Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Bài 3
MỨC SINH, MỨC CHẾT VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
Trịnh Thanh Xuân, Hoàng Thị Thuận
MỤC TIÊU
Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:
1. Mô tả được các khái niệm cơ bản về mức sinh, mức chết (tử vong)
2. Phân tích được các chỉ số đo lường mức sinh, mức tái sinh sản và các chỉ số đo lường mức chết
3. Mô tả được các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh, mức chết của một cộng đồng dân cư.
4. Vận dụng được số liệu về mức sinh, mức tái sinh sản, mức chết để đưa ra các khuyến cáo phù
hợp cho một cộng đồng dân cư.
NỘI DUNG
I. MỨC SINH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
1. Khái niệm cơ bản về mức sinh
- Mức sinh (fertility level): biểu thị sự sinh đẻ của một phụ nữ, liên quan đến số trẻ sinh sống mà
một người phụ nữ thực có trong suốt cuộc đời sinh sản của mình.
Trẻ sinh sống (live birth): Trẻ sinh sống là trẻ sau khi sinh ra khỏi cơ thể người mẹ có biểu hiện sự
sống, như đứa trẻ thở được, tim đập và các cơ co bóp tự ý.
- Thời gian sinh đẻ: khoảng thời gian từ lúc người phụ nữ bắt đầu sinh đẻ cho đến khi kết thúc
thời kỳ sinh đẻ. Độ tuổi sinh đẻ của phụ nữ là từ 15 – 49 tuổi.
Như vậy, mức sinh phản ánh mức độ sinh sản của n , nó biểu thị số trẻ em sinh sống mà một
phụ nữ được trong suốt cuộc đời sinh sản của mình. Mức sinh không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh
sản của các cặp vchồng còn phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố khác như tuổi kết hôn, thời gian
chung sống của các cặp vợ chồng, số con mong muốn, trình độ phát triển kinh tế văn hóa xã hội, địa vị của
người phụ nữ, mức độ áp dụng các biện pháp tránh thai,
Việc nghiên cứu mức sinh tầm quan trọng trong phạm vi vi lẫn mô. Mức sinh của một
vùng, một quốc gia khu vực, thế giới đều ảnh hưởng lớn tới quy mô, cấu, tốc độ gia tăng dân số
cũng như quá trình phát triển kinh tế, hội của nơi đó. Cho nên, cần phải nghiên cứu mức sinh để tìm
cách điều tiết mức sinh, thông qua đó chúng ta có thể điều tiết quy mô, cơ cấu, tốc độ tăng dân số để thích
ứng giữa sự phát triển dân số với phát triển kinh tế xã hội.
2. Các chỉ số đo lường mức sinh theo thời kì:
2.1. Tỉ suất sinh thô (CBR-Crude Birth Rate):CBR
Tỉ suất sinh thô biểu thị số trẻ sinh ra sống trong một năm so với 1000 người dân
B
CBR = x 1000
P
Trong đó:
B : số trẻ sinh sống trong năm của nơi nghiên cứu
P : dân số trung bình trong năm của nơi nghiên cứu (là dân số vào ngày 1/7 hoặc trung bình cộng
của dân số đầu năm và dân số cuối năm).
Đối với các vùng khác nhau, trong các thời kỳ khác nhau, tỷ suất sinh thô rất khác nhau, phụ thuộc
rất nhiều yếu tố. Ví dụ năm 2016 tỷ suất sinh thô bình quân trên thế giới là 18,6‰, trong đó các nước phát
triển 10,1‰, các nước đang phát triển 20,3‰. Việt Nam m 1976 khi đất nước mới được giải phóng
CBR 39,5‰ đến năm 1990 30‰, năm 1999 19,9‰, năm 2009 17,6 đến năm 2018
15,0.
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Hình 2.1. Tỷ suất sinh thô của các khu vực trên thế giới và Việt Nam năm 2018
Với cách tính toán nhanh, đơn giản, cần ít số liệu nên CBR thường được sdụng khá rộng rãi. Tuy
vậy, chỉ số này có một số nhược điểm đó là: Không nhạy cảm với những thay đổi nhỏ của mức sinh. Do tỷ
suất sinh thô có mẫu số là toàn bộ dân số trong khi chỉ có một bộ phận dân số có khả năng sinh con, vì vậy
tỷ suất sinh thô chỉ ước tính bộ được mức sinh trong một dân số. Thứ hai, CBR bị ảnh hưởng của cấu
trúc dân số: theo giới, tuổi, phân bố mức sinh các lứa tuổi, tình trạng hôn nhân…đặc biệt cấu tuổi
và giới của dân số. Do đó đôi khi tỷ suất sinh thô không phản ánh chính xác mức sinh. Chẳng hạn xã A
tỷ suất sinh thô 15‰, B tỷ suất sinh thô 13‰, ta cũng chưa sở để khẳng định mức sinh
của xã A cao hơn mức sinh của xã B, nếu chưa xem xét tỷ trọng dân số trong độ tuổi sinh đẻ của 2 xã này.
