



















Preview text:
I. MỞ ĐẦU:
1. Giới thiệu về cuốn sách:
Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 13 phản ánh các hoạt động quân sự Việt Nam
trong giai đoạn từ 1975 đến 2000. Sau khi giải phóng hoàn toàn miền nam,
đất nước thống nhất. Dân tộc ta phải hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi
phục phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa , xã hội. Đồng thời, vẫn phải chiến
đấu ở biên giới phía Nam, biên giới phía Bắc để bảo vệ nền độc lập dân tộc,
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Trong đó, Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc tuy ngắn nhưng rất khốc liệt.
Cuộc tiến công quân sự của Trung Quốc đối với Việt Nam là một vết đen
trong quan hệ hai nước, đã đưa quan hệ giữa hai nước vào một thời kỳ căng
thẳng, bất ổn kéo dài hơn một thập kỷ. 2. Đặt vấn đề:
Việt Nam – Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng có mối liên kết truyền
thống và lịch sử lâu đời từ thời dựng nước. Trong thế kỷ XX, hai nước Việt –
Trung đều trong bối cảnh bị thực dân xâm lược, cùng có nhu cầu giải phóng đất
nước, giành lại thực do dân tộc. Trong quá trình hoạt động, hai nước có những
cuộc gặp gỡ để nâng cao tình hữu nghị và trao đổi kinh nghiệm. Năm 1950,
Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, ủng hộ Việt Nam về
nhiều mặt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhưng đến đầu năm 1979, Trung
Quốc lại gây ra những căng thẳng tại biên giới phía Bắc Việt Nam. Nội dung bài
viết tập trung phân tích về nguyên nhân, diễn biến và kết qủa của cuộc chiến tranh. II. NỘI DUNG: 1. Nguyên nhân: 1.1 Nguyên nhân sâu xa:
Nguyên nhân sâu xa của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc Việt Nam do mâu
thuẫn về quyền lợi của các nước lớn, tiêu biểu là Mĩ – Xô – Trung trong vấn đề
Đông Dương. Cả ba nước trên đều muốn đặt vị trí ảnh hưởng của mình trên bán
đảo Đông Dương, do đó việc ủng hộ Việt Nam đánh Mĩ của Liên Xô và Trung
Quốc là nhằm phục vụ cho những mưu đồ riêng của mình. Trong quá trình giúp
đỡ Việt Nam, sự toan tính của họ đã làm cho những mâu thuẫn vốn có từ trước
càng trở nên sâu sắc. Việt Nam vẫn duy trì đường lối độc lập, tự chủ, tiếp nhận sự
giúp đỡ nhưng không phụ thuộc, điều này làm cho Trung Quốc không hài lòng.
Sau năm 1975, quan hệ Việt – Xô nâng lên tầm cao mới khi hai nước kí kết các
hoạt động tương trợ lẫn nhau về kinh tế, quân sự, cũng là lúc Trung Quốc có
những hành động trở mặt gây khó khăn cho Việt Nam trong công cuộc tái thiết đất nước. 1
2.2. Nguyên nhân trực tiếp:
Vấn đề Campuchia đã châm ngòi trong quan hệ Việt – Trung, khi chế độ diệt
chủng Pôn Pốt – Iêng Xari gây tội ác tại Campuchia và Việt Nam, giết vô số
người dân vô tội, Trung Quốc không những không lên án mà còn bênh vực và cổ
vũ cho những việc làm sai trái của quân Pôn Pốt, đồng thời tuyên bố sẽ trừng phạt
Việt Nam nếu ta tấn công Campuchia. Chính vì vậy, sau khi Việt Nam đánh bại
Pôn Pốt, giành thắng lợi cho biên giới Tây Nam của Việt Nam thì Trung Quốc
mang quân xâm lược biên giới phía Bắc của Việt Nam năm 1979, Châm ngòi
căng thẳng ở biên gới phía Bắc, gây thiệt hại lớn về người và của đối với Việt Nam.
2. Mục tiêu của Trung Quốc:
Thứ nhất, cứu Pôn Pốt, giữ Campuchia trong quỹ đạo của họ. Ý đồ chiếm một số
khu vực đất đai của ta gần biên giới, nếu ta sơ hở sẽ tiến vào sâu, buộc phải đàm
phán, đỏi ta rút quân ra khỏi Campuchia để đánh đổi việc họ rút quân. Tạo điều
kiện cho Pôn Pốt bảo toàn lực lượng, giữ được các căn cứ,
Thứ hai, tranh thủ Mỹ và các nước đế quốc giúp họ xây dựng “bốn hiện đại hóa.
Thứ ba, phá hoại tiềm lực kinh tế, quốc phòng của Việt Nam, làm cho ta suy yếu.
Ý đồ của họ là tiêu diệt một bộ phận lực lưòng vũ trang ta, nhất là khôi bộ đội chủ
lực, phá hoại các cơ sở kinh tế, tàn sát nhân dân ta, kích động bạo loạn, hạ uy thế
về chính trị và quân sự của ta sau chiến thắng năm 1975.
Thứ tư, răn đe các nước Đông Nam Á. Đặc biệt là Lào, với mục đích làm suy yếu
liên minh Việt – Lào; buộc Lào trung lập trong cuộc đấu tranh giữa ta và họ; phá
hoại Lào toàn diện, buộc Lào theo họ chống lại ta, uy hiếp từ phía tây.
Thứ năm là, muốn thăm dò mối quan hệ giữa Liên Xô và Việt Nam sau khi Liên
Xô ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác với Việt Nam; thăm dò phản ứng của dư
luận thế giới để chuẩn bị cho các hành động tiếp sau. 3. Chuẩn bị: 3.1. Trung Quốc:
Ngay sau khi Việt Nam thống nhất đất nước, giành được độc lập, Trung Quốc
đã tăng cường các hoạt động quân sự, châm ngòi, khiêu khích gây ra những căng
thẳng ở biên giới phía Bắc nước ta
Từ tháng 5-1978, Trung Quốc dựng lên “sự kiện nạn kiều” một cách vô cớ, với ý
đồ là đe dọa và cướng ép gần 20 vạn dân nước họ đang định cư ở Việt Nam phải
1 Nguyễn Thị Hương (2019), “Nguyên nhân bùng nổ chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979”, Tạp chí khoa học, tập 16, Số 5 (2019), tr 144-155
về nước. Tiếp đó, họ trắng trợn vu cáo “Việt Nam ngược đãi, khủng bố xua đuổi
nhân dân nước họ”, rút chuyên gia, gây tình hình hết sức căng thẳng.
Từ cuối năm 1978, phía Trung Quốc tăng cường làm đường cơ động, xây
dựng căn cứ, hệ thống kho trạm, vận chuyển tập kết vật chất, sơ tán nhân dân về
phía sau. Đồng thời, thực hiện các hoạt động nghi binh, đề ra kế hoạch “dạy cho
Việt Nam một bài học” và chuẩn bị có các hành động “trừng phạt Việt Nam”. Họ
tuyên bố trắng trợn rằng chỉ sử dụng lực lượng “bộ đội biên phòng” để thực hiện
“phản kích tự vệ”, bởi chính Việt Nam gây ra xung đột, quấy rối, gây ra căng thẳn
ở biên giới phía Nam. Nhưng trên thực tế, vùng biên giới Việt Trung không có
lực lượng vũ trang nào của Việt Nam gây sức ép.
Từ tháng 8-1978, phía Trung Quốc điều động lực lượng từ phía sau ra biên
giới Ngoài ra, phía Trung Quốc còn bố trí nhiều trận địa pháo, trạm ra đa, trang bị
vũ khí cho dân binh, tồ chức nhiều cuộc diễn tập, gây căng thẳng trên vùng biên
giới phía Bắc. 3.2. Việt Nam:
Trước những diến biến căng thẳng ở vùng biên giới phía Bắc, Đảng và Nhà nước
ta vẫn kiên trì giải quyết với thiện chí hào bình; đồng thời khẩn trương tăng
cường lực lượng, đẩy mạnh xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tô
quốc trên phạm vi cả nước.
