



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI ----- ---- HỌC PHẦN KINH TẾ VĨ MÔ 1
Phân tích các yếu tố tác động đến tổng cầu (Tổng chi tiêu dự
kiến) và ảnh hưởng của sự thay đổi tổng cầu đến tổng sản lượng.
Phân tích tình hình biến động của tổng cầu về hàng hóa và dịch
vụ của Việt Nam trong thời gian gần đây và cho biết sự thay đổi
này tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Giảng viên hướng dẫn : Hoàng Anh Tuấn
Mã lớp học phần : 2309MAEC0111 Nhóm thực hiện : 02 Hà Nội, 18/03/2023 MỤC LỤC
Lời mở đầu.........................................................................................................................1 I.
Lý thuyết về tổng cầu, các yếu tố ảnh hưởng đến tổng cầu và ảnh hưởng của sự thay
đổi tổng cầu đến tổng sản lượng.........................................................................................2
1. Khái niệm về tổng cầu..............................................................................................2
2. Các yếu tố tác động đến tổng cầu.............................................................................2
2.1. Tiêu dùng của hộ gia đình.................................................................................2
2.2. Đầu tư của doanh nghiệp...................................................................................2
2.3. Chi tiêu của Chính phủ......................................................................................2
2.4. Xuất khẩu ròng..................................................................................................3
3. Sự thay đổi của tổng cầu đến tổng sản lượng...........................................................3
3.1. Sự di chuyển và dịch chuyển của đường tổng cầu.............................................3
3.2. Khi tổng cầu tăng..............................................................................................4
3.3. Khi tổng cầu giảm.............................................................................................5 II.
Tình hình biến động của tổng cầu về hàng hóa và dich vụ của Việt Nam trong thời
gian gần đây (2017 – 2022)................................................................................................6
1. Phân tích sự biến động của tổng cầu........................................................................6
1.1. Về hàng hóa.......................................................................................................6
1.2. Về dịch vụ.........................................................................................................7
2. Các yếu tố làm biến động tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam..............8
2.1. Chi tiêu của hộ gia đình.....................................................................................8
2.2. Đầu tư của doanh nghiệp.................................................................................11
2.3. Chi tiêu Chính phủ..........................................................................................13
2.4. Xuất nhập khẩu................................................................................................17 III.
Sự biến động tổng cầu tác động đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.................20
1. Cơ hội để thúc đẩy nền kinh tế...............................................................................20
2. Thách thức trong việc kiểm soát tổng cầu..............................................................20 IV.
Giải pháp, kiến nghị thúc đẩy tổng cầu..................................................................21
1. Giải pháp thúc đẩy chi tiêu hộ gia đình..................................................................21
2. Giải pháp thúc đẩy đầu tư doanh nghiệp................................................................22
2.1. Đầu tư doanh nghiệp.......................................................................................22
2.2. Đầu tư tư nhân.................................................................................................23
3. Giải pháp giúp chi tiêu Chính phủ ảnh hưởng tích cực đến tổng cầu.....................24
4. Giải pháp thúc đẩy xuất nhập khẩu........................................................................25
Lời kết..............................................................................................................................27
Tài liệu tham khảo............................................................................................................28 Lời mở đầu
Từ năm 2017 đến nay, nền kinh tế nói chung và tổng cầu (tổng chi tiêu dự kiến) của Việt
Nam nói riêng có nhiều biến động, đặc biệt là trong thời gian đại dịch Covid-19 bùng
phát và có những tác động tiêu cực đối với mọi lĩnh vực, bao gồm cả các nền kinh tế trên thế giới và Việt Nam.
Các biện pháp phòng chống dịch của Chính phủ theo chỉ thị 16-CT-TTg 2020 đã có
những ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế, làm tăng trưởng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực
chậm lại. Tình hình đứt gãy thương mại quốc tế cũng gây ra những hệ lụy tới hoạt động
sản xuất và xuất, nhập khẩu của Việt Nam. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm đều ở mức
cao. Do đó, các khoản chi tiêu cho tiêu dùng của các hộ gia đình bị cắt giảm, các khoản
đầu tư tư nhân và tiêu dùng của chính phủ cũng bị tác động, thay đổi tương đối cho phù
hợp với khả năng kinh tế trong tình hình dịch bệnh, gây ra tác động lớn đối với tổng cầu
hàng hóa dịch vụ, từ đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Tiếp đó là quá trình Việt Nam hồi phục và tăng trưởng kinh tế sau cú sốc kinh tế giai
đoạn dịch bệnh kéo dài. Qua phân tích và tổng hợp, bài tiểu luận dưới đây sẽ thể hiện
những phân tích về tình hình biến động và ảnh hưởng của tổng cầu hàng hóa và dịch vụ
của Việt Nam giai đoạn 2017 – 2022. 1
I. Lý thuyết về tổng cầu, các yếu tố ảnh hưởng đến tổng cầu và ảnh
hưởng của sự thay đổi tổng cầu đến tổng sản lượng
1. Khái niệm về tổng cầu
Tổng cầu là tổng khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà các tác nhân kinh tế muốn mua và
có khả năng mua ở mỗi mức giá chung, trong một khoảng thời gian nhất định và trong
những điều kiện nhất định. (Giả sử các điều kiện khác không đổi)
2. Các yếu tố tác động đến tổng cầu
2.1. Tiêu dùng của hộ gia đình
Khi thu nhập của các hộ gia đình tăng lên sẽ thúc đẩy tiêu dùng của hộ gia đình trong nền
kinh tế tăng, do đó tổng cầu sẽ tăng lên. Ngược lại, khi thu nhập của các hộ gia đình giảm
sẽ khiến tiêu dùng của hộ gia đình trong nền kinh tế giảm, do đó tổng cầu cũng sẽ giảm.
2.2. Đầu tư của doanh nghiệp
Yếu tố "đầu tư doanh nghiệp" là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tổng
cầu. Đầu tư của các doanh nghiệp có thể cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới, nâng cao
năng suất lao động, tạo ra việc làm, và tăng thu nhập của người dân. Từ đó, đầu tư doanh
nghiệp có thể tăng khả năng tiêu thụ của người dân và doanh nghiệp khác, dẫn đến tăng tổng cầu.