2.2. Tỉ suất sinh chung (GFR - General Fertility Rate):
Tỉ suất sinh chung biểu thị số trẻ em sinh ra sống trong một năm so với 1000 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
B
GFR = x 1000
P
W15-49
Trong đó:
B: tổng số trẻ em sinh ra sống trong năm
P
W15-49
: số phụ nữ trong độ tuổi 15-49 trung bình trong năm
Tỷ suất sinh chung không chỉ phụ thuộc vào mức sinh của phụ nữ còn phụ thuộc vào cấu
tuổi trong nhóm phụ nữ độ tuổi sinh đẻ. Do số phụ nữ trong độ tuổi từ 15-49 chiếm 1/5-1/3 dân số nên
GFR cũng bằng 3-5 lần CBR.
Chỉ số này có ưu điểm là đã loại bỏ một phần ảnh hưởng của cơ cấu tuổi và giới đối với mức sinh.
Bên cạnh đó, chỉ số này còn phản ánh những biến đổi về hành vi sinh sản tốt hơn tỷ suất sinh thô. cho
thấy mối quan hệ giữa những người có khả năng sinh đẻ (phụ nữ 15-49 tuổi) với số trẻ em sinh ra sống t
đó chỉ ra rõ hơn mức sinh của một dân số hay một quốc gia. Chỉ số này cũng có ưu điểm là dễ tính toán.
Tuy vậy, chỉ số này vẫn chưa thật hoàn hảo để đo lường mức sinh. Xét trong điều kiện thực tế của
các nước đang phát triển thì rất khó thống đủ chính xác số trẻ đẻ ra sống. Ngoài ra chỉ số này
cũng không phản ảnh được những mức độ sinh sản ở các nhóm tuổi khác nhau.
2.3. Tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFRx – Age Specific Fertility Rate):
Lả tỷ số giữa số sinh bởi phụ nữ trong cùng một nhóm tuổi trên 1000 phụ nữ thuộc nhóm tuổi đó
trong năm
B
wx
ASFRx = x 1000
P
wx
Trong đó:
ASFRx : tỷ suất sinh đặc trưng của tuổi x
B
wx
: số trẻ sinh ra sống trong năm của những phụ nữ ở tuổi x
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
P
wx
: số phụ ntrung bình của độ tuổi x trong năm
Chỉ số ASFRx phản ánh mức độ sinh đẻ của từng độ tuổi của người phụ nữ. mỗi độ tuổi khác
nhau mức sinh của phụ nữ cũng khác nhau, do vậy khi tính toán được chỉ số ASFR ta sẽ biết đạt cao
nhất, thấp nhất độ tuổi nào để hướng nghiên cứu can thiệp hợp lý. Chẳng hạn, tỷ suất sinh đặc
trưng cao nhất lứa tuổi 20-24 hoặc 25-29 tùy từng dân số từng giai đoạn. ASFRx là một trong những
chỉ tiêu phân tích mô hình sinh hiệu quả, nó còn được sử dụng hiệu quả trong các dự báo dân số.
Hình 2.2. Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR) chia theo thành thị và nông thôn
của Việt Nam năm 2018
Hình 2.2 tả t suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR) của Việt Nam qua điều tra năm 2018 theo
hai khu vực thành thị nông thôn. Mặc cùng hình quả chuông như nhau, nhưng đường gấp khúc
lệch phải biểu thị dạng thức sinh của khu vực thành thị không những thấp hơn còn độ „trễ“ so với
đường của khu vực nông thôn, nghĩa là phụ nữ thành thị sinh muộn và sinh ít con hơn khu vực nông thôn.
khu vưc thành thị, mức sinh cao nhất thuộc về phụ nữ từ 25-29 tuổi, tương ứng 128 trẻ sinh sống/1000
phụ nữ. Ở khu vực nông thôn, mức sinh cao nhất thuộc về nhóm tuổi 20-24 với 148 trẻ sinh sống/1000 phụ
nữ. Nếu so với mức sinh của phụ nữ nhóm tuổi 20-24 khu vực thành thị thì con số này khu vực nông
thôn cao gấp đôi (148 trẻ sinh sống/1000 phụ nữ so với 75 trẻ sinh sống/1000 phụ nữ). Điều này có thể
do phụ nữ nông thôn không nhiều hội để theo học trình độ cao hơn như phụ nữ thành thị nên họ
thường kết hôn và sinh con sớm hơn phụ nữ thành thị.