Công an nhân nhân vũ trang Việt Nam làm nhiệm vụ ở các đồn và cửa khẩu
vùng biên giới phía Bắc thường xuyên tuyên truyền đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước ta, tạo điều kiện thuận lợi cho người Hoa trở về nước.
Quán triệt nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(71978), Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo chấn chỉnh lại tô chức, chuuyển một bộ phận
lực lượng quân đội sang xây dựng kinh tế và triển khai bố trí lại lực lượng cho
phù hợp vối yêu cầu bảo vệ Tổ quốc.
Đầu tháng 12-1978, Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa IV) ra Nghị quyết xác định nhiệm vụ của quân và dân ta trong tình
hình mới, trong đó nhấn mạnh: Tăng cường quốc phòng và an ninh bảo vệ Tổ
quốc. Tiếp tục xây dựng các cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, chuẩn bị sẵn
sàng các công tác chuẩn bị đối phó với cuộc chiến tranh có thể xảy ra ở biên giới.
Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ năm, ngày 6-11979,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Về việc tăng cường ch iến đ ấu ở cá c
tính phía Bắc, nêu rõ: “Phải theo dõi nắm chắc tình hình địch, kịp thời phát hiện
âm mưu và hành động tiến công phá hoại của chúng, quyết không để bị bất ngờ,
không mắc mưu khiêu khích của chúng... Gấp rút đẩy mạnh công tác sẵn sàng
chiến đấu ở các địa phương trên toàn biên giới, bảo đảm sẵn sàng đánh bại địch
ngay từ đầu trong bất kỳ tình huống nào”2
Thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 8-1-1979,
2 Bộ Quốc Phòng Viện Lịch sử Việt Nam (2014), Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 13, tr 158-159
Quân uỷ Trung ương ra Chỉ thị sẵn sàng chiến đấu. Thực hiện chỉ thị của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng. Toàn quân, đặc biệt là các lực lượng vũ trang Quân
khu 1, Quân khu 2 và nhân dân các tỉnh biên giói phía Bắc gấp rút củng cố thế
trận phòng thủ, tăng cường huấn luyện, hoàn chỉnh phương án tác chiến, sẵn sàng chiến đấu cao. 4. Diễn biến:
Rạng sáng ngày 17-2-1979, quân Trung Quốc sử dụng pháo binh bắn phá một
số mục tiêu trong lãnh thổ nước ta, sau đó huy động lực lượng lớn tiến công sang
lãnh thổ Việt Nam. Với hướng tiến công quan trọng là Lạng Sơn và Cao Bằng.
Trên mỗi hướng quân Trung Quổc thường kết hợp tiến công chính diện với vu
hồi, thọc sâu, bao vây, chia cắt; phối hợp giữa bộ binh, các loại xe chiến đấu. Gây
nhiều tổn thất về người và của đối với đồng bào ta, đặc biệt là ở Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn.
Ngày 17-2-1979, Chính phủ ta tuyên bố nêu rõ: nhà cầm quyền Trung Quốc đã
đi ngược lại lợi ích của nhân dân... và khẳng định: “Quân và dân Việt Nam không
có con đường nào khác phải dùng quyền tự vệ chính đáng của mình để đánh trả”3
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ, quân và dân ta trên tuyến đầu Tổ quốc, từ
bộ đội chủ lực đến bộ đội địa phương đã kịp thời đánh trả quân Trung Quốc.
- Trên mặt trận Lạng Sơn, các Quân đoàn, lực lượng vũ trang địa phương, chặn
đánh mũi tiến công của địch, gây cho đối phương một số thiệt hại. Ngày 24-
21979, thành lập mặt trận Lạng Sơn.
Ngày 27-2, Trung Quốc huy động Quân đoàn dự bị vào hỗ trợ, tiến công từ ba
hướng, nhằm mục tiêu thị xã Lạng Sơn. Ngày 2-3-1974 Bộ Chính trị ban chấp
hành trung ương Đảng ra quyết định thành lập Quân đoàn 5 và các trung đoàn bộ binh, pháo binh...
Chiều 4-3, quân Trung Quốc mở đợt tiến công đánh chiếm thị xã Lạng Sơn. - -
- Mặt trận Cao Bằng, sáng 17-2-1979 quân Trung Quốc chia làm hai cánh
đánh vào thị xã Cao Bằng. Ngày 20-2-1979, Bộ chính trị quyết định thành lập
Đảng ủy và Bộ chỉ huy Mặt trận Cao Bằng nhằm lãnh đạo, chỉ huy lực lượng
chiến đấu, tổ chức các chốt chặn. Ngày 24-2, Trung Quốc tiến công đánh
chiếm thị xã Cao Bằng. Các đơn vị bộ đội, lực lượng dân quân tự vệ chiến đấu
ở nhiều nơi. Bộ tư lệnh Mặt trận Cao Bằng liên tiếp đưa ra những chủ chương
củng cố lực lượng, quân và dân Cao Bằng tiếp tục chiến đấu, gây ra nhiều khó khăn cho địch
- Mặt trận Hoàng Liên Sơn, ngày 17-2, quân Trung Quốc dùng pháo binh bắn
phá sau đó huy động đánh vào theo hai cánh. Các lực lượng vũ trang của ta
kiên cường chiến đấu, đánh trả quyết liệt các đợt tiến công của quân Trung
3 Bộ Quốc Phòng Viện Lịch sử Việt Nam (2014), Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 13, tr 159
Quốc. Ngày 19-2, quân binh Trung Quốc chiếm thị xã Lào Cai. Ngày 24-2,
phía Trung Quốc chia làm 3 cánh tiến công và đánh chiếm thị xã Cam Đường.
Bộ đội ta phối hợp với các bộ binh, pháo binh, dân quân tự vệ chiến đấu quyết
liệt, bẻ gãy các đợt tiến công của địch.
- Mặt trận Lai Châu, Trung Quốc đánh chiếm vào nhiều khu vực với mục tiêu
chính là thị trấn Phong Thổ. Nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, quân
và dân Lai Châu đã lập nhiều chiến công, góp phần đánh bại âm mưu hợp
quân của địch, hạn chế không cho quân Trung Quốc đánh sâu vào trong lãnh thổ nước ta.
- Mặt trận Hà Tuyên, Phía Trung Quốc mở ba mũi tiến công vào các khu vực
thuộc tỉnh Hà Giang. Ngày 18-2, Phía Trung Quốc mở cuộc tiến công vào các
chốt do ta trấn giữ. Cán bộ, chiến sĩ, lực lượng vũ trang địa phương liên tục
đánh chặn, bẻ gãy các đợt tiến công của quân trung quốc. Chủ động tổ chức
một số trận đánh vào lực lượng quân Trung Quốc nay tại vị trí xuất phát tiến công của họ.
- Mặt trận Quảng Ninh, quân Trung Quốc chia làm 2 mũi tiến công. Ngày 2-3,
phía Trung Quốc tăng quân mở các cuộc tiến công, hòng đánh vào khu vực
Cao Ba Lanh. Lực lượng vũ trang của ta chiến đấu ngoan cường, giữ vững
trận địa, bẻ gãy các đợt tiễn công, buộc quân Trung Quốc phải rút về bên kia
biên giới. Đầu tháng 3-1979, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Mặt trận
Quảng Ninh sẵn sàng chiên đấu và chiên đấu; chỉ huy các lực lượng vũ trang;
tổ chức thực hiện quân sự hoá toàn dân và vũ trang toàn dân bảo vệ Tổ quốc.