Ngoài ra, đầu tư doanh nghiệp cũng có thể tạo ra những hiệu ứng đòn bẩy, gây ra sự phát
triển và tăng trưởng kinh tế bền vững. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp các
doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và phát triển công nghệ mới, tăng cường quy trình
sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và cải thiện hiệu suất.
Tóm lại, đầu tư doanh nghiệp có tác động tích cực đến tổng cầu bằng cách tăng cung cấp
hàng hóa và dịch vụ, tăng năng suất và tạo ra việc làm. Các doanh nghiệp cũng có thể tạo
ra những hiệu ứng đòn bẩy và góp phần vào sự phát triển và tăng trưởng kinh tế bền vững.
2.3. Chi tiêu của Chính phủ
Chính sách kinh tế vĩ mô bao gồm những quyết định của chính phủ liên quan đến chính
sách tiền tệ, chính sách tài khóa và chính sách thuế.
Chính sách tiền tệ, bao gồm việc điều chỉnh lãi suất và lượng tiền lưu thông trong nền
kinh tế, có thể ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng và đầu tư của các cá nhân và doanh 2
nghiệp. Nếu chính sách tiền tệ được triển khai hiệu quả, nó có thể kích thích hoạt động
kinh tế và tăng tổng cầu.
Chính sách tài khóa, bao gồm việc chi tiêu và thu thuế của chính phủ, cũng có thể ảnh
hưởng đến tổng cầu. Nếu chính phủ chi tiêu vào các dự án hạ tầng, giáo dục và y tế, có
thể tạo ra những việc làm mới và tăng năng suất lao động. Tuy nhiên, nếu chi tiêu quá
lớn, chính sách tài khóa có thể dẫn đến tình trạng lạm phát và tác động tiêu cực đến tổng cầu.
Cuối cùng, chính sách thuế cũng có thể ảnh hưởng đến tổng cầu bằng cách tạo ra cơ chế
khuyến khích hoặc làm khó khăn cho các hoạt động kinh tế. Nếu chính sách thuế được
thiết kế một cách hợp lý, nó có thể khuyến khích các hoạt động kinh tế tích cực và tăng tổng cầu.
Tóm lại, chính sách kinh tế vĩ mô có tác động quan trọng đến tổng cầu bằng cách ảnh
hưởng đến khả năng tiêu dùng và đầu tư của các cá nhân và doanh nghiệp, cũng như tạo
ra cơ chế khuyến khích hoặc làm khó khăn cho các hoạt động kinh tế. 2.4. Xuất khẩu ròng
Xuất khẩu là quá trình bán hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia cho các quốc gia khác.
Nếu xuất khẩu của một quốc gia tăng, nó có thể tăng sản xuất, tăng năng suất lao động,
giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng doanh thu của các doanh nghiệp. Điều này có thể dẫn đến
tăng tổng cầu của quốc gia.
Ngược lại, nếu một quốc gia nhập khẩu nhiều hơn so với xuất khẩu, giá cả sẽ tăng, doanh
thu giảm, tăng tỷ lệ thất nghiệp và giảm sản xuất và năng suất lao động. Những yếu tố
này có thể dẫn đến giảm tổng cầu của quốc gia.
Bên cạnh đó, yếu tố xuất nhập khẩu còn liên quan đến độ cạnh tranh và sức mạnh của
một quốc gia trên thị trường quốc tế. Nếu một quốc gia có nhiều sản phẩm xuất khẩu, nó
có thể trở thành một quốc gia cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế và tăng trưởng kinh tế.
Tóm lại, xuất nhập khẩu là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tổng cầu bằng cách ảnh
hưởng trực tiếp đến sản xuất, giá cả, đầu tư và hoạt động kinh tế của một quốc gia, cũng
như liên quan đến độ cạnh tranh và sức mạnh của quốc gia trên thị trường quốc tế.
3. Sự thay đổi của tổng cầu đến tổng sản lượng
3.1. Sự di chuyển và dịch chuyển của đường tổng cầu
Hiện tượng di chuyển trên đường tổng cầu xảy ra do sự thay đổi mức giá chung gây ra.
Giả sử mức giá chung trong nền kinh tế giảm từ P 1xuống P 2sẽ khiến cho thu nhập thực 3
tế của người dân tăng lên gây ra hiện tượng di chuyển dọc trên đường tổng cầu AD từ A
đến B, từ đó, lượng tổng cầu sẽ tăng từ Y đến 1 Y (Hình 1). 2
Hình 1: Sự di chuyển trên đường tổng cầu
Hiện tượng dịch chuyển đường tổng cầu do các yếu tố ngoài mức giá chung gây ra. Cụ
thể, hiện tượng dịch chuyển đường tổng cầu sẽ xảy ra do sự thay đổi trong tiêu dùng của
hộ gia đình, sự thay đổi trong đầu tư của khu vực tư nhân, sự thay đổi trong chi tiêu
Chính phủ và sự thay đổi trong xuất khẩu ròng. Giả sử Chính phủ thực hiện chính sách tài
khóa mở rộng bằng cách tăng chi tiêu G, điều này sẽ khiến cho tổng cầu tăng lên và dịch
chuyển sang phải từ AD sang AD . Ngược 2
lại, nếu Chính phủ sử dụng chính sách tài khóa
chặt bằng cách giảm chi tiêu G sẽ làm cho tổng cầu giảm và dịch chuyển đường tổng cầu
sang trái từ AD sang AD (Hình 2). 1
Hình 2: Sự dịch chuyển của đường tổng cầu 3.2. Khi tổng cầu tăng
Tăng tổng cầu làm tăng giá và sản lượng cân bằng. 4
Khi thu nhập quốc dân tăng hay dự đoán của các hãng kinh doanh về tình hình kinh tế tốt
lên hoặc Chính phủ tăng chi tiêu, giảm thuế, giảm lãi suất... các yếu tố này tác động có
thể làm tăng cầu tiêu dùng, tăng cầu đầu tư, tăng chi tiêu Chính phủ... do vậy sẽ làm tổng
cầu tăng, đường tổng cầu (AD) dịch sang phải.