Khi sử dụng chỉ số ASFR ta loại trừ được sự khác biệt về mức sinh của từng độ tuổi khác nhau từ
đó đem lại nhiều thông tin về hành vi sinh sản hơn bất kỳ một chỉ tiêu đo lường nào khác. Chỉ số này phản
ánh chính xác mức độ sinh đẻ của phụ nữ từng độ tuổi, thể dùng để so sánh trực tiếp mức sinh của
quốc gia (vùng) này với quốc gia (vùng) khác.
Tuy vậy, nhược điểm của chỉ số này là việc tính toán tương đối phức tạp, đòi hỏi số liệu chi tiết.
Trong khi hệ thống ghi chép các nước đang phát triển không phải lúc nào cũng có sẵn, đầy đủ chính
xác.
Thông thường người ta tính tỉ suất sinh đặc trưng cho từng nhóm tuổi phụ nữ. Toàn bộ số phụ nữ
trong độ tuổi sinh đẻ thường được chia làm 7 nhóm (15-19; 20-24; ...45-49). Trong nhiều nghiên cứu về
khả năng sinh đẻ của phụ nữ người ta chia ra làm 3 độ tuổi: 15 – 24; 25 - 35 và 36 49.
Ý nghĩa: Tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi cho ta biết được mức độ mắn đẻ (khả năng thụ thai) của
phụ nữ ở một độ tuổi nào đó ở một cộng đồng trong một năm.
2.4. Tổng tỉ suất sinh (TFR – Total Ferility Rate):
Tổng tỉ suất sinh (TFR) tổng của tất cả các tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi đối với từng năm
riêng lẻ trong thời kì sinh sản.
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
49
15
ASFR
x
1000
x
TFR
=
7
1
5 ASFR
a
1000
a
Trong đó:
ASFRx : tỷ suất sinh đặc trưng cho từng độ tuổi (tính theo tỷ lệ ‰ )
ASFRa : tỷ suất sinh đặc trưng cho từng nhóm tuổi.
Về bản chất, tổng tỷ suất sinh tổng số con mà một phụ nữ thể nếu người này cùng mức
sinh mỗi độ tuổi như các phụ nữ khác các độ tuổi này cho đến 49 tuổi. Như vậy, đây chỉ số trẻ em
bình quân cho một thế hệ bà mẹ giả định, chứ không phải của một thế hệ bà mẹ thực tế.
Hình 2.3. Tổng tỷ suất sinh Việt Nam thời kì 2009-2018
nh 2.3 t sự thay đổi TFR của Vit Nam qua c năm từ 2009 - 2018. TFR có sự biến động qua
từngm, thấp nhất là 1,99 con/phụ nữ năm 2011 và cao nhất 2,10 con/phụ nữ năm 2015. TFR ở những năm
1999 2,33 con/phụ nữ và đã giảm xuống 2,03 con/phnữ 10 m sau đó. TFR giảm mạnh p phần quan
trọng làm giảm mức độ gia tăng dân số giai đoạn từ năm 1999-2009 là minh chứng rất rõ ràng về sự thành
công của chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình của Việt Nam.
Bảng 2.1. Tổng tỷ suất sinh Việt Nam theo vùng thời 2009-2018
Vùng kinh tế - xã hội
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
2018
Cả nước
2,03
2,00
1,99
2,05
2,10
2,09
2,10
2,09
2,05
Thành th
1,81
1,77
1,70
1,80
1,86
1,85
1,82
1,86
1,75
ng tn
2,14
2,11
2,12
2,17
2,21
2,21
2,25
2,21
2,22
Trung du và miền i
phía Bắc
2,24
2,22
2,21
2,31
2,18
2,56
2,69
2,63
2,48
ĐB sông Hồng
2,11
2,04
2,06
2,11
2,11
2,30
2,23
2,23
2,29
Bắc Trung Bộ và DH
miền Trung
2,21
2,21
2,21
2,32
2,37
2,31
2,34
2,37
2,30
y Nguyên
2,65
2,63
2,58
2,43
2,49
2,30
2,26
2,37
2,32
Đông Nam b
1,69
1,68
1,59
1,57
1,83
1,56
1,63
1,46
1,50
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
ĐBS Cửu Long
1,84
1,80
1,80
1,92
1,92
1,84
1,76
1,84
1,74
Số liệu bảng 2.1 cho thấy, TFR ở khu vực nông thôn luôn luôn lớn hơn khu vực thành thị, gần đạt mức
sinh thay thế là 2,1 con/phụ nữ trong khi đó, TFR ở khu vực thành thkthấp và thay đổi không đáng kể xung
quanh mức 1,8 con/phụ nữ trong suốt giai đoạn t2009-2018. Số liệu bảng 2.1 cũng cho thấy trong 10m qua,
y Nguyên và Trung du, min núi phía Bắc luôn hai ng mức sinh cao nhất cả ớc, đứng thứ hai
Bắc Bộ Duyên Hải miền Trung, hai vùng có mức sinh thấp nhất Đông Nam Bộ và Đồng bằng ng Cửu
Long với TFR ơng ứng là 1,50 và 1,74 con/phụ nữ năm 2018.