Các chiến sĩ, lực lượng vũ trang và các bộ đội địa phương đã xuất sắc đánh chặn
các cuộc tiến công của quân Trung Quốc. Ở nhiều nơi, quaan ta phối hợp đánh
chặn ngay khi quân Trung Quốc mới vượt biên giới tiến vào nước ta. Các trận
chiến đấu diễn ra quyết liệt trên các mặt trận, điển hình là ở Lạng Sơn, Cao Bằng,
Lào Cai. Với cách đánh linh hoạt các lực lượng vũ trang ta đã bẻ gãy nhiều mũi
tiến công, tiêu diệt nhiều sinh lực và phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh, làm
chậm ý đồ chiến lược của Trung Quốc, buộc họ phải đưa lực lượng dự bị chiến
lược vào hỗ trợ, cứu nguy cho lực lượng bị bao vây, cô lập ở Cao Bằng, Lạng Sơn và Lào Cai.
Ngay khi diễn ra cuộc chiến tranh ở biên giối phía Bắc, Bộ Tổng tham mưu đã
triệu tập tư lệnh các quần khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng phố biến tình
hình, xác định nhiệm vụ mới và ra lệnh cho toàn quân chuyển sang trạng thái sẵn
sàng chiến đấu cao nhất.
Nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, ngày 4- 3-1979, Ban Chấp
hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi quân và dân cả nước phát huy khí thế cách
mạng và lao động sản xuất chi viện cho tiền tuyến. Ngày 5-3, Chủ tịch nước công
bố Lệnh tổng động viên trong cả nước để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cùng
ngày 5-3, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 83-CP quy định mọi công dân
(nam từ 18 đến 45 tuổi, nữ từ 18 đên 35 tuổi) có đủ điều kiện đều gia nhập dân
quân du kích tự vệ. Đáp lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và
Lệnh tổng động viên của Chủ tịch nước, cả nước hết lòng hêt sức chi viện cho
cuộc chiên đấu bảo vệ Tổ quôc.
Trong quá trình diễn ra cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, quân và dân ta
tiếp tục nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các nước xã hội chủ nghĩa, các lực
lượng tiến yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Các tổ chức quốc tế đều tuyên bố
lên án hành động của Trung Quốc và kêu gọi ủng hộ Việt Nam. Ngày 5-3-1979,
Trung Quốc buộc phải tuyên bô rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Thể hiện tinh
thần hòa hiếu, Trung ương Đảng và Chính phủ ta ra chỉ thị để Trung Quốc được
yên ổn rút quân về nước.
Từ ngày 6-3-1979, phía Trung Quốc vừa rút quân, vừa đánh phá, gây nhiều thiệt
hại về người và của đối với đồng bào ta. Nhiều cơ sở hạ tầng như bệnh viện,
trường học, làng mạc đều bị phá hủy không thương tiếc. Đặc biệt là Hang Pác Bó,
một di tích lịch sử thiêng liêng đối vối các thế hệ người Việt Nam bị phá sập bằng
bộc phá. Về cơ bản, Trun Quốc đã rút quân ra khỏi nước ta nhưng thực tế, phía
Trung Quốc vẫn chiếm đóng trái phép một số nơi thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Cao
Bằng, Hà Tuyên, thường xuyên gây xung đột vũ trang, làm cho tình hình luôn
căng thẳng, kéo dài đến những năm cuối thập kỷ 80 của th ế kỷ XX. Trước tình
hình đó, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đề ra nhiệm vụ cho quân và dân ta
là khẩn trương khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, nhanh chóng ổn định
đới sông nhân dân; đồng thòi gấp rút tăng cường khả năng phòng thủ tại chỗ, phát
triển lực lượng vũ trang, đặc biệt là bộ đội chủ lực trên tấ t cả các hưổng chiến
lược ờ biên giới phía Bắc.
5. Thiệt hại, ảnh hưởng:
- Theo Tướng Ngũ Tu Quyền, Phó Tổng Tư lệnh Quân Giải phóng Trung Quốc,
tuyên bố rằng số quân Việt Nam bị chết và bị thương là 50.000, trong khi con
số tương ứng của Trung Quốc là 20.000.
- Hoàn Cầu Thời báo bản điện tử ngày 2/3/2015 dẫn nguồn Trung Quốc viết
rằng: “Trong cuộc phản kích tự vệ này, quân ta đã chiếm được Cao Bằng,
Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn, Lai Châu, Quảng Ninh, Hà Tuyên và 21 huyện,
thị trấn khác nhau của Việt Nam; tiêu diệt 4 sư đoàn, 7 trung đoàn, 25 tiểu
đoàn của Việt Nam; tiêu diệt 4 sư đoàn, 7 trung đoàn, 25 tiểu đoàn của Việt
Nam. Tổng số binh lính Việt Nam bị tiêu diệt là hơn 50.000 người; 2.173 lính
đầu hàng; thu giữ 926 khẩu pháo các loại;16.000 súng, hỏa tiến; 236 xe ô tô.
Quân ta cũng phá hủy nhiều pháo, xe tăng, tăng thiết giáp, thu được thắng lợi huy hoàng”. 4 III. KẾT LUẬN:
Chiến tranh biên giới phía Bắc khác biệt hoàn toàn với cuộc chiến tranh
chống Pháp và chống Mỹ trường kỳ mà ta từng trải qua, vì Pháp và Mỹ cách
ta rất xa. Nhưng Trung Quốc lại khác, với lợi thế là nước lớn, là nước láng
giềng nên huy động được nhiều lực lượng với thời gian ngắn, đó là một bất lợi
dành cho ta. Thắng lợi của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc là thắng lợi
bước đầu nhưng có ý nghĩa vô cùng to lớn về cả quân sự, chính trị, ngoại giao.
Thắng lợi thể hiệ đường lối chính trị, quân sự đúng đắn của Đảng, Bộ Chính
trị và Quân ủy Trung ương. Khẳng định được sức mạnh, sự đoàn kết toàn dân,
toàn quân. Đồng thời, rút ra được bài học lịch sử. Thứ nhất, phải luôn nâng
cao vị thế của ta. Thứ hai, phải hết sức bén nhạy với cán cân quyền lực
trong khu vực và phải lập tức mạnh dạn điều chỉnh chiến lược đối ngoại
khi tương quan lực lượng trong khu vực biến đổi bất lợi cho Việt Nam.
Thứ ba, phải sáng suốt tìm ra ai là kẻ mạnh trong khu vực và đâu là chỗ
yếu của Trung Quốc để thực hiện kế răn đe ngoại giao.5 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Hương (2019), “Nguyên nhân bùng nổ chiến tranh biên giới phía
Bắc năm 1979”, Tạp chí khoa học, tập 16, Số 5 (2019), tr 144-155.
4 Việt Long (2019), “Chiến tranh Việt-Trung 1979: diễn biến và hậu quả”, Nghiên cứu quốc tế
5 Bùi Minh Triết, “Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979,
2. Bộ Quốc Phòng Viện Lịch sử Việt Nam (2014), Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 13, tr 158-159.
3. PGS, TS Nguyễn Mạnh Hà (2019), “Một vài nét về diến biến , nguyên nhân và
mục tiêu của cuộc tiến công biên giới phái Bắc Việt Nam ( tháng 2-1979)”,
Tạp chí Lý luận chính trị, số 2-2019
4. Việt Long (2019), “Chiến tranh Việt-Trung 1979: diễn biến và hậu quả”,
Nghiên cứu quốc tế
5. Bùi Minh Triết, “Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979, PHỤC LỤC
I. Nguyên nhân của chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 1.
Nguyên nhân sâu xa của chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979
1.1 Thay đổi trong mối quan hệ Liên Xô – Trung Quốc:
Liên Xô và Trung Quốc là hai nước lớn trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, có tiếng nói
và tầm ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế ở những thập niên 60, 70 của thế kỉ XX.
Quan hệ Xô – Trung khi mới thiết lập diễn ra tương đối tốt đẹp. Hai nước tương trợ
lẫn nhau trong việc củng cố phát triển đất nước, xây dựng chế độ XHCN ngày càng
vững mạnh, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.
