Chương 3
MÔI TRƯỜNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI
3.1. KHÁI NIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG TRONG KINH DOANH
THƯƠNG MẠI
3.1.1. Ki niệm i tng kinh doanh và c yếu t môi trường kinh doanh tơng mại
nhiều khái niệm về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Các khái niệm y
chia thành 2 quan niệm. Có quan niệm cho rằng môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là
tập hợp những điều kiện, những yếu tố bên trong bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp hay
gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Với quan niệm này, các yếu tố của
môi trường kinh doanh sẽ bao gồm cả các yếu tố bên ngoài và bên trong doanh nghiệp. Cụ
thể, các yếu tố của môi trường kinh doanh được chia ra thành:
- Các yếu tố i trường bên trong doanh nghiệp (hay còn gọi hoàn cảnh nội bộ),
bao gồm các yếu tố nội tại (nguồn lực nội bộ) của doanh nghiệp. Đó là nguồn nhân lực, hệ
thống cơ sở vật chất và mạng lưới kinh doanh, tài sản, mặt hàng kinh doanh, hệ thống thông
tin, thị trường và thị phần của doanh nghiệp, nề nếp văn hóa của tổ chức, nhãn hiệu (thương
hiệu), hoạt động nghiên cứu phát triển... Hoàn cảnh nội bộ còn được gọi môi trường
mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được.
- Các yếu tố môi trường ngành kinh doanh: Môi trường ngành kinh doanh thường được
xác định đối với một ngành kinh doanh hoặc từng doanh nghiệp kinh doanh trong các mối
quan hệ với các đối tác hữu quan đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Các yếu tmôi trường kinh tế quốc dân, bao gm chính trị, luật pháp, kinh tế,
khoa hc ng nghệ, văn hóa xã hội, điều kiện tnhn cơ sở htầng.
- c yếu tố môi trường khu vực và môi trường quốc tế: là các yếu tố tương tự như
của nền kinh tế quốc dân nhưng xét phạm vi quốc tế.
Trong khuôn khổ giáo trình này, quan niệm rằng: môi trường kinh doanh tất cả
những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó tổng thể các yếu tố các quan hệ kinh tế, chính
trị, xã hội, luật pháp, khoa học - công nghệ, tài nguyên... hình thành một cách khách quan và
luôn ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Môi trường bên ngoài khách thể của
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải thích nghi với hoàn cảnh và tận
dụng các hội, các điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh hoạt động phát triển kinh doanh,
tìm mọi biện pháp khắc phục những khó khăn, những bất lợi của điều kiện môi trường để
kinh doanh được tiến hành với bất lợi giảm thiểu nhất.
Với quan niệm như vậy, môi trường kinh doanh bao gồm các yếu tố bên ngoài doanh
nghiệp, thể được phân chia thành nhiều cấp độ khác nhau: môi trường quốc tế, môi trường
khu vực, môi trường quốc gia, môi trường ngành, nhóm chiến lược… Tuy nhiên, phổ biến
nhất, người ta chia các yếu tố của môi trường kinh doanh thành 2 cấp độ lớn: Môi trường vĩ
mô (có tính đến yếu tố quốc tế), bao gồm các yếu tố chính trị, pháp lý, kinh tế, xã hội, khoa
học công nghệ, tự nhiên… Môi trường ngành, bao gồm các yếu tố nhà cung cấp, khách
hàng, đối thủ cạnh tranh hiện tại, đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, sản phẩm thay thế (Porter,
1992). Các yếu tố này c động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp với hướng tác động
cường độ tác động khác nhau đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mang lại những
cơ hội và nguy cơ mà doanh nghiệp cần phải đối mặt khi tiến hành hoạt động kinh doanh.
3.1.2. Ảnh hưởng của môi trường kinh doanh thương mại
Trong kinh doanh thương mại, việc doanh nghiệp đạt được kết quả hoặc hiệu quả kinh
doanh cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào sự am hiểu các điều kiện của môi trường kinh doanh
mà doanh nghiệp đã, đang, tiếp tục và sẽ hoạt động. Bởi vì các yếu tố của môi trường kinh
doanh ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ các quyết định của quản trị và hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Doanh nghiệp từ khi ra đời, tồn tại và phát triển đều ở trong môi trường
kinh doanh, tồn tại khách quan đối với hoạt động kinh doanh thương mại của doanh nghiệp.
Môi trường kinh doanh lại luôn luôn biến động theo những xu hướng thuận nghịch khác
nhau đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tính phức tạp và tính biến động một
cách nhanh chóng, bất ngờ của môi trường kinh doanh thử thách thường xuyên với tài
năng, kinh nghiệm và sự nhạy cảm của người quản trị doanh nghiệp, cũng như đối với toàn
thể cán bộ, nhân viên kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở nắm vững các nhân tố ảnh hưởng của môi trường kinh doanh, am hiểu tính
chất phức tạp tính biến động của môi trường kinh doanh, doanh nghiệp phải tiên lượng
đúng được các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, cũng như xu hướng và
tốc độ thay đổi của môi trường kinh doanh, doanh nghiệp mới đề ra được chiến lược và kế
hoạch kinh doanh đúng đắn. Trong các chiến lược kế hoạch kinh doanh, doanh nghiệp
ngoài việc xác định rõ mục tiêu, thị trường, khách hàng, các đối tác có quan hệ, cần nhận rõ
những yếu tố ảnh hưởng thuận chiều ngược chiều đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, để có kế hoạch huy động sử dụng hợp lý các nguồn lực của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp phải biện pháp để ứng xử phù hợp với những thay đổi của môi trường kinh doanh.
Trong xu thế hội nhập khu vực thế giới, môi trường kinh doanh biến động với những thay
đổi diễn ra nhanh chóng khó dự báo trước một cách sát thực tế rất phổ biến. Sự biến
động của môi trường kinh doanh thể dẫn đến những hội hay nguy đối với doanh
nghiệp. Trong kinh doanh thương mại, không biết tận dụng cơ hội kịp thời, cơ hội sẽ nhanh
chóng biến mất và có khi lại trở thành nguy cơ.
Môi trường kinh doanh biến đổi tác động mạnh mkhông chỉ đối với hoạt động và kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn tác động đến cả tổ chức bộ máy quản lý và kinh
doanh của doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh biến đổi ảnh hưởng đến phương thức
thpháp kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như các dịch vụ phục vụ khách hàng. Ngày
nay, trong môi trường kinh doanh cạnh tranh, việc phát triển các dịch vụ cơ bản và các dịch
vụ bổ sung phục vụ khách hàng là yêu cầu không thể thiếu được trong văn minh thương mại.
Khách hàng không chấp nhận những doanh nghiệp kinh doanh thương mại không dịch
vụ, hoặc dịch vụ không đầy đủ, kịp thời, thuận tiện và văn minh.
Môi trường kinh doanh thay đổi tác động mạnh mẽ đến các mối quan hệ nội bộ cũng
như quan hệ với bên ngoài. Doanh nghiệp phải tuân thủ luật pháp và các chính sách chế độ
quản kinh tế của Nhà nước, những tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, về vệ sinh, an toàn
bảo vmôi trường. Doanh nghiệp phải thực hiện trách nhiệm xã hội của mình, phải tôn
trọng quyền lợi chính đáng của khách hàng, của người tiêu dùng. Trong mối quan hệ giữa
môi trường kinh doanh doanh nghiệp, môi trường kinh doanh khách thể, môi trường
kinh doanh thay đổi đòi hỏi doanh nghiệp kinh doanh cũng phải thay đổi doanh nghiệp
thay đổi làm cho môi trường kinh doanh biến đổi theo. Những năm gần đây, do sự phát triển
nhanh chóng như bão của khoa học - công nghệ mới, đặc biệt công nghệ thông tin,
công nghệ sinh học, công nghệ tự động a cũng như các phương tiện vận chuyển sức
chứa lớn , tốc độ cao và giá hạ...; đồng thời, với xu thế mở cửa, giao lưu giữa các nền kinh
tế, việc nắm bắt thông tin nhanh chóng, trực tiếp, đã những thay đổi lớn trong việc tìm
hiểu ngành nghề kinh doanh, sản phẩm thị trường. giúp cho việc nghiên cứu thị trường,
lựa chọn đối tác quan hệ giao dịch trực tiếp, giảm nhiều chi phí, tiết kiệm nhiều thời gian,
làm thay đổi phương thức tiến hành hoạt động kinh doanh.
Môi trường kinh doanh không chỉ ảnh hưởng còn tác động mạnh mẽ đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Muốn thành công trong kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp
thương mại phải nghiên cứu để hiểu các yếu tố hợp thành môi trường, để thích nghi
đáp ứng những đòi hỏi của môi trường kinh doanh.
3.2. MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VĨ MÔ
3.2.1. Môi trường quốc tế
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, môi trường khu vực và quốc tế có vai trò quan
trọng, quyết định đến sự phát triển của quốc gia và doanh nghiệp. Khu vực hóa và toàn cầu
hóa đang một xu hướng tất yếu đòi hỏi tất cả các doanh nghiệp, các ngành cũng như
chính phủ của các nước phải tính đến trong phân tích chiến lược của mình. Xu hướng y
đặt thị trường của mỗi quốc gia trong thị trường toàn cầu và chịu sự tác động của các nhân
tố của môi trường kinh doanh quốc tế. Thứ nhất, thị trường của mỗi doanh nghiệp được mở
rộng, biên giới giữa các quốc gia bị xóa mờ, hàng hóa của các doanh nghiệp có cơ hội xâm
nhập vào c thị trường trước đây những rào cản xâm nhập, hạn chế. Thứ hai, môi
trường kinh doanh của mỗi quốc gia sẽ biến động nhanh hơn gắn với chu k biến động
của nền kinh tế thế giới. Thực vậy, môi trường quốc tế sẽ phức tạp hơn, cạnh tranh hơn theo
quan điểm từ những khác biệt về hội, văn hóa, cấu trúc thể chế cũng như chính sách về
kinh tế.
Các yếu tố của môi trường quốc tế có thể được phân chia thành:
- Quy xu hướng n số trên thế giới các khu vực: Dân số thế giới được dự đoán
tăng trưởng từ 7 tỷ người năm 2011 lên tới 9,5 tỷ người vào năm 2050. Tầng lớp trung lưu
tăng lên: dự kiến từ 2 tỷ người (2011) lên 5 tỷ người (2030), chủ yếu đến từ sự tăng trưởng
khu vực châu Á châu Phi. Xu hướng đô thị hóa di dân tiếp tục tăng lên: dự kiến
khoảng 70% dân số thế giới sống ở các thành phố vào năm 2050.
- Tình hình chính trthế giới: một mặt các ớc giổn định chính trị, chung sống hòa nh
trong ngôi nhà chung của thế giới, mặt khác các quốc gia luôn muốn duy trì ảnh ng của nh
đối với phần còn lại của thế giới v chính tr, qn sự ngoại giao. Bi vậy các doanh nghiệp
Việt Nam phải tận dụng cơ hi mở ca hội nhập đpt triển thtrường của doanh nghiệp.
- Tình hình kinh tế thế giới: ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, trong bối cảnh khủng hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu sự cạnh tranh quyết liệt
của đối thủ nước ngoài, đòi hỏi doanh nghiệp phải tích cực tham gia vào chuỗi cung ứng sản
phẩm toàn cầu để phát triển kinh doanh. Việt Nam đã tham gia WTO, tháng 12-2015 thành
viên của Cộng đồng ASEAN (AEC), của Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương
(TPP), và thực hiện nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) khác. Tiến trình hội nhập
của đất nước đã và đang tạo ra nhiều vận hội cho các doanh nghiệp Việt Nam về đầu tư, v
thị trường nhưng cũng đang có nhiều thách thức các doanh nghiệp phải đương đầu. T
do hóa thương mại khu vực, phá vỡ hàng rào thuế quan sẽ những đe dọa rất lớn đối với
các doanh nghiệp Việt Nam. Hơn nữa, bản thân ASEAN cũng phải được đặt trong mối quan
hệ toàn cầu của cạnh tranh quốc tế như khối EU, Bắc M (NAFTA), G8, Trung Quốc…
Trong điều kiện tham gia sân chơi chung của thế giới các doanh nghiệp phải phân tích bối
cảnh thị trường, lựa chọn đối tác phù hợp, am hiểu luật pháp của nước sở tại để tự bảo vệ lợi
ích của doanh nghiệp trên cơ sở luật pháp quốc tế và quốc gia.
- Sự phát triển của khoa học công nghệ thế giới: phát triển nhanh chóng, doanh
nghiệp thương mại phải nghiên cứu, nắm bắt xu thế phát triển các loại sản phẩm để cung cấp
cho thị trường những ng hóa chất lượng cao, mẫu phong phú, thân thiện với môi
trường và phù hợp với thị hiếu tiêu dùng.
- Sự biến đổi khí hậu toàn cầu: Sự biến đổi khí hậu toàn cầu sự gia tăng nhiệt độ
toàn cầu dẫn đến sự biến động liên quan đến thời tiết, khí hậu, gây ảnh hưởng đến kinh tế
toàn cầu, từ đó đặt ra yêu cầu về phát triển thương mại bền vững đối với các quốc gia, các
khu vực cũng như các doanh nghiệp/tổ chức kinh doanh thương mại.
3.2.2. Môi trường chính trị, luật pháp
Trong kinh doanh hiện đại, các yếu tố chính trị pháp luật ngày càng có ảnh hưởng
lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường chính trị, luật pháp liên quan
đến chính phủ của quốc gia doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh; luật pháp của thị
trường nội địa cũng như nước ngoài. Đây là yếu tố tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành
kinh doanh trên một lãnh thổ. Các yếu tố chính phủ, luật pháp và chính trị tác động đến
doanh nghiệp theo các hướng khác nhau. Chúng có thể tạo thành cơ hội, trở ngại, thậm chí
là rủi ro thật sự cho doanh nghiệp. Để bảo đảm sự vận hành của nền kinh tế thị trường, quốc
gia nào cũng có hệ thống pháp luật và các chế độ chính sách của Chính phủ để điều tiết thị
trường. Để thành công trong kinh doanh, các doanh nghiệp phải nghiên cứu, phân ch, dự
báo về chính trị và pháp luật, cùng với xu hướng vận động của nó bao gồm:
- Chính phủ là người tiêu dùng lớn nhất trong nền kinh tế thông qua chi tiêu công;
- Sự ổn định về chính trị, sự nhất quán về quan điểm chính sách lớn luôn sự hấp dẫn
các nhà đầu tư. Hệ thống luật pháp được y dựng hoàn thiện sẽ sở để tạo ra một
môi trường pháp lý tốt cho doanh nghiệp. Chúng ta sẽ xem xét sự bình ổn trong các yếu tố
xung đột chính trị, ngoại giao của thể chế luật pháp. Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể
tạo điều kiện tốt cho việc hoạt động kinh doanh và ngược lại các thể chế không ổn định, xảy
ra xung đột sẽ tác động xấu tới hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó.
- Mối quan hệ đối ngoại của chính phủ và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của quốc
gia: Sự tham gia các hiệp định song phương đa phương cũng như việc tham gia các tổ
chức kinh tế trên thế giới ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp
trong và ngoài nước, tạo điều kiện thu hút đầu tư, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu. Việt
Nam đã đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực thế giới, thành viên thứ
150 của WTO (2006), ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương (bảng
3.1.)
Bảng 3.1. Danh mục các FTA mà Việt Nam đã ký kết và có hiệu lực (đến 2015)
TT
Tên FTA
Năm ký kết
1
Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA)
1996
2
Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA)
2004
3
Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - n Quốc (AKFTA)
2006
4
Hip đnh Đi c Kinh tế Toàn diện ASEAN - Nht Bản (AJCEP)
2008
5
Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA)
2009
6
Hip đnh Thương mại T do ASEAN - Australia và New Zealand (AANZFTA)
2010
7
Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Ấn Độ (AIFTA)
2010
8
Hiệp định Thương mại Tự do Vietnam - Chile (VCFTA)
2012
9
Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP)
2015
10
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU (EVFTA)
2015
11
Hip đnh Thương mại T do Việt Nam Liên minh Kinh tế Á Âu (VEAEU)
2015
12
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)
2015
13
Hip đnh Đi c Kinh tế Toàn diện Khu vực ASEAN+6 (RCEP)
Đang đàm phán
14
Hiệp định Thương mại Tdo Việt Nam Hiệp hội Mậu dịch Tự do Châu Âu
EFTA (VEFTA)
Đang đàm phán
Nguồn: Trung tâm WTO, VCCI.
Việc hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới một mặt mang lại nhiều
hội cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, mặt khác cũng khiến c
doanh nghiệp trong nước gặp nhiều thách thức.
+ Các cơ hội có thể kể đến là:
Tạo việc làm và tăng thu nhập bằng phát triển việc làm phi nông nghiệp và
hội thu nhập;
Đạt được sự phát triển kinh tế bền vững;
Cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực và tăng năng suất;
Mở rộng xuất khẩu và sử dụng hiệu quả nhập khẩu;
Thu hút FDI;
Đạt được sự công bằng hơn nữa về phân bổ thu nhập;
Hỗ trợ phát triển nông thôn và khu vực.
Tiếp cận lớn hơn cho hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam, là kết quả từ việc mở
cửa thị trường;
Thiết lậpc cơ sở hạ tầng mềm và cứng cần thiết để đáp ứng nhu cầuiều này
cũng tạo ra việc làm và cơ hội cho c nhà cung cp hàng a dịch vụ);
Chuyển giao kiến thức (bao gồm tất cả mọi thứ từ công nghệ cho đến các hệ
thống quản lý);
Tăng cường tiêu chuẩn hóa (cải thiện chất lượng, tạo uy tín tốt hơn tăng
cường tiếp cận với các cơ hội thị trường lớn hơn);
Phát triển khối dịch vụ (khối phát triển nhanh nhất trên thế giới);
Khả năng tham gia vào mạng lưới sản xuất quốc tế và các chuỗi cung ứng toàn
cầu, thông qua đó trở thành các nhà cung cấp cho các công ty nước ngoài
các nhà đầu tư trong và ngoài Việt Nam;
Hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài cả trong nước và quốc tế - chuyển giao
như các nhà phân phối, tiếp thị, nhà cung cấp, quản lý.
