây d ng g ồm 8 đặc trưng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh; do nhân dân làm chủ; nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản
xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, điều kiện phát triển
toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng
giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và
hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới. Tám đặc trưng được xác định trong Cương
lĩnh (b sung, ph t tri á ển năm 2011) đã ph n ánh quan ni m t ng qu t v CNXH á ở Việt
Nam. Đó thành quả của đổi mới nhận thức về CNXH phù hợp với thực tiễn Việt
Nam, kết hợp hài hòa giữa “cái phổ biến” và “cái đặc thù”, mang sắc thái riêng, được
từng bước hiện thực hóa trong cuộc sống.
Thực hiện độc lập dân tộc và CNXH là một sự nghiệp khó khăn, phức tạp, tất yếu phải
trải qua những chặng đường trong thời kỳ quá độ lâu dài, trong đó nhiều vấn đề lý luận
thực tiễn rất bản trọng yếu được đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung
giải quyết một cách thấu đáo. Quá trình nhận thức của Đảng về con đường đi lên CNXH
có sự phát triển mới: Để xây d ng th nh công CNXH à Vi t Nam v i nh ững đặc trưng
nêu trên, Đảng ch ra c ác phương hướng c n th c hi ện. Cương lĩnh năm 1991 xác định
7 phương hướng quá độ lên CNXH ở Việt Nam, đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển
năm 2011) xác định 8 phương hướng với sự điều chỉnh, bổ sung về nội dung và 8 mối
quan hệ lớn cần nắm vững và giải quyết.
Trên sở ết 25 năm thự ện Cương lĩnh năm 1991 đánh giá 30 năm đổ tng k c hi i
mi (1986 - i h 2016), Đạ ội XII của Đảng (năm 2016) đã bổ sung mối quan hệ lớn thứ
chín cần được nghiên cứu làm sáng tỏ cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Đại hội
XIII của Đảng (năm 2021) bổ sung mối quan hệ lớn thứ mười là mối quan hệ giữa thực
hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đây một bướ c ti n ế
mi, quan tr ng c ủa Đảng trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, phát triển
hệ th m lống quan điể ý luận về CNXH ánh các quy luật mang tính Vit Nam, phn
biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi trong đường lối đổi mới của Đảng ta.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 35 năm đổi mới chính là thành quả từ
việc hiện thực hóa lý luận về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, với những nhận thức
và tư duy mới đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đất nước ta đã vươn mình
thoát khỏi vị trí một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ phát triển thấp trở thành một
nước phát triển trung bình; tiềm lực kinh tế liên tục tăng cao; đời sống nhân dân được
cải thiện và nâng cao rệt; chính trị hội ổn định; dân chủ ngày càng được mở -
rộng; chủ quyền quốc gia được bảo vệ vững chắc; vị thế, uy tín quốc tế không ngừng
được nâng cao…
Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh một đánh giá mới, rất quan trọng về vị thế của đất
nước sau 35 năm đổi mới: “Đất nước ta chưa bao giờ có được đồ, tiềm lực, vị thế
và uy tín quốc tế như ngày nay” (12). Năm 2020, Việt Nam là một trong những quốc
gia tăng trưởng cao nhất thế giới (2,91%), quy mô GDP xấp xỉ 345 tỷ USD (gấp 12 lần
năm 1985), thu nhập bình quân đầu người đạt trên 3.520 USD (so với 230 USD năm
1985), xuất siêu đạt kỷ lục gần 20 tỷ USD (13). Tỷ lệ nghèo tiếp cận đa chiều năm
2020 khoảng 4,7% Việt Nam xếp thứ 42/131 quốc gia nền kinh tế về chỉ số (14).
đổi mới sáng tạo, tăng 17 bậc so với năm 2016, dẫn đầu nhóm 29 quốc gia cùng
mức thu nhập và đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á.
Đối với tiến trình phát triển đất nước giai đoạn từ nay đến giữa thế kỷ XXI, Đại hội
XIII của Đảng nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo là: “Kiên định không ngừng vận dụng,
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực -
tiễn cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”. “Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước
phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Những mục tiêu to lớn mà Đại hội XIII
của Đảng nêu ra cho các mốc thời gian năm 2025, năm 2030 năm 2045 đòi hỏi quyết
m chính trị cao; nỗ lực lớn, khát vọng phát triển mạnh mẽ, giải phóng mọi nguồn lực
để xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.
