ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*****-*****
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài: Nghệ thuật chỉ đạo quân sự của Đảng ta trong chiến dịch Điện Biên
Phủ năm 1954.
Lớp: K65 QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
Họ và tên: VI THỊ HỒNG THẮM
MSSV: 20031639
Giảng viên:TS. NGUYỄN THỊ LIÊN
Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2021
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Nguyễn Thị Liên
đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian
học tập vừa qua. Trong thời gian tham gia lớp học Lịch sử Đảng cộng sản
Việt Nam của cô, em đã thêm cho mình những kiến thức bổ ích, những
hiểu biết bản về quá trình Đảng lãnh đạo nhân dân kháng chiến, hoàn
thành giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Từ những kiến thức nghiên
cứu về lịch sử mà giờ đây em đã có phương pháp luận đúng đắn, có khả năng
nhận thức hoạt động thực tiễn. Thông qua bài tiểu luận này, em xin phép
được trình bày lại những mình hiểu được về lịch sử Đảng cộng sản
Việt Nam.
Kiến thức là vô cùng rộng lớn mà sự tiếp nhận của bản thân mỗi người lại
giới hạn nhất định. Do đó, trong quá trình hoàn thành bài tiểu luận chắc
chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Bản thân em rất mong thể
nhận được sự góp ý đến từ để bài tiểu luận của em thể được hoàn thiện
hơn nữa.
Em xin kính chúc thật nhiều sức khỏe , hạnh phúc thành công
trong cuộc sống cũng như trên con đường sự nghiệp của mình.
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài.......................................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu đề tài......................................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu...............................................................................................................2
4. Phạm vi nghiên cứu..................................................................................................................2
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................................2
6. Kết cấu của đề tài.....................................................................................................................2
PHẦN NỘI DUNG...............................................................................................................................3
CHƯƠNG 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ TRƯỚC CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954.....3
1.1. Tình hình trong nước.......................................................................................................3
1.2. Điện Biên Phủ được chọn làm tập đoàn cứ điểm then chốt...........................................3
1.3. Thuận lợi và khó khăn của quân ta.................................................................................5
CHƯƠNG 2. NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG TA TRONG CHIẾN DỊCH
ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954...........................................................................................................6
2.1. Phương châm tác chiến....................................................................................................6
2.2. Xây dựng thế trận chia cắt, cô lập Điện Biên Phủ..........................................................7
2.3. Phát huy sức mạnh tác chiến...........................................................................................9
2.4. Nghệ thuật tạo lập thế trận chiến tranh nhân dân.......................................................10
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VẬN DỤNG VÀO TÌNH
HÌNH MỚI......................................................................................................................................11
3.1. Kết quả, ý nghĩa..............................................................................................................11
3.2. Bài học kinh nghiệm vận dụng vào tình hình mới........................................................12
KẾT LUẬN.........................................................................................................................................14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nhân dân Việt Nam luôn tự hào với trang sử vẻ vang của dân tộc mình.
Từ ngàn đời xưa, chúng ta tự hào dòng máu Lạc Hồng, con rồng cháu
tiên. Chúng ta đã phải vượt qua bao khó khăn thử thách để dựng nước
giữ nước. Thời cuộc luôn xoay vòng, hòa bình - chiến tranh - hòa bình,
nước ta phải gánh chịu ách đô hộ tàn ác, nặng nề của giặc Tây, giặc Tàu
trong khoảng thời gian dài đằng đẵng hàng ngàn năm, nhưng con người
Việt Nam chúng ta không bao giờ chịu cúi đầu, khuất phục, chấp nhận
mất nước. Bao đời cha ông ta đã anh dũng, kiên cường chống trả, bất
khuất hi sinh để mang về những chiến công hiển hách, dựng nên trang sử
vàng để lại niềm tự hào cho con cháu ngàn đời sau. Trải qua những trận
đánh gian khổ trường kì, giành lấy chiến thắng oai hùng, chúng ta mới
đánh thắng thực dân Pháp trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm
1954. Biết bao trận chiến vang dội nhưng hản không ai trong chúng ta
không biết đến chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy năm châu
trấn động địa cầu, một chiến thắng làm thay cách nhìn của thế giới đối với
Việt Nam tuy nhỏ nhưng lại không “nhỏ” này. thế hệ trẻ, được sinh ra
khi đất nước đã hòa bình, đang trên tiến trình phát triểnhội nhập, được
hưởng những điều kiện sống tốt đẹp hơn những thế hệ cha anh đi trước,
những người sinh ra trong thời cuộc loạn lạc, chiến tranh triền miên, cuộc
sống gian lao, khó nhọc, nạn đói, mù chữ… thường xuyên đối diện với cái
chết bom đạn. Nghĩ lại thấy mình thật may mắn, những sinh viên khi
tiếp xúc với môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng em lại càng
hứng thú, muốn biết những sự hi sinh cũng như những điều làm nên
chiến thắng quang vinh cho hôm nay hòa bình của cha ông, tầng lớp trẻ
chúng em bắt đầu nghiên cứu đi sâu vào các trận chiến, để hiểu sử ta như
2
Bác Hồ đã dạy: “Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt
Nam”. nghệ thuật chỉ đạo quân sự của Đảng ta trong chiến dịch Điện
Biên Phủ đề tài nghiên cứu em đã chọn phục vụ nhu cầu mở rộng
kiến thức và để hoàn thành môn Lich sử Đảng Cộng sản.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích khi chọn nghiên cứu đề tài này là nhằm chỉ rõ nghệ thuật chỉ
đạo quân sự rất độc đáo, linh hoạt của Đảng ta, và từ đó thì đưa ra những
bài học kinh nhiệm có thể vận dụng vào tình hình đất nước hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đó là nghệ thuật chỉ đạo quân sự của Đảng ta trong
chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954.
4. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: đề tài nghiên cứu nghệ thuật chỉ đạo quân sự của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong bài tiểu luận này em sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu.
6. Kết cấu của đề tài
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ TRƯỚC CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN
PHỦ NĂM 1954.
CHƯƠNG 2. NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG TA
TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG VÀO TÌNH HÌNH MỚI.
3
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ TRƯỚC CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN
PHỦ NĂM 1954.
1.1. Tình hình trong nước
Từ tháng 11-1953 đến tháng 2- 1954, bộ đội ta liên tục mở các cuộc tiến
công Tây Bắc, Trung Lào, Bắc Tây Nguyên, Thượng Lào các chiến
trường phối hợp khác. Chiến thắng đó đã làm cho kế hoạch Na-va của địch
đứng trước nguy cơ bị phá sản.
Đã giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, vùng giải
phóng đã mở rộng, hậu phương đã lớn mạnh, quân đội ta đã trưởng thành, có
đủ tinh thần và lực lượng đảm bảo cho việc giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ.
Đầu tháng 12-1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở chiến dịch Điện
Biên Phủ, nhằm tiêu diệt lực ợng địch đây, giải phóng Tây Bắc tạo điều
kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao để kết thúc chiến tranh.
Ta đã huy động đại bộ phận lực lượng chủ lực tham gia chiến dịch gồm 4 đại
đoàn bộ binh ( 308, 312, 316, 304), một đại đoàn pháo binh, nhiều tiểu đoàn
công binh, thông tin, vận tải, quân y,…thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận
Trung ương các cấp để đảm bảo chi viện cho tiền tuyến, trong một thời
gian ngắn khoảng 55 nghìn quân, hàng chục tấn khí, đạn ợc, 27
nghìn tấn gạo… được đưa ra mặt trận. Như vậy, Điện Biên Phủ trở thành
điểm quyết chiến chiến lược của quân dân Việt Nam.
4
1.2. Điện Biên Phủ được chọn làm tập đoàn cứ điểm then chốt
1.2.1. Đặc điểm vị trí, địa hình.
Vị trí: Điện Biên Phủ nay thuộc tỉnh Điện Biên, trước đây thuộc tỉnh Lai
Châu, một vị trí chiến lược quan trọng Tây Bắc Việt Nam cả Đông
Dương. Nơi đây cũng một vùng kinh tế trù phú, rừng núi bao la điệp
trùng đan xen những thung lũng màu mỡ. Điện Biên Phủ nằm gần bien
giới Việt Lào, trên một ngã ba của nhiều tuyến đường quan trọng và
sân bay Mường Thanh được xây từ năm 1889. Thung lũng này rất xa
trung tâm Hà Nội, các biên giới với Lào vài giờ đi xe.