TFR thước đo mức sinh không phụ thuộc vào cấu trúc tuổi, hơn nữa lại chỉ phản ánh bằng một
con số tổng hợp cho nên có khả năng dự tính tốt nhất hiện nay một phụ nữ trung bình có bao nhiêu con. Có
thể dùng chỉ số này để so sánh giữa các quốc gia, các vùng khác nhau. Tuy vậy, nhược điểm của chỉ số này
cũng như chỉ số ASFR là cách tính toán tương đối phức tạp, cần số liệu đầy đủ, cụ thể và chi tiết.
3. Đo lường mức tái sinh sản
3.1. Khái niệm tái sinh sản:
Tái sinh sản là quá trình thay thế thế hệ dân số này bằng thế hệ dân số khác dựa vào yếu tố sinh và
chết. Tái sinh sản yếu tố chủ yếu của quá trình tái sản xuất dân số. Trong tái sinh sản phụ nữ đóng vai
trò rất quan trọng. Do vậy để đánh giá quá trình tái sinh sản không chỉ dựa vào các tỷ suất sinh phải
phân tích đến mức độ tăng cũng như giảm của dân số nữ.
3.2. Các chỉ số đo lường mức tái sinh sản:
3.2.1. Tỷ suất tái sinh thô (GRR – Gross Reproduction Rate):
Tỷ suất tái sinh thô biểu thị số con gái trung bình mà một phụ nữ (hoặc một nhóm phụ nữ) có thể
sinh ra trong quãng đời sinh đẻ của mình với giả thiết người phụ nữ đó chỉ chết sau khi hết tuổi sinh đẻ.
Tỷ suất tái sinh thô được tính dựa vào tổng tỷ suất sinh và xác suất sinh con gái:
GRR = θ x TFR = θ x
49
ASFR
x
15x
Trong đó:
TFR : tổng t suất sinh
ASFRx: tỷ suất sinh đặc trưng của tuổi x
θ : xác suất sinh con gái và được xác định bằng:
Sbé gái sinh ra trong năm
θ =
Tổng số trẻ em sinh ra trong năm
Thông thường trong điều kiện không có tác động gì của con người đến việc xác định giới tính của
thai nhi thì θ = 0,488 hoặc 0,49 (xác suất sinh con trai là 0,51).
Tỷ số giới tính khi sinh (SRB - Sex Ratio at Birth) được xác định bằng số bé trai được sinh ra sống
trên 100 bé gái sinh sống của một thời kỳ (thường là một năm). Tỷ số này thông thường là 104-106/100 và
ổn định theo thời gian, bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào của t số này chệch khỏi mức sinh học bình thường
đều phản ánh những can thiệp chủ ý ở một mức độ nào đó và sẽ làm ảnh hưởng đến sự mất cân bằng tự
nhiên, đe dọa sự ổn định dân số.
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Hình 2.4. Tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam giai đoạn 2009-2018
Sự cân bằng giới tính bị phá vỡ sẽ tác động lên cơ cấu giới tính của dân số trong tương lai và sẽ dẫn
tới hiện tượng thừa nam giới. Thiếu phụ nữ sẽ gia tăng áp lực khiến họ phải lập gia đình sớm có thể làm
tăng nhu cầu mại dâm mạng lưới buôn bán phụ nữ trẻ em gái. Mặt khác còn ảnh hưởng đến suy
giảm chất lượng dân số. vậy cần những biện pháp ngăn chặn hiện tượng lựa chọn giới tính dẫn đến
mất cân bằng giới tính, như một số nước Châu Á đang đối mặt (Trung Quốc, Ấn Độ…). Tỷ số giới tính
khi sinh của Việt Nam từ năm 2006 đến nay bắt đầu có dấu hiệu tăng đáng kể.
3.2.2. Tỷ suất tái sinh thực (NRR – Net Reproduction Rate).
Tỷ suất tái sinh thực (tinh, thuần túy) biểu thị số gái trung bình được sinh ra bởi một phụ nữ
(hoặc một nhóm phụ nữ) trong suốt thời kỳ sinh đẻ của họ còn sống được đến khi thay thế người mẹ
thực hiện chức năng sinh đẻ.