Trong ti i m n di c l p dân t c và ến trình đổ ới, Đảng nh ện ngày càng rõ hơn vấn đ độ
CNXH trước b i c nh toàn c u hóa và h i nh p qu c t sâu r ng. Ti ế ến trình đổi m i là
s ti p t c v ng c a nh ng quan ni m m i v ng xây d ng ế ận độ CNXH con đư
CNXH của Đảng, được hình thành d a trên nh ng nguyên lý c a ch nghĩa Mác - Lê-
nin, tưở ức đúng đắn Đảng đã tích lũy ng H Chí Minh, kế tha nhng nhn th
được trong suốt quá trình lãnh đạo cách m ng Vi t Nam.
Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục tiêu, là nội dung nổi bật, xuyên suốt và chủ
đạo trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đường lối độc lập dân tộc
gắn liền với CNXH là một trong những nguyên nhân của mọi thắng lợi vẻ vang trong
sự nghiệp cách mạng của dân tộc và mãi là ánh sáng soi đường cho sự nghiệp đổi mới,
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng
trong thế kỷ XXI của Đảng và nhân dân Việt Nam.
.........................................................................................................
Tài liệu tham khảo:
1. B giáo dục và Đào tạo, Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính
trị Quốc gia, 2004
2. Đường lối đấu tranh giành chính quyền, https://tusach.thuvienkhoahoc.com/
3. N hận thức về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ Đại hội II của
Đảng đến công cu đổi mới đất nước –c giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn, B áo
Tạp chí Cộng sản, ngày 11 tháng 5 năm 2021
4. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính tr quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011

Preview text:


ĐẠI HC QUC GIA HÀ NI
TRƯỜNG ĐẠI HC KHOA HC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VIỆN ĐÀO TẠO BÁO CHÍ VÀ TRUYN THÔNG
--------
TIU LUN CUI KÌ
HC PHN: LCH S ĐẢNG
Ch đề: Độc l p dân t c và Xã h i ch
ủ nghĩa được Đảng gi i quyết
như thế nào trong quá trình phát trin c a Cách m ng V
it Nam t 1930 đến nay
Giảng viên: ThS. Nguyễn Huy Cát
Người thực hiện: Hà Thúy Quỳnh Mã sinh viên: 20031280
Ngành học: Quan hệ công chúng
HÀ NI, 2021 Mục lục
M ĐẦU .................................................................................................................................................... 3
NI DUNG .............................................................................................................................................. 4
I. Giai đoạn năm 1930-1945 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
1.1. Trong những năm 1930-1935 ....................................................................................................... 4
1.2. Trong những năm 1936-1939 ....................................................................................................... 5
1.3 Chủ trương đấu tranh từ năm 1939 đến năm 1945 ..................................................................... 6
II. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
III.
Giai đoạn t năm 1954 đến 1975 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
IV.
Giai đoạn từ năm 1975 đến nay . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
Tài liệu tham khảo .............................................................................................................................. 12
M ĐẦU
Ngay từ thời gian đầu thành lập nước Việt Nam, Đảng ta đã xác được Độc lập dân tộc
phải gắn liền với Xã hội chủ nghĩa. Trải qua những năm tháng đấu tranh kiên cường
anh dũng, nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng phát triển và có tiếng
nói trong khu vực cũng như thế giới, tất cả đều nhờ có sự đấu tranh kiên cường của
nhân dân và sự lãnh đạo tài ba của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Với sự nhìn nhận đúng
đắn phương châm – Độc lập dân tộc phải gắn với Xã hội chủ nghĩa ngay từ thuở sơ
khai mà Đảng đã tập trung giải quyết đưa ra đường lối đúng đắn có hiệu quả, phù hợp
với từng hoàn của đất nước tại các thời điểm khác nhau; tuy vậy vẫn còn tồn tại một số
hạn chế và khuyết điểm trong quá trình giải quyết độc lập dân tộc và Xã hội chủ nghĩa.