Địa hình: tương đối hiểm trở, núi cao bao quanh với các rừng cây rất
nhiều bình địa trống xen với các quả đồi cao vài chục đến vài trăm mét.
1.2.2. Ý nghĩa chiến lược của căn cứ địa Điện Biên Phủ
Điện Biên Phủ cứ điểm ý nghĩa chiến ợc khống chế cả một vùng
rộng lớn của Tây Bắc và Thượng Lào.
Việc chiếm Điện Biên Phủ chấp nhận một trận quyết chiến chiến lược
với chủ lực của Việt Minh đây, như Na-va thừa nhận một lối thoát
xấu nhưng thể chấp nhận được. Dẫu sao cũng hơn Sản, Lai
Châu và Luang Prabang. Chính trị là biết để lựa chọn giữa những điều bất
lợi. Trong chiến lược quân sự, thường cũng phải làm thế.”
Theo đánh giá của Na-va nhiều nhà quân sự Pháp thì Điện Biên Phủ
“một vị trí chiến lược quan trọng chẳng những đối với chiến trường Đông
Dương còn đối với miền Đông Nam Á- một trục giao thông nối liền
các miền biên giới Lào, Thái Lan, Myanmar và Trung Quốc.”
Sau khi cân nhắc những lợi thế và thiệt hơn với quân đối phương, hi vọng
đây sẽ là đòn chí tử dập tắt mọi âm mưu chống đối của Việt Minh.
5
1.3. Thuận lợi và khó khăn của quân ta.
1.3.1. Thuận lợi
Toàn quan toàn dân ta một lòng chung sức đánh giặc, nhất lúc này,
Pháp đang sa lầy ở Đông Dương và quân ta vừamột loạt chiến thắng
các chiến dịch 1952-1953 đã giải phóng vùng rất rộng phía Bắc Tây
Bắc.
Nhân dân yêu nước Pháp vẫn đấu tranh cho sự hòa bình Pháp
Raymonde Dien – tấm ương tiêu biểu.
Chỉ thị của Đảng Bác rất kiên quyết nhạy bén, tư duy quân sự của
Đại Tướn Võ Nguyên Giáp am hiểu cục diện sâu sắc.
1.3.2. Khó khăn
Khó khăn về tương quan lực lượng giữa ta và địch:
Quân Pháp nhiều ưu thế vượt trội hơn về khí tài quân sự, phương tiện
chiến đấu lực lượng quân sự tinh nhuệ nhiều kinh nghiệm chiến
đấu. Trong khi đó, lực lượng Việt Minh còn thô sơ, phương tiện hạn chế
yếu kém, quân đội nhân dân Việt Nam tuy quân số đông hơn nhưng
chưa kinh nghiệm đánh công kiên lớn trên cấp tiểu đoàn. Nếu đánh
mạo hiểm sẽ để lại hậu quả cùng nghiêm trọng, thể thua trên toàn
bộ cục diện và “ hết vốn” – theo cách nói của Bác.
Cụ thể: Thực dân Pháp 16 tiểu đoàn, 7 đại đội bộ binh, 10 trung đoàn
bộ binh, 1 đại pháo binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội máy bay , quân số
lúc cao nhất lên đến 16200 người,… . Quân đội Việt Nam 10 trung
đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công binh và pháo binh, quân số 55000, sau tăng
viện thêm khoảng 4000 người…
Khó khăn về địa hình : đường hành quân hiểm trở, liên tục bị quân địch
quấy rối lùng sục, tình thế vận tải rất khó khăn. Địa hình Điện Biên Phủ
6
thế lòng chảo lợi cho ta nhưng với rất nhiều hỏa lực, cốt địch dày
đặc rất khó tấn công, phục kích và ta có thể bị đánh bật bất cứ lúc nào.
CHƯƠNG 2. NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG TA
TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954.
Dân tộc ta vốn truyền thống đoàn kết chiến đấu chống giặc ngoại xâm
và đã sáng tạo ra một nghệ thuật quân sự của toàn dân đánh giặc rất phong
phú và độc đáo. Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, nghệ thuật, cách
đánh chiến dịch của quân đội ta đã có bước phát triển vượt bậc, được nâng
lên thành nghệ thuật quân sự độc đáo trước giờ chưa từng trong
lịch sử chống giặc ngoại xâm của quân và dân ta.
2.1. Phương châm tác chiến.
Ngày mồng một tháng Giêng năm 1954, Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên
Phủ được thành lập. Trước ngày lên đường ra Mặt trận, Chỉ huy trưởng
kiêm thư Đảng ủy Mặt trận - Nguyên Giáp đã đến Khuổi Tát chào
Bác Hồ. Người đã căn dặn Đại tướng: “Tổng lệnh ra mặt trận. Tướng
quân tại ngoại. Trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này quan trọng,
phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không
đánh”. Chiến tranh Điện Biên Phủ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đại
tướng Nguyên Giáp đã linh hoạt, sáng tạo kịp thời chuyển từ
phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh” sang đánh chắc, thắng chắc”
phù hợp với thực tế trên chiến trường.
Ban đầu, mọi công tác chuẩn bị cho chiến dịch diễn ra theo phương án với
cách đánh nhanh chóng, ngày 14/1/1954 tại hang Thẩm Púa, Bộ chỉ huy
chiến dịch đã phổ biến lệnh tác chiến mật với phương án đánh nhanh,
thắng nhanh”, chủ trương đánh địch trong 3 ngày 2 đêm nhằm hạn chế
những khó khăn về mặt hậu phương. Tuy nhiên, tình hình tại mặt trận
Điện Biên Phủ diễn biến rất nhanh từng ngày. Tập đoàn cứ điểm Điện
7
Biên Phủ không còn trạng thái phòng ngự lâm thời nữa. Nếu đánh theo
phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” thì khó mà bảo đảm “chắc
thắng”. Chính vậy sau khi bàn bạc, trao đổi cùng trưởng đoàn cố
vấn Vi Quốc Thanh, với tinh thần trách nhiệm trước Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Bộ Chính trị, trước sinh mệnh của hàng vạn cán bộ, chiến sỹ, Đại
tướng Nguyên Giáp đã đề xuất Đảng ủy, BCH chiến dịch thay đổi
phương châm, từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến
chắc”. Quyết định đó được coi “chìa khóa” để mở cánh cửa Tập đoàn
cứ điểm Điện Biên Phủ. Việc thay đổi phương châm tác chiến đã thể hiện
sự phân tích khoa học, khách quan tình hình địch, ta yếu tố địa hình.
Điều này đã giúp ta tránh được tổn thất về người điều quan trọng hơn
là đảm bảo sự thắng lợi của chiến dịch.
2.2. Xây dựng thế trận chia cắt, cô lập Điện Biên Phủ.
Chiến dịch Điện Biên Phủ - đỉnh cao của Chiến cuộc Đông Xuân 1953 -
1954, đánh dấu sự phát triển cao nhất của nghệ thuật quân sự Việt Nam
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; trong đó, xây
dựng thế trận chia cắt, lập Điện Biên Phủ là một nghệ thuật độc đáo
sáng tạo của Đảng ta. Trong cuộc chiến đó, cả nhân dân ta đã huy động
mọi nguồn lực cao nhất dồn về chiến tuyến. Thực hiện chủ trương đánh
thu hút lực lượng pháp tại khắp các chiến trường Đông Dương , để tạo
điều kiện thuận lợi cho trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ
góp phần nghi binh, phân tán lực lượng địch trên chiến trường Đông
Dương, đồng thời với việc thay đổi chiến thuật, hàng loạt công sự đã xây
dựng trước đó cần phải phan bố lại, Bộ Tư lệnh mặt trận quyết định “ kéo
pháo ra”. Để che mắt cho công việc này, ngày 26/1/1954, Bộ lệnh
đã ra lệnh cho Đại đoàn 308 tiến quân rầm rộ sang Thượng Lào với mục
đích thu hút sự chú ý của địch về hướng đó đồng thời tiêu diệt giải
phóng Thượng Lào. Bị động trước cuộc hành quân thần tốc này của Đại
đoàn 308, tướng Na-va đã lập một cầu hàng không cứu nguy cho Thượng
8
Lào. Sau đợt tiến công nhanh chóng này bộ đội ta cùng quân Pathet Lào
đã tiêu diệt gần 17 đại đội địch, giải phóng toàn bộ lưu vực sông Nậm Hu,
lập Điện Biên Phủ phía Thượng Lào sang. Trung Lào Hạ Lào
từ cuối tháng 11/1953 các cánh quân của quân đội nhân dân Việt Nam đã
len đường tiến về đây. Nhận thấy sự mặt của các trung đoàn quân ta
đây, Na-va đã nhanh chóng bổ sung quân số tại đây bằng lực lượng
Đồng bằng Bắc Bộ, Tây Bắc Trung Lào. Đến cuối tháng 12/1953 quân
Pháp đã tập trung quân số lên đến 26 tiểu đoàn, biến đây trở thành nơi tập
trung quân lớn thứ ba của Pháp sau đồng bằng Bắc Bộ Điện Biên Phủ.