Tỷ suất tái sinh thực tính cho một năm xác định nào đó theo công thức:
NRR = GRR x Lw
Trong đó:
NRR: tỷ suất tái sinh thực
GRR: tỷ suất tái sinh thô
Lw : hệ số sống của những người con gái từ khi sinh ra sống được (0 tuổi) cho đến khi
thay thế người mẹ thực hiện chức năng sinh sản.
Có thể dựa vào tỷ suất tái sinh thực (NRR) để đánh giá mức độ tái sinh sản của dân số:
Nếu NRR > 1 là tái sinh sản mở rộng, nghĩa là thế hệ tiếp theo có quy mô lớn hơn thế hệ sinh ra họ.
Nếu NRR = 1 tái sinh sản giản đơn, nghĩa thế hệ này được thay thế bởi thế hệ tiếp theo với
đúng số lượng hiện có.
Nếu NRR < 1 là tái sinh sản thu hẹp, nghĩa là thế hệ tiếp theo có quy mô nhỏ hơn thế hệ sinh ra họ.
Nếu NRR = 0 là không có sự tái sinh sản
Kết luận này chỉ đúng khi mức sinh của thế hệ thực tế phải phù hợp với mức sinh theo thời kỳ
sau ít nhất một thế hệ bà mẹ.
3.2.3. Mức sinh thay thế:
Mức sinh thay thế: mức sinh mà một nhóm phụ nữ (hay 1 phụ nữ) vừa đủ số con gái để thay
thế mình trong dân số, nghĩa là mỗi một bà mẹ sẽ sinh ra 1 người con gái đạt đến tuổi sinh đẻ để thay thế
mình. Mức sinh thay thế có thể được đánh giá dựa vào t suất tái sinh sản thực (NRR)
NRR =1 = θ x TFR x Lw
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Trên thực tế các nhà nghiên cứu thường sử dụng TFR để xem xét mức sinh thay thế: Nếu TFR =
2,0 trung bình 1 con gái, người con gái này lại sống đến hết tuổi sinh đẻ (thay thế mẹ trong vai trò
sinh sản) thì thể xem TFR = 2,0 là mức sinh thay thế. Tuy nhiên trên thực tế, trên phạm vi quốc gia, tử
vong luôn xảy ra mọi lứa tuổi cả 2 giới nam, nữ. Vì vậy, để 2 con thay thế cha mẹ thường sử
dụng chỉ báo mức sinh thay thế TFR tương đương khoảng 2,1 đến 2,2 con.
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh
Sơ đồ các yếu tố tác động tới hành vi sinh đẻ
Mức sinh không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh sản còn chịu ảnh ng bởi một loạt các yếu
tố khác như tuổi kết hôn, thời gian chung sống của các cặp vợ chồng, ý muốn về số con, trình độ phát triển
kinh tế - hội, địa vị của người phụ nữ, việc sử dụng các biện pháp phòng tránh thai ... Các yếu tố ảnh
hưởng đến mức sinh có thể chia thành nhóm như sau:
4.1. Những yếu tố tự nhiên sinh vật:
Sinh đẻ trước hết hiện tượng sinh học, vậy phải chịu sự tác động của các yếu tố này. Khả
năng sinh sản chỉ một nhóm tuổi nhất định (tuổi có khả năng sinh sản). Nơi nào số phụ nữ trong
tuổi khả năng sinh sản càng cao (đặc biệt độ tuổi từ 20 đến 30) thì mức sinh cao ngược lại. cấu
giới tính càng phù hợp càng tạo điều kiện thuận lợi cho mức sinh.
Điều kiện tự nhiên môi trường sống cũng ảnh hưởng đến mức sinh. Nơi nào điều kiện tự nhiên
thuận lợi cho sự phát triển sinh sản thì nơi đó dân số tăng nhanh. Dân tộc cũng yếu tố ảnh hưởng đến
mức sinh. Dân tộc được xét đến nhiều khía cạnh khác nhau. Về mặt tự nhiên sinh vật, trước hết mỗi dân
tộc là một giống người và mỗi giống người đều có khả năng sinh đẻ khác nhau.
4.2. Phong tục tập quán và tâm lý xã hội:
Mỗi nước, mỗi thời k, mỗi dân tộc, mỗi hình thái kinh tế-hội đều các phong tục tập quán
tâm lý xã hội khác nhau. Những tập quán và tâm lý này xuất hiện và tồn tại trên những cơ sở thực tế khách
quan của nó.
GIA ĐÌNH
CÁ NHÂN
XÃ HỘI
+ Mức sống
+ Mạng lưới chăm sóc
SKSS, truyền thông.
+ Các bệnh xã hội
+ Các chính sách
+ Trình độ học vấn, nhận
thức
+ Phong tục tập quán
+ Tôn giáo
+ Truyền thông
+ Vùng lãnh thổ
…….