Khi AD dịch sang phải sẽ làm sản lượng tăng, giá cả tăng, thất nghiệp giảm, nhưng lạm phát xuất hiện. 3.3. Khi tổng cầu giảm
Giảm tổng cầu làm giảm giá và sản lượng cân bằng.
Khi thu nhập quốc dân giảm hay dự đoán của các hãng kinh doanh về tình hình kinh tế
trở nên xấu hoặc Chính phủ giảm chi tiêu, tăng thuế, tăng lãi suất... các yếu tố này tác
động có thể làm giảm cầu tiêu dùng, giảm cầu đầu tư, giảm chi tiêu Chính phủ... do vậy
sẽ làm tổng cầu giảm, đường tổng cầu dịch sang trái. 5
II. Tình hình biến động của tổng cầu về hàng hóa và dich vụ của Việt
Nam trong thời gian gần đây (2017 – 2022)
1. Phân tích sự biến động của tổng cầu 1.1. Về hàng hóa
Tổng cầu hàng hoá của một quốc gia bao gồm cầu hàng hoá chi tiêu cho tiêu dùng của hộ
gia đình, chi tiêu cho đầu tư, chi tiêu của Chính phủ trong đầu tư công và cầu hàng hoá
dịch vụ từ cán cân thương mại thông qua xuất và nhập khẩu.
Năm 2017: Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 213,77 tỷ USD, tăng 21,1% so
với năm trước, đây là mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua (tốc độ tăng kim ngạch
xuất khẩu hàng hóa các năm 2013-2016 so với năm trước lần lượt là: 15,3%; 13,8%;
7,9%; và 9%). Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2017 ước đạt 211,1 tỷ USD, tăng
20,8% so với năm trước. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2017 lên tới mức
kỷ lục gần 425 tỷ USD, tương đương hơn 190% GDP. Như vậy, cán cân thương mại hàng
hóa Việt Nam cả năm 2017 xuất siêu 2,7 tỷ USD. Trong khi đó, tiếp tục nhập siêu dịch vụ
3,9 tỷ USD, với kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu dịch vụ ước tính đạt tương ứng 13,1 tỷ USD và 17 tỷ USD.
Năm 2018: Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 244,72 tỷ USD, tăng 13,8% so
với năm 2017. Loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2018 tăng 12,7%
so với năm 2017. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 237,51 tỷ USD, tăng
11,5% so với năm trước. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu cả năm
tăng 9,5% so với năm 2017. Năm 2018, khu vực kinh tế trong nước chuyển biến tích cực
khi đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao hơn khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài với tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng lên so với năm 2017.
Năm 2019: Trước bối cảnh giảm sút trong tổng cầu của kinh tế thế giới, hoạt động thương
mại và đầu tư thế giới suy giảm, xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn duy trì tốc
độ tăng trưởng khả quan với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt 516,96 tỷ USD, tăng 7,6% so với năm 2018.
Năm 2020: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2020 của Việt Nam ước tính
đạt 543,9 tỷ USD, tăng 5,1% so với năm 2019. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa
đạt 281,5 tỷ USD, tăng 6,5%; nhập khẩu hàng hóa đạt 262,4 tỷ USD, tăng 3,6%.
Năm 2021: Tính chung năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,54
tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19%; nhập khẩu tăng
26,5%. Năm 2021 là năm đầu tiên thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm
2021-2025, nhưng dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp đã gây ra những ảnh hưởng 6
tiêu cực đến hoạt động kinh tế, trong đó xuất, nhập khẩu hàng hóa bị ảnh hưởng khá
nghiêm trọng. Những biến động, khó khăn đó đã khiến các nước có xu hướng sử dụng
sản phẩm nội địa thay cho sản phẩm nhập khẩu khi thực hiện biện pháp đóng cửa biên
giới để phòng chống dịch bệnh. Do đó nhiều nước đã sử dụng các biện pháp bảo hộ
thương mại, các rào cản kỹ thuật để tăng cường bảo hộ sản phẩm nội địa, đặc biệt là các
mặt hàng nông sản, thủy sản.
Năm 2022: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả năm 2022 đạt 732,5 tỷ USD,
tăng 9,5% so năm 2021. Trong đó, xuất khẩu đạt 371,9 tỷ USD, tăng 10,6% và nhập khẩu
đạt 360,7 tỷ USD, tăng 8,4%; cán cân thương mại đạt xuất siêu 11,2 tỷ USD, đóng góp
vào trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Trong bối cảnh tổng cầu thế giới suy
giảm, kết quả này được đánh giá là rất khả quan và là điểm sáng trong bức tranh chung của nền kinh tế. 1.2. Về dịch vụ
Năm 2017: Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức
tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ đạt mức tăng 8,36% so với năm trước, là
ngành có đóng góp cao nhất vào mức tăng trưởng chung; dịch vụ lưu trú và ăn uống có
mức tăng trưởng khá cao 8,98% so với mức tăng 6,70% của năm 2016; hoạt động tài
chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,14% (mức tăng cao nhất trong 7 năm gần đây); hoạt đô {
ng kinh doanh bất động sản tăng 4,07% (mức tăng cao nhất kể từ năm 2011).
Năm 2018: Khu vực dịch vụ năm nay tăng 7,03%, tuy thấp hơn mức tăng 7,44% của năm
trước nhưng cao hơn so với các năm 2012-2016. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của
một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm năm 2018 như sau: Bán
buôn và bán lẻ tăng 8,51% so với cùng kỳ năm trước, là ngành có tốc độ tăng cao nhất
trong khu vực dịch vụ, cũng là ngành có đóng góp lớn nhất vào mức tăng tổng giá trị tăng
thêm toàn nền kinh tế; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,21%; dịch vụ
lưu trú và ăn uống tăng 6,78%; ngành vận tải, kho bãi tăng 7,85%; hoạt động kinh doanh
bất động sản tăng 4,33%.