Dù có tồn tại khuyết điểm những có thể thấy được hiệu quả sau những năm liên tục ghi
nhận ý kiến của nhân dân và tích cực thay đổi về các chính sách của Đảng và Nhà nước
nhằm đưa đất nước ngày càng phát triển. NI DUNG
Từ lý luận và thực tiễn cách mạng, có thể khẳng định: gắn Độc lập dân tộc với Chủ
nghĩa xã hội là con đường duy nhất đúng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa
chọn. Ngay trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Luận cương chính trị
năm 1930, Đảng ta đã xác định đường lối cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn:
cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân và cách mạng XHCN, đưa cả nước tiến lên Chủ
nghĩa Xã Hội bỏ qua giai đoạn phát triển Chủ nghĩa Tư Bản
I. Giai đoạn năm 1930-1945
Ở thời kỳ 1930- 1945, tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã định
hướng cho toàn Đảng toàn dân thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là giành cho được độc lập
để đi đến xã hội cộng sản.
1.1. Trong những năm 1930-1935
Tháng 4-1930, Trần Phú về nước hoạt động, được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung
ương lâm thời, cùng Ban Thượng vụ chuẩn bị cho Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp
hành Trung ương.Từ ngày 14 đến 31-10-1930, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội
nghị lần thứ nhất tại Hương Cảng, Trung Quốc do Trần Phú chủ trì. Hội nghị thống
nhất: Đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương; Thông
qua Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương do Trần Phú soạn thảo; Cử
Trần Phú làm Tổng Bí thư.
Luận cương đã vạch ra được nhiều vấn đề căn bản của cách mạng Việt Nam mà Chính
cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt đã nêu ra, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số hạn chế
như: Luận cương không nêu ra được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam là mâu
thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp; Không đặt nhiệm vụ chống đế quốc,
giải phóng dân tộc lên hàng đầu; Chưa đánh giá đúng vai trò cách mạng của giai cấp
tiểu tư sản, tư sản dân tộc mà cường điệu hoá những hạn chế của họ. Từ đó phủ nhận
quan điểm đúng đắn trong Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt và hạn chế này tồn
tại tới Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) mới được khắc phục hoàn toàn.
Nguyên nhân của hạn chế này là do những người lãnh đạo nhận thức máy móc, giáo
điều về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp trong xã hội thuộc địa nửa phong
kiến Việt Nam; không nắm được đầy đủ đặc điểm tình hình xã hội và giai cấp ở Việt
Nam; chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi khuynh hướng “tả” trong Quốc tế Cộng sản.
Vừa mới ra đời, Đảng trở thành đội tiên phong lãnh đạo cách mạng, phát động được
một phong trào cách mạng rộng lớn, mà đỉnh cao là Xôviết Nghệ Tĩnh. Đế quốc Pháp
và tay sai thẳng tay đàn áp, khủng bố. Lực lượng của ta đã bị tổn thất lớn: nhiều cơ sở
Đảng tan vỡ, nhiều cán bộ cách mạng, đảng viên ưu tú bị địch bắt, giết, tù đày. Phong
trào đấu tranh lắng xuống.
Thành quả lớn nhất của phong trào cách mạng 1930-1931 mà quân thù không thể xoá
bỏ được là: Khẳng định trong thực tế vai trò và khả năng lãnh đạo cách mạng của giai
cấp vô sản, của Đảng; Hình thành một cách tự nhiên khối liên minh công-nông trong
đấu tranh cách mạng; Đem lại cho nhân dân niềm tin vững chắc vào Đảng, vào cách mạng.
Nhờ sự cố gắng phi thường của Đảng, được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, đến cuối
1934 đầu 1935 hệ thống tổ chức của Đảng đã được khôi phục và phong trào quần chúng
dần được nhen nhóm lại.
1.2. Trong những năm 1936-1939
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã làm cho mâu thuẫn nội tại của chủ
nghĩa tư bản thêm gay gắt và phong trào cách mạng của quần chúng dâng cao. Một số
nước đi vào con đường phát xít hoá: dùng bạo lực để đàn áp phong trào đấu tranh trong
nước và ráo riết chạy đua vũ trang phát động chiến tranh thế giới mới. Chủ nghĩa phát
xít thắng thế ở Đức, Ý, Nhật, chúng liên kết với nhau lập ra phe “Trục”, tuyên bố chống
Quốc tế Cộng sản và phát động chiến tranh chia lại thế giới. Nguy cơ phát xít và chiến
tranh thế giới đe doạ nghiêm trọng nền hoà bình và an ninh quốc tế.