+ Điều kiện kinh tế gia
đình
+ Sức ép gia đình
+ Mô hình gia đình
…….
+ Tuổi
+ Tình trạng hôn nhân
+ Công việc: địa vị, áp lực
công việc, ngành nghề…
+ Trình độ học vấn
+ Sức khỏe
+ Quan niệm về sắc đẹp
+ Chi phí cơ hội
…..
KINH TẾ- HỘI-CHÍNH TRỊ-VĂN HÓA
SINH ĐẺ
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Tập quán và tâm lý hội có tác động lớn đến mức sinh đẻ. Tập quán kết hôn sm, muốn nhiều
con, thích con trai, có nếp có tẻ... là tập quán và tâm lý chung của xã hội cũ những xã hội có trình độ kinh
tế, văn hoá thấp kém.
Khi cơ sở kinh tế xã hội thay đổi, khoa học kỹ thuật phát triển, xuất hiện những phong tục tập quán
mới như kết hôn muộn, gia đình nhỏ, nam nữ bình đẳng ...dẫn đến mức sinh giảm.
Muốn thay đổi phong tục tập quán và tâm lý xã hội không chỉ chú trọng tuyên truyền giáo dục, làm
cho người dân tự nguyện tự giác thay đổi tập quán tâm lý, phải thúc đẩy kinh tế hội phát triển,
nâng cao mức sống của người dân vì tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội.
4.3. Yếu tố kinh tế:
Nhóm yếu tố này rất đa dạng tác động theo nhiều hướng khác nhau. nhiều quan điểm khác
nhau về ảnh hưởng của đối với sự biến động mức sinh. Theo quan điểm của đa scác nhà nhân khẩu
học bằng thực tế người ta xác minh rằng, đời sống thấp thì mức sinh đẻ cao ngược lại. Ảnh hưởng
của trình độ phát triển kinh tế, mức sống tới mức sinh là đối tượng nghiên cứu của nhiều người. Người đầu
tiên nghiên cứu về mối quan hệ này Adam Smith. Từ những nghiên cứu của mình, ông ta đã rút ra kết
luận nổi tiếng là: "Nghèo đói tạo khả năng cho sự sinh đẻ" .
Các Mác khi nghiên cứu mối quan hệ giữa thu nhập sinh đẻ cũng đã xác định rằng, dưới chủ
nghĩa tư bản, số sinh đẻ tỷ l nghịch với quy mô của cải mà người công nhân có.
Dưới chủ nghĩa hội, nhiều nhà khoa học cũng nghiên cứu về mối quan hệ này cho rằng, quy
luật được hình thành bởi Các Mác về s phụ thuộc nghịch giữa mức sống và sinh đẻ tác động cả dưới chủ
nghĩa xã hội.
Tất nhiên, mối quan hệ giữa trình độ phát triển kinh tế, mức sống mức sinh trong các thời kỳ
khác nhau có khác nhau. Khi mức sống còn rất thấp, thu nhập không đảm bảo những nhu cầu tối thiểu thì
mối quan hệ đó là phụ thuộc thuận. Khi đời sống đã nâng cao đến mức độ nhất định, nhưng chưa thoả mãn
đầy đủ mọi nhu cầu cuộc sống thì mối quan hệ đó lại nghịch. Khi đời sống đã đạt đến mức rất cao,
thể thoả mãn đầy đủ mọi nhu cầu vật chất và tinh thần của người dân, mối quan hệ đó có thể là thuận. Tuy
nhiên chỉ gii hạn ở mức độ nhất định.
4.4. Các yếu tố kỹ thuật:
Trình độ phát triển kỹ thuật càng cao, đặc biệt những thành tựu về y học, càng tạo điều kiện cho loài
người chủ động điều tiết mức sinh. Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước trong từng thời kỳ hoặc
khuyến khích hay hạn chế mức sinh, Nhà nước áp dụng các biện pháp kỹ thuật khác nhau. Đối với c
gia đình, các cặp vợ chồng không khả năng sinh sản, y học đã những biện pháp khắc phục sinh:
Thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm…
Cũng bằng các biện pháp kỹ thuật chuyên môn (triệt sản, đặt vòng, thuốc tránh thai, bao cao su….)
giúp các cặp vợ chồng có thể chủ động được việc mang thai và sinh đẻ.
Như vậy nhờ các yếu tố kthuật đã giúp cho con người điều tiết trực tiếp mức sinh, làm cho loài
người chủ động sinh đẻ theo ý muốn của mình, điều tiết quy mô, cơ cấu dân số hp lý cả về tuổi và giới.