Năm 2019: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2019 ước tính
đạt 4.940,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,8% so với năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,2%
(năm 2018 tăng 8,4%). Cơ sở hạ tầng, chất lượng dịch vụ của ngành vận tải và viễn thông
năm 2019 không ngừng được cải tiến nhằm nâng cao chất lượng phục vụ do đó tiếp tục
giữ mức tăng trưởng khá so với năm trước. Tính chung cả năm 2019, vận tải hành khách
ước tính đạt 5.143,1 triệu lượt khách, tăng 11,2% so với năm 2018 và 248,5 tỷ lượt
khách.km, tăng 10,9%;Vận tải hàng hóa đạt 1.684,1 triệu tấn, tăng 9,7% so với năm trước 7
và 322,2 tỷ tấn.km, tăng 7,8%. Doanh thu viễn thông năm 2019 ước tính đạt 383,3 nghìn
tỷ đồng, tăng 7,8% so với năm 2018.
Năm 2020: Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động
thương mại và dịch vụ. Khu vực dịch vụ trong năm 2020 đạt mức tăng thấp nhất của các
năm 2011-2020. Đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào tốc
độ tăng tổng giá trị tăng thêm của năm 2020 như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 5,53% so
với năm trước; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,87%; ngành vận tải,
kho bãi giảm 1,88%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 14,68%.
Năm 2021: Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp từ cuối tháng Tư đã ảnh hưởng nghiêm
trọng đến hoạt động thương mại và dịch vụ. Tăng trưởng âm của một số ngành dịch vụ
chiếm tỷ trọng lớn đã làm giảm mức tăng chung của khu vực dịch vụ và toàn bộ nền kinh
tế. Ngành bán buôn, bán lẻ giảm 0,21% so với năm trước; ngành vận tải kho bãi giảm
5,02%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm mạnh 20,81%. Ngành y tế và hoạt động
trợ giúp xã hội đạt tốc độ tăng cao nhất trong khu vực dịch vụ với mức tăng 42,75%; hoạt
động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,42%; ngành thông tin và truyền thông tăng 5,97%.
Năm 2022: Khu vực dịch vụ được khôi phục và tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ tăng
năm 2022 đạt 9,99%, cao nhất trong giai đoạn 2011-2022. Một số ngành dịch vụ thị
trường tăng cao, đóng góp nhiều vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế
như sau: Ngành bán buôn, bán lẻ tăng 10,15% so với năm trước; ngành vận tải kho bãi
tăng 11,93%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng cao nhất trong khu vực dịch vụ với
mức tăng 40,61%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,03%; ngành thông
tin và truyền thông tăng 7,80%. Riêng ngành y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 7,6%
do dịch Covid-19 đã được kiểm soát nên chi cho phòng, chống dịch bệnh giảm so với năm 2021.
2. Các yếu tố làm biến động tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam
2.1. Chi tiêu của hộ gia đình
Chi tiêu của các hộ gia đình cũng góp phần trong việc làm thay đổi tổng cầu về hàng hóa
và dịch vụ của Việt Nam. Tổng mức doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng năm
2017 ước tính đạt 3.934,2 nghìn tỷ đồng. Nhu cầu về liên lạc cũng tăng lên nên doanh thu
lĩnh vực viễn thông tăng so với những trước và ước tính đạt 380 nghìn tỷ đồng.
Với sức tiêu dùng mạnh của các hộ gia đình, tổng sản phẩm trong nước ( GDP ) năm
2017 ước tính tăng 6,81% so với năm trước. Trong khu vực dịch vụ so với năm trước có 8
mức tăng đối với một số ngành có tỷ trọng lớn như bán buôn bán lẻ tăng 8,36%, ngân
hàng và bảo hiểm tăng 8,14%,.....
Năm 2018, chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người một tháng ở nông thôn đạt 1.906
nghìn đồng. Tỷ trọng chi ăn uống trong chi tiêu đời sống là chỉ tiêu đánh giá mức sống
cao hay thấp của một hộ dân cư. Tỷ trọng này càng cao biểu hiện mức sống càng thấp và
ngược lại. Việt Nam là một nước có thu nhập trung bình thấp nên tỷ trọng này còn cao.
Tỷ trọng chi ăn uống trong chi tiêu đời sống năm 2018 giảm xuống còn 47,3% cho thấy
mức sống người dân ngày càng được nâng cao.
Năm 2019 là một bước ngoặt lớn với nền kinh tế toàn thế giới nói chung và nền kinh tế
Việt Nam nói riêng khi Covid-19 xuất hiện. Tuy nhiên năm 2019 GDP đạt kết quả ấn
tượng với tốc độ tăng 7,02% (Quý I tăng 6,82%, quý II tăng 6,73%; quý III tăng 7,48%];
quý IV tăng 6,97%), vượt mục tiêu của Quốc hội đề ra từ 6,6%-6,8%. Tổng sản phẩm
trong nước (GDP) quý IV/2019 ước tính tăng 6,97% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó
khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,62%; khu vực công nghiệp và xây dựng
tăng 7,92% và khu vực dịch vụ tăng 8,09%. Trên góc độ sử dụng GDP quý IV/2019, tiêu
dùng cuối cùng tăng 7,29% so với cùng kỳ năm trước.