Đại hội VII Quốc tế Cộng sản họp tại Matxcơva (7-1935) xác định: Kẻ thù nguy hiểm
trước mắt của nhân dân thế giới chưa phải là chủ nghĩa đế quốc nói chung mà là chủ
nghĩa phát xít. Nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế
giới chưa phải là đấu tranh lật đổ chủ nghĩa tư bản, giành chính quyền mà là chống
phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, hoà bình và cải thiện đời sống.
Trong nước, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới có nhiều biến động ảnh hưởng sâu sắc
tới đời sống của mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Trong khi đó, bọn cầm quyền phản
động ở Đông Dương ra sức vơ vét, bóc lột và khủng bố phong trào đấu tranh của nhân
dân làm cho bầu không khí chính trị trở nên ngột ngạt, yêu cầu có những cải cách dân chủ.
Chủ trương và nhận thức mới của Đảng
Tháng 7-1936, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ hai tại Thượng Hải.
Xuất phát từ tình hình thực tế Hội nghị đã xác định:
Mục tiêu chiến lược: không thay đổi so với Hội nghị lần thứ nhất- “cách mạng tư sản
dân quyền - phản đế và điền địa - lập chính quyền công nông bằng hình thức Xô viết”,
“để dự bị điều kiện đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Kẻ thù trước mắt và nguy hại
nhất là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng. Nhiệm vụ trước mắt của
cách mạng: chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn phản động thuộc địa
và tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình.
Để thực hiện được nhiệm vụ này, BCH TƯ quyết định lập Mặt trận nhân dân phản đế
gồm các giai cấp, đảng phái các đoàn thể chính trị và các tôn giáo khác nhau, các dân
tộc xứ Đông Dương để cũng đấu tranh đòi những quyền dân chủ đơn sơ.
+ Về đoàn kết quốc tế: Đoàn kết với giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Pháp, ủng
hộ Mặt trận Nhân dân Pháp, ủng hộ Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp để cùng chống
kẻ thù chung là phát xít và phản động thuộc địa ở Đông Dương.
+ Về hình thức tổ chức và biện pháp đấu tranh: Hội nghị chủ trương chuyển hình thức
tổ chức bí mật không hợp pháp sang hình thức tổ chức và đấu tranh công khai, nửa
công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp. Mục đích mở rộng quan hệ của Đảng với quần chúng.
Tháng 10-1936, Trung ương Đảng được tổ chức lại do đồng chí Hà Huy Tập làm Tổng
Bí thư, trong văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới Ban Chấp hành Trung ương
cũng đặt ra vấn đề nhận thức lại mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ,
phản đế và điền địa trong cách mạng Đông Dương: cách mạng giải phóng dân tộc
không nhất thiết phải gắn kết chặt với cuộc cách mạng điền địa. “Nếu phát triển cuộc
đấu tranh chia đất mà ngăn trở cuộc đấu tranh phản đế thì phải chọn vấn đề nào quan
trọng hơn mà giải quyết trước”. Đó là nhận thức mới phù hợp với tinh thần Cương lĩnh
cách mạng đầu tiên của Đảng, bước đầu khắc phục hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10-1930.
Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào quần chúng từ giữa năm 1936 trở đi khẳng định
sự chuyển hướng chỉ đạo cách mạng đúng đắn của Đảng. Hội nghị lần thứ ba (3-1937),
lần thứ tư (9-1937), tiếp đó là Hội nghị lần thứ năm (3-1938) đã đi sâu về công tác tổ
chức của Đảng, quyết định chuyển mạnh hơn nữa về phương pháp tổ chức và hoạt động
để tập hợp được đông đảo quần chúng trong mặt trận chống phản động thuộc địa, chống
phát xít, đòi tự do, cơm áo, hòa bình.
Tại Hội nghị tháng 7-1939 Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ cho xuất bản tác phẩm Tự chỉ
trích, nhằm rút kinh nghiệm về những sai lầm, thiếu sót của Đảng viên, hoạt động công
khai trong cuộc vận động tranh cử ở Hội đồng quản hạt Nam kỳ (4-1939)
Tóm lại, trong những năm 1936-1939, bám sát tình hình thực tiễn, Đảng đã phát động
được một cao trào cách mạng rộng lớn trên tất cả các mặt trận: chính trị, kinh tế, văn
hóa tư tưởng với các hình thức đấu tranh phong phú và linh hoạt. Qua cuộc vận động
dân chủ rộng lớn, uy tín và ảnh hưởng của Đảng được mở rộng và nâng cao trong quần
chúng, chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối của Đảng được tuyên truyền rộng rãi trong
khắp mọi tầng lớp nhân dân, tổ chức Đảng được củng cố và mở rộng.