4.5. Chính sách dân số:
Nhận thức được vai trò của dân số, mối quan hệ giữa dân số với phát triển kinh tế - hội, Nhà
nước với chức năng quản lý của mình đã đề ra những chủ trương, chính sách và biện pháp để điều tiết quá
trình vận động và phát triển dân số cho phù hợp với nhu cầu và khả năng phát triển của đất nước trong mỗi
thời kỳ. Chính sách dân số hiểu theo nghĩa rộng, đó là toàn bộ chủ trương, chính sách có liên quan đến dân
số. Theo nghĩa hẹp, là những chủ trương, biện pháp của Nhà ớc điều tiết quá trình phát triển dân số. Nó
bao gồm các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, biện pháp kinh tế, hành chính những biện pháp về kỹ
thuật chuyên môn. Đến nay, nhiều nước, chính sách dân số đã phát huy tác động to lớn trong việc điều
tiết các quá trình vận động dân số theo hướng cần thiết. nước ta, nhờ chính sách dân số, trong những
năm gần đây tốc độ tăng dân số đã giảm đáng kể.
II. MỨC CHẾT VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
1. Khái niệm cơ bản về mức chết
Chết một hiện tượng tự nhiên bất kỳ sinh vật nào cũng đều trải qua. Sống chết hai mặt
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
đối lập của mỗi sinh vật nói chung và từng con người nói riêng.
Khái niệm về chết được Liên hiệp quốc Tổ chức Y tế thế giới thống nhất định nghĩa như sau:
"Chết là sự mất đi vĩnh viễn tất cả những biểu hiện của sự sống ở một thời điểm nào đó, sau khi có sự kiện
sinh sống xảy ra (chết là sự chấm dứt tất cả những biểu hiện của sự sống mà không một khả năng nào khôi
phục lại được)"
Hiện tượng chết của con người chính chết gắn liền với sự kiện sinh sống. Khái niệm này phân
biệt với chết bào thai, đó hiện tượng chết trước khi được sinh ra, hay nói cách khác là chết trước khi có
hiện tượng sống.
Khoảng thời gian kể từ khi sinh đến khi chết là độ dài cuộc sống, hay còn gọi là một đời người.
Có thể phân loại sự kiện chết thành nhiều loại:
- Chết thai nhi (fetal death): Là sự kiện chết thai nhi xảy ra ở 3 tháng cuối thai kỳ cho đến lúc sinh.
- (Neonatal death) Chết sinh sự kiện chết xảy ra trong khoảng thời gian từ khi con người được
sinh ra sống đến tròn 28 ngày tuổi.
+ Chết sớm sơ sinh: sự kiện chết xảy ra từ 0 đến tròn 7 ngày tuổi
+ Chết muộn sơ sinh: sự kiện chết xảy ra từ sau 7 ngày tuổi đến tròn 28 ngày tuổi
- Chết chu sinh (Perinatal death): Là sự kiện chết thai nhi 3 tháng cuối thai kỳ cho đến lúc sinh
và chết từ khi sinh cho đến trước khi tròn 7 ngày tuổi. Như vậy chết chu sinh bao gồm chết thai nhi và chết
sớm sơ sinh.
- Chết sau sinh (post-neonatal death): sự kiện chết của trẻ sinh xảy ra giữa 28 ngày tuổi
đến tròn 364 ngày tuổi.
- Chết trẻ em dưới 1 tuổi (infant death): Là sự kiện chết xảy ra trong khoảng thời gian từ khi có sự
kiện sinh sống cho đến khi tròn 12 tháng tuổi.
- - Chết trẻ em dưới 5 tuổi: sự kiện chết sảy ra sau khi sự kiện sinh sống cho đến khi tròn
60 tháng tuổi.
Ý nghĩa: Sinh chết hai yếu tố của quá trình tái sản xuất dân số, tác động qua lại lẫn nhau. Việc
nghiên cứu mức chết là tiền thân của nghiên cứu khoa học dân số.
Nghiên cứu mức chết là một trong những yếu tố để dự báo dân số, theo phương trình cân bằng dân
số:
Pt = Po + (S C) + (N X)
Nghiên cứu nguyên nhân chết một trong những phương pháp nghiên cứu bệnh tật, trên sở đó
đề ra các biện pháp can thiệp nhằm giảm bệnh tật, giảm mức chết do các nguyên nhân.
Mức chết ảnh hưởng lớn nhất đến quy cấu dân số. Thông tin về tử vong thể giúp
tính toán tim năng dân số, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, y tế công cộng. Việc đánh giá mức
độ tử vong trong dân hay theo độ tuổi, để đánh giá trình độ phát triển kinh tế hội, phát triển của y
học và chăm sóc y tế. Như vậy, việc nghiên cứu mc chết không chỉ giúp cho nghiên cứu biến động dân s
mà còn liên quan nhiều đến việc hoạch định chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, phòng và
điều trị bệnh để giảm tỷ lệ chết và tăng tuổi thọ bình quân của mỗi quần thể dân cư.