Sau nhiều đợt tấn công,quân Pháp Đông Dương đã bị thiệt hại nặng nề
về cả số lượng tinh thần. Tháng 2/1954 quân ta tiếp tục nổ súng tiến
công Bắc Tây Nguyên, đây vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất
Đông Dương được Pháp cho hậu phương an toàn. Liên Khu V
địch cũng hoạt động mạnh. Ta nhận định, đánh Tây Nguyên mở rộng
vùng tự do Liên Khu V về phía tây sẽ củng cố thêm sức mạnh của ta
đây đồng thời thu hút được một lượng lớn quan Pháp để bảo vệ vùng này.
Đứng trước tình thế nguy hiểm của Tây Nguyên, Na-va buộc phải chia
quân tại Liên Khu V lên tăng cường cho Play Ku. đồng bằng sông
Hồng, với lực lượng tập trung đông đảo (lúc cao nhất lên đến 44 tiểu
đoàn) , pháp chủ động mở các cuộc tiến công ta với chủ đích đánh gục đại
đoàn 320 của quân đội nhân dân Việt Nam đang hoạt động đây. Nhưng
sau nhiều cuộc hành quân nhưng không đạt được mục đích chúng phải rút
lui. Ngay sau đó, vào tháng 1 năm 1954, Đại đoàn 320 đã triển khai tiến
công Pháp, thọc sâu vào đồng bằng Bắc Bộ. Trong thời gian này con
đường huyết mạch nối liền Nội Hải Phòng nhiều lần bị liệt. Ngày
4-3-1954, bộ đội ta mật đột nhập sân bay Gia Lâm phá hủy 12 máy bay
kho xăng, ngày 6-3-1954, đột nhập sân bay Cát Bi phá hủy 10 máy
bay.Với kế hoạch này ta đã đạt được cả hai mục đích là vừa nghi binh thu
hút sự chú ý của thực dân Pháp vừa bảo đảm cho bộ đội Điện Biên
Phủ rút ra khu tập kết an toàn. Đây thể coi một thành công lớn của
9
ta.
2.3. Phát huy sức mạnh tác chiến
So sánh lực lượng giữa ta địch thì ta nhiều lợi thế bộ binh nhưng
pháp lại có những đơn vị vô cùng thiện chiến đã từng tham gia chiến tranh
thế giới chưa từng thua một trận đánh nào. Trong tính toán chiến lược
của ta, bộ đội chính quy ngày càng lớn mạnh cả về chất lượng và số lượng
được điều động tối đa lên Điện Biên Phủ nhưng vẫn đảm bảo chốt giữ tại
những vị trí quan trọng. Bốn đoàn bộ binh, 1 doàn pháo binh hành
quân ra trận. Đây trận công kiên lớn nhất, lần đầu ta phối hợp đánh
hiệp đồng các binh chủng bộ binh pháo binh. Về pháo binh, Pháp hơn
hẳn ta khi có những khẩu pháo hạng nặng như 155mm, có thể oanh tạc xa
gây những thiệt hại nghiêm trọng nếu trúng mục tiêu. Hơn nữa đó
Pháp còn có ưu thế về xe tăng, máy bay (máy bay vận chuyểnmáy bay
chiến đấu) nhiều khí quân sự tối tân khác. Cùng với việc Điện Biên
Phủ được xây dựng hệ thống công sự chìm, hầm ngầm dầy đặc, sức
phòng ngự, đề kháng rất kiên cố theo kiểu hiện đại; được trang bị nhiều
loại khí, phương tiện chiến tranh tiên tiến nhất lúc bấy giờ, gồm pháo
binh, máy bay, xe tăng, xe giới,. Điện Biên Phủ trở thành một “pháo
đài khổng lồ không thể công phá”, được giới quân sự, chính trị Pháp-Mỹ
đánh giá là một “con nhím khổng lồ giữa núi rừng Tây Bắc”, “một cỗ máy
để nghiền Việt Minh”... . đây tập trung 16.200 quân gồm 21 tiểu đoàn
trong đó 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công
binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải giới.
Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được bố trí thành 3 phân khu Bắc,
Trung, Nam với 49 cứ điểm, huy động toàn bộ lính 40% lực lượng
động tinh nhuệ nhất của Pháp Đông Dương; hai sân bay Mường
Thanh và Hồng Cúm mỗi ngày có thể vận chuyển khoảng 200 đến 300 tấn
hàng thả từ 100 đến 150 quân, đảm bảo nguồn tiếp viện trong quá
10
trình tác chiến. Khi nghiên cứu cách bố trí lực lượng địch tại Điện Biên
Phủ cũng như những hạn chế của nó, quân đội nhân dân ta đã đề ra cách
đánh là thực hiện chia cắt tập trung hỏa lực vào tiêu diệt từng cứ điểm
một, đồng thời tiến hành tiến công cùng lúc nhiều mục tiêu khác nhau để
địch không thể yểm trở cho nhau được. Chiều 13/3/1954, chiến dịch Điện
Biên Phủ mở màn, ta đập tan thế trận phòng ngự vòng ngoài của địch
phía bắc Đông Bắc, mở đầu bằng trận Him Lam (13/3/1954), tiếp đó
tiêu diệt cụm cứ điểm đồi Độc Lập (xem trận đồi Độc Lập, 15/3/1954),
bao vây, bức hàng cụm cứ điểm Bản Kéo (16/3/1954), đánh bại nhiều đợt
phản ch của địch. Mở toang cánh cửa phía bắc đông bắc vào khu
trung tâm Mường Thanh, nơi tập trung sức mạnh chính của tập đoàn cứ
điểm Điện Biên Phủ. Điều đặc biệt đây ta đã thực hiện tiến công cả
ba quả đồi Him Lam bằng cách tiến hành chia cắt tiêu diệt riêng lẻ
từng ngọn đồi vào cùng mọt thời điểm, chính thế chúng không thể hỗ
trợ cho nhau. Điều này đã tạo điều kiện cho ta tiến công và tiêu diệt thành
công từng mục tiêu mà tránh được hỏa lực mạnh nhất của thực dân Pháp
2.4. Nghệ thuật tạo lập thế trận chiến tranh nhân dân.
Một nét đặc sắc trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta đã
vận dụng, phát triển sáng tạo phương thức chiến tranh nhân dân Việt
Nam, thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện” để thể đánh thắng
được một đế quốc hùng mạnh, tiềm lực kinh tế, quân sự vượt trội. Ta
đã chủ động tạo lập thế trận Chiến dịch Điện Biên Phủ trên nền tảng thế
trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, toàn dân kháng chiến.
Sự kết hợp nhuần nhuyễn loại hình chiến tranh du kích chiến tranh
chính quy đã trở thành nét đặc sắc về cách đánh của chiến tranh nhân dân,
từ đó tạo ra thế trận tác chiến rộng khắp, đánh địch với nhiều loại hình,
quy mô: từ đánh nhỏ, lẻ của lực lượng trang địa phương, du kích trong
vùng tạm chiếm, đến đánh tập trung của các binh đoàn chủ lực những
11
địa bàn chiến lược lựa chọn. Trong thực tế, trước khi Chiến dịch Điện
Biên Phủ nổ súng, ta đã tổ chức một số đơn vị chủ lực “nhỏ” “tinh”
đánh vào các hướng địch yếu nhưng hiểm, tiêu diệt lực lượng địch tại chỗ
giải phóng một số địa bàn chiến lược, buộc địch phải phân tán lực
lượng cơ động ra các hướng để đối phó. Đồng thời, bằng sự phối hợp chặt
chẽ giữa chiến tranh du kích rộng khắp trên phạm vi cả nước với các hoạt
động tác chiến của đơn vị chủ lực cấp đoàn, trung đoàn trên một số
chiến trường, ta đã thành công trong việc kìm giữ, giam chân một số đơn
vị chủ lực địch.