+ Các thách thức cơ bản phải đối mặt là:
Tăng sự cạnh tranh quốc tế như một kết quả của việc mở cửa thị trường;
Tăng áp lực để sản xuất các sản phm có sức cnh tranh v giá cả, cht lượng
tiến độ giao ng để có thể được bán cả thtrường trongớc quốc tế;
c doanh nghip được bảo vệ trước đây th thiếu những kỹng quản cần
thiết, chuyên môn và tng tin để cạnh tranh với các đối tác thương mại của họ;
Thiếu sự hợp tác giữa các doanh nghiệp. Sự phối hợp trong hiệp hội công
nghiệp hiện nay không đủ để giúp các doanh nghiệp của Việt Nam hình thành
mạng lưới sản xuất để tăng hiệu quả và lợi ích kinh tế về quy mô;
Rào cản kthuật đối với thương mại (Technical Barriers to Trade - TBTs)
các thị trường khác. Các rào cản như tiêu chuẩn, sự phù hơp với việc ghi nhãn
hiệu và các quy tắc xuất xứ, những vấn đề phức tạp đối với các doanh nghiệp
có quy mô nhỏ và vừa ở một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam;
Khuôn khổ chính sách về tổng thể nền kinh tế còn nghèo nàn việc
thiếu nghiêm trọng sự phát triển cơ sở hạ tầng mềm (như quản lý kinh doanh,
thực hành kế toán, và giáo dục hành chính) để hỗ trợ các doanh nghiệp và các
nghĩa vụ WTO.
Giới hạn khuôn khổ pháp lý minh bạch để thể các bảo vệ biện pháp
vãn hồi công bằng của pháp luật;
Vấn đề ngôn ngữ và hiểu biết về các tập quán kinh doanh quốc tế;
Các vấn đề vềsở hạ tầng cứng còn nghèo nàn như đường giao thông, thông
tin liên lạc và cung cấp năng lượng;
Thiếu sự bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chống lại các hành vi bảo vệ kinh doanh
truyền thống;
Khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ khu vực tài chính chính thức. Theo
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chỉ 32.4% doanh nghiệp đủ điều kiện vay vốn ngân
hàng chính thức, do đó buộc họ phải tìm nguồn vốn từ các nơi khác;
Nhiều doanh nghiệp quy nhỏ - tạo ra những thách thức trong việc tái
đầu tư sản xuất.
Môi trường luật pháp thường được đề cập gắn liền với môi trường chính trị do những
định hướng phát triển kinh tế của hệ thống chính trị sẽ được cụ thể hóa bằng hệ thống chính
sách và văn bản pháp luật của Nhà nước. Những chính sách hệ thống văn bản pháp luật
của Nhà nước tạo hành lang pháp lý sở để các doanh nghiệp tổ chức hoạt động sản
xuất kinh doanh. Hệ thống pháp luật, chính ch, sự hoàn thiện, minh bạch hiệu lực thi
hành chúng tạo ra một “luật chơi” ràng, minh bạch để các doanh nghiệp nh xtrên
thương trường.
- Các chính sách của Nhà nước liên quan đến kinh doanh thương mại: Chính sách thuế
xuất khẩu, nhập khẩu, các thuế tiêu thụ, thuế thu nhập... sẽ ảnh hưởng tới việc tạo điều kiện
cho doanh nghiệp như: nguồn huy động vốn, nguồn nhân lực… Những vấn đề y sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp; thể tạo ra hội lại vừa có
thể là những phanh hãm phát triển sản xuất kinh doanh.
- Các đạo luật liên quan đến kinh doanh thương mại như luật đầu tư, luật doanh nghiệp,
luật lao động, luật chống độc quyền, chống bán pgiá… quy định mọi vấn đề liên quan
đến hoạt động sản xuất kinh doanh từ vấn đề thành lập doanh nghiệp, những điều doanh
nghiệp được làm, phải làm và là cơ sở pháp lí bảo vệ doanh nghiệp. Luật Lao động, những
quy chế tuyển dụng, đề bạt, chế độ hưu trí, trợ cấp thất nghiệp cũng là những điều mà doanh
nghiệp phải phân tích đầy đủ. Những quy định về quảng cáo đối với một sdoanh nghiệp,
lĩnh vực kinh doanh thể sẽ tạo điều kiện thuận lợi hoặc hạn chế hoạt động của doanh
nghiệp, đặc biệt là trong một số lĩnh vực mà Nhà nước không khuyến khích phát triển, chẳng
hạn các nhà sản xuất và kinh doanh rượu mạnh, thuốc lá…
- Các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển thương mại của Nhà nước, của các
địa phương.
- Sự điều tiết và khuynh hướng can thiệp của Chính phủ vào đời sống kinh tế xã hội.
- Các quy định về thuế: Hầu hết các hoạt động kinh doanh đầu Việt Nam s
chịu ảnh hưởng của những loại thuế sau đây: Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế nhà thầu
nước ngoài; Thuế chuyển nhượng vốn; Thuế giá trị gia tăng; Thuế nhập khẩu; Thuế thu nhập
nhân của nhân viên người Việt Nam và nhân viên người nước ngoài; Các khoản đóng góp
vào bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế. Ngoài ra, các loại thuế khác có
thể có ảnh hưởng đến một số hoạt động nhất định, bao gồm: Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế tài
nguyên; Thuế áp dụng đối với bất động sản; Thuế xuất khẩu; Thuế bảo vệ môi trường. Tất
cả các loại thuế y đều được áp dụng trên phạm vi toàn quốc. Việt Nam hiện không áp dụng
thuế ở cấp địa phương.
- Các quy định về bảo vệ môi trường sinh thái, ô nhiễm.
- Các quy định của Chính phủ về cạnh tranh, chống độc quyền, về việc cho khách hàng
vay tiêu dùng, về việc cho thuê mướn và khuyến mại…
- Các quy định về bảo vệ quyền lợi của các công ty, bảo vệ quyền lợi của người tiêu
dùng, bảo vệ công chúng…
Trên thực tế, các yếu tố chính trị và pháp luật ổn định, ràng, minh bạch có thể tạo
điều kiện thuận lợi cho kinh doanh. Sự thay đổi và sự biến động đều có thể tạo ra những cơ
hội hoặc nguy cơ cho doanh nghiệp, đặc biệt là những thay đổi liên tục, nhanh chóng, không
thể dự báo trước. Ví dụ: thay đổi biểu thuế xuất nhập khẩu có thể tạo cơ hội cho ngành kinh
doanh này, tạo nguy cơ thua lỗ cho ngành kinh doanh khác.
3.2.3. Môi trường kinh tế
Các yếu tố môi trường kinh tế ảnh hưởng cùng to lớn đến kết quả hiệu qu
kinh doanh của doanh nghiệp trong kinh doanh thương mại. Các yếu tố kinh tế bao gồm một
phạm vi rất rộng từ các yếu tố tác động đến sức mua của khách hàng, đến nhu cầu tiêu dùng
hàng hóa và các yếu tố có liên quan đến sử dụng nguồn lực của kinh doanh. Các yếu tố kinh
tế thể phải được tính đến là: tốc độ tăng trưởng của GDP; lãi suất tiền vay, tiền gửi
ngân hàng; t lệ lạm phát; tỷ giá hối đoái; mức độ thất nghiệp; cán cân thanh toán; chính
sách tài chính, tín dụng; kiểm soát về giá cả, tiền lương tối thiểu; các giai đoạn trong chu kỳ
kinh doanh, cơ cấu kinh tế, tiềm năng phát triển và gia tăng đầu tư; thu nhập bình quân của
dân cư…
Các yếu tố kinh tế là “máy đo nhiệt độ của nền kinh tế”. Nó quy định các phương thức
cách thức các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực của mình trong kinh doanh thương
mại. Sự thay đổi các yếu tố nói trên (tăng lên hoặc giảm đi) tốc độ thay đổi (cao hay thấp)
cũng như chu kthay đổi (nhanh hay chậm) đều tạo ra hội hoặc nguy đối với hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp với mức độ khác nhau. Tuy nhiên, với môi trường đa yếu
tố như môi trường kinh tế, thì không phải mọi yếu tố kinh tế biến động đều ảnh hưởng
đến từng doanh nghiệp cụ thể giống nhau. Vì vậy, từng doanh nghiệp trong hoạt động kinh
doanh của mình phải nghiên cứu, lựa chọn, xác định yếu tố kinh tế nào là có ảnh hưởng lớn
nhất đến hoạt động và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Thực trạng nền kinh tế xu hướng trong tương lai có ảnh hưởng đến thành công
chiến lược của một doanh nghiệp. Các yếu tố quan trọng thuộc môi trường kinh tế mà nhiều
doanh nghiệp cần quan tâm là: tình trạng của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng, lãi suất, tỷ giá
hối đoái và vấn đề lạm phát.
- Tình trạng của nền kinh tế: Bất cứ nền kinh tế nào cũng chu kỳ, trong mỗi giai
đoạn nhất định của chu kỳ nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ những quyết định phù hợp cho
riêng mình. Đặc biệt, nếu khủng hoảng xảy ra thì sẽ càng y khó khăn cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu khủng hoảng thừa, các doanh nghiệp đua nhau
giảm giá và sẽ vừa gây thiệt hại cho nền kinh tế, vừa thiệt hại cho các ngành và các doanh
nghiệp trong việc đình đốn, đình trệ sản xuất kinh doanh. Ngược lại, nếu xuất hiện khủng
hoảng thiếu, các doanh nghiệp đua nhau tăng giá, cũng gây thiệt hại, khó khăn cho phát triển
và phát triển sản xuất kinh doanh của nhiều ngành và nhiều doanh nghiệp.
- Tốc độ tăng trưởng: Tốc độ tăng trưởng khác nhau của nền kinh tế trong các giai
đoạn thịnh vượng, suy thoái hay phục hồi sẽ ảnh hưởng tới việc chi cho tiêu dùng, đầu tư và
tiết kiệm. Khi nền kinh tế ở giai đoạn có tốc độ tăng trưởng cao sẽ tạo nhiều cơ hội cho đầu
tư mở rộng hoạt động của các doanh nghiệp. Ngược lại, khi nền kinh tế sa sút, suy thoái vẫn
đến giảm chi phí tiêu dùng đồng thời làm tăng các lực lượng cạnh tranh. Thông thường khi
nền kinh tế sa sút sẽ gây nên tranh giá cả trong các ngành sản xuất, đặc biệt là các ngành đã
trưởng thành.
- Mức lãi suất: Lãi suất ngân hàng cao hay thấp đều ảnh hưởng đến hoạt động chiến
lược của các ngành và các doanh nghiệp trong việc tạo ra vốn và sử dụng vốn. Mức lãi suất
hay tỷ lệ lãi suất được coi là hợp lý, sẽ tạo cơ hội cho việc huy động tiền gửi vào ngân hàng
cho các đối tác vay mượn. Ngược lại, nếu nó bất hợp như quá cao hoặc quá thấp sẽ đều
gây ra nguy trong việc huy động và cho vay vốn chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hoạt
động chiến lược của các ngành và các doanh nghiệp.
- Chính sách tiền tệ tgiá hối đoái: Đây cũng thành tố vừa tạo ra thời cơ, vừa
gây ra nguy không chỉ làm tăng hay giảm giá trị của đồng tiền còn ảnh hưởng đến
hoạt động chiến lược của các ngành và các doanh nghiệp.
- Lạm phát: Lạm phát và vấn đề kiểm soát lạm phát cũng những nội dung quan trọng
cần phải xem xét và phân tích. Nếu tỷ lệ lạm phát tăng làm giá trị của đồng tiền bị suy giảm
sẽ ảnh hưởng xấu đến các hoạt động kinh tế, đến việc tạo vốn và sử dụng vốn sản xuất kinh
doanh. Ngược lại, nếu tỷ lệ lạm phát giảm hoặc kiềm chế được lạm phát, sẽ đảm bảo được
giá trị của đồng tiền, thúc đẩy việc phát triển kinh tế và phát triển sản xuất kinh doanh.
3.2.4. Môi trường văn hóa, xã hội
Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều những giá trị văn hóa các yếu tố hội đặc
trưng và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các khu vực đó. Bởi vậy khi
phân tích môi trường vĩ mô,không thể không đề cập tới yếu tố văn hóa – xã hội.
Các yếu tố thuộc môi trường văn hóa bao gồm: nền văn a, nhóm văn hóa, tầng
lớp xã hội.
- Nền văn hóa: Là yếu tố quyết định cơ bản nhất trong những mong muốn và hành vi
của một người. Một đứa trẻ khi lớn lên sẽ tích lũy được một số giá trị, nhận thức, sở thích
và hành vi thông qua gia đình của nó và những định chế then chốt khác.
- Nhóm văn hóa: Mỗi nền văn hóa đều những nhóm văn hóa nhỏ hơn tạo nên những
đặc điểm đặc thù hơn mức độ hòa nhập với hội cho những thành viên trong từng nhóm.
Các nhóm văn hóa tạo nên những đoạn thị trường quan trọng những người làm marketing
của doanh nghiệp thường thiết kế các sản phẩm và chương trình marketing theo các nhu cầu
đặc thù đó. Hành vi mua sắm của một nhân sẽ chịu ảnh hưởng của những đặc điểm của
nhóm văn hóa nhân đó thành viên. Một số tiêu chí thể được sử dụng để phân
loại các nhóm văn hóa là: địa lý, tuổi tác, giới tính, ngành nghề…
- Tầng lớp xã hội: Hầu như tất cả các hội loài người đều thể hiện sự phân tầng
hội. Sự phân tầng này đôi khi mang hình thức, một hệ thống đẳng cấp theo đó những
thành viên thuộc các đẳng cấp khác nhau được nuôi nấng dạy dỗ để đảm nhiệm những
vai trò nhất định. Các tầng lớp xã hội những bộ phận tương đối đồng nhất bền vững
trong xã hội, được xếp theo thứ bậc gồm những thành viên có chung những giá trị, mối quan
tâm và hành vi.
Các yếu tố thuộc môi trường hội bao gồm: các đặc điểm nhân khẩu học (quy mô,
cơ cấu, xu hướng vận động... của dân số), nhóm ảnh hưởng, gia đình, vai trò và địa vị, trình
độ dân trí, hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Các đặc điểm nhân khẩu học cung cấp những dữ liệu quan trọng cho các nhà kinh
doanh thương mại trong việc ra các quyết định quan trọng trong kinh doanh về sản phẩm,
thị trường, phân phối, quảng cáo, xúc tiến... Những khía cạnh cần quan tâm của môi trường
dân số bao gồm:
(i) Quydân số của một khu vực địa lý (thị trường), tỷ lệ tăng của dân số: Quy mô
tốc độ tăng dân số hai chỉ tiêu dân số học quan trọng. Dân số lớn và tăng cao tạo ra một
thị trường tiềm năng rộng lớn cho nhiều doanh nghiệp.
(ii) cấu xu hướng thay đổi của dân số về tuổi tác, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp,
phân phối thu nhập…: cấu xu hướng thay đổi của dân số yếu tố quy định cấu
khách hàng tiềm năng của một doanh nghiệp. Khi quy mô, cấu tuổi tác dân thay đổi
thì thị trường tiềm năng của doanh nghiệp cũng thay đổi, kéo theo sự thay đổi về cơ cấu tiêu
dùng và nhu cầu về các hàng hoá, dịch vụ. Do vậy các doanh nghiệp cũng phải thay đổi các
chiến lược kinh doanh để thích ứng.
(iii) Quy mô, cơ cấu hộ gia đình, vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội: là những
yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thị trường của nhiều loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau của hộ
gia đình và cá nhân.
(iv) Các xu hướng dịch chuyển dân số giữa các vùng, sự di dân, xu hướng đô thị hóa...:
Tại các nước đang phát triển nói chung tại Việt Nam nói riêng, quá trình đô thị hoá
phân bố lại dân diễn ra mạnh mẽ. Các đô thị ngày càng mở rộng đông đúc. Dòng
người từ các vùng nông thôn xu hướng dịch chuyển ra các thành phố để làm ăn. Đây là
yếu tố làm tăng nhu cầu xây nhà cửa, sắm đồ đạc gia đình, nhu cầu thuê nhà bình dân, nhu
cầu cơm bình dân, nhu cầu gửi tiền về quê, nhu cầu gọi điện thoại công cộng, nhu cầu vận
chuyển hành khách... Đất đai ở các khu ven đô cũng dần dần đắt lên và trở thành các tụ điểm
dân cư mới, mang lại nhiều tiền cho các gia đình nông dân ngoại thành trước đây vốn thiếu
thốn. Điều này tạo tiền đề cho các nhu cầu xây nhà cửa, mua sắm đồ đạc. Quá trình đô thị
hoá chuyển dịch lao động cũng giúp cho đời sống nông thôn thay đổi. ng thôn trở thành
các thị trường quan trọng cho nhiều doanh nghiệp.
- Nhóm ảnh ng: đối với một người bao gm những nm nh ởng trực tiếp (mt
đối mặt) hay gián tiếp đến thái độ hay nh vi của người đó. Những nm có ảnh hưởng trực
tiếp đến một người gọi những nm tnh viên. Đó những nhóm mà người đó tham gia và
có c động qua lại. những nhóm nhóm cấp, như gia đình, bạn , ng m, đồng
nghiệp… người đó có quan hệ giao tiếp tờng xuyên. Các nhóm cấp thường là nh
chất cnh thức hơn ít đòi hỏi phải có quan hệ giao tiếp tng xuyên hơn.