Năm 2020 được xem là một năm của những khó khăn và thách thức lớn đối với kinh tế
thế giới nói chung, trong đó có Việt Nam. Kinh tế thế giới được dự báo suy thoái nghiêm
trọng nhất trong lịch sử, tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đều giảm sâu do ảnh hưởng
tiêu cực của dịch Covid-19. Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng với tốc
độ tăng GDP ước tính đạt 2,91%. Các hộ gia đình thành thị có mức chi tiêu bình quân đầu
người/tháng xấp xỉ 3,8 triệu đồng trong khi các hộ nông thôn chỉ ở mức 2,4 triệu đồng,
chênh lệch giữa hai khu vực là 1,6 lần. Vùng Đông Nam Bộ luôn đứng đầu cả nước với
mức chi tiêu hộ gia đình cao nhất (hơn 3,9 triệu đồng/người/tháng). Vùng Trung du miền
núi phía Bắc có mức chi thấp nhất (tương đương 2,1 triệu đồng/người/tháng). Ngoài ra
mức tăng chi tiêu bình quân đầu người một tháng ở vùng Trung du miền núi phía Bắc
năm 2020 chỉ tăng 5% so với 2018 trong khi vùng Đông Nam Bộ tăng tới 17,3% so với
năm 2018.Đối với khu vực dịch vụ, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu
dùng giảm 1,2% trong 6 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm trước, nhưng sau đó đã
phục hồi rõ rệt với tốc độ tăng 6 tháng cuối năm đạt 6,2%, đưa lĩnh vực thương mại trong
nước cả năm tăng 2,6%. Tốc độ tăng trưởng của một số ngành dịch vụ thị trường như
sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 5,53% so với năm trước, đóng góp 0,61 điểm phần trăm;
hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,87%, đóng góp 0,46 điểm phần trăm;
ngành vận tải, kho bãi giảm 1,88%, làm giảm 0,06 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú
và ăn uống giảm 14,68%, làm giảm 0,62 điểm phần trăm.Chi đời sống chiếm tỷ lệ cao
trong tổng chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình. Năm 2020 chi cho đời sống bình 9
quân một người một tháng là 2,7 triệu đồng (chiếm tới 93% trong tổng chi tiêu hộ gia
đình), trong đó chi cho ăn uống bình quân đầu người một tháng xấp xỉ 1,35 triệu đồng và
không phải ăn uống hút là xấp xỉ 1,37 triệu đồng.
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV/2021 ước tính tăng 5,22% so với cùng kỳ năm
trước, tuy cao hơn tốc độ tăng 4,61% của năm 2020 nhưng thấp hơn tốc độ tăng của quý
IV các năm 2011-2019. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,16%; khu
vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,61%; khu vực dịch vụ tăng 5,42%. Về sử dụng GDP
quý IV/2021, tiêu dùng cuối cùng tăng 3,86% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính GDP
năm 2021 tăng 2,58% (quý I tăng 4,72%; quý II tăng 6,73%; quý III giảm 6,02%; quý IV
tăng 5,22%) so với năm trước do dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực
của nền kinh tế, đặc biệt là trong quý III/2021 nhiều địa phương kinh tế trọng điểm phải
thực hiện giãn cách xã hội kéo dài để phòng chống dịch bệnh. Về sử dụng GDP năm
2021, tiêu dùng cuối cùng tăng 2,09% so với năm 2020.
Năm 2022 là một năm nền kinh tế nước đang khôi phục một cách mạnh mẽ. GDP quý
IV/2022 ước tính tăng 5,92% so với cùng kỳ năm trước, tuy cao hơn tốc độ tăng 4,7% và
5,17% của cùng kỳ năm 2020 và 2021 nhưng thấp hơn tốc độ tăng của quý IV các năm
2011-2019. GDP bình quân đầu người năm 2022 theo giá hiện hành ước đạt 95,6 triệu
đồng/người, tương đương 4.110 USD, tăng 393 USD so với năm 2021.
Tác động của chi tiêu hộ gia đình
Chi tiêu của các hộ gia đình là một yếu tố tác động đến tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ
trong nền kinh tế nước ta. Cụ thể là từ giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2022, việc chi tiêu
và tiêu thụ của của các hộ gia đình làm thay đổi đến quy mô và số lượng hàng hóa dịch
vụ trong nước khi những con số liên tục tăng và mức tăng phần trăm cũng liên tục thay
đổi theo chiều hướng tích cực. Trong giai đoạn này, Covid-19 là một bước ngoặt đối với
toàn bộ nền kinh tế và làm thay đổi mức tiêu dùng của các hộ gia đình. Với những biện
pháp phòng chống dịch bệnh đúng đắn của chính phủ và sự đoàn kết của người dân đã
giúp cho nền kinh tế vực dậy và phát triển mạnh mẽ, cụ thể là số liệu năm 2022 GDP tăng
so với năm trước là một minh chứng.
Ngành dịch vụ là một trong những ngành ảnh hưởng nhiều bởi chi tiêu của người dân.
Lấy một ví dụ cụ thể về ngành dịch vụ như giáo dục. Chi cho giáo dục, đào tạo bình quân
1 người đi học tại trường công lập hơn 6,1 triệu đồng/người/1 năm, thấp hơn nhiều so với
trường dân lập (25,3 triệu đồng/người/1 năm) và tư thục (17,8 triệu đồng/người/1 năm).
Việc lựa chọn học trường tư của các bậc phụ huynh cho con em mình có nhiều nguyên
nhân, trong đó phải kể đến nguyên nhân do tình trạng đăng ký hộ khẩu. Kết quả khảo sát
cho thấy, nhóm dân số không có đăng ký hộ khẩu có tỷ lệ học tại các trường tư cao hơn 10
so với nhóm dân số có đăng ký hộ khẩu (20,4% so với 4,4%). Nếu xét theo loại trường
học, có 95,0% học sinh đang học tại trường công lập, giảm nhẹ so với năm 2018. Ngược
lại, tỷ lệ học sinh đang học tại các trường dân lập, tư thục vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ và
không đổi so với năm 2018 (4,8%). Năm 2020, trung bình các hộ dân cư phải chi hơn 7,0
triệu đồng cho một thành viên đang đi học, tăng khoảng 7,0% so với năm 2018. Tuy
nhiên, với tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi tiêu của hộ gia
đình thì đây cũng là một gánh nặng tương đối lớn đối với phần đông các hộ gia đình ở
Việt Nam hiện nay. Nhìn từ góc độ chính sách, Nhà nước cần nâng cao hơn nữa việc thực
thi các chính sách giáo dục và đào tạo để san sẻ gánh nặng với các hộ gia đình, tạo điều
kiện để việc tiếp cận dịch vụ giáo dục và đào tạo có thể đến được với mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội.
2.2. Đầu tư của doanh nghiệp
2.2.1. Đầu tư nước ngoài
Tính đến cuối năm 2017, mức đóng góp của khu vực FDI trong GDP của cả nước là
19,6% năm 2017 (Nguồn: Tổng cục Thống kê). Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài -
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2019 vốn FDI vào Việt Nam đạt 38,95 tỷ USD, tăng 7,2% so với năm 2018.