Trong chiến tranh chiến đấu, muốn giành thắng lợi, nhất trong điều
kiện “lấy yếu chống mạnh”, “lấy ít địch nhiều” thì ắt phải dựa vào mưu kế
và thế trận. Trong đó, thế trận hiểm hóc, phức tạp làm cho địch không biết
đâu đối phó, chia địch ra đánh, trói địch lại diệt, đánh địch cả
phía trước, bên sườn, phía sau, làm cho địch đông hóa ít, mạnh
hóa yếu.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ, Ý NGHĨA BÀI HỌC KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG VÀO TÌNH HÌNH MỚI.
3.1. Kết quả, ý nghĩa
Sau 56 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo quân và dân ta đã
đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt bắt sống
16.200 tên địch, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô toàn bộ khí, đạn
dược, quân trang quân dụng của địch. Cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng được tiến hành liên tục
trong hơn 9 năm đầy gian khổ. Thắng lợi giành được tuy chưa trọn vẹn,
nhưng đánh dấu một bước phát triển vượt bậc có ý nghĩa lịch sử to lớn đối
với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, đối
với cách mạng Việt Nam; tính lan tỏa rộng lớn trong khu vực mang
12
tầm vóc thời đại sâu sắc. Đảng khẳng định: “Sau 9 năm kháng chiến,
những thắng lợi lớn của ta về mặt quân sự và cải cách ruộng đất, cũng như
về mặt tài chính, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xây dựng mặt trận, xây dựng
đảng,… đã đánh dấu một bước tiến rất lớn của quân dân ta. Những
thắng lợi ấy đã làm cho lực lượng so sánh giữa ta địch chuyển biến
lợi cho ta, nhưng chưa phải chuyển biến căn bản...”.
Đối với thực dân pháp, thất bại Điện Biên Phủ hệ quả tất yếu của
những toan tính chiến lược sai lầm, trên hết Pháp đã không thấy hết
sức mạnh của một dân tộc đã kiên quyết đứng lên cầm súng chiến đấu bảo
vệ độc lập, tự do tổ quốc; không đánh giá đúng sức mạnh của cuộc chiến
tranh nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một đảng tiên phong
lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh.
Chiến thắng này đã đưa lịch sử Việt Nam bước sang một trang mới,
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp đã đưa đến việc giải phóng
hoàn toàn miền Bắc, tạo ra tiền đề về chính trị-xã hội quan trọng để Đảng
quyết định đưa miền Bắc phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng
bảo vệ vững chắc miền Bắc, đưa miền Bắc trở thành hậu phương lớn,
chỗ dựa vững chắc chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam sau này và đóng
vai trò nhân tố quyết định nhất đối với công cuộc đấu tranh giải phóng
hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi này cũng góp phần
xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh đại của nhân loại tiến bộ, nền
hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ tiến bộ hội trên thế giới; tác
dụng cổ mạnh mẽ phong trào ðấu tranh giải phóng dân tộc thuộc ðịa
các châu lục Á, Phi, Mỹ La tinh.
3.2. Bài học kinh nghiệm vận dụng vào tình hình mới.
Lịch sử đã đi qua nhưng những bài học đem lại cho thế hệ sau
không thể phủ nhận. Ngày nay, những kinh nghiệm về chỉ đạo vận
dụng cách đánh chiến dịch, chiến thuật độc đáo trong chiến dịch Điện
13
Biên Phủ vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc bảo vệ đấtớc, bảo vệ
hòa bình độc lập dân tộc. việc vận dụng những bài học ấy vào tình
hình mới cần tập trung vào một số vấn đề trọng điểm sau:
Kết hợp đúng đắn nhiệm vụ chống đế quốc chống phong kiến. nhiệm
vụ phải tiến hành có kế hoạch, từng bước để vừa phát triển lực lượng cách
mạng, vừa giữ vững khối đoàn kết dân tộc.
Vừa kháng chiến vừa xây đựng chế độ mới vừa xây dựng hậu phương
vững mạnh để đẩy mạnh kháng chiến.
Kiên quyết kháng chiến lâu dài, đi từ chiến tranh du kích chính quy. Kết
hợp chặt chẽ giữa chiến tranh chinh quy và chiến tranh du kích.
Xây dựng đảng vững mạnh bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của đảng,
với đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, có chủ trương và chính sách
kháng chiến ngày càng hoàn chỉnh, ý chí quyết chiến quyết thắng
kẻ thù.
Trên sở nghiên cứu, nắm chắc tình hình địch, ta các địa bàn tác
chiến, tiến hành lựa chọn phương châm tác chiến phù hợp, vận dụng linh
hoạt cách đánhcác thủ đoạn chiến đấu nhằm tiêu hao, tiêu diệt từng bộ
phận tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch. Trong từng trận đánh phải vận
dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật, các thủ đoạn chiến đấu
dể từng bước tiêu hao, tiêu diệt quân địch; tiến tới những trận đánh quyết
định giành thắng lợi cuối cùng của chiến dịch, cũng như kết thúc chiến
tranh.
Nghiên cứu vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam vào xây
dựng phương thức tác chiến chiến lược; chỉ đạo xây dựng các phương
án, kế hoạch tác chiến, các kế hoạch về công tác bảo đảm tác chiến
chiến đấu,.. nhằm nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu sức mạnh
chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam và lực lượng dân quân tự vệ.
14
Thực hiện chiến tranh toàn dân toàn diện, chỉ đạo các lực lượng tại chỗ
dựa vào các khu vực phòng thủ , thế trận, chuẩn bị sẵn và kiên quyết ngăn
chặn, tiêu hao, tiêu diệt địch, buộc chúng phải phân tán đối phó, tạo điều
kiện để tập trung lực lượng của các binh đoàn chủ lực.
Hiện nay, trong điều kiện nước ta khi so sánh về lực lượng tác chiến, ta
vẫn còn nhiều hạn chế về số lượng, trang thiết bị thuật phương tiện
chiến tranh hiện đại, trình độ khoa học-kỹ thuật, công nghệ thông tin.
vậy nên, tưởng lấy nhỏ đánh lớn”, “lấy ít địch nhiều” cần phải được
quán triệt trong mọi hoạt động xây dựng lực lượng, huấn luyện bộ đội.
KẾT LUẬN
Trong lịch sử dựng nước giữ nước của dân tộc ta, chiến thắng Điện
Biên Phủ một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến thắng lịch sử Điện
Biên Phủ chiến thắng đại nhất, giáng đòn quyết định, tạo bước ngoặt
làm thay đổi cục diện chiến tranh trực tiếp đưa đến việc kết Hiệp định
Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp can thiệp Mỹ; chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của
thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương; bảo vệ phát triển thành quả
Cách mạng tháng Tám; giải phóng miền Bắc, tạo sở vững chắc để tiến
lên giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ giải phóng
miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Qua quá trình nghiên cứu về chiến dịch
Điện Biên Phủ , em đã nhận thấy rằng nhệ thuật quân sự Việt Nam hình
thành , phát triển và gắn liền với các yếu tố địa lí, kinh tế, chính trị xã hội.
Từ khi đảng lãnh đạo nghệ thuật quân sự Việt Nam đã kế thừa nghệ
thuật đánh giặc giữ nước của tổ tiên không ngừng phát triển, góp phần
quyết định giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp
chống Mĩ. Em luôn tự hào về truyền thống dựng nước, giữ ớc của dân
tộc. Mỗi người chúng ta đang thế hệ trẻ, phải nhận trách nhiệm của
15
mình dể luôn giữ gìn, kế thừa phát triển truyền thống đó. Hoàn thành
mọi nhiệm vụ được giao góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
16

Preview text:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN *****-***** BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài: Nghệ thuật chỉ đạo quân sự của Đảng ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Lớp: K65 QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
Họ và tên: VI THỊ HỒNG THẮM MSSV: 20031639
Giảng viên:TS. NGUYỄN THỊ LIÊN
Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2021 LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Nguyễn Thị Liên
đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian
học tập vừa qua. Trong thời gian tham gia lớp học Lịch sử Đảng cộng sản
Việt Nam của cô, em đã có thêm cho mình những kiến thức bổ ích, những
hiểu biết cơ bản về quá trình Đảng lãnh đạo nhân dân kháng chiến, hoàn
thành giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Từ những kiến thức nghiên
cứu về lịch sử mà giờ đây em đã có phương pháp luận đúng đắn, có khả năng
nhận thức và hoạt động thực tiễn. Thông qua bài tiểu luận này, em xin phép
được trình bày lại những gì mà mình hiểu được về lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam.