- Gia đình: Các thành viên trong gia đình là nhóm ảnh hưởng quan trọng ảnh hưởng
lớn nhất đến hành vi của một người. Ta có thể phân biệt hai gia đình trong đời sống người
mua. Gia đình định hướng gồm bố mẹ của người đó. Do từ bố mẹ một người được
một định hướng đối với tôn giáo, chính trị, kinh tế một ý thức về tham vọng nhân, lòng
tự trọng tình yêu. Ngay cả khi người mua không còn quan hệ nhiều với bố mẹ, thì ảnh
hưởng của bố mẹ đối với hành vi của người mua vẫn thể rất lớn. Một ảnh hưởng trực tiếp
hơn đến hành vi mua sắm hàng ngày là gia đình riêng của người đó. Gia đình là một tổ chức
mua hàng tiêu dùng quan trọng nhất trong xã hội đã được nghiên cứu rất nhiều năm.
Người kinh doanh thương mại cần quan tâm đến vai trò và ảnh hưởng tương đối của chồng,
vợ và con cái đến việc mua sắm rất nhiều loại sản phẩm và dịch vụ khác nhau. Vấn đề này
sẽ thay đổi rất nhiều đối với các nước và các tầng lớp xã hội khác nhau.
- Vai trò địa vị: Mỗi vai trò đều gắn với một địa vị. Người ta lựa chọn những sản
phẩm thể hiện được vai tđịa vị của mình trong hội. Những người làm kinh doanh
thương mại đều biết khả năng thể hiện địa vị hội của sản phẩm nhãn hiệu. Tuy
nhiên, biểu tượng của địa vị thay đổi theo các tầng lớp xã hội và theo cả vùng địa lý.
- Trình độ dân trí: của người tiêu dùng, tháp tuổi, tỉ lệ kết hôn và sinh đẻ. Vị trí và vai
trò của người phụ nữ tại nơi làm việc và gia đình.
- Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Sự xuất hiện của các tổ chức bảo hộ quyền lợi của
người tiêu dùng cũng khiến cho các doanh nghiệp, tổ chức cần quan tâm nhiều hơn tới chất
lượng sản phẩm dịch vụ của mình.
3.2.5. Môi trường công nghệ
Yếu tố môi trường công nghệ ảnh hưởng lớn, trực tiếp cho chiến lược kinh doanh
của các lĩnh vực, ngành cũng như nhiều doanh nghiệp, không sự phân biệt quy lớn,
nhỏ và vừa. Thực tế trên thế giới đã chứng kiến sự biến đổi công nghệ làm chao đảo, thậm
chí mất đi nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhưng đồng thời cũng lại xuất hiện nhiều nh vực
ngành nghề kinh doanh mới hoặc hoàn thiện hơn. Chính sự phát triển mạnh mẽ của khoa học
công nghệ yếu tố tác động mạnh mẽ trực tiếp đến sự phát triển của các ngành, các
doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Cụ thể:
- Khoa học công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra đời và phát triển và tàn lụi của các
ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Biểu hiện của nó là sự xuất hiện của các doanh nghiệp, các
tập đoàn trong hàng loạt cácnh vực nhưng nghệ thông tin, điện tử,ng nghệ sinh học…
n cạnh sự ra đời của các ngành kinh doanh mới ứng dụng khoa học công nghệ thì kéo theo
đó sự khủng hoảng phá sản của một số ngành nghề khác đã lỗi thời.
- Khoa học công nghệ nhân tố quyết định đến phương thức sản xuất, quy sản
xuất, năng suất lao động, hành vi ứng xcủa người lao động. Việc ứng dụng các dây chuyền
sản xuất cùng với máy móc thiết bị hiện đại giúp doanh nghiệp giảm bớt thời gian sản xuất,
sức lao động của nhân công, tăng sản lượng
- Sự thay đổi của công nghệ cũng ảnh hưởng đến các nguồn nguyên liệu vật liệu trong
sản xuất. Sự ra đời của các nguyên vật liệu mới như polime, gốm nhân tạo (siêu bền, siêu cứng,
siêu dẫn), các nguồn năng lượng mới như năng lượng hạt nhân, năng lượng mặt trời... đã làm
giảm phần nào áp lực cạn kiệt nguồn nguyên vật liệu, năng ợng hóa thạch cho các doanh
nghiệp. Khoa học công nghệ là sở để phát triển đa dạng hóa các loại hình ng hóa, dịch
vụ.ng cao chất lượng, mẫu mã, hoàn thiện bổ sung các tínhng của sản phẩm.
- Khoa học công nghệ một trong những yếu tố quan trọng làm thay đổi thị hiếu cũng
như hành vi tiêu dùng của khách hàng. Họ trở nên nhạy bén với những sản phẩm, dịch vụ
công nghệ cao, nhiều ứng dụng.
- Khoa học công nghệ rút ngắn khoảng cách về phương tiện truyền tải, quảng sản
phẩm từ doanh nghiệp tới khách hàng. Các công cụ marketing sử dụng trong kinh doanh
thương mại cũng trở nên đa dạng hơn. Đặc biệt sự phát triển rộng khắp của internet đã trở
thành công cụ quan trọng trong quảng cáo cũng như tiếp cận khách hàng.
- Khoa học công nghệ làm tăng áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau.
Như vậy, có thể thấy, sự phát triển của yếu tố khoa học công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến
hoạt động của các doanh nghiệp như thế nào. không những đem lại những hội để phát
triển còn những thách thức đối với doanh nghiệp. Từ đó đòi hỏi các nhà chiến lược
phải thường xuyên quan tâm tới sự thay đổi của công nghệ. Chủ động cập nhật công nghệ,
tăng cường đầu đổi mới cho công nghệ, tăng cường tiếp thu những thành tựu khoa học
công nghệ ứng dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Thế kỉ 21 các doanh nghiệp
đang tồn tại và hoạt động thời đại của kinh tế tri thức sau thời đại công nghiệp. Cách mạng
công nghiệp 4.0 kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, k thuật
số và sinh học (Klaus Schwab - người sáng lập và chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế
giới). Theo ông Klaus Schwab, tốc độ đột phá của Cách mạng Công nghiệp 4.0 hiện "không
tiền lệ lịch sử". Khi so sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, 4.0 đang tiến
triển theo một hàm số mũ chứ không phải là tốc độ tuyến tính. Những yếu tố cốt lõi của k
thuật số trong cách mạng công nghiệp 4.0 là: Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence), Vạn
vật kết nối (Internet of Things - IoT) và dữ liệu lớn (Big Data). Chiều rộng và chiều sâu của
những thay đổi này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản
trị. Cụ thể, tn lĩnh vực công nghệ sinh học, cách mạng Công nghiệp 4.0 tập trung vào
nghiên cứu để tạo ra những bước nhảy vọt trong nông nghiệp, thủy sản, y dược, chế biến
thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, hóa học vật liệu; lĩnh vực vật với
robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới công nghệ nano. Bên cạnh những
cơ hội mới, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức phải đối
mặt. Mặt trái của cách mạng công nghiệp 4.0 là nó thể gây ra sự bất bình đẳng, phá vỡ thị
trường lao động. Khi tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, khi robot
thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, hàng triệu lao động trên thế giới thể rơi vào cảnh
thất nghiệp, nhất là những người làm trong lĩnh vực bảo hiểm, môi giới bất động sản, tư vấn
tài chính, vận tải.Diễn đàn Kinh tế Thế giới đặt ra vấn đề này theo các giai đoạn khác nhau.
Giai đoạn đầu tiên sẽ thách thức với những lao động văn phòng, trí thức, lao động k
thuật. Giai đoạn tiếp theo sẽ là lao động giá rẻ, có thể sẽ chậm hơn. Với sự chuyển động của
cuộc cách mạng y, trong khoảng 15 năm tới thế giới sẽ diện mạo mới, đòi hỏi các doanh
nghiệp thay đổi.
3.2.6. Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên cũng là một yếu tố rất được quan tâm khi hoạch định chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp. Thực tế, doanh nghiệp không thể tác động vào môi trường tự
nhiên hay biến đổi tự nhiên theo hướng lợi cho doanh nghiệp sbiến đổi đó rất tốn
kém và phá vỡ sự cân bằng vốn trong tự nhiên. Tuy nhiên, nếu chiến lược kinh doanh của
doanh nghiệp được xây dựng trên sở phù hợp với điều kiện tự nhiên, tận dụng được những
thế mạnh của tự nhiên thì sẽnhiều thuận lợi và tạo được những lợi thế cạnh tranh tốt hơn,
thậm chí hình thành được những lợi thế cạnh tranh vượt trội và bền vững. Các nhà chiến
lược khôn ngoan thường những quan tâm đến môi trường khí hậu sinh thái. hội
càng phát triển, chính phcác nước càng quan m tới quản đối với vấn đề môi
trường và bảo vệ môi trường bảo đảm cân bằng sinh thái. Đe dọa của những thay đổi không
dự báo được về khí hậu, thời tiết đôi khi đã được các doanh nghiệp sản phẩm, dịch vụ
của họ có tính thời vụ xem xét một cách cẩn thận. Sự biến đổi khí hậu cũngvấn đề được
quan tâm nhiều hiện nay. Sự biến đổi khí hậu theo hướng tiêu cực và trên diện rộng không
chỉ tác động trực tiếp đến đời sống dân cư mà còn gây ra nhiều thiệt hại về mặt kinh tế. Đặc
biệt, sự biến đổi khí hậu ngày càng diễn ra trên diện rộng, tác động mạnh mẽ biến đổi
nhanh, khó lường đang gây ra những vấn đề nghiêm trọng cả về chính trị, kinh tế và xã hội.
Các doanh nghiệp khi cân nhắc đầu tư kinh doanh, mở rộng sản xuất hay những quyết định
quan trọng, dài hạn đều phải tính đến những yếu tố y do tầm quan trọng những ảnh
hưởng lâu dài của nó.
Điều kiện tự nhiên là yếu tố cần được các doanh nghiệp quan tâm từ khi bắt đầu hoạt
động trong một quá trình tồn tại và phát triển của mình. Những sự biến động của t
nhiên nnắng, a, bão, lụt, hạn n, dịch bệnh… được doanh nghiệp chú ý theo kinh
nghiệm đphòng ngừa vì ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp. Ngày nay, việc duy
trì i trường tnhiên, bảo vệ môi trường để i trường sinh thái bền vững được c
hội quan tâm. Những vấn đề như ô nhiễm môi trường, bảo vệ cảnh quan, danh lam thắng
cảnh, thiếu ng lượng, lãng phí i nguyên thiên nhiên cùng với nhu cầu ngày càng lớn
đối với nguồn lực có hạn khiến Chính phủ, công chúng và các doanh nghiệp phải thay đổi
các quyết định và biện pháp hoạt động có liên quan đến môi trường.
Những yếu tố cơ bản của điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến doanh nghiệp kinh doanh
thương mại nói riêng các doanh nghiệp nói chung là: Sthiếu hụt các nguồn nguyên
liệu thô, vật liệu qua chế biến, nguyên liệu tái sinh và nguyên liệu không thể tái sinh được;
Sự gia tăng chi phí năng lượng; Ô nhiễm môi trường chi phí để xô nhiễm, bảo vệ
môi trường sinh thái bền vững, bảo vệ cảnh quan, thắng cảnh; Sự thay đổi vai trò của Nhà
nước trong bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Phát triển bền vững đang
là xu thế chủ yếu của thời đại.
3.3. MÔI TRƯỜNG NGÀNH
Một ngành sản xuất hẹp hay ngành kinh tế - kỹ thuật bao gồm nhiều doanh nghiệp có
thể đưa ra các sản phẩm hoặc dịch vụ giống như hoặc tương tự nhau ththay thế được
cho nhau. Chúng là những sản phẩm hoặc dịch vụ cùng thỏa mãn những nhu cầu tiêu dùng
bản như nhau. Đối với các ngành sản xuất, các doanh nghiệp trong cùng ngành có thể sản
xuất các sản phẩm không hoàn toàn tương đồng về kiểu dáng, kích thước, chất liệu… nhưng
những công dụng tương tự nhau hoặc cùng thỏa mãn một nhu cầu chung của khách hàng.
Đối với ngành dịch vụ, các doanh nghiệp trong cùng ngành sẽ cùng thỏa mãn một loại nhu
cầu nhất định của khách hàng có thể theo những cách gần tương tự như nhau. Nhiệm vụ của
các nhà chiến lược là phải phân tích phán đoán các thế lực cạnh tranh trong môi trường
ngành để xác định các cơ hội và đe dọa đối với các doanh nghiệp của họ. Có nhiều công cụ
được sử dụng để phân ch môi trường ngành, trong số đó, hình phân tích 5 lực lượng
cạnh tranh được Porter xây dựng phát triển một trong những công cđược sử dụng
rộng rãi.
Hình 3.1. Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter
Trong mô hình này, mức độ và cường độ cạnh tranh trong ngành được đánh giá thông
qua 5 nhân tố (lực lượng), bao gồm: Cạnh tranh từ các đối thủ cạnh tranh hiện tại; Áp lực
từ khách hàng; Áp lực từ nhà cung cấp; Đe dọa từ sản phẩm thay thế Đe dọa từ đối thủ
cạnh tranh tiềm ẩn.
3.3.1. Cường độ cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tham gia vào thị trường kinh doanh một sản phẩm
hàng hóa và dịch vụ cụ thể nào đó (hoặc đang tham gia hoặc tiếp tục tham gia) đều cần phải
sự hiểu biết và tính toán đến các đối thủ cạnh tranh hiện hữu trên thị trường. Đối thủ cạnh
tranh hiện tại của doanh nghiệp toàn bộ c doanh nghiệp cùng sản xuất kinh doanh
loại hàng hóa dịch vụ hoặc hàng hóa dịch vụ thể thay thế nhau được cho cùng một nhu
cầu nào đó của người tiêu dùng. Các đối thủ cạnh tranh hiện tại quyết định tính chất và mức
độ tranh đấu hoặc thủ thuật giành lợi thế trong ngành. Số lượng của các đối thủ cạnh tranh
càng nhiềuut, mức đcạnh tranh sẽ càng gay gắt. Giá cả cạnh tranh sẽ giảm kéo theo lợi
nhuận giảm. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành thường bao gồm các
nội dung chủ yếu: cơ cấu cạnh tranh của ngành, tình trạng cầu của ngành và các hàng rào lối
ra (hay rào cản rút lui ngành).
- Tình trạng cầu của ngành: Nhu cầu, độ tốc độ tăng trưởng, số lượng đối thủ cạnh
tranh... Tình trạng cầu của một ngành là một yếu tố quyết định khác về tính mãnh liệt trong
cạnh tranh nội bộ ngành. Thông thường, cầu tăng tạo cho doanh nghiệp một hội lớn để
mở rộng hoạt động. Ngược lại, cầu giảm dẫn đến cạnh tranh khốc liệt để các doanh nghiệp
giữ được thị phần đã chiếm lĩnh.
- Cấu trúc của ngành: cấu cạnh tranh thay đổi từ ngành sản xuất phân tán tới ngành
sản xuất tập trung. Thông thường ngành riêng lẻ bao gồm một số lớn doanh nghiệp vừa
nhỏ, không có một doanh nghiệp nào trong số đó có vị trí thống trị ngành. Trong khi đó một
ngành tập trung sự chi phối bởi một số ít doanh nghiệp lớn, thậm chí chỉ một doanh nghiệp
duy nhất được gọi là độc quyền.
+ Nnh phân tán ngành rất nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau nhưng không
có doanh nghiệp nào có đủ khả năng chi phối các doanh nghiệp còn lại
+ Ngành tập trung là ngành chỉ có một hoặc một vài doanh nghiệp nắm giữ vai trò chi
phối, thậm chí chỉ có một doanh nghiệp duy nhất (Độc quyền – Monopoly).
- Các rào cản rút lui (Exit Barries): Giống như các rào cản gia nhập ngành, rào cản rút
lui là các yếu tố khiến cho việc rút lui khỏi ngành của doanh nghiệp trở nên khó khăn. Vấn
đề này sẽ thật sự quan trọng trong trường hợp cầu của ngành giảm sút. Nếu rào cản rút lui
thấp các doanh nghiệp sẽ dễ dàng rời bỏ ngành khi ngành có biến động hoặc không còn hấp
dẫn. Nếu rào cản rút lui cao các doanh nghiệp phải rất cân nhắc khi rút lui khỏi ngành kinh
doanh. Rào cản rút lui cao cùng với cầu trong ngành giảm sút có thể dẫn đến sự cạnh tranh
quyết liệt giữa các doanh nghiệp trong ngành. Rào cản rút lui có thể bao gồm một số rào cản
sau:
+ Rào cản về công nghệ, vốn đầu tư;
+ Ràng buộc với người lao động;
+ Ràng buộc với chính phủ, các tổ chức liên quan (stakeholder);
+ Các ràng buộc chiến lược, kế hoạch.
3.3.2. Sức ép từ khách hàng
Khách hàng các nhân, nhóm người, doanh nghiệp nhu cầu khả năng
thanh toán về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp chưa được đáp ứng mong muốn
được thỏa mãn.
Thị trường hàng hóa - dịch vụ của doanh nghiệp tập hợp các khách hàng rất đa dạng,
khác nhau về lứa tuổi, giới tính, mức thu nhập, nơi cư trú, sở thích tiêu dùng và vị trí trong
xã hội. Người ta chia khách hàng nói chung thành những nhóm khác nhau. Mỗi nhóm khách
hàng có đặc trưng riêng phản ánh quá trình mua sắm của họ (những đặc điểm này sẽ gợi
ý quan trọng để doanh nghiệp bán hàng đưa ra các biện pháp phù hợp, thu hút khách hàng).
Dưới đây là một số cách phân chia khách hàng chủ yếu:
Theo mục đích mua sắm: Khách hàng được chia thành: Khách hàng người tiêu dùng
cuối cùng (hàng tiêu dùng cho người tiêu dùng nhân); Khách hàng trung gian (doanh nghiệp
khác, các đại lý, siêu thị, cửa hàng…); Chính phủ và các tổ chức phi lợi nhuận… Người tiêu
dùng cuối ng mua hàng hóa - dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của chính mình
ng hóa- dịch vụ biến đi trong quá trình tiêu dùng, thoát khỏi vòng tái sản xuất hội. Những
người trung gian mua sản phẩm ng hóa để bán lại cho người khác nhằm mục đích kiếm lời.