Thế nhưng mối quan hệ đó duy trì không được bao lâu và bắt đầu bộc lộ những mâu
thuẫn do bất đồng quan điểm. Trung Quốc cũng chính thức thể hiện mình là ứng viên
xứng đáng cho vị trí lãnh đạo các nước thứ 3, công khai cạnh tranh với Liên Xô. Do
đó, cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương lại trở thành mặt trận của Liên Xô –
Trung Quốc trong cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng và địa vị quốc tế. Là nước đi
đầu trong phong trào giải phóng dân tộc cho nên Việt Nam luôn được Trung Quốc
chú ý. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam (1945-1954) và kháng
chiến chống Mĩ (1954-1975), Trung Quốc đã tích cực viện trợ cho nhân dân Việt
Nam lượng lớn vũ khí, lương thực, thuốc men để chiến đấu. Giúp đỡ Việt Nam là cơ
hội để Trung Quốc nâng cao tầm ảnh hưởng của mình với các nước trong hệ thống xã
hội chủ nghĩa, mà đặc biệt hơn là với Liên Xô.
Mâu thuẫn trong mối quan hệ của Liên Xô và Trung Quốc ngày càng căng thẳng
trong những năm 60 của thế kỉ XX. Từ năm 1961 đến năm 1965, sau cuộc gặp gỡ
giữa những nhà lãnh đạo hai Đảng ở Moscow từ ngày 5 đến ngày 20/7/1963, cuộc
chiến về chính trị giữa hai nước chính thức bắt đầu: công kích lẫn nhau qua thư từ,
báo chí, chia rẽ đảng phái, chống đối lẫn nhau. Quá trình mâu thuẫn tiếp tục đến nửa
cuối thập kỉ 60 của thế kỉ XX và ngày càng gay gắt hơn khi mâu thuẫn không chỉ diễn
ra về mặt chính trị giữa hai Đảng của hai nước mà dần chuyển sang xung đột diện
rộng như những cuộc xô xát nhỏ diễn ra giữa Bắc Kinh và Moscow đã lôi kéo thêm
các tầng lớp học sinh, công nhân và quần chúng tham gia. Ngoài ra, vụ việc Liên Xô
kéo quân qua biên giới Tiệp Khắc năm 1968 càng làm cho Trung Quốc cảnh giác
hơn. Năm 1969, mâu thuẫn giữa hai nước đã gia tăng thành những cuộc xung đột
biên giới và sau đó là sự hợp tác Mĩ – Trung năm 1972, tạo đồng minh chống lại Liên
Xô của Trung Quốc. Trong khi hai nước Xô – Trung đối đầu nhau nhưng họ cùng
ủng hộ Việt Nam đánh Mĩ và nước nào cũng muốn tạo ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt
Nam, do đó nhân tố Việt Nam cũng có tác động không nhỏ đến quan hệ ấy, bởi cả
Liên Xô – Trung Quốc đều muốn lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở các nước
thuộc địa và phụ thuộc, trong khi Việt Nam là ngọn cờ đầu của phong trào này.
Như vậy, những thay đổi trong quan hệ Xô – Trung (từ quan hệ đồng minh chuyển
sang đối đầu) đã tạo những khó khăn trong vấn đề ngoại giao giữa các nước anh em
trong hệ thống xã hội chủ nghĩa. Cùng nhận viện trợ của cả Liên Xô và Trung Quốc
trong chống Mĩ, Việt Nam phải hết sức khôn khéo tránh mất lòng cả hai nước trên.
Tuy nhiên, sau khi Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, thống
nhất đất nước (tháng 4/1975), những mâu thuẫn giữa hai nước lớn vẫn tiếp tục, và đặc
biệt khi quan hệ giữa Việt Nam – Liên Xô khăng khít hơn cũng là lúc Trung Quốc
thực hiện hàng loạt những hành động quân sự và chính trị gây tổn hại đến quan hệ Việt – Trung.
2.1.2. Thay đổi trong mối quan hệ Việt Nam – Liên Xô
Mối quan hệ Việt Nam và Liên Xô chính thức bắt đầu vào ngày 30/01/1950, khi Liên
Xô chấp nhận thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, sựkiên này không nh ững
công nhận nền độc lập và chủ quyền của nước Việt Nam mà còn thừa nhận Việt Nam
là một nước nằm trong khối xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu. Nhìn chung,
trong khoảng thời gian từ năm 1950 đến năm 1964, quan hệ Việt Nam – Liên Xô
chưa sâu sắc, vì lúc này Liên Xô đang thực hiện “chung sống hòa bình với phương
Tây” và tập trung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu. Quan hệ Việt – Xô đã có sự
thay đổi kể từ khi Mĩ leo thang chiến tranh ở Việt Nam, đưa máy bay ném bom miền Bắc.
Cuối tháng 12/1964, Liên Xô đã cho phép đại diện thường trú của Mặt trận Dân tộc
Giải phóng Miền Nam Việt Nam được hoạt động tại Moscow. Tiếp theo đó, sự giúp
đỡ của Liên Xô đối với Việt Nam được đánh dấu bằng chuyến thăm của đoàn đại
biểu cấp cao Liên Xô do chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Kossygin dẫn đầu tới Hà Nội
vào tháng 02 năm 1965. Tuyên bố chung được hai bên đưa ra ngày 10/02/1965,
khẳng định Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông
Nam Á, vai trò của Việt Nam trong cuộc chiến chống đế quốc Mĩ và đóng góp của
Việt Nam vào nền hòa bình của thế giới. Tuyên bố cũng khẳng định: “Liên Xô không
thể thờ ơ với an ninh của một nước xã hội chủ nghĩaN anh em và sẵn sàng ủng hộ và
giúp đỡ Việt Nam” (Bộ Ngoại giao, 1982, tr.107).
Cho nên, trong suốt những năm 1965-1975, Liên Xô ủng hộ cả về chính trị lẫn quân
sự cho Việt Nam đánh Mĩ. Sau khi Việt Nam thực hiện thành công công cuộc thống
nhất đất nước và trở thành một đất nước hoàn toàn độc lập, toàn vẹn về chủ quyền,
Liên Xô muốn tăng cường quan hệ mọi mặt với Việt Nam. Về chính trị, nước bạn
đưa ra một chương trình phối hợp hoạt động như mong muốn Việt Nam hợp tác tham
gia SEV và Liên Xô muốn đặt hệ thống cố vấn trong quân đội Việt Nam, tích cực xây
dựng cảng và hạm đội đánh cá, xây dựng trạm động đất.
Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác kí ngày 03/11/1978 là bằng chứng cho quan hệ toàn
diện giữa Việt Nam và Liên Xô, với nội dung: “Trên cơ sở mối quan hệ anh em chặt
chẽ với sự hợp tác toàn diện giữa hai bên, tình bạn và tình đoàn kết không thể phá vỡ,
dựa trên các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ
nghĩa; Tin chắc rằng việc tăng cường toàn diện liên kết và hữu nghị giữa Liên bang
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vì lợi
ích cơ bản của nhân dân hai nước và tăng cường hơn nữa sự liên kết và đoàn kết của
các nước trong khối xã hội chủ nghĩa; Với các nguyên tắc và mục tiêu một chính sách
đối ngoại xã hội chủ nghĩa, mong muốn đảm bảo các điều kiện quốc tế thuận lợi nhất
để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản; Khẳng định rằng việc hỗ trợ lẫn
nhau trong việc củng cố và bảo vệ lợi ích xã hội chủ nghĩa đạt được bằng giá của
những nỗ lực anh hùng và công việc tận tụy của nhân dân, được hai bên coi là nghĩa
vụ quốc tế của hai nước… Ủng hộ mạnh mẽ liên kết tất cả các lực lượng đấu tranh vì
hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” (Bộ Ngoại giao, 1982, tr.115).