1.3 Chủ trương đấu tranh từ năm 1939 đến năm 1945
Ngày 1-9-1939, chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, trong đó Pháp là nước tham chiến.
Chính phủ Pháp thi hành một loạt đàn áp lực lượng dân chủ ở trong nước và phong trào
cách mạng thuộc địa. Tháng 6-1940, Đức tấn công Pháp và Chính phủ Pháp đã đầu
hàng. Ngày 22-6-1941, quân phát xít Đức tấn công Liên Xô. Tính chất chiến tranh đế
quốc chuyển thành cuộc chiến tranh giữa các lực lượng dân chủ do Liên Xô làm trụ cột
với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu.
Ở Đông Dương, thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến rất phản động: thẳng tay
đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân ta, tập trung lực lượng đánh vào Đảng Cộng
sản Đông Dương. Thực hiện chính sách “kinh tế chỉ huy” tăng cường vơ vét sức người,
sức của phục vụ chiến tranh, bắt lính sang Pháp làm bia đỡ đạn.
Lợi dụng sự thất thủ của Pháp ở Đông Dương, tháng 9-1940 Nhật Bản cho quân xâm
lược Đông Dương, Pháp nhanh chóng đầu hàng và dâng Đông Dương cho Nhật. Chịu
cảnh “một cổ hai tròng” đời sống của nhân dân Việt Nam lâm vào cảnh ngột ngạt về
chính trị, bần cùng về kinh tế. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với Pháp, Nhật và tay
sai phản động ngày càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
Nội dung chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược được thể hiện qua các Hội nghị
Trung ương lần thứ 6 (11-1939); Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (11-1940); Hội nghị
Trung ương lần thứ 8 (5-1941) - quan trọng nhất
Trên cơ sở nhận định khả năng diễn biến của Chiến tranh thế giới lần thứ hai và căn cứ
vào tình hình cụ thể ở trong nước, BCH Trung ương đã quyết định chuyển hướng chỉ
đạo chiến lược như sau:
Một là, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Tạm gác khẩu hiểu “đánh
đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiều “tịch thu ruộng đất
của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo” chia lại ruộng đất cho công bằng, giảm tô, giảm tức.
Hai là, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương. Ở Việt
Nam, Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh
(Việt Minh) thu hút mọi người dân yêu nước không phân biệt thành phần, lứa tuổi,
đoàn kết bên nhau đặng cứu Tổ quốc, cứu giống nòi.
Ba là, quyết định phải xúc tiến ngay công tác khởi nghĩa vũ trang, coi đây là nhiệm
vụ trọng tâm của Đảng trong giai đoạn hiện tại. Để khởi nghĩa vũ trang đi đến thắng
lợi cần phải phát triển lực lượng cách mạng, tiến hành xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Hội nghị cũng chú trọng công tác đào tạo cán bộ, nâng cao năng lực tổ chức và
lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng.
Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
Với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo BCH Trung ương Đảng đã giải quyết mục tiêu
số một của cách mạng là độc lập dân tộc và đề ra nhiều chủ trương đúng đắn để thực hiện mục tiêu ấy.
Đường lối đúng đắn gương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc đã dẫn đường cho nhân dân
ta tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp đánh Pháp đuổi Nhật, giành độc lập cho dân
tộc và tự do cho nhân dân. Chủ trương đúng đắn của Hội nghị thực sự là kim chỉ nam
đối với hoạt động của Đảng cho tới thắng lợi cuối cùng năm 1945.
II. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954
Con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH phản ánh sự lựa chọn khách quan của
chính thực tiễn, mang tính đặc thù Việt Nam, đã được Đảng ta khẳng định. Chủ trương
chiến lược cách mạng đó được tiếp tục phát triển thêm một bước tại Hội nghị Trung
ương 8 (tháng 5-1941), dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Độc lập
dân tộc là điều kiện, là tiền đề giải phóng giai cấp, xã hội và con người để đi tới CNXH.
Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, được vận dụng sáng tạo,
phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử xã hội loài
người trong thời đại mới. Ngay sau khi giành được độc lập, bắt tay vào xây dựng Nhà
nước dân chủ nhân dân, Đảng đã đồng thời lãnh đạo toàn dân tộc tiếp tục sự nghiệp
đấu tranh giải phóng đất nước. Trước sự trở lại xâm lược của thực dân Pháp (ngày 23-
9-1945), Việt Nam chưa có điều kiện trực tiếp tiến lên CNXH. Củng cố và giữ vững
nền độc lập dân tộc vừa giành lại được là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, Nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa và của toàn dân tộc.
Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội II của Đảng (tháng 2-1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh
nêu rõ phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam: “Đảng Lao động Việt Nam
đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống
nhất và độc lập hoàn toàn; lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều
kiện để tiến đến chủ nghĩa xã hội” . Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam được
Đại hội II thông qua, xác định: “Nhiệm vụ cơ bản hiện nay của cách mạng Việt Nam
là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc,
xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát
triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội”. Ba nhiệm vụ đó khăng
khít với nhau. “Song nhiệm vụ chính trước mắt là hoàn thành giải phóng dân tộc”.
Cuộc cách mạng nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến, do nhân dân làm động lực và
giai cấp công nhân lãnh đạo, là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến
triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Khái niệm cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân chứa đựng cả mục tiêu, lực lượng thực hiện và chế độ chính trị phù hợp để xây
dựng CNXH. Đại hội khẳng định con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam: “Con
đường tất yếu của nó tiến tới chủ nghĩa xã hội, quyết không thể có một con đường nào khác”
Như vậy, nhận thức luận về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam lần đầu tiên được
Đảng ta nêu ra tại Đại hội này. Con đường cách mạng Việt Nam với 3 nhiệm vụ như
trên, trải qua ba giai đoạn: 1 - Giai đoạn tiêu diệt đế quốc xâm lược, giải phóng dân
tộc, củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân; 2 - Giai đoạn xóa bỏ những di tích phong
kiến và nửa phong kiến, triệt để thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”, hoàn chỉnh
chế độ dân chủ nhân dân; 3 - Giai đoạn làm xong nhiệm vụ dân chủ nhân dân, tạo đầy
đủ điều kiện để tiến lên CNXH. Trong đó, giai đoạn thứ ba là thời kỳ quá độ với nhiệm
vụ xây dựng, củng cố và hoàn thiện chế độ dân chủ nhân dân.
Đại hội phân tích, với điều kiện Việt Nam, con đường tiến lên CNXH là một sự nghiệp
khó khăn, lâu dài. “Không thể giạng chân ra mà bước một bước khổng lồ để đến ngay
chủ nghĩa xã hội. Phải bước nhiều bước, chia thành nhiều độ mà đi”. Mỗi giai đoạn có
nhiệm vụ trọng tâm, trung tâm. Giải phóng dân tộc, người cày có ruộng, xây dựng cơ
sở cho CNXH, ba nhiệm vụ đó không thể cùng làm một lúc. Đại hội chỉ rõ, trong mỗi
giai đoạn, kẻ thù và đồng minh của cách mạng có thay đổi,... đường lối cách mạng vì
thế mà phải tiếp tục hoàn thiện. Quan niệm giản đơn và “vượt bỏ giai đoạn” cũng như
khuynh hướng “từ từ từng bước” đều sai.
Đường lối đúng đắn mà Đại hội II đề ra chính là sự bổ sung, phát triển Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng; đặc biệt là nhận thức lý luận về lộ trình, bước đi trong giai
đoạn quá độ lên CNXH phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam đã được Đảng nêu cụ thể, rõ
nét ngay trong hoàn cảnh kháng chiến đang diễn ra ác liệt.
III. Giai đoạn từ năm 1954 đến 1975
Nhận thức về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn trong tiến trình cách mạng sau đó
Trong thời kỳ 1954 - 1975, Đảng lãnh đạo nhân dân đồng thời thực hiện hai chiến lược:
Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Độc lập dân tộc và CNXH được thể hiện sinh
động và mạnh mẽ trên cả 2 miền Bắc - Nam, tác động, thúc đẩy nhau tạo nguồn xung
lực để đưa sự nghiệp thống nhất đất nước đến thành công. Trong suốt cuộc kháng chiến,
CNXH không chỉ là phương hướng mà đã trở thành phong trào cách mạng hiện thực
trên toàn miền Bắc, đóng vai trò quan trọng quyết định bảo đảm thắng lợi của nhân dân
Việt Nam trong công cuộc giải phóng dân tộc. Cách mạng giải phóng dân tộc tiếp tục
có nguồn động lực từ ý chí, khát vọng độc lập, tự do, lòng yêu nước của mỗi người
Việt Nam, từ mâu thuẫn nội tại cơ bản vẫn chưa được xóa bỏ là chủ nghĩa thực dân
mới ở miền Nam; được bổ sung nguồn động lực từ xã hội xã hội chủ nghĩa đang được
xây dựng trên miền Bắc.