Đến năm 2020, do chịu ảnh hưởng chung của đại dịch Covid-19, hoạt động sản xuất, kinh
doanh của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nên các dự án FDI vào Việt Nam có sự sụt
giảm cả về vốn đăng ký, và các dự án đăng ký mới, nhưng vốn thực hiện chỉ sụt giảm
nhẹ, đạt 98% so với năm 2019 (Bảng 1). 11
Bước sang năm 2021, mặc dù tình hình dịch bệnh COVID – 19 tại Việt Nam diễn biến
phức tạp hơn năm 2020, kết quả thu hút đầu tư FDI vào Việt Nam tháng 11 đầu năm 2021
vẫn tương đối khả quan. Khu vực FDI đóng góp vào GDP năm 2021 là 20,13%.
Năm 2022, tổng vốn FDI đăng kí vào Việt Nam đạt gần 27,72 tỉ USD, mức vốn FDI thực
hiện đạt kỉ lục 22,4 tỉ USD, tăng 13,5% so với cùng kì năm 2021. Đây là số vốn FDI thực
hiện cao nhất trong 5 năm (2017 - 2022).
Từ năm 2017 đến 2022, tỷ trọng của đầu tư nước ngoài FDI vẫn luôn ổn định, có tăng
trưởng không đáng kể. Số vốn có sự biến động tiêu cực lớn do dịch bệnh Covid – 19
nhưng từ năm 2021 đã bắt đầu tăng trưởng trở lại. Nguồn vốn FDI đóng vai trò như là
động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong việc đóng góp vào tăng trưởng GDP.
Các doanh nghiệp FDI đã góp phần đa dạng hóa ngành nghề, sản phẩm, nâng cao tình độ
công nghệ, quản lý sản xuất, khả năng cạnh tranh hội nhập, tạo ra năng lực sản xuất mới.
Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cơ bản đảm bảo đúng pháp luật, sản
xuất ổn định có đóng góp quan trong vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa
bàn. Hầu hết các doanh nghiệp triển khai dự án đảm bảo mức vốn đầu tư đăng ký, hệ số
sử dụng đất khá cao, thu hút được nhiều lao động, giải quyết việc làm và đảm bảo thu
nhập chung trên địa bàn cho người lao động. 12
Vốn đầu tư từ khu vực FDI cho thấy, mối quan hệ cùng chiều với tăng trưởng kinh tế Việt
Nam, tuy vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài là khu vực vốn đầu tư có tác động đến tăng
trưởng kinh tế thấp nhất. Nhưng, trải qua chặng đường hơn 30 năm từ năm 1987, khi
Luật Đầu tư nước ngoài được Quốc hội thông qua đến nay, khu vực kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài (FDI) đã ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng và đóng góp đáng kể vào
sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 2.2.2. Đầu tư tư nhân
Từ ngày 3/6/2017 đến nay, sau hơn 5 năm thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Hội
nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về phát triển kinh tế tư nhân
trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam có sự phát triển mạnh cả về chất, lượng và quy
mô. Đầu tư tư nhân chiếm tỷ trọng 39 – 40% GDP, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế.
Đầu tư doanh nghiệp trong nước có ảnh hưởng đến tổng cầu của một quốc gia bằng cách
tăng sản xuất và cung cấp hàng hóa và dịch vụ trên thị trường trong nước. Khi các doanh
nghiệp trong nước đầu tư và mở rộng hoạt động sản xuất, họ cần tăng cường vốn và sử
dụng các nguồn lực như nhân lực, vật liệu và thiết bị để sản xuất hàng hoá và dịch vụ, do
đó tạo ra một chuỗi giá trị trong nước.
Trong giai đoạn từ 2017 đến nay, đầu tư doanh nghiệp trong nước đã có ảnh hưởng đáng
kể đến tổng cầu của nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam.
Đầu tư của các doanh nghiệp trong nước đã tăng cường sự hiện diện của họ trên thị
trường trong nước và giúp tăng cường sản xuất và cung cấp hàng hoá và dịch vụ.
Trong giai đoạn này, đầu tư doanh nghiệp trong nước ảnh hưởng đến tổng cầu bằng cách:
- Tạo ra việc làm mới: Đầu tư của doanh nghiệp trong nước đã tạo ra các cơ hội việc
làm mới và giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp. Điều này tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế và
tăng khả năng chi tiêu của người dân.
- Tăng sản xuất và cung cấp hàng hoá và dịch vụ: Đầu tư của doanh nghiệp trong nước
đã tăng sản xuất và cung cấp hàng hoá và dịch vụ trên thị trường trong nước, do đó
đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP và tăng trưởng tổng cầu.
- Tăng cường năng suất: Đầu tư của doanh nghiệp trong nước đã giúp tăng cường năng
suất trong nhiều ngành kinh tế, tăng cường sức cạnh tranh và hiệu quả sản xuất của
các doanh nghiệp, đồng thời giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ. 13
- Tăng thu nhập của người dân: Đầu tư của doanh nghiệp trong nước đã giúp tăng thu
nhập của người dân thông qua tạo ra các công việc mới và mở rộng hoạt động sản
xuất, cải thiện mức sống của người dân. 2.3. Chi tiêu Chính phủ 2.3.1. Chính sách thuế Chính sách giảm thuế
Trong giai đoạn từ 2017 đến 2022, chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách
giảm thuế nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh.
- Giảm thuế TNDN ( Thu nhập doanh nghiệp): Trong năm 2017, chính phủ Việt Nam
đã áp dụng mức thuế TNDN (thu nhập doanh nghiệp) giảm từ 20% xuống còn 17%.
Đây là chính sách giảm thuế quan trọng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
sản xuất, kinh doanh và tăng cường sức cạnh tranh của các doanh nghiệp.
- Giảm thuế nhập khẩu: Trong năm 2018, chính phủ Việt Nam đã áp dụng chính sách
giảm thuế nhập khẩu cho nhiều mặt hàng như thực phẩm, thuốc lá, máy móc thiết bị
sản xuất. Điều này giúp giảm chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh và đóng góp
tích cực cho xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam.