Như vậy, từ năm 1965 đến năm 1978, quan hệ Việt Nam – Liên Xô ngày càng thắt
chặt, Liên Xô viện trợ nhiều vũ khí hạng nặng cho Việt Nam đánh Mĩ cũng như giúp
đỡ Việt Nam xây dựng và kiến thiết đất nước sau ngày thống nhất (tháng 4/1975).
Nguyên nhân của mối quan hệ Việt – Xô ngày càng chặt chẽ này là do Việt Nam
đứng đầu trong ngọn cờ giải phóng dân tộc ở châu Á, tạo ra nhiều uy tín với các nước
thuộc địa và phụ thuộc. Mặt khác Đông Dương và Đông Nam Á đang trở thành một
bộ phận quan trọng trong chiến lược của Liên Xô ở châu Á – Thái Bình Dương, khi
mà Mĩ đã thất bại trong chiến tranh Việt Nam và Trung Quốc đang đẩy mạnh hoạt
động câu kết với Mĩ. Tóm lại, chiến tranh Việt – Mĩ được xem là một phần của cuộc
chiến tranh lạnh và cuộc chiến diễn ra hơn 20 năm với sự tham gia của các nước lớn
như Trung Quốc, Liên Xô và Mĩ. Cả ba nước Mĩ – Xô – Trung đều muốn có được
Việt Nam, do đó trong quan hệ quốc tế thời kì này xuất hiện các mối quan hệ chồng
chéo giữa Việt – Trung, Việt – Xô, Mĩ – Xô – Trung, trong đó nổi trội là quan hệ Xô
– Trung, chi phối hệ thống XHCN lúc bấy giờ. Chính sự mâu thuẫn giữa Liên Xô và
Trung Quốc đã gây tác động không nhỏ đến cuộc kháng chiến chống Mĩ của Việt Nam.
Sau khi nước Việt Nam thống nhất, do tác động của mối quan hê Xô – Trung mà
quan hệ Việt – Trung không được tốt đẹp như giai đoạn trước khi Trung Quốc đưa
quân ra quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, hay Trung Quốc ủng hộ lực lượng
Khơmer đỏ của Campuchia gây chiến ở biên giới Tây Nam với Việt Nam. Đó cũng
có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc
mà Trung Quốc gây ra cho Việt Nam năm 1979.
2.1.3. Thay đổi trong mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc
Việt Nam – Trung Quốc là hai nước láng giềng “núi liền núi, sông liền sông” và có
mối quan hệ lâu đời về kinh tế, văn hóa trong lịch sử. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ
XX, hai nước Việt – Trung đều bị thực dân phương Tây xâm lược, cù ng trải qua
nhiều thăng trầm trong lịch sử, các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân
Trung Quốc có tác động rất lớn đến con đường cứu nước của những người yêu nước
tại Việt Nam. Sau khi cách mạng Trung Quốc thành công (tháng 10/1949), và đến
ngày 18/01/1950, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đặt quan hệ ngoại giao với
Việt Nam. Xuyên suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mĩ của
nhân dân Việt Nam, Trung Quốc giúp đỡ về vật chất và tinh thần cho cách mạng
nước ta, tạo động lực quan trọng giúp nhân dân Việt Nam giành thắng lợi ở chiến
dịch Điện Biên Phủ năm 1954, đánh đuổi Pháp ra khỏi bờ cõi. Trong thời gian này,
quan hệ Việt – Trung về cơ bản tương đối tốt đẹp, Trung Quốc có ảnh hưởng lớn đối
với nhân dân Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ (1954-1975), Trung Quốc
vẫn tiếp tục ủng hộ Việt Nam đánh Mĩ.
Việt Nam là đồng minh thân thiết của Trung Quốc từ sau ngày cách mạng Trung
Quốc thành công. Trung Quốc giúp Việt Nam vừa là nghĩa vụ đối với đồng minh vừa
vì lợi ích chiến lược, kiềm chế ngăn chặn Mĩ, làm cho Mĩ suy yếu, bảo đảm an ninh
của Trung Quốc. Trung Quốc cũng tính toán, do vai trò quan trọng của mình, đến một
lúc nào đó, họ có thể phát huy vai trò nước lớn trong một giải pháp chính trị cho cuộc
chiến tranh. Khi giúp Việt Nam, Trung Quốc cũng tính đến vị thế của mình trong
phong trào cách mạng thế giới, đồng thời cũng muốn phá ý đồ của Liên Xô độc
quyền nắm ngọn cờ giúp Việt Nam. Mặt khác, giúp Việt Nam, Trung Quốc nhằm
chứng tỏ “vị trí tiên phong và lãnh đạo của mình trong phong trào giải phóng dân tộc
của các nước thuộc thế giới thứ ba” (Phạm Quang Minh, 2005, tr.50). Tuy nhiên, đến
năm 1965, Liên Xô quan tâm hơn đến chiến tranh Việt Nam và giúp đỡ những vũ khí
tối tân cho quân đội Việt Nam. Được cả hai nước lớn trong phe xã hội chủ nghĩa ủng
hộ là động lực và tạo thế mạnh cho Việt Nam đánh Mĩ. Nhưng lúc bấy giờ, quan hệ
giữa Liên Xô và Trung Quốc không suôn sẻ, mâu thuẫn, cạnh tranh, đối kháng lẫn
nhau và đây là vấn đề gây khó khăn trong ứng xử của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Vì
vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo các nhà ngoại giao Viêt Nam khi ti ếp xú c vớ
i hai nướ c Xô – Trung th không nên có tư tưởng “nh
ất biên đảo”, bản thân
Người cũng phải rất khôn khéo trong ứng xử với Liên Xô, Trung Quốc, để không bị
mất lòng mà vẫn tranh thủ được sự giúp đỡ của hai nước trên. Do mâu thuẫn với Liên
Xô cùng với những âm mưu tính toán riêng, Trung Quốc đã xích lại gần hơn với Mĩ,
bên cạnh đó, cò n có nhữ ng hà nh đông đ à m phá n vớ i Mĩ lơi ung Viêt Nam đ
ể truc l ơi cho m nh, như báo chí Mĩ đã nói “Trung Quốc quyết đánh Mĩ đến
người Việt Nam cuối cùng”. Sự giúp đỡ của Trung Quốc đối với Việt Nam giảm dần
từ năm 1969 và giảm mạnh vào năm 1972 (đó là năm Trung Quốc kí Hiệp ước
Thượng Hải với Mĩ), đến năm 1975 không viện trợ mới, chỉ giúp đỡ những mặt hàng
đã kí trước đó mà Trung Quốc chưa giao đủ.
Tuy giúp đỡ về quân sự và kinh tế cho Việt Nam đánh Mĩ, nhưng Trung Quốc không
muốn một Việt Nam thống nhất vì khi đó ý thức giữ gìn chủ quyền quốc gia sẽ lớn
hơn và kiên quyết hơn, nó sẽ ảnh hưởng đến các kế hoạch đặt sự ảnh hưởng và chi
phối Đông Dương của Trung Quốc sau này. Nói đúng hơn, chính quyền Bắc Kinh đã
chuẩn bị cho sự việc này từ rất lâu, khi cảm thấy mình không có khả năng lôi kéo
Việt Nam, Trung Quốc có hướng đi khác trong chính sách đối ngoại, đó là việc bình
thường hóa quan hệ ngoại giao với Mĩ. Ngoài mục đích không để Việt Nam thống
nhất lớn mạnh, các nhà cầm quyền lúc bấy giờ còn muốn giải quyết vấn đề của bản
thân họ đó là vấn đề bán đảo Đài Loan và những gì đang xảy ra đã cho họ cơ hội đó.
Chỉ trong hơn một tháng, bất chấp luật pháp và tập quán quốc tế, Trung Quốc đơn
phương tuyên bố chấm dứt toàn bộ viện trợ kinh tế, kĩ thuật cho Việt Nam, gọi về
nước tất cả chuyên gia và cán bộ kĩ thuật Trung Quốc đang công tác ở Việt Nam.