Chính phủ các tổ chức phi lợi nhuận mua hàng hóa để sản xuất, làm dịch vụ công cộng hoặc
cấp phát hàng hóa dịch vụ này cho đối tượng cần dùng.
Theo khối lượng hàng hóa mua sắm: Khách hàng được chia thành khách hàng mua với
khối lượng lớn và khách hàng mua với khối lượng nhỏ. Những khách hàng mua khối lượng
hàng lớn (gọi tắt khách hàng lớn), thường xuyên, ổn định tổng số hàng những khách
hàng mua này chiếm đại bộ phận khối lượng hàng bán ra của doanh nghiệp thương mại,
vị trí quan trọng đối với thị phần của doanh nghiệp. Những khách hàng này những bạn
hàng (doanh nghiệp khác như các cửa hàng, siêu thị, đại lý…) hoặc là các doanh nghiệp sản
xuất - kinh doanh tiêu dùng sản phẩm hàng hóa… Những khách hàng mua với khối lượng ít
thường là dân cư mua hàng tiêu dùng, mua lẻ, có thể mua thường xuyên hoặc không thường
xuyên, doanh nghiệp cần biện pháp để thu hút khách hàng, giữ được khách hàng
phát triển được khách hàng mới bằng cách thoả mãn yêu cầu về sở thích, mẫu mã hàng hóa,
sự kịp thời và thuận tiện trong việc mua bán hàng…
Theo phạm vi địa : Khách hàng được chia thành khách hàng trong vùng, trong địa
phương (tỉnh, thành phố); khách hàng trong nước (vùng miền khác: miền Bắc, miền Trung,
miền Nam) và khách hàng nước ngoài (xuất khẩu ra khu vực và các nước khác). Việc phân
chia khách ng theo phạm vi địa liên quan đến chi phí vận chuyển hàng hóa đặc
điểm nhu cầu mặt hàng địa phương cần phải chú ý. Doanh nghiệp phạm vi kinh doanh
rộng thường doanh nghiệp lớn, thị trường rộng khối lượng hàng hóa luân chuyển
nhiều.
Theo mối quan hệ của khách hàng với doanh nghiệp: Khách hàng được pn chia thành
khách hàng truyền thống khách hàng mới. Khách hàng truyền thống là những khách hàng
mối quan hệ thường xuyên, liên tục, họ vị trí đặc biệt trong sự phát triển ổn định của
doanh nghiệp. Việc duy trì ổn định khách hàng truyền thống (còn gọi là khách hàng cũ) ý
nghĩa kinh tế lớn vì chi phí để i cuốn khách hàng mới thường cao hơn chi phí để giữ vững
khách hàng truyền thống. Giữ vững được khách hàng truyền thống, tạo được sự trung thành
của khách hàngc định được vị thế uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Chìa khóa để
giđược khách hàng làm tốt công tác chăm sóc khách hàng, làm cho khách hàng luôn luôn
i lòng về hàng hóa - dịch vụ, trong quan hệ thanh toán cũng thuận tiện, kịp thời, văn minh
trong mua bán hàng hóa đổi mới mặt hàng, mẫu mã, chất lượng nhu cầu của khách hàng.
Ngoài bốn cách phân loại khách hàng trên, người ta còn phân loại khách hàng theo
một số tiêu thức khác như theo giới tính, theo lứa tuổi, theo nghề nghiệp, theo tôn giáo… và
kết hợp một số tiêu thức khác nhau với nhau.
Khách hàng chỉ mua loại hàng hóa họ cần chứ không phải mọi thứ hàng hóa
doanh nghiệp kinh doanh. Khách hàng mua hàng thường muốn nhận được hàng hóa đủ về
số lượng, chất lượng, không phải chờ đợi lâu, giá cả phải chăng các dịch vụ phục vụ
thuận tiện, văn minh. Nghiên cứu khách hàng và tâm lý khách hàng giúp cho doanh nghiệp
thương mại xác định được khách hàng nào nhu cầu chưa được thomãn, thời gian địa
điểm cần hàng hóa, đặc điểm sử dụng hàng hóa của khách hàng, giá cả hàng hóa khách
hàng có thể chấp nhận và phương thức phục vụ khách hàng như thế nào là tốt nhất.
Đây một lực lượng có khả năng gây ảnh hưởng rất lớn đến sphát triển, thậm chí
sự tồn tại của doanh nghiệp thông qua quyết định mua hàng. Cũng giống như nhà cung cấp,
người mua không đe dọa triệt tiêu doanh nghiệp thường gây áp lực để thu được lợi ích
lớn hơn. Nếu người mua có lợi thế mặc cả tốt thì họ có thể gây áp lực đòi hỏi doanh nghiệp
nâng cao chất lượng, giảm giá bán, đòi hỏi chất lượng dịch vụ bán hàng và sau bán hàng tốt
hơn. Ngược lại, khi người mua yếu thế hơn doanh nghiệp có thể gây áp lực lên khách hàng
và có khả năng thu lợi nhuận cao hơn.
Áp lực của khách hàng thường được thể hiện mạnh hơn trong các trường hợp sau:
- Chi phí chuyển đổi của người mua thấp, người mua có th dễ dàng chuyn từ n cung
cấp này sang nhà cung cấp khác mà không phải chịu những chi phí đáng kể do thay đổi trong
chất ợng hàng a, dịch v; thay đổi trong ch thức cung cấp sản phẩm; thay đổi trong g trị
cảm nhận, thương hiệu; sự đng bộ với các sản phẩm, dịch vụ khác đang s dụng….
- Khách hàng người mua lớn quan trọng đối với người bán do nhiều nhà cung
ứng có quy mô vừa và nhỏ trong ngành cung cấp, trong khi đó, người mua là một số ít và
quy mô lớn. Hoàn cảnh này cho phép người mua chi phối các công ty cung ứng nhằm đưa
ra những điều khoản lợi trong hợp đồng mua bán. Ngược lại, nếu người bán uy tín,
thương hiệu tốt tạo ra uy tín cho người mua hàng thì khi đó khách hàng không kh
năng gây sức ép cho người bán.
- Ngành cung ứng phụ thuộc vào một số ít khách hàng hay nói một cách khác có một
số khách hàng chiếm một tỷ lệ phần trăm lớn trong tổng số đơn đặt hàng; khi đó những khách
hàng này cũng có thế lực thương lượng tốt hơn.
- Số lượng và chất lượng thông tin của người mua tăng lên. Nếu khách hàng có đầy đủ
thông tin về thị trường nnhu cầu, giá cả, chất lượng… của các nhà cung cấp thì áp lực
thương lượng của khách hàng càng lớn.
- Khách hàng, cụ thể hơn những người mua trung gian có thể vận dụng chiến lược
liên kết dọc, tức xu hướng khép kín sản xuất, tự sản xuất, gia công các bộ phận chi
tiết, bán sản phẩm của mình; hoặc trở thành đối thủ cạnh tranh đáng kể. Trong giai đoạn hiện
nay, trong điều kiện bình thường, áp lực của người mua lên doanh nghiệp sẽ ngày càng lớn
do khách hàng ngàyng có nhiều thông tin và hiểu biết sâu sắc hơn về sản phẩm và dịch
vụ của doanh nghiệp. Mặt khác, vấn đề quyền lợi người tiêu dùngbảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng ngày càng được quan tâm. Các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng được thành lập và
hoạt động ngày càng hiệu quả để giám sát doanh nghiệp thực hiện những cam kết liên quan
đến quyền và lợi ích của người tiêu dùng được pháp luật thừa nhận và bảo hộ.
3.3.3. Sức ép từ nhà cung cấp
Nhà cung cấp những người cung cấp cho doanh nghiệp những yếu tố đầu vào của
quá trình sản xuất như nguyên vật liệu, lao động, tài chính các yếu tố đầu vào khác. Những
nhà cung ứng có thể được coi là một áp lực đe dọa khi họ có khả năng tăng giá bán đầu vào
hoặc giảm chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ họ cung cấp, qua đó m giảm khả năng
thu lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nhà cung cấp có khả năng gây áp lực lên doanh nghiệp trong một số điều kiện sau:
- Chi phí chuyển đổi từ nhà cung cấp y sang nhà cung cấp khác: Nếu chi phí
doanh nghiệp phải bỏ ra khi chuyển đổi từ nhà cung cấp này sang nhà cung cấp khác là lớn
thì nhà cung cấp sẽ có khả năng gây áp lực lên doanh nghiệp. Chi phí chuyển đổi có thể bao
gồm chi phí đàm phán, mua hàng, sự thay đổi trong phương thức vận chuyển, cung ứng, sự
thay đổi trong hệ thống tổ chức sản xuất của doanh nghiệp… Nếu chi phí cao, lợi thế thuộc
về nhà cung cấp khi đó doanh nghiệp khó thể lựa chọn nhà cung cấp khác sẽ tăng
chi phí, dẫn đến khả năng giảm lợi nhuận, ngược lại nếu chi phí chuyển đổi thấp, lợi thế lại
thuộc về doanh nghiệp.
- Số lượng nhà cung cấp: nếu số lượng nhà cung cấp một loại yếu tố đầu vào nào đó
lớn, doanh nghiệp dễ dàng lựa chọn được nhà cung cấp tốt, giá cả hợp lí và sức ép về giá cả
giữa doanh nghiệp nhà cung cấp sẽ giảm, doanh nghiệp nhiều lợi thế hơn. Ngược lại
khi quy mô nhỏ, số lượng các nhà cung cấp ít, nguồn đầu vào khan hiếm, buộc doanh nghiệp
phải chịu lép vế trước nhà cung cấp; khi đó, họ có thể sẽ ép giá cũng như đặt ra những điều
kiện bất lợi cho doanh nghiệp buộc phải chấp nhận.
- Tính khan hiếm sự khác biệt hóa của yếu tố đầu vào: Khả năng thay thế các đầu
vào quan trọng, là các đầu vào mà doanh nghiệp bắt buộc cần phải có để tiến hành sản xuất,
bằng các đầu vào khác tốt hay không, nếu thay thế thì có đảm bảo chất lượng sản phẩm như
ban đầu không chi phí tương ứng như thế nào… những vấn đề doanh nghiệp cần
phải quan tâm. Nếu khả năng thay thế thấp thì lợi thế thuộc về nhà cung cấp và ngược lại.
- Nguy cơ sáp nhập dọc về phía sau và sự liên kết giữa các nhà cung cấp: Đôi khi các
nhà cung cấp lại những chiến lược liên kết dọc, tức khép kín sản xuất buộc doanh
nghiệp không có lựa chọn bị ép giá hoặc các nhà cung cấp không chỉ đơn thuần làm chức
năng cung ứng họ đã trở thành các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của doanh nghiệp. Nhà
cung cấp có thể gây ra một sức ép rất lớn đối với doanh nghiệp nhưng ngược lại cũngthể
giúp doanh nghiệp xây dựng và hình thành được những lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ
cạnh tranh hiện tại và tiềm ẩn khác. Các doanh nghiệp ngày nay đã thấy được vai trò ngày
càng quan trọng này nên thường hình thành nên những chiến lược mang tính dài hạn với các
nhà cung cấp để kiểm soát tốt hơn nguồn cung các yếu tố đầu vào thậm chí tiến tới quản trị
nhà cung cấp.
3.3.4. Đe dọa từ đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: bao gồm các doanh nghiệp hiện tại chưa gia nhập
ngành nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết định gia nhập ngành. Đây là
đe dọa cho các doanh nghiệp hiện tại trong ngành. Thông thường các doanh nghiệp gia nhập
sau sẽ thường gặp những bất lợi do sự cạnh tranh của những doanh nghiệp đàn anh đi trước,
tuy nhiên khi đã quyết định gia nhập vào một ngành nào đó thì các doanh nghiệp này thường
phải dựa trên một lợi thế nhất định nào đó. Lợi thế đó cho phép doanh nghiệp tạo ra sự khác
biệt hóa so với các doanh nghiệp đi trước, đôi khi lợi thế đó còn tạo ra lợi thế cạnh vượt trội
đe dọa các doanh nghiệp đang tồn tại trong ngành. Trước đây, các doanh nghiệp hiện tại
trong ngành luôn cạnh tranh với nhau, giành giật thị phần thì nay các doanh nghiệp hiện tại
cố gắng ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn muốn gia nhập ngành bởi vì càng nhiều doanh nghiệp
tham gia trong một ngành sản xuất thì cạnh tranh càng khốc liệt hơn, thị trườnglợi nhuận
sẽ bị chia sẻ, khi đó vị trí của doanh nghiệp sẽ thay đổi. Mức độ thuận lợi và khó khăn cho
việc nhập ngành của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn phụ thuộc phần lớn vào hàng rào gia
nhập một ngành công nghiệp.
Rào cản gia nhập bao gồm các yếu tố dưới đây:
- Những ưu thế tuyệt đối về chi phí: Sự đi trước về mặt công nghệ, sở hữu những phát
minh sáng chế; kinh nghiệm trong tổ chức sản xuất quản trị doanh nghiệp; nguồn nhân
lực có kinh nghiệm; đội ngũ lao động lành nghề… cho phép doanh nghiệp sản xuất với mức
chi phí thấp hơn, hiệu quả cao hơn.
- Sự khác biệt hóa sản phẩm và sự trung thành của khách hàng đối với nhãn hiệu hàng
hóa của doanh nghiệp: Nếu sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp có sự khách biệt hóa lớn
sự khác biệt hóa này dựa trên những yếu tố hay năng lực cạnh tranh đặc biệt của doanh
nghiệp, đồng thời sự khác biệt hóa y tạo ra sự trung thành của khách hàng đối với nhãn
hiệu sản phẩm và doanh nghiệp thì khi đó doanh nghiệp sẽ ít phải lo lắng về sự cạnh tranh
của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, chi phí cho một
chiến lược khác biệt hóa là rất cao và theo đuổi chiến lược này cũng rất mạo hiểm.
- Tính kinh tế nhờ quy mô: Các chi phí về sản xuất, phân phối, bán, quảng cáo, dịch
vụ, nghiên cứu… trên một đơn vị sản phẩm sẽ giảm với sự gia tăng số lượng bán. Hay nói
cách khác số lượng sản xuất và bán hàng tăng lên thì chi phí cho một đơn vị sản phẩm giảm
đi.
- Kênh phân phối chủ yếu đã được thiết lập của các doanh nghiệp hiện tại cũng là một
vật cản đối với các doanh nghiệp muốn nhảy vào chia sẻ thị trường.
- Một yếu tố nữa cần cân nhắcphản ứng của các doanh nghiệp trong ngành trước sự
đe dọa của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn. Thông thường, trong ngành, các đối thủ hiện tại
cạnh tranh với nhau để giành giật thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận; tuy nhiên, trước sự
đe dọa của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, các doanh nghiệp trong ngành thường xu hướng
liên kết với nhau đcùng chống lại sự đe dọa đó. Đây cũng là một trong những lý do hình
thành nên các tổ chức, hiệp hội… nhằm tăng cường sức cạnh tranh của các doanh nghiệp
hiện tại trong ngành.
3.3.5. Đe dọa từ sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế là sản phẩm khác thể thỏa mãn cùng một nhu cầu của người tiêu
dùng. Nó thường có ưu thế hơn sản phẩm bị thay thế ở các đặc trưng riêng biệt. Sức ép của
sản phẩm thay thế làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận của ngành. Để không bị mất thị phần,
các doanh nghiệp cần nghiên cứu, nắm được giá cả của sản phẩm thay thế và dự báo giá cả
của sản phẩm thay thế trong tương lai để quyết định mức giá sản phẩm của mình với mức
giá cạnh tranh. Doanh nghiệp cũng cần chú ý tới sản phẩm thay thế mới kết quả của sự
cải tiến hoặc bùng nổ của công nghệ mới. Đe dọa này đòi hỏi doanh nghiệp luôn phải có sự
phân tích, theo dõi thường xuyên những tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới sản phẩm.
Ngoài ra, sự thay đổi nhanh chóng của nhu cầu thị trường cũng nội dung quan trọng tạo
ra sự đe dọa cho doanh nghiệp.
Về bản, hai xu thế của sản phẩm thay thế: sản phẩm thay thế một phần sản
phẩm thay thế hoàn toàn. Sản phẩm thay thế một phần có thể thay thế một nhu cầu nhất định
của khách hàng về một loại sản phẩm/dịch vụ nào đó, tuy nhiên, sự thay thế này không hoàn
toàn khách hàng, tại một thời điểm khác, thể quay về sản phẩm dịch vụ trước đó.
dụ như khả năng thay thế của các loại thực phẩm khác nhau trong việc lựa chọn bữa ăn,
phương tiện khác nhau để di chuyển trong một quãng đườngSản phẩm thay thế hoàn toàn
là loại sản phẩm/dịch vụ thay thế hoàn toàn một loại sản phẩm/dịch vụ khác trong việc thỏa
mãn một nhu cầu của khách hàng. Khi đã lựa chọn một loại này thì khách hàng không
nhu cầu về một loại sản phẩm dịch vụ khác. Ví dụ như khả năng thay thế máy đánh chữ của
máy tính điện tử trong chức năng soạn thảo văn bản, khả năng thay thế của máy ảnh kỹ thuật
số với máy ảnh cơ…
Như vậy, dựa vào hình “Năm lực lượng cạnh tranh” doanh nghiệp thể nắm vững
được các yếu tố của i trường ngành ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp cũng như xu hướng và tốc độ thay đổi của môi trường từ đó đề ra những chiến lược
kế hoạch kinh doanh đúng đắn.