Cách mạng giải phóng dân tộc giành thắng lợi, Tổ quốc thống nhất, nhiều tiền đề cho
thời kỳ quá độ đã được tạo dựng, các nguồn lực tự nhiên, xã hội, tiềm năng, thế mạnh
của các vùng, miền trên cả nước được phát huy; sức mạnh ý chí, tinh thần dân tộc, vị
thế, uy tín quốc tế của dân tộc được nâng cao. Các yếu tố đó mở ra điều kiện, tiền đề
to lớn cho sự nghiệp xây dựng CNXH trên cả nước, gắn với bảo vệ vững chắc độc lập
dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Đó là thắng lợi của chiến lược cách mạng được
Đại hội II của Đảng vạch ra. Trong đó, cốt lõi là quan điểm, tiến trình về độc lập dân tộc và CNXH.
IV. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Trong giai đoạn 1975 - 1986, sự nghiệp xây dựng CNXH đạt được những thành tựu
nhất định; tuy nhiên, những sai lầm trong chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện do
chủ quan duy ý chí, nóng vội, thiếu kinh nghiệm, đã làm cho đất nước lâm vào khủng
hoảng trầm trọng về kinh tế - xã hội. Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) với tinh
thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, đã thẳng thắn đánh
giá những sai lầm và đề ra đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để; đặc biệt là,
đổi mới tư duy lý luận, nhận thức đúng đắn về CNXH và những đặc trưng, những quy
luật khách quan, những hình thức, bước đi của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam,
đã mở ra thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng trên con đường đi lên CNXH.
Đại hội VII của Đảng (năm 1991), diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế phức tạp,
mô hình CNXH hiện thực ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, phong trào cách
mạng thế giới lâm vào khủng hoảng trầm trọng và thoái trào; đất nước sau 15 năm
thống nhất, xây dựng CNXH, sau 5 năm thực hiện đường lối đổi mới với nhiều khó
khăn, nguy cơ, thách thức. Trước tình hình đó, Đảng ta tiếp tục kiên định con đường
cách mạng đã lựa chọn, thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên CNXH (Cương lĩnh năm 1991). Trong Cương lĩnh năm 1991, Đảng đã đúc kết:
Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH là bài học xuyên suốt của cách mạng
nước ta và khẳng định, đối với nước ta, không còn con đường nào khác ngoài con
đường duy nhất đúng đắn là đi lên CNXH để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh
phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa
chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng.
Tại Đại hội VII, nhiều nội dung lý luận và thực tiễn mới được Đảng nêu ra, trong đó
đã xác định những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việtt Nam xây dựng. Đây
là một bước phát triển lý luận mới mang tính đột phá. Từ 6 đặc trưng được nêu tại
Cương lĩnh năm 1991, Đại hội X của Đảng đã bổ sung, nêu 8 đặc trưng của xã hội xã
hội chủ nghĩa mà Việt Nam phấn đấu xây dựng. Đây là những phác thảo quan trọng
làm cơ sở để Đại hội XI của Đảng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định xã hội xã hội chủ nghĩa
mà Việt Nam xây dựng gồm 8 đặc trưng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản
xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển
toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và
giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và
hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới. Tám đặc trưng được xác định trong Cương
lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phản ánh quan niệm tổng quát về CNXH ở Việt
Nam. Đó là thành quả của đổi mới nhận thức về CNXH phù hợp với thực tiễn Việt
Nam, là kết hợp hài hòa giữa “cái phổ biến” và “cái đặc thù”, mang sắc thái riêng, được
từng bước hiện thực hóa trong cuộc sống.