Kiến thức là vô cùng rộng lớn mà sự tiếp nhận của bản thân mỗi người lại
có giới hạn nhất định. Do đó, trong quá trình hoàn thành bài tiểu luận chắc
chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Bản thân em rất mong có thể
nhận được sự góp ý đến từ cô để bài tiểu luận của em có thể được hoàn thiện hơn nữa.
Em xin kính chúc cô có thật nhiều sức khỏe , hạnh phúc và thành công
trong cuộc sống cũng như trên con đường sự nghiệp của mình. MỤC LỤC Trang
PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................................................1 1.
Lí do chọn đề tài..................................................................................................................... ..1 2.
Mục đích nghiên cứu đề tài......................................................................................................2 3.
Đối tượng nghiên cứu...............................................................................................................2 4.
Phạm vi nghiên cứu..................................................................................................................2 5.
Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................................2 6.
Kết cấu của đề tài.....................................................................................................................2
PHẦN NỘI DUNG...............................................................................................................................3
CHƯƠNG 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ TRƯỚC CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954.....3 1.1.
Tình hình trong nước.......................................................................................................3 1.2.
Điện Biên Phủ được chọn làm tập đoàn cứ điểm then chốt...........................................3 1.3.
Thuận lợi và khó khăn của quân ta.................................................................................5
CHƯƠNG 2. NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG TA TRONG CHIẾN DỊCH
ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954...........................................................................................................6 2.1.
Phương châm tác chiến....................................................................................................6 2.2.
Xây dựng thế trận chia cắt, cô lập Điện Biên Phủ..........................................................7 2.3.
Phát huy sức mạnh tác chiến...........................................................................................9 2.4.
Nghệ thuật tạo lập thế trận chiến tranh nhân dân.......................................................10
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VẬN DỤNG VÀO TÌNH
HÌNH MỚI.................................................................................................................................... ..11 3.1.
Kết quả, ý nghĩa..............................................................................................................11 3.2.
Bài học kinh nghiệm vận dụng vào tình hình mới........................................................12
KẾT LUẬN.........................................................................................................................................14 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài
Nhân dân Việt Nam luôn tự hào với trang sử vẻ vang của dân tộc mình.
Từ ngàn đời xưa, chúng ta tự hào là dòng máu Lạc Hồng, con rồng cháu
tiên. Chúng ta đã phải vượt qua bao khó khăn thử thách để dựng nước và
giữ nước. Thời cuộc luôn xoay vòng, hòa bình - chiến tranh - hòa bình,
nước ta phải gánh chịu ách đô hộ tàn ác, nặng nề của giặc Tây, giặc Tàu
trong khoảng thời gian dài đằng đẵng hàng ngàn năm, nhưng con người
Việt Nam chúng ta không bao giờ chịu cúi đầu, khuất phục, chấp nhận
mất nước. Bao đời cha ông ta đã anh dũng, kiên cường chống trả, bất
khuất hi sinh để mang về những chiến công hiển hách, dựng nên trang sử
vàng để lại niềm tự hào cho con cháu ngàn đời sau. Trải qua những trận
đánh gian khổ trường kì, giành lấy chiến thắng oai hùng, chúng ta mới
đánh thắng thực dân Pháp trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm
1954. Biết bao trận chiến vang dội nhưng hản không ai trong chúng ta
không biết đến chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy năm châu
trấn động địa cầu, một chiến thắng làm thay cách nhìn của thế giới đối với
Việt Nam tuy nhỏ nhưng lại không “nhỏ” này. Là thế hệ trẻ, được sinh ra
khi đất nước đã hòa bình, đang trên tiến trình phát triển và hội nhập, được
hưởng những điều kiện sống tốt đẹp hơn những thế hệ cha anh đi trước,
những người sinh ra trong thời cuộc loạn lạc, chiến tranh triền miên, cuộc
sống gian lao, khó nhọc, nạn đói, mù chữ… thường xuyên đối diện với cái
chết bom đạn. Nghĩ lại thấy mình thật may mắn, là những sinh viên khi
tiếp xúc với môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng em lại càng
hứng thú, muốn biết rõ những sự hi sinh cũng như những điều làm nên
chiến thắng quang vinh cho hôm nay hòa bình của cha ông, tầng lớp trẻ
chúng em bắt đầu nghiên cứu đi sâu vào các trận chiến, để hiểu sử ta như 2
Bác Hồ đã dạy: “Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt
Nam”. “ nghệ thuật chỉ đạo quân sự của Đảng ta trong chiến dịch Điện
Biên Phủ là đề tài nghiên cứu mà em đã chọn phục vụ nhu cầu mở rộng
kiến thức và để hoàn thành môn Lich sử Đảng Cộng sản.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích khi chọn nghiên cứu đề tài này là nhằm chỉ rõ nghệ thuật chỉ
đạo quân sự rất độc đáo, linh hoạt của Đảng ta, và từ đó thì đưa ra những
bài học kinh nhiệm có thể vận dụng vào tình hình đất nước hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đó là nghệ thuật chỉ đạo quân sự của Đảng ta trong
chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954. 4. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: đề tài nghiên cứu nghệ thuật chỉ đạo quân sự của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong bài tiểu luận này em sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu.
6. Kết cấu của đề tài PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ TRƯỚC CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954.
CHƯƠNG 2. NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG TA
TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG VÀO TÌNH HÌNH MỚI. 3 PHẦN KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ TRƯỚC CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954. 1.1. Tình hình trong nước
Từ tháng 11-1953 đến tháng 2- 1954, bộ đội ta liên tục mở các cuộc tiến
công ở Tây Bắc, Trung Lào, Bắc Tây Nguyên, Thượng Lào và các chiến
trường phối hợp khác. Chiến thắng đó đã làm cho kế hoạch Na-va của địch
đứng trước nguy cơ bị phá sản.
Đã giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, vùng giải
phóng đã mở rộng, hậu phương đã lớn mạnh, quân đội ta đã trưởng thành, có
đủ tinh thần và lực lượng đảm bảo cho việc giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ.
Đầu tháng 12-1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở chiến dịch Điện
Biên Phủ, nhằm tiêu diệt lực lượng địch ở đây, giải phóng Tây Bắc tạo điều
kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao để kết thúc chiến tranh.
Ta đã huy động đại bộ phận lực lượng chủ lực tham gia chiến dịch gồm 4 đại
đoàn bộ binh ( 308, 312, 316, 304), một đại đoàn pháo binh, nhiều tiểu đoàn
công binh, thông tin, vận tải, quân y,…thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận
Trung ương và các cấp để đảm bảo chi viện cho tiền tuyến, trong một thời
gian ngắn có khoảng 55 nghìn quân, hàng chục tấn vũ khí, đạn dược, 27
nghìn tấn gạo… được đưa ra mặt trận. Như vậy, Điện Biên Phủ trở thành
điểm quyết chiến chiến lược của quân dân Việt Nam. 4
1.2. Điện Biên Phủ được chọn làm tập đoàn cứ điểm then chốt
1.2.1. Đặc điểm vị trí, địa hình.
Vị trí: Điện Biên Phủ nay thuộc tỉnh Điện Biên, trước đây thuộc tỉnh Lai
Châu, có một vị trí chiến lược quan trọng ở Tây Bắc Việt Nam cả Đông
Dương. Nơi đây cũng là một vùng kinh tế trù phú, rừng núi bao la điệp
trùng đan xen những thung lũng màu mỡ. Điện Biên Phủ nằm gần bien
giới Việt – Lào, trên một ngã ba của nhiều tuyến đường quan trọng và có
sân bay Mường Thanh được xây từ năm 1889. Thung lũng này ở rất xa
trung tâm Hà Nội, các biên giới với Lào vài giờ đi xe.