Song song với các hoạt động phá hoại về kinh tế, chính trị, những nhà lãnh đạo Trung
Quốc ráo riết tăng cường sức ép quân sự đối với nước Cộng hòa chủ nghĩa Việt Nam
từ mọi phía. Ở phía Bắc, họ đưa thêm quân ra vùng biên giới Việt – Trung, tăng
cường những vụ khiêu khích vũ trang lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam, xâm phạm chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, tạo nên tình hình thường xuyên căng thẳng
ở vùng biên giới. Nếu số vụ khiêu khích lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam của họ năm
1975 là 234 vụ, gấp rưỡi năm 1974, thì năm 1978 tăng vọt lên 2175 vụ gấp gần 10
lần. Kể từ đây quan hệ Việt – Trung đã gần như tan vỡ. Khi những người cầm quyền
Việt Nam cảm thấy bị “ phản bội” bởi nước anh em là Trung Quốc, quan hệ hai nước
lạnh dần vớ i nhiều mẫu thuẫn bất đồng xuất hiện, đỉnh cao của mâu thuẫn là chiến
tranh biên giới Việt – Trung năm 1979. Như vậy, trong suốt hơn 20 năm (19501979),
quan hệ Việt Nam – Trung Quốc có nhiều thay đổi theo chiều hướng đi xuống. Trong
kháng chiến chống Pháp (1950-1954), Trung Quốc giúp đỡ Việt Nam về vật chất,
tinh thần, cử chuyên gia quân sự sang trực tiếp cùng chiến đấu với bộ đội Việt
Nam. Những năm đầu chống Mĩ, sự giúp đỡ của nước bạn rất to lớn và ý nghĩa. Tuy
nhiên, Trung Quốc với những tính toán riêng về lợi ích quốc gia và mâu thuẫn với
Liên Xô đã làm cho quan hệ Việt – Trung không còn gắn bó và thân thiết. Mặc dù
vẫn ủng hộ Việt Nam ở những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mĩ (1969-1975)
nhưng quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đã trở nên xấu đi khi Trung Quốc mang quân
đánh chiếm hầu hết các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam, gây thiệt hại nghiêm
trọng cả người và của, dẫn đến quan hệ Việt – Trung đứng trên bờ vực thẳm. 2.1.4.
Quan hệ tam giác Mĩ – Xô – Trung trong và sau chiến tranh Việt Nam Điểm nổi bật
trong các mối quan hệ quốc tế vào những năm 60, 70 của thế kỉ XX là sự hình thành
quan hệ tam giác Mĩ – Trung – Xô, ba nước được xem là cường quốc và là trung tâm
vận động của các mối quan hệ quốc tế trong thời kì này. Đầu tiên, quan hệ tam giác
được hiểu là “Sự tương tác giữa ba chủ thể, có cùng chung một mối quan tâm, trong
một không gian và thời gian xác định” (Phạm Quang Minh, 2015, tr.25). Quá trình
hình thành quan hệ tam giác giữa ba nước xuất hiện từ năm 1965, khi Mĩ quyết định
leo thang chiến tranh ở Việt Nam và gửi quân đội trực tiếp tham gia. Trong khi đó,
Liên Xô và Trung Quốc có nghĩa vụ và trách nhiệm đồng minh xã hội chủ nghĩa giúp
Việt Nam kháng chiến; tuy Xô – Trung có mâu thuẫn ngày càng sâu sắc, nhưng đồng
thời lại có quyền lợi chung trong viêc giúp Vi ệt Nam kháng chiến chống Mĩ. Mối
quan hệ tam giác đã được chính thức bắt đầu vào năm 1972 khi Nixon tiếp tuc đ ắc
cử Tổng thống Mĩ và quyết định thực hiện chính sách ngoại giao tay ba với cả Liên
Xô và Trung Quốc. Mục đích của Nixon là tranh thủ sự mâu thuẫn bất đồng trong
mối quan hệ Trung – Xô để chia rẽ, khiến họ không viện trợ cho Việt Nam, cùng Mĩ
gây sức ép với Việt Nam để Mĩ có thể rút quân trong danh dự. Từ đây, mối quan hệ
tam giác được hình thành thông qua các cặp quan hệ Mĩ – Trung, Mĩ – Xô. Thứ nhất
về quan hệ Mĩ – Trung, tháng 02/1972, Nixon sang thăm Trung Quốc, hai bên đãra
Thông cá o chung Thương H ả i, trong đó có nội dung về việc: “Nếu Trung Quốc
muốn Hoa Kì rút quân chiến đấu ra khỏ i Đà i Loan th Trung Quốc phả i é p Hà Nôi
đi v à o mô giả i phá p thỏ a hiệp để taọ điều kiên cho M ĩ thưc hi ê viêc r ú t
quân khỏ i cuôc chi ến tranh Viêt Nam trong danh dư” (Nguyễn Thị Mai Hoa,
2013, tr.334). Xích lại với Mĩ, Trung Quốc đã phá được thế cô lập, đối trọng với Liên
Xô, giải quyết những yêu cầu cấp bách cho sự phát triển của đất nước; vừa phá thế
bao vây cấm vận của Mĩ, vừa giành lại vị trí chính đáng tại Liên Hiệp Quốc; đồng
thời đặt được khuôn khổ đầu tiên cho quan hệ lâu dài giữa hai nước, trong đó có
những nguyên tắc liên quan tới vấn đề Đài Loan. Chuyến thăm của Mĩ tới Trung
Quốc đã mở màn cho ngoại giao ba bên, tác động nhiều chiều đến quan hệ quốc tế và
quan hệ Xô – Mĩ, đặc biệt là mở ra cho Mĩ khả năng mới về chiến tranh Việt Nam.
Kissinger thừa nhận trong hồi kí của mình: “Ngoài những lợi ích của ngoại giao tay
ba, còn có nhiều lí do hứng khởi, ấy là Việt Nam. Một cuộc mở đường vào Trung
Quốc có thể cho phép chúng ta chấm dứt cuộc chiến tranh nhức nhối đó” (Kissinger,
2004, tr.580). Có thể nói, trong những năm cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80, lo
sợ sự gia tăng ảnh hưởng của Liên Xô trên toàn cầu nên Mĩ đã điều chỉnh chính sách
hòa hoãn, chủ động các bước đi nhằm bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và
công khai thể hiện chính sách liên minh với Bắc Kinh nhằm chống Liên Xô và Việt
Nam. Riêng đối với Trung Quốc, sau khi Hiệp định Paris được kí kết, việc Mĩ phải
rút khỏi Việt Nam và ảnh hưởng ngày càng lớn của Liên Xô ở Đông Nam Á làm cho
Trung Quốc lo ngại, đặc biệt là vấn đề biên giới phía Nam.
Do đó, dù có nhiều đóng góp cho Việt Nam chống Mĩ, song lại xuất phát tư tưởng bá
quyền nước lớn và những tính toán lợi ích quốc gia. Trung Quốc nhìn nhận chiến
thắng và sức mạnh của Việt Nam trong và sau chiến tranh không chỉ làm cho an ninh
biên giới phía Nam bị ảnh hưởng mà còn gây khó khăn cho việc khống chế và đặt
quyền ảnh hưởng tại khu vực Đông Nam Á của Trung Quốc, nhất là xu thế Việt Nam
càng xích gần với Liên Xô. Do đó, Trung Quốc đã thực hiện chính sách là hình thành
một liên minh ngăn chặn sự ảnh hưởng của Liên Xô, làm suy yếu và trừng phạt Việt
Nam, từ khi “nhân dân Việt Nam giành được toàn thắng, họ ngày càng công khai và
điên cuồng thực hành chính sách thù địch toàn diện và có hệ thống chống nhà nước
xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Bộ Ngoại giao, 1979, tr.77).