Thực hiện độc lập dân tộc và CNXH là một sự nghiệp khó khăn, phức tạp, tất yếu phải
trải qua những chặng đường trong thời kỳ quá độ lâu dài, trong đó nhiều vấn đề lý luận
và thực tiễn rất cơ bản và trọng yếu được đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và
giải quyết một cách thấu đáo. Quá trình nhận thức của Đảng về con đường đi lên CNXH
có sự phát triển mới: Để xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam với những đặc trưng
nêu trên, Đảng chỉ ra các phương hướng cần thực hiện. Cương lĩnh năm 1991 xác định
7 phương hướng quá độ lên CNXH ở Việt Nam, đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển
năm 2011) xác định 8 phương hướng với sự điều chỉnh, bổ sung về nội dung và 8 mối
quan hệ lớn cần nắm vững và giải quyết.
Trên cơ sở tổng kết 25 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 và đánh giá 30 năm đổi
mới (1986 - 2016), Đại hội XII của Đảng (năm 2016) đã bổ sung mối quan hệ lớn thứ
chín cần được nghiên cứu làm sáng tỏ cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Đại hội
XIII của Đảng (năm 2021) bổ sung mối quan hệ lớn thứ mười là mối quan hệ giữa thực
hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đây là một bước tiến
mới, quan trọng của Đảng trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, phát triển
hệ thống quan điểm lý luận về CNXH ở Việt Nam, phản ánh các quy luật mang tính
biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi trong đường lối đổi mới của Đảng ta.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 35 năm đổi mới chính là thành quả từ
việc hiện thực hóa lý luận về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, với những nhận thức
và tư duy mới đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đất nước ta đã vươn mình
thoát khỏi vị trí một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ phát triển thấp trở thành một
nước phát triển trung bình; tiềm lực kinh tế liên tục tăng cao; đời sống nhân dân được
cải thiện và nâng cao rõ rệt; chính trị - xã hội ổn định; dân chủ ngày càng được mở
rộng; chủ quyền quốc gia được bảo vệ vững chắc; vị thế, uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao…
Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh một đánh giá mới, rất quan trọng về vị thế của đất
nước sau 35 năm đổi mới: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế
và uy tín quốc tế như ngày nay” (12). Năm 2020, Việt Nam là một trong những quốc
gia tăng trưởng cao nhất thế giới (2,91%), quy mô GDP xấp xỉ 345 tỷ USD (gấp 12 lần
năm 1985), thu nhập bình quân đầu người đạt trên 3.520 USD (so với 230 USD năm
1985), xuất siêu đạt kỷ lục gần 20 tỷ USD (13). Tỷ lệ nghèo tiếp cận đa chiều năm
2020 khoảng 4,7% (14). Việt Nam xếp thứ 42/131 quốc gia và nền kinh tế về chỉ số
đổi mới sáng tạo, tăng 17 bậc so với năm 2016, dẫn đầu nhóm 29 quốc gia có cùng
mức thu nhập và đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á.
Đối với tiến trình phát triển đất nước giai đoạn từ nay đến giữa thế kỷ XXI, Đại hội
XIII của Đảng nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo là: “Kiên định và không ngừng vận dụng,
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực
tiễn cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”. “Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước
phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Những mục tiêu to lớn mà Đại hội XIII
của Đảng nêu ra cho các mốc thời gian năm 2025, năm 2030 và năm 2045 đòi hỏi quyết
tâm chính trị cao; nỗ lực lớn, khát vọng phát triển mạnh mẽ, giải phóng mọi nguồn lực
để xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.
Trong tiến trình đổi mới, Đảng nhận diện ngày càng rõ hơn vấn đề độc lập dân tộc và
CNXH trước bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Tiến trình đổi mới là
sự tiếp tục vận động của những quan niệm mới về CNXH và con đường xây dựng
CNXH của Đảng, được hình thành dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa những nhận thức đúng đắn mà Đảng đã tích lũy
được trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục tiêu, là nội dung nổi bật, xuyên suốt và chủ
đạo trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đường lối độc lập dân tộc
gắn liền với CNXH là một trong những nguyên nhân của mọi thắng lợi vẻ vang trong
sự nghiệp cách mạng của dân tộc và mãi là ánh sáng soi đường cho sự nghiệp đổi mới,
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng
trong thế kỷ XXI của Đảng và nhân dân Việt Nam.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Tài liệu tham khảo:
1. Bộ giáo dục và Đào tạo, Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, 2004
2. Đường lối đấu tranh giành chính quyền, https://tusach.thuvienkhoahoc.com/
3. Nhận thức về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ Đại hội II của
Đảng đến công cuộc đổi mới đất nước – giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn, Báo
Tạp chí Cộng sản, ngày 11 tháng 5 năm 2021
4. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011