Preview text:

Chương 3
MÔI TRƯỜNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI
3.1. KHÁI NIỆM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI
3.1.1. Khái niệm môi trường kinh doanh và các yếu tố môi trường kinh doanh thương mại
Có nhiều khái niệm về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Các khái niệm này
chia thành 2 quan niệm. Có quan niệm cho rằng môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là
tập hợp những điều kiện, những yếu tố bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp hay
gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Với quan niệm này, các yếu tố của
môi trường kinh doanh sẽ bao gồm cả các yếu tố bên ngoài và bên trong doanh nghiệp. Cụ
thể, các yếu tố của môi trường kinh doanh được chia ra thành:
- Các yếu tố môi trường bên trong doanh nghiệp (hay còn gọi là hoàn cảnh nội bộ),
bao gồm các yếu tố nội tại (nguồn lực nội bộ) của doanh nghiệp. Đó là nguồn nhân lực, hệ
thống cơ sở vật chất và mạng lưới kinh doanh, tài sản, mặt hàng kinh doanh, hệ thống thông
tin, thị trường và thị phần của doanh nghiệp, nề nếp văn hóa của tổ chức, nhãn hiệu (thương
hiệu), hoạt động nghiên cứu và phát triển... Hoàn cảnh nội bộ còn được gọi là môi trường
mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được.
- Các yếu tố môi trường ngành kinh doanh: Môi trường ngành kinh doanh thường được
xác định đối với một ngành kinh doanh hoặc từng doanh nghiệp kinh doanh trong các mối
quan hệ với các đối tác hữu quan đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Các yếu tố môi trường kinh tế quốc dân, bao gồm chính trị, luật pháp, kinh tế,
khoa học công nghệ, văn hóa xã hội, điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng.
- Các yếu tố môi trường khu vực và môi trường quốc tế: là các yếu tố tương tự như
của nền kinh tế quốc dân nhưng xét ở phạm vi quốc tế.
Trong khuôn khổ giáo trình này, quan niệm rằng: môi trường kinh doanh là tất cả
những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động sản
xuất và kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là tổng thể các yếu tố và các quan hệ kinh tế, chính
trị, xã hội, luật pháp, khoa học - công nghệ, tài nguyên... hình thành một cách khách quan và
luôn ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Môi trường bên ngoài là khách thể của
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải thích nghi với hoàn cảnh và tận
dụng các cơ hội, các điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh hoạt động và phát triển kinh doanh,
tìm mọi biện pháp khắc phục những khó khăn, những bất lợi của điều kiện môi trường để
kinh doanh được tiến hành với bất lợi giảm thiểu nhất.
Với quan niệm như vậy, môi trường kinh doanh bao gồm các yếu tố bên ngoài doanh
nghiệp, có thể được phân chia thành nhiều cấp độ khác nhau: môi trường quốc tế, môi trường
khu vực, môi trường quốc gia, môi trường ngành, nhóm chiến lược… Tuy nhiên, phổ biến
nhất, người ta chia các yếu tố của môi trường kinh doanh thành 2 cấp độ lớn: Môi trường vĩ
mô (có tính đến yếu tố quốc tế), bao gồm các yếu tố chính trị, pháp lý, kinh tế, xã hội, khoa
học công nghệ, tự nhiên… và Môi trường ngành, bao gồm các yếu tố nhà cung cấp, khách
hàng, đối thủ cạnh tranh hiện tại, đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, sản phẩm thay thế (Porter,
1992). Các yếu tố này tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp với hướng tác động và
cường độ tác động khác nhau đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mang lại những
cơ hội và nguy cơ mà doanh nghiệp cần phải đối mặt khi tiến hành hoạt động kinh doanh.
3.1.2. Ảnh hưởng của môi trường kinh doanh thương mại
Trong kinh doanh thương mại, việc doanh nghiệp đạt được kết quả hoặc hiệu quả kinh
doanh cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào sự am hiểu các điều kiện của môi trường kinh doanh
mà doanh nghiệp đã, đang, tiếp tục và sẽ hoạt động. Bởi vì các yếu tố của môi trường kinh
doanh ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ các quyết định của quản trị và hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Doanh nghiệp từ khi ra đời, tồn tại và phát triển đều ở trong môi trường
kinh doanh, tồn tại khách quan đối với hoạt động kinh doanh thương mại của doanh nghiệp.
Môi trường kinh doanh lại luôn luôn biến động theo những xu hướng thuận nghịch khác
nhau đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tính phức tạp và tính biến động một
cách nhanh chóng, bất ngờ của môi trường kinh doanh là thử thách thường xuyên với tài
năng, kinh nghiệm và sự nhạy cảm của người quản trị doanh nghiệp, cũng như đối với toàn
thể cán bộ, nhân viên kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở nắm vững các nhân tố ảnh hưởng của môi trường kinh doanh, am hiểu tính
chất phức tạp và tính biến động của môi trường kinh doanh, doanh nghiệp phải tiên lượng
đúng được các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, cũng như xu hướng và
tốc độ thay đổi của môi trường kinh doanh, doanh nghiệp mới đề ra được chiến lược và kế
hoạch kinh doanh đúng đắn. Trong các chiến lược và kế hoạch kinh doanh, doanh nghiệp
ngoài việc xác định rõ mục tiêu, thị trường, khách hàng, các đối tác có quan hệ, cần nhận rõ
những yếu tố ảnh hưởng thuận chiều và ngược chiều đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, để có kế hoạch huy động và sử dụng hợp lý các nguồn lực của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp phải có biện pháp để ứng xử phù hợp với những thay đổi của môi trường kinh doanh.
Trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới, môi trường kinh doanh biến động với những thay
đổi diễn ra nhanh chóng và khó dự báo trước một cách sát thực tế là rất phổ biến. Sự biến
động của môi trường kinh doanh có thể dẫn đến những cơ hội hay nguy cơ đối với doanh
nghiệp. Trong kinh doanh thương mại, không biết tận dụng cơ hội kịp thời, cơ hội sẽ nhanh
chóng biến mất và có khi lại trở thành nguy cơ.
Môi trường kinh doanh biến đổi tác động mạnh mẽ không chỉ đối với hoạt động và kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn tác động đến cả tổ chức bộ máy quản lý và kinh
doanh của doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh biến đổi ảnh hưởng đến phương thức và
thủ pháp kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như các dịch vụ phục vụ khách hàng. Ngày
nay, trong môi trường kinh doanh cạnh tranh, việc phát triển các dịch vụ cơ bản và các dịch
vụ bổ sung phục vụ khách hàng là yêu cầu không thể thiếu được trong văn minh thương mại.
Khách hàng không chấp nhận những doanh nghiệp kinh doanh thương mại không có dịch
vụ, hoặc dịch vụ không đầy đủ, kịp thời, thuận tiện và văn minh.
Môi trường kinh doanh thay đổi tác động mạnh mẽ đến các mối quan hệ nội bộ cũng
như quan hệ với bên ngoài. Doanh nghiệp phải tuân thủ luật pháp và các chính sách chế độ
quản lý kinh tế của Nhà nước, những tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, về vệ sinh, an toàn
và bảo vệ môi trường. Doanh nghiệp phải thực hiện trách nhiệm xã hội của mình, phải tôn
trọng quyền lợi chính đáng của khách hàng, của người tiêu dùng. Trong mối quan hệ giữa
môi trường kinh doanh và doanh nghiệp, môi trường kinh doanh là khách thể, môi trường
kinh doanh thay đổi đòi hỏi doanh nghiệp kinh doanh cũng phải thay đổi và doanh nghiệp
thay đổi làm cho môi trường kinh doanh biến đổi theo. Những năm gần đây, do sự phát triển
nhanh chóng như vũ bão của khoa học - công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin,
công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa cũng như các phương tiện vận chuyển có sức
chứa lớn , tốc độ cao và giá hạ...; đồng thời, với xu thế mở cửa, giao lưu giữa các nền kinh
tế, việc nắm bắt thông tin nhanh chóng, trực tiếp, đã có những thay đổi lớn trong việc tìm
hiểu ngành nghề kinh doanh, sản phẩm và thị trường. Nó giúp cho việc nghiên cứu thị trường,
lựa chọn đối tác quan hệ và giao dịch trực tiếp, giảm nhiều chi phí, tiết kiệm nhiều thời gian,
làm thay đổi phương thức tiến hành hoạt động kinh doanh.
Môi trường kinh doanh không chỉ ảnh hưởng mà còn tác động mạnh mẽ đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Muốn thành công trong kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp
thương mại phải nghiên cứu để hiểu rõ các yếu tố hợp thành môi trường, để thích nghi và
đáp ứng những đòi hỏi của môi trường kinh doanh.
3.2. MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VĨ MÔ
3.2.1. Môi trường quốc tế
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, môi trường khu vực và quốc tế có vai trò quan
trọng, quyết định đến sự phát triển của quốc gia và doanh nghiệp. Khu vực hóa và toàn cầu
hóa đang và là một xu hướng tất yếu đòi hỏi tất cả các doanh nghiệp, các ngành cũng như
chính phủ của các nước phải tính đến trong phân tích chiến lược của mình. Xu hướng này
đặt thị trường của mỗi quốc gia trong thị trường toàn cầu và chịu sự tác động của các nhân
tố của môi trường kinh doanh quốc tế. Thứ nhất, thị trường của mỗi doanh nghiệp được mở
rộng, biên giới giữa các quốc gia bị xóa mờ, hàng hóa của các doanh nghiệp có cơ hội xâm
nhập vào các thị trường mà trước đây có những rào cản xâm nhập, hạn chế. Thứ hai, môi
trường kinh doanh của mỗi quốc gia sẽ biến động nhanh hơn và gắn với chu kỳ biến động
của nền kinh tế thế giới. Thực vậy, môi trường quốc tế sẽ phức tạp hơn, cạnh tranh hơn theo
quan điểm từ những khác biệt về xã hội, văn hóa, cấu trúc thể chế cũng như chính sách về kinh tế.
Các yếu tố của môi trường quốc tế có thể được phân chia thành:
- Quy mô và xu hướng dân số trên thế giới và các khu vực: Dân số thế giới được dự đoán
tăng trưởng từ 7 tỷ người năm 2011 lên tới 9,5 tỷ người vào năm 2050. Tầng lớp trung lưu
tăng lên: dự kiến từ 2 tỷ người (2011) lên 5 tỷ người (2030), chủ yếu đến từ sự tăng trưởng
ở khu vực châu Á và châu Phi. Xu hướng đô thị hóa và di dân tiếp tục tăng lên: dự kiến
khoảng 70% dân số thế giới sống ở các thành phố vào năm 2050.
- Tình hình chính trị thế giới: một mặt các nước giữ ổn định chính trị, chung sống hòa bình
trong ngôi nhà chung của thế giới, mặt khác các quốc gia luôn muốn duy trì ảnh hưởng của mình
đối với phần còn lại của thế giới về chính trị, quân sự và ngoại giao. Bởi vậy các doanh nghiệp
Việt Nam phải tận dụng cơ hội mở cửa hội nhập để phát triển thị trường của doanh nghiệp.
- Tình hình kinh tế thế giới: có ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, trong bối cảnh khủng hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu và sự cạnh tranh quyết liệt
của đối thủ nước ngoài, đòi hỏi doanh nghiệp phải tích cực tham gia vào chuỗi cung ứng sản
phẩm toàn cầu để phát triển kinh doanh. Việt Nam đã tham gia WTO, tháng 12-2015 là thành
viên của Cộng đồng ASEAN (AEC), của Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương
(TPP), ký và thực hiện nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) khác. Tiến trình hội nhập
của đất nước đã và đang tạo ra nhiều vận hội cho các doanh nghiệp Việt Nam về đầu tư, về
thị trường nhưng cũng đang có nhiều thách thức mà các doanh nghiệp phải đương đầu. Tự
do hóa thương mại khu vực, phá vỡ hàng rào thuế quan sẽ là những đe dọa rất lớn đối với
các doanh nghiệp Việt Nam. Hơn nữa, bản thân ASEAN cũng phải được đặt trong mối quan
hệ toàn cầu của cạnh tranh quốc tế như khối EU, Bắc Mỹ (NAFTA), G8, Trung Quốc…
Trong điều kiện tham gia sân chơi chung của thế giới các doanh nghiệp phải phân tích bối
cảnh thị trường, lựa chọn đối tác phù hợp, am hiểu luật pháp của nước sở tại để tự bảo vệ lợi
ích của doanh nghiệp trên cơ sở luật pháp quốc tế và quốc gia.
- Sự phát triển của khoa học và công nghệ thế giới: phát triển nhanh chóng, doanh
nghiệp thương mại phải nghiên cứu, nắm bắt xu thế phát triển các loại sản phẩm để cung cấp
cho thị trường những hàng hóa có chất lượng cao, mẫu mã phong phú, thân thiện với môi
trường và phù hợp với thị hiếu tiêu dùng.
- Sự biến đổi khí hậu toàn cầu: Sự biến đổi khí hậu toàn cầu và sự gia tăng nhiệt độ
toàn cầu dẫn đến sự biến động liên quan đến thời tiết, khí hậu, gây ảnh hưởng đến kinh tế
toàn cầu, từ đó đặt ra yêu cầu về phát triển thương mại bền vững đối với các quốc gia, các
khu vực cũng như các doanh nghiệp/tổ chức kinh doanh thương mại.
3.2.2. Môi trường chính trị, luật pháp
Trong kinh doanh hiện đại, các yếu tố chính trị và pháp luật ngày càng có ảnh hưởng
lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường chính trị, luật pháp liên quan
đến chính phủ của quốc gia mà doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh; luật pháp của thị
trường nội địa cũng như nước ngoài. Đây là yếu tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành
kinh doanh trên một lãnh thổ. Các yếu tố chính phủ, luật pháp và chính trị tác động đến
doanh nghiệp theo các hướng khác nhau. Chúng có thể tạo thành cơ hội, trở ngại, thậm chí
là rủi ro thật sự cho doanh nghiệp. Để bảo đảm sự vận hành của nền kinh tế thị trường, quốc
gia nào cũng có hệ thống pháp luật và các chế độ chính sách của Chính phủ để điều tiết thị
trường. Để thành công trong kinh doanh, các doanh nghiệp phải nghiên cứu, phân tích, dự
báo về chính trị và pháp luật, cùng với xu hướng vận động của nó bao gồm:
- Chính phủ là người tiêu dùng lớn nhất trong nền kinh tế thông qua chi tiêu công;
- Sự ổn định về chính trị, sự nhất quán về quan điểm chính sách lớn luôn là sự hấp dẫn
các nhà đầu tư. Hệ thống luật pháp được xây dựng và hoàn thiện sẽ là cơ sở để tạo ra một
môi trường pháp lý tốt cho doanh nghiệp. Chúng ta sẽ xem xét sự bình ổn trong các yếu tố
xung đột chính trị, ngoại giao của thể chế luật pháp. Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể
tạo điều kiện tốt cho việc hoạt động kinh doanh và ngược lại các thể chế không ổn định, xảy
ra xung đột sẽ tác động xấu tới hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó.
- Mối quan hệ đối ngoại của chính phủ và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của quốc
gia: Sự tham gia các hiệp định song phương và đa phương cũng như việc tham gia các tổ
chức kinh tế trên thế giới ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp
trong và ngoài nước, tạo điều kiện thu hút đầu tư, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu. Việt
Nam đã và đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, là thành viên thứ
150 của WTO (2006), ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương (bảng 3.1.)
Bảng 3.1. Danh mục các FTA mà Việt Nam đã ký kết và có hiệu lực (đến 2015) TT Tên FTA Năm ký kết 1
Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) 1996 2
Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) 2004 3
Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA) 2006 4
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) 2008 5
Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) 2009 6
Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Australia và New Zealand (AANZFTA) 2010 7
Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Ấn Độ (AIFTA) 2010 8
Hiệp định Thương mại Tự do Vietnam - Chile (VCFTA) 2012 9
Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) 2015 10
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU (EVFTA) 2015 11
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á Âu (VEAEU) 2015 12
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) 2015 13
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực ASEAN+6 (RCEP) Đang đàm phán 14
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Hiệp hội Mậu dịch Tự do Châu Âu Đang đàm phán EFTA (VEFTA)
Nguồn: Trung tâm WTO, VCCI.
Việc hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới một mặt mang lại nhiều cơ
hội cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, mặt khác cũng khiến các
doanh nghiệp trong nước gặp nhiều thách thức.
+ Các cơ hội có thể kể đến là:
 Tạo việc làm và tăng thu nhập bằng phát triển việc làm phi nông nghiệp và cơ hội thu nhập;
 Đạt được sự phát triển kinh tế bền vững;
 Cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực và tăng năng suất;
 Mở rộng xuất khẩu và sử dụng hiệu quả nhập khẩu;  Thu hút FDI;
 Đạt được sự công bằng hơn nữa về phân bổ thu nhập;
 Hỗ trợ phát triển nông thôn và khu vực.
 Tiếp cận lớn hơn cho hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam, là kết quả từ việc mở cửa thị trường;
 Thiết lập các cơ sở hạ tầng mềm và cứng cần thiết để đáp ứng nhu cầu (điều này
cũng tạo ra việc làm và cơ hội cho các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ);
 Chuyển giao kiến thức (bao gồm tất cả mọi thứ từ công nghệ cho đến các hệ thống quản lý);
 Tăng cường tiêu chuẩn hóa (cải thiện chất lượng, tạo uy tín tốt hơn và tăng
cường tiếp cận với các cơ hội thị trường lớn hơn);
 Phát triển khối dịch vụ (khối phát triển nhanh nhất trên thế giới);
 Khả năng tham gia vào mạng lưới sản xuất quốc tế và các chuỗi cung ứng toàn
cầu, thông qua đó trở thành các nhà cung cấp cho các công ty nước ngoài và
các nhà đầu tư trong và ngoài Việt Nam;
 Hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài cả trong nước và quốc tế - chuyển giao
như các nhà phân phối, tiếp thị, nhà cung cấp, quản lý.