Địa hình: tương đối hiểm trở, núi cao bao quanh với các rừng cây và rất
nhiều bình địa trống xen với các quả đồi cao vài chục đến vài trăm mét.
1.2.2. Ý nghĩa chiến lược của căn cứ địa Điện Biên Phủ
Điện Biên Phủ là cứ điểm có ý nghĩa chiến lược khống chế cả một vùng
rộng lớn của Tây Bắc và Thượng Lào.
Việc chiếm Điện Biên Phủ và chấp nhận một trận quyết chiến chiến lược
với chủ lực của Việt Minh ở đây, như Na-va thừa nhận “ là một lối thoát
xấu nhưng có thể chấp nhận được. Dẫu sao nó cũng hơn Nà Sản, Lai
Châu và Luang Prabang. Chính trị là biết để lựa chọn giữa những điều bất
lợi. Trong chiến lược quân sự, thường cũng phải làm thế.”
Theo đánh giá của Na-va và nhiều nhà quân sự Pháp thì Điện Biên Phủ là
“một vị trí chiến lược quan trọng chẳng những đối với chiến trường Đông
Dương mà còn đối với miền Đông Nam Á- một trục giao thông nối liền
các miền biên giới Lào, Thái Lan, Myanmar và Trung Quốc.”
Sau khi cân nhắc những lợi thế và thiệt hơn với quân đối phương, hi vọng
đây sẽ là đòn chí tử dập tắt mọi âm mưu chống đối của Việt Minh. 5
1.3. Thuận lợi và khó khăn của quân ta. 1.3.1. Thuận lợi
Toàn quan toàn dân ta có một lòng chung sức đánh giặc, nhất là lúc này,
Pháp đang sa lầy ở Đông Dương và quân ta vừa có một loạt chiến thắng ở
các chiến dịch 1952-1953 đã giải phóng vùng rất rộng ở phía Bắc và Tây Bắc.
Nhân dân yêu nước Pháp vẫn đấu tranh cho sự hòa bình ở Pháp và
Raymonde Dien – tấm ương tiêu biểu.
Chỉ thị của Đảng và Bác rất kiên quyết và nhạy bén, tư duy quân sự của
Đại Tướn Võ Nguyên Giáp am hiểu cục diện sâu sắc. 1.3.2. Khó khăn
Khó khăn về tương quan lực lượng giữa ta và địch:
Quân Pháp có nhiều ưu thế vượt trội hơn về khí tài quân sự, phương tiện
chiến đấu và lực lượng quân sự tinh nhuệ có nhiều kinh nghiệm chiến
đấu. Trong khi đó, lực lượng Việt Minh còn thô sơ, phương tiện hạn chế
yếu kém, quân đội nhân dân Việt Nam tuy có quân số đông hơn nhưng
chưa có kinh nghiệm đánh công kiên lớn trên cấp tiểu đoàn. Nếu đánh
mạo hiểm sẽ để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng, có thể thua trên toàn
bộ cục diện và “ hết vốn” – theo cách nói của Bác.
Cụ thể: Thực dân Pháp có 16 tiểu đoàn, 7 đại đội bộ binh, 10 trung đoàn
bộ binh, 1 đại pháo binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội máy bay , quân số
lúc cao nhất lên đến 16200 người,… . Quân đội Việt Nam có 10 trung
đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công binh và pháo binh, quân số 55000, sau tăng
viện thêm khoảng 4000 người…
Khó khăn về địa hình : đường hành quân hiểm trở, liên tục bị quân địch
quấy rối lùng sục, tình thế vận tải rất khó khăn. Địa hình Điện Biên Phủ ở 6
thế lòng chảo có lợi cho ta nhưng với rất nhiều hỏa lực, lô cốt địch dày
đặc rất khó tấn công, phục kích và ta có thể bị đánh bật bất cứ lúc nào.
CHƯƠNG 2. NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG TA
TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954.
Dân tộc ta vốn có truyền thống đoàn kết chiến đấu chống giặc ngoại xâm
và đã sáng tạo ra một nghệ thuật quân sự của toàn dân đánh giặc rất phong
phú và độc đáo. Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, nghệ thuật, cách
đánh chiến dịch của quân đội ta đã có bước phát triển vượt bậc, được nâng
lên thành nghệ thuật quân sự độc đáo mà trước giờ chưa từng có trong
lịch sử chống giặc ngoại xâm của quân và dân ta.
2.1. Phương châm tác chiến.
Ngày mồng một tháng Giêng năm 1954, Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên
Phủ được thành lập. Trước ngày lên đường ra Mặt trận, Chỉ huy trưởng
kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận - Võ Nguyên Giáp đã đến Khuổi Tát chào
Bác Hồ. Người đã căn dặn Đại tướng: “Tổng Tư lệnh ra mặt trận. Tướng
quân tại ngoại. Trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này quan trọng,
phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không
đánh”. Chiến tranh Điện Biên Phủ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đại
tướng Võ Nguyên Giáp đã linh hoạt, sáng tạo và kịp thời chuyển từ
phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “ đánh chắc, thắng chắc”
phù hợp với thực tế trên chiến trường.
Ban đầu, mọi công tác chuẩn bị cho chiến dịch diễn ra theo phương án với
cách đánh nhanh chóng, ngày 14/1/1954 tại hang Thẩm Púa, Bộ chỉ huy
chiến dịch đã phổ biến lệnh tác chiến bí mật với phương án “ đánh nhanh,
thắng nhanh”, chủ trương đánh địch trong 3 ngày 2 đêm nhằm hạn chế
những khó khăn về mặt hậu phương. Tuy nhiên, tình hình tại mặt trận
Điện Biên Phủ diễn biến rất nhanh từng ngày. Tập đoàn cứ điểm Điện 7
Biên Phủ không còn ở trạng thái phòng ngự lâm thời nữa. Nếu đánh theo
phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” thì khó mà bảo đảm “chắc
thắng”. Chính vì vậy mà sau khi bàn bạc, trao đổi cùng trưởng đoàn cố
vấn Vi Quốc Thanh, với tinh thần trách nhiệm trước Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Bộ Chính trị, trước sinh mệnh của hàng vạn cán bộ, chiến sỹ, Đại
tướng Võ Nguyên Giáp đã đề xuất Đảng ủy, BCH chiến dịch thay đổi
phương châm, từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến
chắc”. Quyết định đó được coi là “chìa khóa” để mở cánh cửa Tập đoàn
cứ điểm Điện Biên Phủ. Việc thay đổi phương châm tác chiến đã thể hiện
sự phân tích khoa học, khách quan tình hình địch, ta và yếu tố địa hình.
Điều này đã giúp ta tránh được tổn thất về người và điều quan trọng hơn
là đảm bảo sự thắng lợi của chiến dịch.
2.2. Xây dựng thế trận chia cắt, cô lập Điện Biên Phủ.
Chiến dịch Điện Biên Phủ - đỉnh cao của Chiến cuộc Đông Xuân 1953 -
1954, đánh dấu sự phát triển cao nhất của nghệ thuật quân sự Việt Nam
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; trong đó, xây
dựng thế trận chia cắt, cô lập Điện Biên Phủ là một nghệ thuật độc đáo và
sáng tạo của Đảng ta. Trong cuộc chiến đó, cả nhân dân ta đã huy động
mọi nguồn lực cao nhất dồn về chiến tuyến. Thực hiện chủ trương đánh
thu hút lực lượng pháp tại khắp các chiến trường Đông Dương , để tạo
điều kiện thuận lợi cho trận quyết chiến chiến lược ở Điện Biên Phủ và
góp phần nghi binh, phân tán lực lượng địch trên chiến trường Đông
Dương, đồng thời với việc thay đổi chiến thuật, hàng loạt công sự đã xây
dựng trước đó cần phải phan bố lại, Bộ Tư lệnh mặt trận quyết định “ kéo
pháo ra”. Để che mắt cho công việc này, và ngày 26/1/1954, Bộ Tư lệnh
đã ra lệnh cho Đại đoàn 308 tiến quân rầm rộ sang Thượng Lào với mục
đích thu hút sự chú ý của địch về hướng đó đồng thời tiêu diệt và giải
phóng Thượng Lào. Bị động trước cuộc hành quân thần tốc này của Đại
đoàn 308, tướng Na-va đã lập một cầu hàng không cứu nguy cho Thượng 8
Lào. Sau đợt tiến công nhanh chóng này bộ đội ta cùng quân Pathet Lào
đã tiêu diệt gần 17 đại đội địch, giải phóng toàn bộ lưu vực sông Nậm Hu,
cô lập Điện Biên Phủ ở phía Thượng Lào sang. Ở Trung Lào và Hạ Lào
từ cuối tháng 11/1953 các cánh quân của quân đội nhân dân Việt Nam đã
len đường tiến về đây. Nhận thấy sự có mặt của các trung đoàn quân ta ở
đây, Na-va đã nhanh chóng bổ sung quân số tại đây bằng lực lượng ở
Đồng bằng Bắc Bộ, Tây Bắc và Trung Lào. Đến cuối tháng 12/1953 quân
Pháp đã tập trung quân số lên đến 26 tiểu đoàn, biến đây trở thành nơi tập
trung quân lớn thứ ba của Pháp sau đồng bằng Bắc Bộ và Điện Biên Phủ.