- Giảm thuế môi trường: Năm 2020, chính phủ Việt Nam đã áp dụng chính sách giảm
30% thuế đối với nhiều ngành nghề bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 như du lịch,
vận tải hành khách, khách sạn, nhà hàng, giáo dục và đào tạo, văn hóa, thể thao và
giải trí. Đây là chính sách giảm thuế quan trọng nhằm giúp giảm chi phí sản xuất và
tăng khả năng tiêu dùng của người dân.
Các chính sách giảm thuế này đã có ảnh hưởng tích cực đến tổng cầu hàng hoá và dịch vụ
của Việt Nam. Chính sách giảm thuế giúp giảm chi phí sản xuất và tăng khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp, từ đó giúp tăng sản xuất và tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ.
Ngoài ra, chính sách giảm thuế cũng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh,
đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Khi chính phủ giảm thuế,
người dân và doanh nghiệp sẽ có nhiều tiền hơn để chi tiêu và đầu tư, tăng sức mua và
tiêu dùng, tạo động lực cho hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp, góp
phần tăng tổng cầu hàng hoá và dịch vụ. Chính sách tăng thuế
Trong giai đoạn từ 2017 đến 2022, chính phủ Việt Nam đã áp dụng một số chính sách
tăng thuế nhằm tăng thu ngân sách và hạn chế thâm hụt ngân sách quốc gia. 14
- Tăng thuế môi trường: Trong năm 2019, chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định
số 75/2019/NĐ-CP về quản lý, sử dụng và thu thuế môi trường đối với sản phẩm nhựa
và túi nhựa. Theo đó, các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu và tiêu dùng sản phẩm
nhựa và túi nhựa phải đóng thuế môi trường. Thuế môi trường này được tính dựa trên
trọng lượng sản phẩm và mức thuế từ 1.000 đồng đến 50.000 đồng/kg tùy từng loại
sản phẩm. Đây là chính sách tăng thuế quan trọng nhằm giảm thiểu tác động xấu đến
môi trường và đóng góp cho ngân sách quốc gia.
- Tăng thuế VAT: Trong năm 2020, chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số
100/2020/NĐ-CP, tăng mức thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với hàng hóa và dịch vụ.
Theo đó, mức thuế VAT tăng từ 10% lên 15% đối với một số hàng hóa và dịch vụ như
xe hơi, thực phẩm hạt như đậu, đỗ, dưa hấu, lạc, vàng và bạc, đồng hồ sang trọng,
hàng điện tử. Đây là chính sách tăng thuế quan trọng nhằm tăng thu ngân sách nhà nước.
- Tăng thuế đối với dịch vụ đặc biệt: Trong năm 2021, chính phủ Việt Nam đã ban hành
Luật thuế đối với dịch vụ đặc biệt, tăng mức thuế đối với các dịch vụ đặc biệt như
casino, dịch vụ viễn thông, dịch vụ đường sắt và taxi sử dụng công nghệ. Theo đó,
mức thuế tăng từ 10% lên 15% đối với các dịch vụ này. Đây là chính sách tăng thuế
nhằm đóng góp cho ngân sách quốc gia và hạn chế tình trạng tiêu cực trong một số ngành kinh doanh.
- Tăng thuế nhập khẩu: Trong năm 2018, chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số
163/2018/NĐ-CP về thuế nhập khẩu đối với hàng hóa thuộc nhóm nông sản, thủy sản
và một số loại sản phẩm khác. Theo đó, các sản phẩm nhập khẩu như lúa gạo, thịt, cá,
hải sản, dầu ăn, sữa bột, trái cây nhập khẩu sẽ phải đóng thuế tăng thêm từ 2-5%, tùy
từng mặt hàng. Đây là chính sách tăng thuế quan trọng nhằm bảo vệ sản xuất trong
nước và tăng thu ngân sách nhà nước.
- Tăng thuế TNDN: Ngoài việc giảm thuế TNDN, chính phủ Việt Nam cũng đã áp dụng
một số chính sách tăng thuế TNDN nhằm tăng thu ngân sách. Trong năm 2020, chính
phủ đã ban hành Luật thuế TNDN số 83/2020/QH14, tăng mức thuế TNDN từ 20%
lên 25% đối với các doanh nghiệp có doanh thu trên 200 tỷ đồng/năm. Đây là chính
sách tăng thuế quan trọng nhằm tăng thu ngân sách nhà nước.
Các chính sách tăng thuế như trên đã ảnh hưởng đến tổng cầu hàng hoá và dịch vụ tại
Việt Nam. Điều này là do các doanh nghiệp phải trả nhiều hơn cho ngân sách nhà nước,
dẫn đến giảm lợi nhuận và giá cả tăng, đồng thời làm giảm tiêu thụ của người tiêu dùng.
Khi chính phủ tăng thuế, các doanh nghiệp và cá nhân sẽ phải trả nhiều hơn cho ngân
sách nhà nước, dẫn đến giảm sức mua và tiêu dùng của người dân. Điều này có thể ảnh 15
hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của các doanh nghiệp, góp phần
làm giảm tổng cầu hàng hoá và dịch vụ.
2.3.2. Chi tiêu công cho lĩnh vực liên quan đến xã hội Giáo dục và đào tạo
Trong ba năm vừa qua, Chính phủ đã duy trì đầu tư cho giáo dục và đào tạo ở mức tương
đối cao. Trong giai đoạn 2018 - 2020, đầu tư cho giáo dục tiểu học giữ vị trí cao nhất
(hơn 31%), theo sau đó là giáo dục trung học cơ sở (22,7% và 23,8%). Giáo dục nghề
nghiệp và giáo dục thường xuyên chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn (lần lượt là 1,5 và 2%),
cuối cùng giáo dục trung học phổ thông chiếm 10,5- 10,9%. Ngoài ra, mặc dù giáo dục
mầm non chiếm 19,8% tổng chi tiêu công cho giáo dục, nhưng phần lớn khoản đầu tư
này lại dành cho giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi.