+ Các thách thức cơ bản phải đối mặt là:
 Tăng sự cạnh tranh quốc tế như một kết quả của việc mở cửa thị trường;
 Tăng áp lực để sản xuất các sản phẩm có sức cạnh tranh về giá cả, chất lượng và
tiến độ giao hàng để có thể được bán ở cả thị trường trong nước và quốc tế;
 Các doanh nghiệp được bảo vệ trước đây có thể thiếu những kỹ năng quản lý cần
thiết, chuyên môn và thông tin để cạnh tranh với các đối tác thương mại của họ;
 Thiếu sự hợp tác giữa các doanh nghiệp. Sự phối hợp trong hiệp hội công
nghiệp hiện nay không đủ để giúp các doanh nghiệp của Việt Nam hình thành
mạng lưới sản xuất để tăng hiệu quả và lợi ích kinh tế về quy mô;
 Rào cản kỹ thuật đối với thương mại (Technical Barriers to Trade - TBTs) ở
các thị trường khác. Các rào cản như tiêu chuẩn, sự phù hơp với việc ghi nhãn
hiệu và các quy tắc xuất xứ, là những vấn đề phức tạp đối với các doanh nghiệp
có quy mô nhỏ và vừa ở một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam;
 Khuôn khổ chính sách về tổng thể nền kinh tế vĩ mô còn nghèo nàn và việc
thiếu nghiêm trọng sự phát triển cơ sở hạ tầng mềm (như quản lý kinh doanh,
thực hành kế toán, và giáo dục hành chính) để hỗ trợ các doanh nghiệp và các nghĩa vụ WTO.
 Giới hạn khuôn khổ pháp lý minh bạch để có thể có các bảo vệ và biện pháp
vãn hồi công bằng của pháp luật;
 Vấn đề ngôn ngữ và hiểu biết về các tập quán kinh doanh quốc tế;
 Các vấn đề về cơ sở hạ tầng cứng còn nghèo nàn như đường giao thông, thông
tin liên lạc và cung cấp năng lượng;
 Thiếu sự bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chống lại các hành vi bảo vệ kinh doanh truyền thống;
 Khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ khu vực tài chính chính thức. Theo
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chỉ 32.4% doanh nghiệp có đủ điều kiện vay vốn ngân
hàng chính thức, do đó buộc họ phải tìm nguồn vốn từ các nơi khác;
 Nhiều doanh nghiệp có quy mô nhỏ - tạo ra những thách thức trong việc tái đầu tư sản xuất.
Môi trường luật pháp thường được đề cập gắn liền với môi trường chính trị do những
định hướng phát triển kinh tế của hệ thống chính trị sẽ được cụ thể hóa bằng hệ thống chính
sách và văn bản pháp luật của Nhà nước. Những chính sách và hệ thống văn bản pháp luật
của Nhà nước tạo hành lang pháp lý và cơ sở để các doanh nghiệp tổ chức hoạt động sản
xuất kinh doanh. Hệ thống pháp luật, chính sách, sự hoàn thiện, minh bạch và hiệu lực thi
hành chúng tạo ra một “luật chơi” rõ ràng, minh bạch để các doanh nghiệp hành xử trên thương trường.
- Các chính sách của Nhà nước liên quan đến kinh doanh thương mại: Chính sách thuế
xuất khẩu, nhập khẩu, các thuế tiêu thụ, thuế thu nhập... sẽ ảnh hưởng tới việc tạo điều kiện
cho doanh nghiệp như: nguồn huy động vốn, nguồn nhân lực… Những vấn đề này sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp; có thể tạo ra cơ hội lại vừa có
thể là những phanh hãm phát triển sản xuất kinh doanh.
- Các đạo luật liên quan đến kinh doanh thương mại như luật đầu tư, luật doanh nghiệp,
luật lao động, luật chống độc quyền, chống bán phá giá… quy định mọi vấn đề liên quan
đến hoạt động sản xuất kinh doanh từ vấn đề thành lập doanh nghiệp, những điều doanh
nghiệp được làm, phải làm và là cơ sở pháp lí bảo vệ doanh nghiệp. Luật Lao động, những
quy chế tuyển dụng, đề bạt, chế độ hưu trí, trợ cấp thất nghiệp cũng là những điều mà doanh
nghiệp phải phân tích đầy đủ. Những quy định về quảng cáo đối với một số doanh nghiệp,
lĩnh vực kinh doanh có thể sẽ tạo điều kiện thuận lợi hoặc hạn chế hoạt động của doanh
nghiệp, đặc biệt là trong một số lĩnh vực mà Nhà nước không khuyến khích phát triển, chẳng
hạn các nhà sản xuất và kinh doanh rượu mạnh, thuốc lá…
- Các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển thương mại của Nhà nước, của các địa phương.
- Sự điều tiết và khuynh hướng can thiệp của Chính phủ vào đời sống kinh tế xã hội.
- Các quy định về thuế: Hầu hết các hoạt động kinh doanh và đầu tư ở Việt Nam sẽ
chịu ảnh hưởng của những loại thuế sau đây: Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế nhà thầu
nước ngoài; Thuế chuyển nhượng vốn; Thuế giá trị gia tăng; Thuế nhập khẩu; Thuế thu nhập
cá nhân của nhân viên người Việt Nam và nhân viên người nước ngoài; Các khoản đóng góp
vào bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế. Ngoài ra, các loại thuế khác có
thể có ảnh hưởng đến một số hoạt động nhất định, bao gồm: Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế tài
nguyên; Thuế áp dụng đối với bất động sản; Thuế xuất khẩu; Thuế bảo vệ môi trường. Tất
cả các loại thuế này đều được áp dụng trên phạm vi toàn quốc. Việt Nam hiện không áp dụng
thuế ở cấp địa phương.
- Các quy định về bảo vệ môi trường sinh thái, ô nhiễm.
- Các quy định của Chính phủ về cạnh tranh, chống độc quyền, về việc cho khách hàng
vay tiêu dùng, về việc cho thuê mướn và khuyến mại…
- Các quy định về bảo vệ quyền lợi của các công ty, bảo vệ quyền lợi của người tiêu
dùng, bảo vệ công chúng…
Trên thực tế, các yếu tố chính trị và pháp luật ổn định, rõ ràng, minh bạch có thể tạo
điều kiện thuận lợi cho kinh doanh. Sự thay đổi và sự biến động đều có thể tạo ra những cơ
hội hoặc nguy cơ cho doanh nghiệp, đặc biệt là những thay đổi liên tục, nhanh chóng, không
thể dự báo trước. Ví dụ: thay đổi biểu thuế xuất nhập khẩu có thể tạo cơ hội cho ngành kinh
doanh này, tạo nguy cơ thua lỗ cho ngành kinh doanh khác.
3.2.3. Môi trường kinh tế
Các yếu tố môi trường kinh tế có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến kết quả và hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp trong kinh doanh thương mại. Các yếu tố kinh tế bao gồm một
phạm vi rất rộng từ các yếu tố tác động đến sức mua của khách hàng, đến nhu cầu tiêu dùng
hàng hóa và các yếu tố có liên quan đến sử dụng nguồn lực của kinh doanh. Các yếu tố kinh
tế có thể và phải được tính đến là: tốc độ tăng trưởng của GDP; lãi suất tiền vay, tiền gửi
ngân hàng; tỷ lệ lạm phát; tỷ giá hối đoái; mức độ thất nghiệp; cán cân thanh toán; chính
sách tài chính, tín dụng; kiểm soát về giá cả, tiền lương tối thiểu; các giai đoạn trong chu kỳ
kinh doanh, cơ cấu kinh tế, tiềm năng phát triển và gia tăng đầu tư; thu nhập bình quân của dân cư…
Các yếu tố kinh tế là “máy đo nhiệt độ của nền kinh tế”. Nó quy định các phương thức
và cách thức các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực của mình trong kinh doanh thương
mại. Sự thay đổi các yếu tố nói trên (tăng lên hoặc giảm đi) và tốc độ thay đổi (cao hay thấp)
cũng như chu kỳ thay đổi (nhanh hay chậm) đều tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ đối với hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp với mức độ khác nhau. Tuy nhiên, với môi trường đa yếu
tố như môi trường kinh tế, thì không phải mọi yếu tố kinh tế biến động đều có ảnh hưởng
đến từng doanh nghiệp cụ thể giống nhau. Vì vậy, từng doanh nghiệp trong hoạt động kinh
doanh của mình phải nghiên cứu, lựa chọn, xác định yếu tố kinh tế nào là có ảnh hưởng lớn
nhất đến hoạt động và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Thực trạng nền kinh tế và xu hướng trong tương lai có ảnh hưởng đến thành công và
chiến lược của một doanh nghiệp. Các yếu tố quan trọng thuộc môi trường kinh tế mà nhiều
doanh nghiệp cần quan tâm là: tình trạng của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng, lãi suất, tỷ giá
hối đoái và vấn đề lạm phát.
- Tình trạng của nền kinh tế: Bất cứ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ, trong mỗi giai
đoạn nhất định của chu kỳ nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ có những quyết định phù hợp cho
riêng mình. Đặc biệt, nếu có khủng hoảng xảy ra thì sẽ càng gây khó khăn cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu khủng hoảng thừa, các doanh nghiệp đua nhau
giảm giá và sẽ vừa gây thiệt hại cho nền kinh tế, vừa thiệt hại cho các ngành và các doanh
nghiệp trong việc đình đốn, đình trệ sản xuất kinh doanh. Ngược lại, nếu xuất hiện khủng
hoảng thiếu, các doanh nghiệp đua nhau tăng giá, cũng gây thiệt hại, khó khăn cho phát triển
và phát triển sản xuất kinh doanh của nhiều ngành và nhiều doanh nghiệp.
- Tốc độ tăng trưởng: Tốc độ tăng trưởng khác nhau của nền kinh tế trong các giai
đoạn thịnh vượng, suy thoái hay phục hồi sẽ ảnh hưởng tới việc chi cho tiêu dùng, đầu tư và
tiết kiệm. Khi nền kinh tế ở giai đoạn có tốc độ tăng trưởng cao sẽ tạo nhiều cơ hội cho đầu
tư mở rộng hoạt động của các doanh nghiệp. Ngược lại, khi nền kinh tế sa sút, suy thoái vẫn
đến giảm chi phí tiêu dùng đồng thời làm tăng các lực lượng cạnh tranh. Thông thường khi
nền kinh tế sa sút sẽ gây nên tranh giá cả trong các ngành sản xuất, đặc biệt là các ngành đã trưởng thành.
- Mức lãi suất: Lãi suất ngân hàng cao hay thấp đều có ảnh hưởng đến hoạt động chiến
lược của các ngành và các doanh nghiệp trong việc tạo ra vốn và sử dụng vốn. Mức lãi suất
hay tỷ lệ lãi suất được coi là hợp lý, sẽ tạo cơ hội cho việc huy động tiền gửi vào ngân hàng
và cho các đối tác vay mượn. Ngược lại, nếu nó bất hợp lý như quá cao hoặc quá thấp sẽ đều
gây ra nguy cơ trong việc huy động và cho vay vốn và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hoạt
động chiến lược của các ngành và các doanh nghiệp.
- Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái: Đây cũng là thành tố vừa tạo ra thời cơ, vừa
gây ra nguy cơ không chỉ làm tăng hay giảm giá trị của đồng tiền mà còn ảnh hưởng đến
hoạt động chiến lược của các ngành và các doanh nghiệp.
- Lạm phát: Lạm phát và vấn đề kiểm soát lạm phát cũng là những nội dung quan trọng
cần phải xem xét và phân tích. Nếu tỷ lệ lạm phát tăng làm giá trị của đồng tiền bị suy giảm
sẽ ảnh hưởng xấu đến các hoạt động kinh tế, đến việc tạo vốn và sử dụng vốn sản xuất kinh
doanh. Ngược lại, nếu tỷ lệ lạm phát giảm hoặc kiềm chế được lạm phát, sẽ đảm bảo được
giá trị của đồng tiền, thúc đẩy việc phát triển kinh tế và phát triển sản xuất kinh doanh.
3.2.4. Môi trường văn hóa, xã hội
Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội đặc
trưng và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các khu vực đó. Bởi vậy khi
phân tích môi trường vĩ mô,không thể không đề cập tới yếu tố văn hóa – xã hội.
Các yếu tố thuộc môi trường văn hóa bao gồm: nền văn hóa, nhóm văn hóa, và tầng lớp xã hội.
- Nền văn hóa: Là yếu tố quyết định cơ bản nhất trong những mong muốn và hành vi
của một người. Một đứa trẻ khi lớn lên sẽ tích lũy được một số giá trị, nhận thức, sở thích
và hành vi thông qua gia đình của nó và những định chế then chốt khác.
- Nhóm văn hóa: Mỗi nền văn hóa đều có những nhóm văn hóa nhỏ hơn tạo nên những
đặc điểm đặc thù hơn và mức độ hòa nhập với xã hội cho những thành viên trong từng nhóm.
Các nhóm văn hóa tạo nên những đoạn thị trường quan trọng và những người làm marketing
của doanh nghiệp thường thiết kế các sản phẩm và chương trình marketing theo các nhu cầu
đặc thù đó. Hành vi mua sắm của một cá nhân sẽ chịu ảnh hưởng của những đặc điểm của
nhóm văn hóa mà cá nhân đó là thành viên. Một số tiêu chí có thể được sử dụng để phân
loại các nhóm văn hóa là: địa lý, tuổi tác, giới tính, ngành nghề…
- Tầng lớp xã hội: Hầu như tất cả các xã hội loài người đều thể hiện rõ sự phân tầng
xã hội. Sự phân tầng này đôi khi mang hình thức, một hệ thống đẳng cấp theo đó những
thành viên thuộc các đẳng cấp khác nhau được nuôi nấng và dạy dỗ để đảm nhiệm những
vai trò nhất định. Các tầng lớp xã hội là những bộ phận tương đối đồng nhất và bền vững
trong xã hội, được xếp theo thứ bậc gồm những thành viên có chung những giá trị, mối quan tâm và hành vi.
Các yếu tố thuộc môi trường xã hội bao gồm: các đặc điểm nhân khẩu học (quy mô,
cơ cấu, xu hướng vận động... của dân số), nhóm ảnh hưởng, gia đình, vai trò và địa vị, trình
độ dân trí, hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Các đặc điểm nhân khẩu học cung cấp những dữ liệu quan trọng cho các nhà kinh
doanh thương mại trong việc ra các quyết định quan trọng trong kinh doanh về sản phẩm,
thị trường, phân phối, quảng cáo, xúc tiến... Những khía cạnh cần quan tâm của môi trường dân số bao gồm:
(i) Quy mô dân số của một khu vực địa lý (thị trường), tỷ lệ tăng của dân số: Quy mô
và tốc độ tăng dân số là hai chỉ tiêu dân số học quan trọng. Dân số lớn và tăng cao tạo ra một
thị trường tiềm năng rộng lớn cho nhiều doanh nghiệp.
(ii) Cơ cấu và xu hướng thay đổi của dân số về tuổi tác, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp,
phân phối thu nhập…: cơ cấu và xu hướng thay đổi của dân số là yếu tố quy định cơ cấu
khách hàng tiềm năng của một doanh nghiệp. Khi quy mô, cơ cấu tuổi tác dân cư thay đổi
thì thị trường tiềm năng của doanh nghiệp cũng thay đổi, kéo theo sự thay đổi về cơ cấu tiêu
dùng và nhu cầu về các hàng hoá, dịch vụ. Do vậy các doanh nghiệp cũng phải thay đổi các
chiến lược kinh doanh để thích ứng.
(iii) Quy mô, cơ cấu hộ gia đình, vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội: là những
yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thị trường của nhiều loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau của hộ gia đình và cá nhân.
(iv) Các xu hướng dịch chuyển dân số giữa các vùng, sự di dân, xu hướng đô thị hóa...:
Tại các nước đang phát triển nói chung và tại Việt Nam nói riêng, quá trình đô thị hoá
và phân bố lại dân cư diễn ra mạnh mẽ. Các đô thị ngày càng mở rộng và đông đúc. Dòng
người từ các vùng nông thôn có xu hướng dịch chuyển ra các thành phố để làm ăn. Đây là
yếu tố làm tăng nhu cầu xây nhà cửa, sắm đồ đạc gia đình, nhu cầu thuê nhà bình dân, nhu
cầu cơm bình dân, nhu cầu gửi tiền về quê, nhu cầu gọi điện thoại công cộng, nhu cầu vận
chuyển hành khách... Đất đai ở các khu ven đô cũng dần dần đắt lên và trở thành các tụ điểm
dân cư mới, mang lại nhiều tiền cho các gia đình nông dân ngoại thành trước đây vốn thiếu
thốn. Điều này tạo tiền đề cho các nhu cầu xây nhà cửa, mua sắm đồ đạc. Quá trình đô thị
hoá và chuyển dịch lao động cũng giúp cho đời sống nông thôn thay đổi. Nông thôn trở thành
các thị trường quan trọng cho nhiều doanh nghiệp.
- Nhóm ảnh hưởng: đối với một người bao gồm những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp (mặt
đối mặt) hay gián tiếp đến thái độ hay hành vi của người đó. Những nhóm có ảnh hưởng trực
tiếp đến một người gọi là những nhóm thành viên. Đó là những nhóm mà người đó tham gia và
có tác động qua lại. Có những nhóm là nhóm sơ cấp, như gia đình, bạn bè, hàng xóm, đồng
nghiệp… mà người đó có quan hệ giao tiếp thường xuyên. Các nhóm sơ cấp thường là có tính
chất chính thức hơn và ít đòi hỏi phải có quan hệ giao tiếp thường xuyên hơn.