Không chỉ là những nước anh em trong hệ thống xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam –
Trung Quốc còn là láng giềng của nhau. Trung Quốc ủng hộ Việt Nam đánh Mĩ là tạo
thành vùng đệm an toàn bảo vệ lãnh thổ phía Nam của Trung Quốc. Thế nhưng, vì
những tính toán cá nhân, thể hiện vai trò của nước lớn muốn khống chế khu vực
Đông Nam Á, cuối những năm 70, Trung Quốc tìm cách làm suy yếu và hạn chế sức
mạnh của Việt Nam, như: ngăn chặn mối liên kết giữa Đông Dương với Liên Xô
(không cho hàng viện trợ của Liên Xô đến Việt Nam đi qua lãnh thổ Trung Quốc,
không đồng ý lập cầu hàng không vận chuyển vũ khí của Liên Xô sang Việt Nam bay
qua bầu trời Trung Quốc), rút bớt và cắt viện trợ hoàn toàn cho Việt Nam vào năm
1977, cuối cùng là hành động gây rối biên giới Việt – Trung và xâm lươc Vi êt Nam
vào năm 1979. Về quan hệ Mĩ – Xô, quan hệ Việt Nam – Liên Xô từ năm 1965 khi
Brêgiơnhép lên cầm quyền ở Liên Xô đã có sự thay đổi rõ rệt theo chiều hướng tích
cực. Trong lúc Mĩ sa lầy ở chiến tranh Việt Nam, thì Liên Xô đã tranh thủ tập trung
xây dựng và tạo thế cân bằng với Mĩ về chiến lược. Liên Xô đặt ra nhiệm vụ giúp
Việt Nam đánh Mĩ để qua đó kiềm chế Mĩ, góp phần làm cho Mĩ suy yếu, tạo điều
kiện cho Liên Xô vươn lên cân bằng với Mĩ. Liên Xô giúp Việt Nam vì lợi ích chiến
lược đồng thời cũng là một nghĩa vụ đối với đồng minh xã hội chủ nghĩa. Giúp Việt
Nam, vị trí của Liên Xô trong phong trào cách mạng thế giới được nâng lên và cũng
để bác bỏ mưu toan của Trung Quốc dùng vấn đề giúp Việt Nam để hạ bệ Liên Xô.
Liên Xô “Mong muốn thông qua cuộc chiến tranh này thực hiện những mục đích đối
ngoại có tính toàn cầu, chiến lược của mình” (Phạm Quang Minh, 2005, tr.51). Trong
tình huống “Mĩ chơi con bài Trung Quốc” và Trung – Mĩ bắt tay nhau, lợi ích của
Liên Xô là tranh thủ khó khăn của Mĩ ở Việt Nam, tranh thủ những nhân nhượng của
Mĩ trên vấn đề châu Âu và quan hệ tay đôi, kể cả quan hệ kinh tế – thương mại, khoa
học – kĩ thuật, để kiềm chế Trung Quốc, bằng mọi cách phá ý đồ của Trung Quốc xác
lập thế hòa hoãn tay ba, khẳng định vai trò tay đôi Xô – Mĩ trong việc giải quyết các
cuộc việc thế giới mà trước mắt là vấn đề Việt Nam. Liên Xô thừa nhận: “Đây là một
thành tích lớn trong hoạt động riêng của Nixon – Kissinger. Không những thế, nó còn
mở màn cho “ngoại giao ba bên” (Mĩ – Liên Xô – Trung Quốc), chứ không còn ngoại
giao song phương như trước…” (Anatôli Đôbrưnhin, 2001, tr.403).
Nhằm thực hiện hóa những yêu cầu chiến lược quan trọng nêu trên, Liên Xô tăng
cường các hoạt động trung gian. Tháng 4/1972, Liên Xô gợi ý Việt Nam gây sức ép
“buộc Mĩ phải rút hết trước bầu cử Tổng thống Mĩ, còn các vấn đề chính trị, tiếp tục
đấu tranh đòi giải quyết theo lập trường của ta” (Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, 1985,
tr.40). Nhưng thực tế, Liên Xô đang muốn xích lại gần hơn với Mĩ, nhằm khẳng định
vị thế của mình trên trường quốc tế, đồng thời muốn có lợi thế trong giải quyết mâu thuẫn Xô – Trung.
Khi Mĩ khởi động lại quan hệ với Liên Xô (giữa năm 1972), Liên Xô đã kịp thời nắm
lấy cơ hội một cách tích cực. Mục tiêu chiến lược của Liên Xô là ngăn chặn ảnh
hưởng của Trung Quốc ở Đông Nam Á, đẩy mạnh vị thế của mình ở Thái Bình
Dương. Việc Mĩ rút quân khỏi Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung đã làm
giảm uy tín của Mĩ trên trường quốc tế, nhưng lại góp phần giúp Liên Xô đạt được
mục tiêu. Mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt – Xô kéo dài suốt thập niên 70 cũng là một
trong những nguyên nhân góp phần thúc đẩy Mĩ – Trung xích lại gần nhau trong các
vấn đề quốc tế và khu vực. Đó cũng có thể là một trong những nguyên nhân sâu xa
dẫn đến cuộc chiến tranh Việt – Trung năm 1979. Tóm lại, nguyên nhân sâu xa của
cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc Việt Nam do nhiều nhân tố tác động và diễn ra
lâu dài, một trong những yếu tố rõ nhất chính là mâu thuẫn về quyền lợi của các nước
lớn, tiêu biểu là Mĩ – Xô – Trung trong vấn đề Đông Dương. Cả ba nước trên đều
muốn đặt vị trí ảnh hưởng của mình trên bán đảo Đông Dương, do đó việc ủng hộ
Việt Nam đánh Mĩ của Liên Xô và Trung Quốc là nhằm phục vụ cho những mưu đồ
riêng của mình. Trong quá trình giúp đỡ Việt Nam, sự toan tính của họ đã làm cho
những mâu thuẫn vốn có từ trước càng trở nên sâu sắc. Việt Nam vẫn duy trì đường
lối độc lập, tự chủ, tiếp nhận sự giúp đỡ nhưng không phụ thuộc, điều này làm cho
Trung Quốc không hài lòng. Sau năm 1975, quan hệ Việt – Xô nâng lên tầm cao mới
khi hai nước kí kết các hoạt động tương trợ lẫn nhau về kinh tế, quân sự, cũng là lúc
Trung Quốc có những hành động trở mặt gây khó khăn cho Việt Nam trong công
cuộc tái thiết đất nước.
2.2. Nguyên nhân trực tiếp của chiến tranh biên giới phía Bắc
Chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra do những nguyên nhân trực tiếp sau đây: i) Do
sự bành trướng trắng trợn của Trung Quốc đối với Việt Nam (Ngày 19-20/1/1974, lợi
dụng quân đội Việt Nam Cộng hòa yếu thế, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực để chiếm
một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Hành động này gây nên sự bất
bình với thế giới cũng như nhân dân Việt Nam, đây có thể xem là sự xâm lược trắng
trợn trên lãnh thổ Việt Nam); và ii) Nhân tố Campuchia trong mối quan hệ Việt Nam
– Trung Quốc những năm cuối thập niên 70 của thế kỉ XX. Ba nước Đông Dương
(Việt Nam – Lào – Campuchia) cùng trải qua lịch sử chống thực dân xâm lược và có
chung kẻ thù. Trong chiến tranh chống Mĩ, nhân dân ba nước anh em cùng kề vai sát
cánh hỗ trợ lẫn nhau, cảng Sihanoukville của Campuchia từng là nơi đảm nhận vận
chuyển vũ khí của các nước XHCN cho Việt Nam chống Mĩ. Nhằm nâng vị thế của
mình ở Đông Nam Á, ngay từ giữa những năm 60 của thế kỉ XX, các nhà lãnh đạo
Trung Quốc đã có kế hoạch nắm trọn Campuchia để phục vụ mục đích tạo vùng ảnh
hưởng của mình tại khu vực này.