Có thể thấy Chính phủ rất quan tâm đến ngành giáo dục, nâng cao chất lượng người lao
động. Tỉ lệ phần trăm giáo dục tương đối cao. Chi tiêu vào ngành giáo dục cũng tăng lên
đáng kể, điều này đồng nghĩa với việc chất lượng của lực lượng lao động đang ngày được
cải thiện, lao động được giáo dục có khả năng sáng tạo, tăng kiến thức về công nghệ mới,
sản phẩm mới, quy trình mới , những nhân tố này kết hợp dẫn tới tăng trưởng kinh tế.
Chi tiêu cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo còn ảnh hưởng đến tổng cầu hàng hoá và dịch
vụ bởi vì giáo dục và đào tạo là nguồn nhân lực chính cho các ngành công nghiệp và dịch
vụ. Khi có một lực lượng lao động có trình độ cao, các ngành công nghiệp và dịch vụ có
thể hoạt động hiệu quả hơn, tăng cường sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng
cường thị trường tiêu dùng. Do đó, việc tăng chi tiêu cho giáo dục và đào tạo có thể góp
phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và tăng cường sức cạnh tranh của đất nước
trong thị trường quốc tế. Một tính toán cho rằng thời gian học phổ thông tăng một năm
đóng góp 25% đến 73% tăng trưởng kinh tế. Vì thế đối với những nước đang phát triển
như việt nam thì cần duy trì, đầu tư vào giáo dục nhiều hơn để nền kinh tế có thể tăng trưởng, phát triển. An sinh xã hội
Trong giai đoạn từ 2017 đến 2022, chi tiêu của chính phủ cho lĩnh vực an sinh xã hội đã
tăng trưởng liên tục và đáng kể. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, chi tiêu cho lĩnh vực
sức khỏe trong năm 2017 là 109.146 tỷ đồng, trong khi đó tăng lên 154.581 tỷ đồng vào
năm 2020. Tương tự, chi tiêu cho bảo hiểm xã hội tăng từ 236.457 tỷ đồng vào năm 2017
lên 333.074 tỷ đồng vào năm 2020, và chi tiêu cho hỗ trợ xã hội tăng từ 71.698 tỷ đồng
vào năm 2017 lên 91.165 tỷ đồng vào năm 2020. Trong khi đó, tổng cầu hàng hóa và dịch
vụ tại Việt Nam trong cùng giai đoạn này cũng tăng từ 5.535.602 tỷ đồng lên 10.420.681
tỷ đồng, tăng trưởng khoảng 88,3%. 16
Chi tiêu công vào an sinh xã hội đứng thứ hai trên tổng chi tiêu của chính phủ. Tuy nhiên,
đầu tư vào chăm sóc và bảo vệ trẻ em và trợ giúp xã hội trong năm 2018-2020 còn khiêm
tốn. Lương hưu và các phúc lợi bảo hiểm xã hội đứng vị trí cao nhất, mặc dù mức phần
trăm giảm nhẹ từ 39,1% xuống 36,9% trên tổng chi của chính phủ vào an sinh xã hội
trong năm 2028-2020. Mức tuyệt đối và phần trăm trợ giúp xã hội dành cho người có
công giảm từ 35,3% vào năm 2018 xuống 29,7% vào năm 2020. An sinh xã hội cho các
nhóm mục tiêu khác tăng 7,9 điểm phần trăm, từ 25,3% vào năm 2018 lên đến 33,2% vào năm 2020.
Chi tiêu của chính phủ trong lĩnh vực y tế là một trong những tiêu chí quan trọng có ảnh
hưởng đáng kể đến tổng cầu hàng hoá và dịch vụ. Việc chính phủ tăng chi tiêu cho y tế sẽ
làm tăng nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ y tế, từ đó góp phần tăng cường sản
xuất và cung cấp các mặt hàng y tế. Ngoài ra, việc chăm sóc sức khỏe và phòng ngừa
bệnh tật sẽ giúp người dân nâng cao sức khỏe, tăng cường năng suất lao động, từ đó góp
phần tăng trưởng kinh tế.
Trong năm 2018-2020, chính phủ đã tăng cường chi tiêu vào cơ sở hạ tầng y tế, kiểm tra
sức khỏe và khám chữa bệnh. Trong giai đoạn này, chi tiêu của chính phủ cho lĩnh vực y
tế đã tăng đều từ 90.8 nghìn tỷ đồng năm 2017 lên 132,1 nghìn tỷ đồng năm 2020, chiếm
tỷ lệ từ 8,2% đến 9,2% trong tổng chi tiêu của chính phủ. Chi tiêu vào khám chữa bệnh
có mức tăng lớn nhất, từ 38,2% vào năm 2018 lên đến 45,4% vào năm 2020. Nguồn lực
huy động nhằm bù đắp chi phí chi tiêu cho bảo hiểm y tế tăng từ 35% vào năm 2018 đến
35,9% vào năm 2019, nhưng giảm xuống còn 33,3 vào năm 2020. Chi tiêu dành cho y tế
dự phòng giảm 3,2 điểm phần trăm, từ 15,4% vào năm 2018 xuống 12,2% vào năm 2020.
Chi tiêu công dành cho kế hoạch hóa gia đình năm 2020 là 27 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 1/3
so với năm 2018 (96 tỷ đồng).Theo báo cáo của tổng cục thống kê Việt Nam, trong giai
đoạn 2017 đến 2022, đóng góp của ngành y tế vào GDP tăng từ 7,0% lên 7,7%. Điều này
cho thấy đầu tư vào y tế không chỉ có lợi cho sức khỏe của người dân mà còn có tác
động đến tăng trưởng kinh tế đất nước.
Những khoản chi này đã có tác động đáng kể đến sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế và
xã hội tại Việt Nam, từ đó tạo ra sự gia tăng về sản xuất và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ.
Chẳng hạn, chi tiêu cho y tế đã giúp cải thiện sức khỏe của người dân, làm tăng độ dài
tuổi thọ và nâng cao năng suất lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất và tiêu
thụ hàng hóa và dịch vụ trong kinh tế. Ngoài ra, chi tiêu chính phủ cho giáo dục và đào
tạo cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển con người, nâng cao trình độ dân trí
và kỹ năng, từ đó cải thiện chất lượng nhân lực và tăng khả năng sản xuất và tiêu thụ của ngành kinh tế. 17