- Gia đình: Các thành viên trong gia đình là nhóm ảnh hưởng quan trọng có ảnh hưởng
lớn nhất đến hành vi của một người. Ta có thể phân biệt hai gia đình trong đời sống người
mua. Gia đình định hướng gồm bố mẹ của người đó. Do từ bố mẹ mà một người có được
một định hướng đối với tôn giáo, chính trị, kinh tế và một ý thức về tham vọng cá nhân, lòng
tự trọng và tình yêu. Ngay cả khi người mua không còn quan hệ nhiều với bố mẹ, thì ảnh
hưởng của bố mẹ đối với hành vi của người mua vẫn có thể rất lớn. Một ảnh hưởng trực tiếp
hơn đến hành vi mua sắm hàng ngày là gia đình riêng của người đó. Gia đình là một tổ chức
mua hàng tiêu dùng quan trọng nhất trong xã hội và nó đã được nghiên cứu rất nhiều năm.
Người kinh doanh thương mại cần quan tâm đến vai trò và ảnh hưởng tương đối của chồng,
vợ và con cái đến việc mua sắm rất nhiều loại sản phẩm và dịch vụ khác nhau. Vấn đề này
sẽ thay đổi rất nhiều đối với các nước và các tầng lớp xã hội khác nhau.
- Vai trò và địa vị: Mỗi vai trò đều gắn với một địa vị. Người ta lựa chọn những sản
phẩm thể hiện được vai trò và địa vị của mình trong xã hội. Những người làm kinh doanh
thương mại đều biết rõ khả năng thể hiện địa vị xã hội của sản phẩm và nhãn hiệu. Tuy
nhiên, biểu tượng của địa vị thay đổi theo các tầng lớp xã hội và theo cả vùng địa lý.
- Trình độ dân trí: của người tiêu dùng, tháp tuổi, tỉ lệ kết hôn và sinh đẻ. Vị trí và vai
trò của người phụ nữ tại nơi làm việc và gia đình.
- Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Sự xuất hiện của các tổ chức bảo hộ quyền lợi của
người tiêu dùng cũng khiến cho các doanh nghiệp, tổ chức cần quan tâm nhiều hơn tới chất
lượng sản phẩm dịch vụ của mình.
3.2.5. Môi trường công nghệ
Yếu tố môi trường công nghệ có ảnh hưởng lớn, trực tiếp cho chiến lược kinh doanh
của các lĩnh vực, ngành cũng như nhiều doanh nghiệp, không có sự phân biệt quy mô lớn,
nhỏ và vừa. Thực tế trên thế giới đã chứng kiến sự biến đổi công nghệ làm chao đảo, thậm
chí mất đi nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhưng đồng thời cũng lại xuất hiện nhiều lĩnh vực
ngành nghề kinh doanh mới hoặc hoàn thiện hơn. Chính sự phát triển mạnh mẽ của khoa học
công nghệ là yếu tố tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến sự phát triển của các ngành, các
doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Cụ thể:
- Khoa học công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra đời và phát triển và tàn lụi của các
ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Biểu hiện của nó là sự xuất hiện của các doanh nghiệp, các
tập đoàn trong hàng loạt các lĩnh vực như công nghệ thông tin, điện tử, công nghệ sinh học…
Bên cạnh sự ra đời của các ngành kinh doanh mới ứng dụng khoa học công nghệ thì kéo theo
đó là sự khủng hoảng và phá sản của một số ngành nghề khác đã lỗi thời.
- Khoa học công nghệ là nhân tố quyết định đến phương thức sản xuất, quy mô sản
xuất, năng suất lao động, hành vi ứng xử của người lao động. Việc ứng dụng các dây chuyền
sản xuất cùng với máy móc thiết bị hiện đại giúp doanh nghiệp giảm bớt thời gian sản xuất,
sức lao động của nhân công, tăng sản lượng…
- Sự thay đổi của công nghệ cũng ảnh hưởng đến các nguồn nguyên liệu vật liệu trong
sản xuất. Sự ra đời của các nguyên vật liệu mới như polime, gốm nhân tạo (siêu bền, siêu cứng,
siêu dẫn), các nguồn năng lượng mới như năng lượng hạt nhân, năng lượng mặt trời... đã làm
giảm phần nào áp lực cạn kiệt nguồn nguyên vật liệu, năng lượng hóa thạch cho các doanh
nghiệp. Khoa học công nghệ là cơ sở để phát triển đa dạng hóa các loại hình hàng hóa, dịch
vụ. Nâng cao chất lượng, mẫu mã, hoàn thiện và bổ sung các tính năng của sản phẩm.
- Khoa học công nghệ là một trong những yếu tố quan trọng làm thay đổi thị hiếu cũng
như hành vi tiêu dùng của khách hàng. Họ trở nên nhạy bén với những sản phẩm, dịch vụ
công nghệ cao, nhiều ứng dụng.
- Khoa học công nghệ rút ngắn khoảng cách về phương tiện truyền tải, quảng bá sản
phẩm từ doanh nghiệp tới khách hàng. Các công cụ marketing sử dụng trong kinh doanh
thương mại cũng trở nên đa dạng hơn. Đặc biệt sự phát triển rộng khắp của internet đã trở
thành công cụ quan trọng trong quảng cáo cũng như tiếp cận khách hàng.
- Khoa học công nghệ làm tăng áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau.
Như vậy, có thể thấy, sự phát triển của yếu tố khoa học công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến
hoạt động của các doanh nghiệp như thế nào. Nó không những đem lại những cơ hội để phát
triển mà còn là những thách thức đối với doanh nghiệp. Từ đó đòi hỏi các nhà chiến lược
phải thường xuyên quan tâm tới sự thay đổi của công nghệ. Chủ động cập nhật công nghệ,
tăng cường đầu tư đổi mới cho công nghệ, tăng cường tiếp thu những thành tựu khoa học
công nghệ và ứng dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Thế kỉ 21 mà các doanh nghiệp
đang tồn tại và hoạt động là thời đại của kinh tế tri thức sau thời đại công nghiệp. Cách mạng
công nghiệp 4.0 kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật
số và sinh học (Klaus Schwab - người sáng lập và chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế
giới). Theo ông Klaus Schwab, tốc độ đột phá của Cách mạng Công nghiệp 4.0 hiện "không
có tiền lệ lịch sử". Khi so sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, 4.0 đang tiến
triển theo một hàm số mũ chứ không phải là tốc độ tuyến tính. Những yếu tố cốt lõi của kỹ
thuật số trong cách mạng công nghiệp 4.0 là: Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence), Vạn
vật kết nối (Internet of Things - IoT) và dữ liệu lớn (Big Data). Chiều rộng và chiều sâu của
những thay đổi này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản
trị. Cụ thể, trên lĩnh vực công nghệ sinh học, cách mạng Công nghiệp 4.0 tập trung vào
nghiên cứu để tạo ra những bước nhảy vọt trong nông nghiệp, thủy sản, y dược, chế biến
thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, hóa học và vật liệu; lĩnh vực vật lý với
robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới và công nghệ nano. Bên cạnh những
cơ hội mới, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức phải đối
mặt. Mặt trái của cách mạng công nghiệp 4.0 là nó có thể gây ra sự bất bình đẳng, phá vỡ thị
trường lao động. Khi tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, khi robot
thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh
thất nghiệp, nhất là những người làm trong lĩnh vực bảo hiểm, môi giới bất động sản, tư vấn
tài chính, vận tải.Diễn đàn Kinh tế Thế giới đặt ra vấn đề này theo các giai đoạn khác nhau.
Giai đoạn đầu tiên sẽ là thách thức với những lao động văn phòng, trí thức, lao động kỹ
thuật. Giai đoạn tiếp theo sẽ là lao động giá rẻ, có thể sẽ chậm hơn. Với sự chuyển động của
cuộc cách mạng này, trong khoảng 15 năm tới thế giới sẽ có diện mạo mới, đòi hỏi các doanh nghiệp thay đổi.
3.2.6. Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên cũng là một yếu tố rất được quan tâm khi hoạch định chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp. Thực tế, doanh nghiệp không thể tác động vào môi trường tự
nhiên hay biến đổi tự nhiên theo hướng có lợi cho doanh nghiệp vì sự biến đổi đó rất tốn
kém và phá vỡ sự cân bằng vốn có trong tự nhiên. Tuy nhiên, nếu chiến lược kinh doanh của
doanh nghiệp được xây dựng trên cơ sở phù hợp với điều kiện tự nhiên, tận dụng được những
thế mạnh của tự nhiên thì sẽ có nhiều thuận lợi và tạo được những lợi thế cạnh tranh tốt hơn,
thậm chí là hình thành được những lợi thế cạnh tranh vượt trội và bền vững. Các nhà chiến
lược khôn ngoan thường có những quan tâm đến môi trường khí hậu và sinh thái. Xã hội
càng phát triển, chính phủ các nước càng quan tâm tới quản lý vĩ mô đối với vấn đề môi
trường và bảo vệ môi trường bảo đảm cân bằng sinh thái. Đe dọa của những thay đổi không
dự báo được về khí hậu, thời tiết đôi khi đã được các doanh nghiệp mà sản phẩm, dịch vụ
của họ có tính thời vụ xem xét một cách cẩn thận. Sự biến đổi khí hậu cũng là vấn đề được
quan tâm nhiều hiện nay. Sự biến đổi khí hậu theo hướng tiêu cực và trên diện rộng không
chỉ tác động trực tiếp đến đời sống dân cư mà còn gây ra nhiều thiệt hại về mặt kinh tế. Đặc
biệt, sự biến đổi khí hậu ngày càng diễn ra trên diện rộng, tác động mạnh mẽ và biến đổi
nhanh, khó lường đang gây ra những vấn đề nghiêm trọng cả về chính trị, kinh tế và xã hội.
Các doanh nghiệp khi cân nhắc đầu tư kinh doanh, mở rộng sản xuất hay những quyết định
quan trọng, dài hạn đều phải tính đến những yếu tố này do tầm quan trọng và những ảnh hưởng lâu dài của nó.
Điều kiện tự nhiên là yếu tố cần được các doanh nghiệp quan tâm từ khi bắt đầu hoạt
động và trong một quá trình tồn tại và phát triển của mình. Những sự biến động của tự
nhiên như nắng, mưa, bão, lụt, hạn hán, dịch bệnh… được doanh nghiệp chú ý theo kinh
nghiệm để phòng ngừa vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp. Ngày nay, việc duy
trì môi trường tự nhiên, bảo vệ môi trường để có môi trường sinh thái bền vững được cả
xã hội quan tâm. Những vấn đề như ô nhiễm môi trường, bảo vệ cảnh quan, danh lam thắng
cảnh, thiếu năng lượng, lãng phí tài nguyên thiên nhiên cùng với nhu cầu ngày càng lớn
đối với nguồn lực có hạn khiến Chính phủ, công chúng và các doanh nghiệp phải thay đổi
các quyết định và biện pháp hoạt động có liên quan đến môi trường.
Những yếu tố cơ bản của điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến doanh nghiệp kinh doanh
thương mại nói riêng và các doanh nghiệp nói chung là: Sự thiếu hụt các nguồn nguyên
liệu thô, vật liệu qua chế biến, nguyên liệu tái sinh và nguyên liệu không thể tái sinh được;
Sự gia tăng chi phí năng lượng; Ô nhiễm môi trường và chi phí để xử lý ô nhiễm, bảo vệ
môi trường sinh thái bền vững, bảo vệ cảnh quan, thắng cảnh; Sự thay đổi vai trò của Nhà
nước trong bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Phát triển bền vững đang
là xu thế chủ yếu của thời đại.
3.3. MÔI TRƯỜNG NGÀNH
Một ngành sản xuất hẹp hay ngành kinh tế - kỹ thuật bao gồm nhiều doanh nghiệp có
thể đưa ra các sản phẩm hoặc dịch vụ giống như hoặc tương tự nhau có thể thay thế được
cho nhau. Chúng là những sản phẩm hoặc dịch vụ cùng thỏa mãn những nhu cầu tiêu dùng
cơ bản như nhau. Đối với các ngành sản xuất, các doanh nghiệp trong cùng ngành có thể sản
xuất các sản phẩm không hoàn toàn tương đồng về kiểu dáng, kích thước, chất liệu… nhưng
có những công dụng tương tự nhau hoặc cùng thỏa mãn một nhu cầu chung của khách hàng.
Đối với ngành dịch vụ, các doanh nghiệp trong cùng ngành sẽ cùng thỏa mãn một loại nhu
cầu nhất định của khách hàng có thể theo những cách gần tương tự như nhau. Nhiệm vụ của
các nhà chiến lược là phải phân tích và phán đoán các thế lực cạnh tranh trong môi trường
ngành để xác định các cơ hội và đe dọa đối với các doanh nghiệp của họ. Có nhiều công cụ
được sử dụng để phân tích môi trường ngành, trong số đó, Mô hình phân tích 5 lực lượng
cạnh tranh được Porter xây dựng và phát triển là một trong những công cụ được sử dụng rộng rãi.
Hình 3.1. Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter
Trong mô hình này, mức độ và cường độ cạnh tranh trong ngành được đánh giá thông
qua 5 nhân tố (lực lượng), bao gồm: Cạnh tranh từ các đối thủ cạnh tranh hiện tại; Áp lực
từ khách hàng; Áp lực từ nhà cung cấp; Đe dọa từ sản phẩm thay thế và Đe dọa từ đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn.
3.3.1. Cường độ cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tham gia vào thị trường kinh doanh một sản phẩm
hàng hóa và dịch vụ cụ thể nào đó (hoặc đang tham gia hoặc tiếp tục tham gia) đều cần phải
có sự hiểu biết và tính toán đến các đối thủ cạnh tranh hiện hữu trên thị trường. Đối thủ cạnh
tranh hiện tại của doanh nghiệp là toàn bộ các doanh nghiệp cùng sản xuất và kinh doanh
loại hàng hóa dịch vụ hoặc hàng hóa dịch vụ có thể thay thế nhau được cho cùng một nhu
cầu nào đó của người tiêu dùng. Các đối thủ cạnh tranh hiện tại quyết định tính chất và mức
độ tranh đấu hoặc thủ thuật giành lợi thế trong ngành. Số lượng của các đối thủ cạnh tranh
càng nhiềuut, mức độ cạnh tranh sẽ càng gay gắt. Giá cả cạnh tranh sẽ giảm kéo theo lợi
nhuận giảm. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành thường bao gồm các
nội dung chủ yếu: cơ cấu cạnh tranh của ngành, tình trạng cầu của ngành và các hàng rào lối
ra (hay rào cản rút lui ngành).
- Tình trạng cầu của ngành: Nhu cầu, độ tốc độ tăng trưởng, số lượng đối thủ cạnh
tranh... Tình trạng cầu của một ngành là một yếu tố quyết định khác về tính mãnh liệt trong
cạnh tranh nội bộ ngành. Thông thường, cầu tăng tạo cho doanh nghiệp một cơ hội lớn để
mở rộng hoạt động. Ngược lại, cầu giảm dẫn đến cạnh tranh khốc liệt để các doanh nghiệp
giữ được thị phần đã chiếm lĩnh.
- Cấu trúc của ngành: Cơ cấu cạnh tranh thay đổi từ ngành sản xuất phân tán tới ngành
sản xuất tập trung. Thông thường ngành riêng lẻ bao gồm một số lớn doanh nghiệp vừa và
nhỏ, không có một doanh nghiệp nào trong số đó có vị trí thống trị ngành. Trong khi đó một
ngành tập trung có sự chi phối bởi một số ít doanh nghiệp lớn, thậm chí chỉ một doanh nghiệp
duy nhất được gọi là độc quyền.
+ Ngành phân tán là ngành có rất nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau nhưng không
có doanh nghiệp nào có đủ khả năng chi phối các doanh nghiệp còn lại
+ Ngành tập trung là ngành chỉ có một hoặc một vài doanh nghiệp nắm giữ vai trò chi
phối, thậm chí chỉ có một doanh nghiệp duy nhất (Độc quyền – Monopoly).
- Các rào cản rút lui (Exit Barries): Giống như các rào cản gia nhập ngành, rào cản rút
lui là các yếu tố khiến cho việc rút lui khỏi ngành của doanh nghiệp trở nên khó khăn. Vấn
đề này sẽ thật sự quan trọng trong trường hợp cầu của ngành giảm sút. Nếu rào cản rút lui
thấp các doanh nghiệp sẽ dễ dàng rời bỏ ngành khi ngành có biến động hoặc không còn hấp
dẫn. Nếu rào cản rút lui cao các doanh nghiệp phải rất cân nhắc khi rút lui khỏi ngành kinh
doanh. Rào cản rút lui cao cùng với cầu trong ngành giảm sút có thể dẫn đến sự cạnh tranh
quyết liệt giữa các doanh nghiệp trong ngành. Rào cản rút lui có thể bao gồm một số rào cản sau:
+ Rào cản về công nghệ, vốn đầu tư;
+ Ràng buộc với người lao động;
+ Ràng buộc với chính phủ, các tổ chức liên quan (stakeholder);
+ Các ràng buộc chiến lược, kế hoạch.
3.3.2. Sức ép từ khách hàng
Khách hàng là các cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp có nhu cầu và có khả năng
thanh toán về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mà chưa được đáp ứng và mong muốn được thỏa mãn.
Thị trường hàng hóa - dịch vụ của doanh nghiệp là tập hợp các khách hàng rất đa dạng,
khác nhau về lứa tuổi, giới tính, mức thu nhập, nơi cư trú, sở thích tiêu dùng và vị trí trong
xã hội. Người ta chia khách hàng nói chung thành những nhóm khác nhau. Mỗi nhóm khách
hàng có đặc trưng riêng phản ánh quá trình mua sắm của họ (những đặc điểm này sẽ là gợi
ý quan trọng để doanh nghiệp bán hàng đưa ra các biện pháp phù hợp, thu hút khách hàng).
Dưới đây là một số cách phân chia khách hàng chủ yếu:
Theo mục đích mua sắm: Khách hàng được chia thành: Khách hàng là người tiêu dùng
cuối cùng (hàng tiêu dùng cho người tiêu dùng cá nhân); Khách hàng trung gian (doanh nghiệp
khác, các đại lý, siêu thị, cửa hàng…); Chính phủ và các tổ chức phi lợi nhuận… Người tiêu
dùng cuối cùng mua hàng hóa - dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của chính mình và
hàng hóa- dịch vụ biến đi trong quá trình tiêu dùng, thoát khỏi vòng tái sản xuất xã hội. Những
người trung gian mua sản phẩm hàng hóa để bán lại cho người khác nhằm mục đích kiếm lời.