Do đó, những năm 1975-1978, Trung Quốc đã viện trợ kinh tế, vũ khí và chuyên gia
quân sự cho Campuchia. Trong hai năm 1975-1976, khi những cuộc đụng độ quân sự
giữa Việt Nam và Campuchia bắt đầu diễn ra, Trung Quốc vẫn cố gắng làm trung
gian hòa giải vì họ muốn giữ mối quan hệ và duy trì ảnh hưởng của mình tại Việt
Nam, nhằm lôi kéo Việt Nam đứng về phía Trung Quốc chống lại Liên Xô. Nhưng
đầu năm 1977, khi quan hệ Việt Nam và Campuchia trở nên gay gắt, đi đến cắt đứt
quan hệ thì quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trở nên phức tạp hơn. Trung Quốc luôn
coi Campuchia là một mắt xích quan trọng để tạo ảnh hưởng của mình tại Đông Nam
Á. Việc lôi kéo Việt Nam tách khỏi Liên Xô và đứng về phía Trung Quốc đã không
thành công. Do Việt Nam vẫn giữ đường lối độc lập, tự chủ, quan hệ thân thiết với
Liên Xô, nên Trung Quốc tiến đến công khai chống Việt Nam. Các văn kiện của
Trung Quốc từ năm 1977 luôn tuyên truyền: “Việt Nam là tay sai của Liên Xô, có
tham vọng xâm lược Campuchia, Lào, chiếm Đông Nam Á, thực hiện bá quyền khu
vực, phải đánh cho bọn xét lại Việt Nam, không đánh là không thể được và phải đánh
lớn” (Nguyễn Thị Mai Hoa, 2014).
Tháng 01/1978, trong chuyến thăm chính thức Thái Lan, Malaysia, Singapore nhằm
dò xét và tìm sự hậu thuẫn, Đặng Tiểu Bình tuyên bố sẽ tấn công Việt Nam nếu nước
này tiến vào Campuchia. Trong khi chế độ Pol Pot gây rối biên giới Tây Nam của
Việt Nam, Trung Quốc cũng công khai chống Việt Nam và cố gắng tranh thủ sự đồng
tình của Mĩ cũng như các nước trong khu vực đứng về phía Trung Quốc. Ngày
28/01/1979, Đặng Tiểu Bình đi thăm Mĩ nhằm tranh thủ sự ủng hộ của Mĩ trong hành
động gây chiến tranh để “dạy cho Việt Nam một bài học thích đáng” (Lưu Văn Lợi,
1996, tr.122). Tháng 01/1979, khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia lật đổ chế độ
Pol Pot, Trung Quốc đã kịch liệt phản đối, tố cáo Việt Nam vào chiếm Phnom Penh,
kêu gọi nhân dân Campuchia chiến đấu lâu dài và hứa sẽ tiếp tục ủng hộ vật chất và
tinh thần cho nước này. Hành động này của Trung Quốc làm cho mối quan hệ Việt –
Trung ngày càng đi xuống và dễ dàng dẫn đến xung đột vũ trang nếu các bên không kiềm chế được. II. Hậu quả:
Hoàn Cầu Thời báo bản điện tử ngày 2/3/2015 dẫn nguồn Trung Quốc
viết rằng: “Trong cuộc phản kích tự vệ này, quân ta đã chiếm được
Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn, Lai Châu, Quảng Ninh, Hà
Tuyên và 21 huyện, thị trấn khác nhau của Việt Nam; tiêu diệt 4 sư
đoàn, 7 trung đoàn, 25 tiểu đoàn của Việt Nam. Tổng số binh lính Việt
Nam bị tiêu diệt là hơn 50.000 người; 2.173 lính đầu hàng; thu giữ
916 khẩu pháo các loại; 16.000 súng, hỏa tiễn; 236 xe ô tô. Quân ta
cũng phá hủy nhiều pháo, xe tăng, xe thiết giáp, thu được thắng lợi
huy hoàng”. Hà Nội cho rằng chỉ có dân quân và các lực lượng địa
phương đã tham gia vào cuộc xung đột, và không áp dụng một chiến
thuật phòng thủ nào nhưng đã tấn công liên tục, gây thương vong và
thiệt hại nặng nề cho đối phương. Theo VNExpress ngày 17/2/2015,
các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn
toàn, hàng chục nghìn người thiệt mạng trong đó có nhiều phụ nữ và
trẻ nhỏ; 400.000 gia súc bị giết và bị cướp; hàng chục nghìn ha hoa
màu bị tàn phá. Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân các tỉnh biên
giới phía Bắc bị mất nhà cửa, tài sản. Hầu hết các thị xã, thị trấn mà
Trung Quốc chiếm được đều bị phá hủy một cách có hệ thống. Tại thị
xã Cao Bằng, quân Trung Quốc dùng thuốc nổ phá sập bất cứ công
trình gì từ công sở đến bưu điện, từ bệnh viện đến trường học, từ chợ
đến cầu. Tại thị xã Cam Đường trên bờ sông Hồng, cách biên giới
khoảng 10km, ngoài việc phá hủy thị xã, quân Trung Quốc còn cho
đốt cả mỏ apatit. Những hoạt động này một phần nằm trong các phá
hoại có kế hoạch và tổ chức với mục đích đánh vào nền kinh tế Việt
Nam, một phần do binh lính Trung Quốc sang Việt Nam bị sốc vì sự
khốc liệt, sức kháng cự của quân đội Việt Nam cũng như sự bất hợp
tác, xa lánh, chống đối của dân bản xứ. Giáo sư sử học Edward C.
O’dowd tổng kết “người Việt Nam rất yêu nước, thấm nhuần tư tưởng
chính trị, giỏi chịu đựng, không dễ bị lung lạc,…”.
Theo tướng Ngũ Tu Quyền, Phó Tổng tư lệnh Quân Giải phóng Nhân
dân Trung Quốc, Trung Quốc có hơn 2 vạn chiến binh tử trận trên
chiến trường Bắc Việt Nam. Theo nhà sử học Gilles Férier thì có
khoảng 25.000 lính Trung Quốc thiệt mạng và gần 500 xe bọc thép
hoặc pháo bị phá hủy.. Russell D. Howard thì cho rằng quân Trung
Quốc thương vong 6 vạn người, trong đó số chết là 26.000. Sử gia Mỹ
gốc Hoa King C. Chen nói phía Trung Quốc có 26.000 quân bị chết và
37.000 người bị thương. Trương Hiểu Minh sử dụng con số này. Phía
Việt Nam có 30.000 binh sĩ bị chết và 32.000 người bị thương; Phía
Trung Quốc đã trao trả 1.638 tù binh Việt Nam đổi lấy 260 tù binh
Trung Quốc. Tạp chí Time của Mỹ lại đưa ra con số khá khác biệt: ít
nhất 20.000 lính Trung Quốc thiệt mạng, trong khi số bộ đội Việt Nam chết chưa tới 10.000.
Gần đây, phía Trung Quốc đưa ra số liệu khác, giảm tổn thất, cho
rằng chỉ có 6.900 lính chết và 15.000 bị thương, tổng số thương vong
là 21.000 trong tổng số lực lượng tham gia chiến hơn 300.000 tức
chưa tới 1% (0.7%). Tạp chí Quân đội Nhân dân và Tạp chí Cộng sản
của Việt Nam số tháng 4 năm 1979 cho biết Việt Nam đã tiêu diệt và
đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn, bắn cháy và phá hủy
280 xe tăng và xe bọc thép, 279 xe vận tải, phá hủy 115 khẩu pháo
và cối hạng nặng, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự, bắt nhiều tù
binh” Con số ước lượng của Việt Nam về tổng thiệt hại và thương vong
của quân Trung Quốc là 62.500 người trên tổng số 600.000 quân
tham chiến (chiếm 1.04%). Đã có cả một đại đội sơn cước Trung Quốc
gồm cả phó chỉnh ủy trung đoàn đi cùng ra đầu hàng.