Sau nhiều đợt tấn công,quân Pháp ở Đông Dương đã bị thiệt hại nặng nề
về cả số lượng và tinh thần. Tháng 2/1954 quân ta tiếp tục nổ súng tiến
công Bắc Tây Nguyên, đây là vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất ở
Đông Dương và được Pháp cho là hậu phương an toàn. Ở Liên Khu V
địch cũng hoạt động mạnh. Ta nhận định, đánh Tây Nguyên và mở rộng
vùng tự do Liên Khu V về phía tây sẽ củng cố thêm sức mạnh của ta ở
đây đồng thời thu hút được một lượng lớn quan Pháp để bảo vệ vùng này.
Đứng trước tình thế nguy hiểm của Tây Nguyên, Na-va buộc phải chia
quân tại Liên Khu V lên tăng cường cho Play Ku. Ở đồng bằng sông
Hồng, với lực lượng tập trung đông đảo (lúc cao nhất lên đến 44 tiểu
đoàn) , pháp chủ động mở các cuộc tiến công ta với chủ đích đánh gục đại
đoàn 320 của quân đội nhân dân Việt Nam đang hoạt động ở đây. Nhưng
sau nhiều cuộc hành quân nhưng không đạt được mục đích chúng phải rút
lui. Ngay sau đó, vào tháng 1 năm 1954, Đại đoàn 320 đã triển khai tiến
công Pháp, thọc sâu vào đồng bằng Bắc Bộ. Trong thời gian này con
đường huyết mạch nối liền Hà Nội – Hải Phòng nhiều lần bị tê liệt. Ngày
4-3-1954, bộ đội ta bí mật đột nhập sân bay Gia Lâm phá hủy 12 máy bay
và kho xăng, ngày 6-3-1954, đột nhập sân bay Cát Bi phá hủy 10 máy
bay.Với kế hoạch này ta đã đạt được cả hai mục đích là vừa nghi binh thu
hút sự chú ý của thực dân Pháp và vừa bảo đảm cho bộ đội ở Điện Biên
Phủ rút ra khu tập kết an toàn. Đây có thể coi là một thành công lớn của 9 ta.
2.3. Phát huy sức mạnh tác chiến
So sánh lực lượng giữa ta và địch thì ta có nhiều lợi thế vè bộ binh nhưng
pháp lại có những đơn vị vô cùng thiện chiến đã từng tham gia chiến tranh
thế giới và chưa từng thua một trận đánh nào. Trong tính toán chiến lược
của ta, bộ đội chính quy ngày càng lớn mạnh cả về chất lượng và số lượng
được điều động tối đa lên Điện Biên Phủ nhưng vẫn đảm bảo chốt giữ tại
những vị trí quan trọng. Bốn sư đoàn bộ binh, 1 sư doàn pháo binh hành
quân ra trận. Đây là trận công kiên lớn nhất, là lần đầu ta phối hợp đánh
hiệp đồng các binh chủng bộ binh và pháo binh. Về pháo binh, Pháp hơn
hẳn ta khi có những khẩu pháo hạng nặng như 155mm, có thể oanh tạc xa
và gây những thiệt hại nghiêm trọng nếu trúng mục tiêu. Hơn nữa đó là
Pháp còn có ưu thế về xe tăng, máy bay (máy bay vận chuyển và máy bay
chiến đấu) và nhiều vũ khí quân sự tối tân khác. Cùng với việc Điện Biên
Phủ được xây dựng hệ thống công sự chìm, hầm ngầm dầy đặc, có sức
phòng ngự, đề kháng rất kiên cố theo kiểu hiện đại; được trang bị nhiều
loại vũ khí, phương tiện chiến tranh tiên tiến nhất lúc bấy giờ, gồm pháo
binh, máy bay, xe tăng, xe cơ giới,. Điện Biên Phủ trở thành một “pháo
đài khổng lồ không thể công phá”, được giới quân sự, chính trị Pháp-Mỹ
đánh giá là một “con nhím khổng lồ giữa núi rừng Tây Bắc”, “một cỗ máy
để nghiền Việt Minh”... . Ở đây tập trung 16.200 quân gồm 21 tiểu đoàn
trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công
binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải cơ giới.
Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được bố trí thành 3 phân khu Bắc,
Trung, Nam với 49 cứ điểm, huy động toàn bộ lính dù và 40% lực lượng
cơ động tinh nhuệ nhất của Pháp ở Đông Dương; hai sân bay Mường
Thanh và Hồng Cúm mỗi ngày có thể vận chuyển khoảng 200 đến 300 tấn
hàng và thả dù từ 100 đến 150 quân, đảm bảo nguồn tiếp viện trong quá 10
trình tác chiến. Khi nghiên cứu cách bố trí lực lượng địch tại Điện Biên
Phủ cũng như những hạn chế của nó, quân đội nhân dân ta đã đề ra cách
đánh là thực hiện chia cắt và tập trung hỏa lực vào tiêu diệt từng cứ điểm
một, đồng thời tiến hành tiến công cùng lúc nhiều mục tiêu khác nhau để
địch không thể yểm trở cho nhau được. Chiều 13/3/1954, chiến dịch Điện
Biên Phủ mở màn, ta đập tan thế trận phòng ngự vòng ngoài của địch ở
phía bắc và Đông Bắc, mở đầu bằng trận Him Lam (13/3/1954), tiếp đó
tiêu diệt cụm cứ điểm đồi Độc Lập (xem trận đồi Độc Lập, 15/3/1954),
bao vây, bức hàng cụm cứ điểm Bản Kéo (16/3/1954), đánh bại nhiều đợt
phản kích của địch. Mở toang cánh cửa phía bắc và đông bắc vào khu
trung tâm Mường Thanh, nơi tập trung sức mạnh chính của tập đoàn cứ
điểm Điện Biên Phủ. Điều đặc biệt ở đây là ta đã thực hiện tiến công cả
ba quả đồi ở Him Lam bằng cách tiến hành chia cắt và tiêu diệt riêng lẻ
từng ngọn đồi vào cùng mọt thời điểm, chính vì thế chúng không thể hỗ
trợ cho nhau. Điều này đã tạo điều kiện cho ta tiến công và tiêu diệt thành
công từng mục tiêu mà tránh được hỏa lực mạnh nhất của thực dân Pháp
2.4. Nghệ thuật tạo lập thế trận chiến tranh nhân dân.
Một nét đặc sắc trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta là đã
vận dụng, phát triển sáng tạo phương thức chiến tranh nhân dân Việt
Nam, thực hiện “ kháng chiến toàn dân, toàn diện” để có thể đánh thắng
được một đế quốc hùng mạnh, có tiềm lực kinh tế, quân sự vượt trội. Ta
đã chủ động tạo lập thế trận Chiến dịch Điện Biên Phủ trên nền tảng thế
trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, toàn dân kháng chiến.