Chính phủ và các tổ chức phi lợi nhuận mua hàng hóa để sản xuất, làm dịch vụ công cộng hoặc
cấp phát hàng hóa dịch vụ này cho đối tượng cần dùng.
Theo khối lượng hàng hóa mua sắm: Khách hàng được chia thành khách hàng mua với
khối lượng lớn và khách hàng mua với khối lượng nhỏ. Những khách hàng mua khối lượng
hàng lớn (gọi tắt là khách hàng lớn), thường xuyên, ổn định mà tổng số hàng những khách
hàng mua này chiếm đại bộ phận khối lượng hàng bán ra của doanh nghiệp thương mại, có
vị trí quan trọng đối với thị phần của doanh nghiệp. Những khách hàng này là những bạn
hàng (doanh nghiệp khác như các cửa hàng, siêu thị, đại lý…) hoặc là các doanh nghiệp sản
xuất - kinh doanh tiêu dùng sản phẩm hàng hóa… Những khách hàng mua với khối lượng ít
thường là dân cư mua hàng tiêu dùng, mua lẻ, có thể mua thường xuyên hoặc không thường
xuyên, doanh nghiệp cần có biện pháp để thu hút khách hàng, giữ được khách hàng cũ và
phát triển được khách hàng mới bằng cách thoả mãn yêu cầu về sở thích, mẫu mã hàng hóa,
sự kịp thời và thuận tiện trong việc mua bán hàng…
Theo phạm vi địa lý: Khách hàng được chia thành khách hàng trong vùng, trong địa
phương (tỉnh, thành phố); khách hàng trong nước (ở vùng miền khác: miền Bắc, miền Trung,
miền Nam) và khách hàng nước ngoài (xuất khẩu ra khu vực và các nước khác). Việc phân
chia khách hàng theo phạm vi địa lý có liên quan đến chi phí vận chuyển hàng hóa và đặc
điểm nhu cầu mặt hàng địa phương cần phải chú ý. Doanh nghiệp có phạm vi kinh doanh
rộng thường là doanh nghiệp lớn, thị trường rộng và có khối lượng hàng hóa luân chuyển nhiều.
Theo mối quan hệ của khách hàng với doanh nghiệp: Khách hàng được phân chia thành
khách hàng truyền thống và khách hàng mới. Khách hàng truyền thống là những khách hàng
có mối quan hệ thường xuyên, liên tục, họ có vị trí đặc biệt trong sự phát triển ổn định của
doanh nghiệp. Việc duy trì ổn định khách hàng truyền thống (còn gọi là khách hàng cũ) có ý
nghĩa kinh tế lớn vì chi phí để lôi cuốn khách hàng mới thường cao hơn chi phí để giữ vững
khách hàng truyền thống. Giữ vững được khách hàng truyền thống, tạo được sự trung thành
của khách hàng xác định được vị thế và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Chìa khóa để
giữ được khách hàng là làm tốt công tác chăm sóc khách hàng, làm cho khách hàng luôn luôn
hài lòng về hàng hóa - dịch vụ, trong quan hệ thanh toán cũng thuận tiện, kịp thời, văn minh
trong mua bán hàng hóa và đổi mới mặt hàng, mẫu mã, chất lượng và nhu cầu của khách hàng.
Ngoài bốn cách phân loại khách hàng trên, người ta còn phân loại khách hàng theo
một số tiêu thức khác như theo giới tính, theo lứa tuổi, theo nghề nghiệp, theo tôn giáo… và
kết hợp một số tiêu thức khác nhau với nhau.
Khách hàng chỉ mua loại hàng hóa mà họ cần chứ không phải mọi thứ hàng hóa mà
doanh nghiệp kinh doanh. Khách hàng mua hàng thường muốn nhận được hàng hóa đủ về
số lượng, chất lượng, không phải chờ đợi lâu, giá cả phải chăng và có các dịch vụ phục vụ
thuận tiện, văn minh. Nghiên cứu khách hàng và tâm lý khách hàng giúp cho doanh nghiệp
thương mại xác định được khách hàng nào có nhu cầu chưa được thoả mãn, thời gian địa
điểm cần có hàng hóa, đặc điểm sử dụng hàng hóa của khách hàng, giá cả hàng hóa mà khách
hàng có thể chấp nhận và phương thức phục vụ khách hàng như thế nào là tốt nhất.
Đây là một lực lượng có khả năng gây ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển, thậm chí là
sự tồn tại của doanh nghiệp thông qua quyết định mua hàng. Cũng giống như nhà cung cấp,
người mua không đe dọa triệt tiêu doanh nghiệp mà thường gây áp lực để thu được lợi ích
lớn hơn. Nếu người mua có lợi thế mặc cả tốt thì họ có thể gây áp lực đòi hỏi doanh nghiệp
nâng cao chất lượng, giảm giá bán, đòi hỏi chất lượng dịch vụ bán hàng và sau bán hàng tốt
hơn. Ngược lại, khi người mua yếu thế hơn doanh nghiệp có thể gây áp lực lên khách hàng
và có khả năng thu lợi nhuận cao hơn.
Áp lực của khách hàng thường được thể hiện mạnh hơn trong các trường hợp sau:
- Chi phí chuyển đổi của người mua thấp, người mua có thể dễ dàng chuyển từ nhà cung
cấp này sang nhà cung cấp khác mà không phải chịu những chi phí đáng kể do thay đổi trong
chất lượng hàng hóa, dịch vụ; thay đổi trong cách thức cung cấp sản phẩm; thay đổi trong giá trị
cảm nhận, thương hiệu; sự đồng bộ với các sản phẩm, dịch vụ khác đang sử dụng….
- Khách hàng là người mua lớn và quan trọng đối với người bán do nhiều nhà cung
ứng có quy mô vừa và nhỏ trong ngành cung cấp, trong khi đó, người mua là một số ít và có
quy mô lớn. Hoàn cảnh này cho phép người mua chi phối các công ty cung ứng nhằm đưa
ra những điều khoản có lợi trong hợp đồng mua bán. Ngược lại, nếu người bán có uy tín,
thương hiệu tốt và tạo ra uy tín cho người mua hàng thì khi đó khách hàng không có khả
năng gây sức ép cho người bán.
- Ngành cung ứng phụ thuộc vào một số ít khách hàng hay nói một cách khác có một
số khách hàng chiếm một tỷ lệ phần trăm lớn trong tổng số đơn đặt hàng; khi đó những khách
hàng này cũng có thế lực thương lượng tốt hơn.
- Số lượng và chất lượng thông tin của người mua tăng lên. Nếu khách hàng có đầy đủ
thông tin về thị trường như nhu cầu, giá cả, chất lượng… của các nhà cung cấp thì áp lực
thương lượng của khách hàng càng lớn.
- Khách hàng, cụ thể hơn là những người mua trung gian có thể vận dụng chiến lược
liên kết dọc, tức là có xu hướng khép kín sản xuất, tự sản xuất, gia công các bộ phận chi
tiết, bán sản phẩm của mình; hoặc trở thành đối thủ cạnh tranh đáng kể. Trong giai đoạn hiện
nay, trong điều kiện bình thường, áp lực của người mua lên doanh nghiệp sẽ ngày càng lớn
do khách hàng ngày càng có nhiều thông tin và có hiểu biết sâu sắc hơn về sản phẩm và dịch
vụ của doanh nghiệp. Mặt khác, vấn đề quyền lợi người tiêu dùng và bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng ngày càng được quan tâm. Các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng được thành lập và
hoạt động ngày càng hiệu quả để giám sát doanh nghiệp thực hiện những cam kết liên quan
đến quyền và lợi ích của người tiêu dùng được pháp luật thừa nhận và bảo hộ.
3.3.3. Sức ép từ nhà cung cấp
Nhà cung cấp là những người cung cấp cho doanh nghiệp những yếu tố đầu vào của
quá trình sản xuất như nguyên vật liệu, lao động, tài chính và các yếu tố đầu vào khác. Những
nhà cung ứng có thể được coi là một áp lực đe dọa khi họ có khả năng tăng giá bán đầu vào
hoặc giảm chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ mà họ cung cấp, qua đó làm giảm khả năng
thu lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nhà cung cấp có khả năng gây áp lực lên doanh nghiệp trong một số điều kiện sau:
- Chi phí chuyển đổi từ nhà cung cấp này sang nhà cung cấp khác: Nếu chi phí mà
doanh nghiệp phải bỏ ra khi chuyển đổi từ nhà cung cấp này sang nhà cung cấp khác là lớn
thì nhà cung cấp sẽ có khả năng gây áp lực lên doanh nghiệp. Chi phí chuyển đổi có thể bao
gồm chi phí đàm phán, mua hàng, sự thay đổi trong phương thức vận chuyển, cung ứng, sự
thay đổi trong hệ thống tổ chức sản xuất của doanh nghiệp… Nếu chi phí cao, lợi thế thuộc
về nhà cung cấp vì khi đó doanh nghiệp khó có thể lựa chọn nhà cung cấp khác vì sẽ tăng
chi phí, dẫn đến khả năng giảm lợi nhuận, ngược lại nếu chi phí chuyển đổi thấp, lợi thế lại thuộc về doanh nghiệp.
- Số lượng nhà cung cấp: nếu số lượng nhà cung cấp một loại yếu tố đầu vào nào đó
lớn, doanh nghiệp dễ dàng lựa chọn được nhà cung cấp tốt, giá cả hợp lí và sức ép về giá cả
giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp sẽ giảm, doanh nghiệp có nhiều lợi thế hơn. Ngược lại
khi quy mô nhỏ, số lượng các nhà cung cấp ít, nguồn đầu vào khan hiếm, buộc doanh nghiệp
phải chịu lép vế trước nhà cung cấp; khi đó, họ có thể sẽ ép giá cũng như đặt ra những điều
kiện bất lợi cho doanh nghiệp buộc phải chấp nhận.
- Tính khan hiếm và sự khác biệt hóa của yếu tố đầu vào: Khả năng thay thế các đầu
vào quan trọng, là các đầu vào mà doanh nghiệp bắt buộc cần phải có để tiến hành sản xuất,
bằng các đầu vào khác tốt hay không, nếu thay thế thì có đảm bảo chất lượng sản phẩm như
ban đầu không và chi phí tương ứng như thế nào… là những vấn đề mà doanh nghiệp cần
phải quan tâm. Nếu khả năng thay thế thấp thì lợi thế thuộc về nhà cung cấp và ngược lại.
- Nguy cơ sáp nhập dọc về phía sau và sự liên kết giữa các nhà cung cấp: Đôi khi các
nhà cung cấp lại có những chiến lược liên kết dọc, tức là khép kín sản xuất buộc doanh
nghiệp không có lựa chọn và bị ép giá hoặc các nhà cung cấp không chỉ đơn thuần làm chức
năng cung ứng mà họ đã trở thành các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của doanh nghiệp. Nhà
cung cấp có thể gây ra một sức ép rất lớn đối với doanh nghiệp nhưng ngược lại cũng có thể
giúp doanh nghiệp xây dựng và hình thành được những lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ
cạnh tranh hiện tại và tiềm ẩn khác. Các doanh nghiệp ngày nay đã thấy được vai trò ngày
càng quan trọng này nên thường hình thành nên những chiến lược mang tính dài hạn với các
nhà cung cấp để kiểm soát tốt hơn nguồn cung các yếu tố đầu vào thậm chí tiến tới quản trị nhà cung cấp.
3.3.4. Đe dọa từ đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: bao gồm các doanh nghiệp hiện tại chưa gia nhập
ngành nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết định gia nhập ngành. Đây là
đe dọa cho các doanh nghiệp hiện tại trong ngành. Thông thường các doanh nghiệp gia nhập
sau sẽ thường gặp những bất lợi do sự cạnh tranh của những doanh nghiệp đàn anh đi trước,
tuy nhiên khi đã quyết định gia nhập vào một ngành nào đó thì các doanh nghiệp này thường
phải dựa trên một lợi thế nhất định nào đó. Lợi thế đó cho phép doanh nghiệp tạo ra sự khác
biệt hóa so với các doanh nghiệp đi trước, đôi khi lợi thế đó còn tạo ra lợi thế cạnh vượt trội
đe dọa các doanh nghiệp đang tồn tại trong ngành. Trước đây, các doanh nghiệp hiện tại
trong ngành luôn cạnh tranh với nhau, giành giật thị phần thì nay các doanh nghiệp hiện tại
cố gắng ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn muốn gia nhập ngành bởi vì càng nhiều doanh nghiệp
tham gia trong một ngành sản xuất thì cạnh tranh càng khốc liệt hơn, thị trường và lợi nhuận
sẽ bị chia sẻ, khi đó vị trí của doanh nghiệp sẽ thay đổi. Mức độ thuận lợi và khó khăn cho
việc nhập ngành của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn phụ thuộc phần lớn vào hàng rào gia
nhập một ngành công nghiệp.
Rào cản gia nhập bao gồm các yếu tố dưới đây:
- Những ưu thế tuyệt đối về chi phí: Sự đi trước về mặt công nghệ, sở hữu những phát
minh sáng chế; kinh nghiệm trong tổ chức sản xuất và quản trị doanh nghiệp; nguồn nhân
lực có kinh nghiệm; đội ngũ lao động lành nghề… cho phép doanh nghiệp sản xuất với mức
chi phí thấp hơn, hiệu quả cao hơn.
- Sự khác biệt hóa sản phẩm và sự trung thành của khách hàng đối với nhãn hiệu hàng
hóa của doanh nghiệp: Nếu sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp có sự khách biệt hóa lớn
và sự khác biệt hóa này dựa trên những yếu tố hay năng lực cạnh tranh đặc biệt của doanh
nghiệp, đồng thời sự khác biệt hóa này tạo ra sự trung thành của khách hàng đối với nhãn
hiệu sản phẩm và doanh nghiệp thì khi đó doanh nghiệp sẽ ít phải lo lắng về sự cạnh tranh
của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, chi phí cho một
chiến lược khác biệt hóa là rất cao và theo đuổi chiến lược này cũng rất mạo hiểm.
- Tính kinh tế nhờ quy mô: Các chi phí về sản xuất, phân phối, bán, quảng cáo, dịch
vụ, nghiên cứu… trên một đơn vị sản phẩm sẽ giảm với sự gia tăng số lượng bán. Hay nói
cách khác số lượng sản xuất và bán hàng tăng lên thì chi phí cho một đơn vị sản phẩm giảm đi.
- Kênh phân phối chủ yếu đã được thiết lập của các doanh nghiệp hiện tại cũng là một
vật cản đối với các doanh nghiệp muốn nhảy vào chia sẻ thị trường.
- Một yếu tố nữa cần cân nhắc là phản ứng của các doanh nghiệp trong ngành trước sự
đe dọa của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn. Thông thường, trong ngành, các đối thủ hiện tại
cạnh tranh với nhau để giành giật thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận; tuy nhiên, trước sự
đe dọa của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, các doanh nghiệp trong ngành thường có xu hướng
liên kết với nhau để cùng chống lại sự đe dọa đó. Đây cũng là một trong những lý do hình
thành nên các tổ chức, hiệp hội… nhằm tăng cường sức cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện tại trong ngành.
3.3.5. Đe dọa từ sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế là sản phẩm khác có thể thỏa mãn cùng một nhu cầu của người tiêu
dùng. Nó thường có ưu thế hơn sản phẩm bị thay thế ở các đặc trưng riêng biệt. Sức ép của
sản phẩm thay thế làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận của ngành. Để không bị mất thị phần,
các doanh nghiệp cần nghiên cứu, nắm được giá cả của sản phẩm thay thế và dự báo giá cả
của sản phẩm thay thế trong tương lai để quyết định mức giá sản phẩm của mình với mức
giá cạnh tranh. Doanh nghiệp cũng cần chú ý tới sản phẩm thay thế mới là kết quả của sự
cải tiến hoặc bùng nổ của công nghệ mới. Đe dọa này đòi hỏi doanh nghiệp luôn phải có sự
phân tích, theo dõi thường xuyên những tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới sản phẩm.
Ngoài ra, sự thay đổi nhanh chóng của nhu cầu thị trường cũng là nội dung quan trọng tạo
ra sự đe dọa cho doanh nghiệp.
Về cơ bản, có hai xu thế của sản phẩm thay thế: sản phẩm thay thế một phần và sản
phẩm thay thế hoàn toàn. Sản phẩm thay thế một phần có thể thay thế một nhu cầu nhất định
của khách hàng về một loại sản phẩm/dịch vụ nào đó, tuy nhiên, sự thay thế này không hoàn
toàn và khách hàng, tại một thời điểm khác, có thể quay về sản phẩm dịch vụ trước đó. Ví
dụ như khả năng thay thế của các loại thực phẩm khác nhau trong việc lựa chọn bữa ăn,
phương tiện khác nhau để di chuyển trong một quãng đường… Sản phẩm thay thế hoàn toàn
là loại sản phẩm/dịch vụ thay thế hoàn toàn một loại sản phẩm/dịch vụ khác trong việc thỏa
mãn một nhu cầu của khách hàng. Khi đã lựa chọn một loại này thì khách hàng không có
nhu cầu về một loại sản phẩm dịch vụ khác. Ví dụ như khả năng thay thế máy đánh chữ của
máy tính điện tử trong chức năng soạn thảo văn bản, khả năng thay thế của máy ảnh kỹ thuật số với máy ảnh cơ…
Như vậy, dựa vào mô hình “Năm lực lượng cạnh tranh” doanh nghiệp có thể nắm vững
được các yếu tố của môi trường ngành ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp cũng như xu hướng và tốc độ thay đổi của môi trường từ đó đề ra những chiến lược
và kế hoạch kinh doanh đúng đắn.