Sự kết hợp nhuần nhuyễn loại hình chiến tranh du kích và chiến tranh
chính quy đã trở thành nét đặc sắc về cách đánh của chiến tranh nhân dân,
từ đó tạo ra thế trận tác chiến rộng khắp, đánh địch với nhiều loại hình,
quy mô: từ đánh nhỏ, lẻ của lực lượng vũ trang địa phương, du kích trong
vùng tạm chiếm, đến đánh tập trung của các binh đoàn chủ lực ở những 11
địa bàn chiến lược lựa chọn. Trong thực tế, trước khi Chiến dịch Điện
Biên Phủ nổ súng, ta đã tổ chức một số đơn vị chủ lực “nhỏ” và “tinh”
đánh vào các hướng địch yếu nhưng hiểm, tiêu diệt lực lượng địch tại chỗ
và giải phóng một số địa bàn chiến lược, buộc địch phải phân tán lực
lượng cơ động ra các hướng để đối phó. Đồng thời, bằng sự phối hợp chặt
chẽ giữa chiến tranh du kích rộng khắp trên phạm vi cả nước với các hoạt
động tác chiến của đơn vị chủ lực cấp sư đoàn, trung đoàn trên một số
chiến trường, ta đã thành công trong việc kìm giữ, giam chân một số đơn vị chủ lực địch.
Trong chiến tranh và chiến đấu, muốn giành thắng lợi, nhất là trong điều
kiện “lấy yếu chống mạnh”, “lấy ít địch nhiều” thì ắt phải dựa vào mưu kế
và thế trận. Trong đó, thế trận hiểm hóc, phức tạp làm cho địch không biết
đâu mà đối phó, chia địch ra mà đánh, trói địch lại mà diệt, đánh địch cả
phía trước, bên sườn, phía sau, làm cho địch đông mà hóa ít, mạnh mà hóa yếu.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG VÀO TÌNH HÌNH MỚI. 3.1. Kết quả, ý nghĩa
Sau 56 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo quân và dân ta đã
đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống
16.200 tên địch, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn
dược, quân trang quân dụng của địch. Cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng được tiến hành liên tục
trong hơn 9 năm đầy gian khổ. Thắng lợi giành được tuy chưa trọn vẹn,
nhưng đánh dấu một bước phát triển vượt bậc có ý nghĩa lịch sử to lớn đối
với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, đối
với cách mạng Việt Nam; có tính lan tỏa rộng lớn trong khu vực và mang 12
tầm vóc thời đại sâu sắc. Đảng khẳng định: “Sau 9 năm kháng chiến,
những thắng lợi lớn của ta về mặt quân sự và cải cách ruộng đất, cũng như
về mặt tài chính, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xây dựng mặt trận, xây dựng
đảng,… đã đánh dấu một bước tiến rất lớn của quân và dân ta. Những
thắng lợi ấy đã làm cho lực lượng so sánh giữa ta và địch chuyển biến có
lợi cho ta, nhưng chưa phải chuyển biến căn bản...”.
Đối với thực dân pháp, thất bại ở Điện Biên Phủ là hệ quả tất yếu của
những toan tính chiến lược sai lầm, mà trên hết Pháp đã không thấy hết
sức mạnh của một dân tộc đã kiên quyết đứng lên cầm súng chiến đấu bảo
vệ độc lập, tự do tổ quốc; không đánh giá đúng sức mạnh của cuộc chiến
tranh nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một đảng tiên phong và
lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh.
Chiến thắng này đã đưa lịch sử Việt Nam bước sang một trang mới,
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp đã đưa đến việc giải phóng
hoàn toàn miền Bắc, tạo ra tiền đề về chính trị-xã hội quan trọng để Đảng
quyết định đưa miền Bắc phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng
và bảo vệ vững chắc miền Bắc, đưa miền Bắc trở thành hậu phương lớn,
chỗ dựa vững chắc chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam sau này và đóng
vai trò là nhân tố quyết định nhất đối với công cuộc đấu tranh giải phóng
hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi này cũng góp phần
xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh vĩ đại của nhân loại tiến bộ, vì nền
hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới; có tác
dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào ðấu tranh giải phóng dân tộc thuộc ðịa ở
các châu lục Á, Phi, Mỹ La tinh.
3.2. Bài học kinh nghiệm vận dụng vào tình hình mới.
Lịch sử đã đi qua nhưng những bài học mà nó đem lại cho thế hệ sau là
không thể phủ nhận. Ngày nay, những kinh nghiệm về chỉ đạo và vận
dụng cách đánh chiến dịch, chiến thuật độc đáo trong chiến dịch Điện 13
Biên Phủ vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc bảo vệ đất nước, bảo vệ
hòa bình và độc lập dân tộc. và việc vận dụng những bài học ấy vào tình
hình mới cần tập trung vào một số vấn đề trọng điểm sau:
Kết hợp đúng đắn nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. nhiệm
vụ phải tiến hành có kế hoạch, từng bước để vừa phát triển lực lượng cách
mạng, vừa giữ vững khối đoàn kết dân tộc.
Vừa kháng chiến vừa xây đựng chế độ mới vừa xây dựng hậu phương
vững mạnh để đẩy mạnh kháng chiến.
Kiên quyết kháng chiến lâu dài, đi từ chiến tranh du kích chính quy. Kết
hợp chặt chẽ giữa chiến tranh chinh quy và chiến tranh du kích.
Xây dựng đảng vững mạnh và bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của đảng,
với đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, có chủ trương và chính sách
kháng chiến ngày càng hoàn chỉnh, có ý chí quyết chiến và quyết thắng kẻ thù.
Trên cơ sở nghiên cứu, nắm chắc tình hình địch, ta và các địa bàn tác
chiến, tiến hành lựa chọn phương châm tác chiến phù hợp, vận dụng linh
hoạt cách đánh và các thủ đoạn chiến đấu nhằm tiêu hao, tiêu diệt từng bộ
phận tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch. Trong từng trận đánh phải vận
dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật, các thủ đoạn chiến đấu
dể từng bước tiêu hao, tiêu diệt quân địch; tiến tới những trận đánh quyết
định giành thắng lợi cuối cùng của chiến dịch, cũng như kết thúc chiến tranh.
Nghiên cứu vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam vào xây
dựng phương thức tác chiến chiến lược; chỉ đạo và xây dựng các phương
án, kế hoạch tác chiến, các kế hoạch về công tác bảo đảm tác chiến và
chiến đấu,.. nhằm nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh
chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam và lực lượng dân quân tự vệ. 14
Thực hiện chiến tranh toàn dân toàn diện, chỉ đạo các lực lượng tại chỗ
dựa vào các khu vực phòng thủ , thế trận, chuẩn bị sẵn và kiên quyết ngăn
chặn, tiêu hao, tiêu diệt địch, buộc chúng phải phân tán đối phó, tạo điều
kiện để tập trung lực lượng của các binh đoàn chủ lực.
Hiện nay, trong điều kiện nước ta khi so sánh về lực lượng tác chiến, ta
vẫn còn nhiều hạn chế về số lượng, trang thiết bị kĩ thuật và phương tiện
chiến tranh hiện đại, trình độ khoa học-kỹ thuật, công nghệ thông tin. Vì
vậy nên, tư tưởng “ lấy nhỏ đánh lớn”, “lấy ít địch nhiều” cần phải được
quán triệt trong mọi hoạt động xây dựng lực lượng, huấn luyện bộ đội. KẾT LUẬN
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, chiến thắng Điện
Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến thắng lịch sử Điện
Biên Phủ là chiến thắng vĩ đại nhất, giáng đòn quyết định, tạo bước ngoặt
làm thay đổi cục diện chiến tranh trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định
Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của
thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương; bảo vệ và phát triển thành quả
Cách mạng tháng Tám; giải phóng miền Bắc, tạo cơ sở vững chắc để tiến
lên giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ giải phóng
miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Qua quá trình nghiên cứu về chiến dịch
Điện Biên Phủ , em đã nhận thấy rằng nhệ thuật quân sự Việt Nam hình
thành , phát triển và gắn liền với các yếu tố địa lí, kinh tế, chính trị xã hội.
Từ khi có đảng lãnh đạo nghệ thuật quân sự Việt Nam đã kế thừa nghệ
thuật đánh giặc giữ nước của tổ tiên và không ngừng phát triển, góp phần
quyết định giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và
chống Mĩ. Em luôn tự hào về truyền thống dựng nước, giữ nước của dân
tộc. Mỗi người chúng ta đang là thế hệ trẻ, phải nhận rõ trách nhiệm của 15
mình dể luôn giữ gìn, kế thừa và phát triển truyền thống đó. Hoàn thành
mọi nhiệm vụ được giao góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. 16