2. Các chỉ tiêu đo lường mức chết
nhiều chỉ tiêu đánh giá mức độ chết. Mỗi chỉ tiêu phản ánh khía cạnh này hay khía cạnh khác
của sự chết và có những ưu, nhược điểm nhất định.
2.1. Các chỉ số đo lường mức chết chung:
2.1.1. Tỷ suất chết thô (CDR- Crude Death Rate):
Tỷ suất chết thô là số người chết tính trên 1000 dân số trung bình trong năm
D
CDR = x1000
P
Trong đó:
- CDR: Tỷ suất chết thô.
- D : số ngưi chết trong một năm của một nước hoặc một địa phương nào đó.
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
- P : Số dân bình quân trong năm của địa phương đó.
Tỷ suất chết thô trung bình trên thế giới năm 2018 vào khoảng 7,5‰ không sự khác biệt
nhiều giữa các nước phát triển và đang phát triển, đặc biệt từ những năm 80 trở lại đây. Ở Việt Nam, trong
giai đoạn 2008-2018, tỷ suất chết thô dao động không đáng kể (thấp 5,3năm 2008 cao nhất
7,1 năm 2013); như vậy CDR của nước ta khá thấp và tương đối ổn định trong những năm gần đây.
Biểu đồ 2.1. Tỷ suất chết thô, Việt Nam thời kỳ 2009-2018
Nguồn: Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4/2018
CDR tính toán khá đơn giản, nhanh không cần nhiều số liệu. Tsuất chết thô tuy nghèo nàn
nhưng lại là một chỉ số hay dùng. Chỉ số này có thể dùng để đánh giá mức chết bao trùm của dân số. Người
ta thường dùng chỉ số này để so sánh mức chết qua các thời kì của một vùng hay một quốc gia.
Chỉ số CDR có nhược điểm là phụ thuộc vào cơ cấu dân số (đặc biệt cơ cấu tuổi) do đó khi so sánh
tỷ suất chết thô giữa các nước các vùng khác nhau thì sẽ không phản ánh được đầy đủ, chính xác trình
độ phát triển kinh tế - hội, mức sống những thành tựu y học tới mức chết. Tuy vậy CDR vẫn chỉ
tiêu quan trọng đánh giá mức độ chết của dân cư và xác định tỷ suất tăng t nhiên dân số.
2.2.2. Các tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi(Age Specific Death Rate – ASDR):
Đối với các nhóm dân khác nhau (tuổi, giới, nghề nghiệp, dân tộc) thì mức độ chết khác nhau.
Để phản ánh mức độ chết của các nhóm dân cư riêng biệt, người ta dùng các tỷ suất chết đặc thù, trong đó
đặc biệt quan tâm đến tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi.
1000
D
x
ASDR x
x
Px
Trong đó:
ASDRx: tỷ suất chết đặc trưng tính cho tuổi x.
Dx : số người chết ở tuổi x trong năm.
Px : dân số trung bình tuổi x trong năm.
Ưu điểm: Thước đo này đã loại trừ đưc sự khác biệt về mức chết của từng tuổi, phản ánh đúng
mức chết của từng độ tuổi và không bị ảnh hưởng bởi cơ cấu tuổi của dân số.
Nhược điểm: Cách tính toán tương đối phức tạp, đòi hỏi số liệu chi tiết về chết từng độ tuổi.
Trong thực tế khó xác định được mức độ chết cho từng độ tuổi, nên thường tính cho từng nhóm tuổi. Bên
cạnh đó nó cũng không phản ánh mức chết bao trùm của cả dân số.
Ý nghĩa: Chỉ số ASDR có ý nghĩa so sánh mức độ chết giữa các nước, giữa các thời k.
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
2.2. Các chỉ số đo lường mức chết mẹ
2.2.1. Tỷ suất chết bà mẹ (MMRate – Maternal Mortality Rate):
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ chết của các bà mẹ do những nguyên nhân có liên quan đến thai sản,
sinh đẻ (bao gồm các bà mẹ chết trong khi có thai, trong khi đẻ và 6 tuần sau đẻ do tất cả các nguyên nhân
trừ nguyên nhân do tai nạn, chấn thương) trong một năm tính trên 1000 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-
49).
Công thức tính:
Dw
MMRate = x 1000
P
15-49
Trong đó:
Dw : tổng số bà mẹ chết trong năm
P
15-49
: tổng số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
2.2.2. Tỷ số chết bà mẹ (MMRatio – Maternal Mortality Ratio):
Dw
MMRatio = x 100.000
B
0
Trong đó:
- Dw : tổng số bà mẹ chết trong năm
- B0 : tổng số trẻ sinh sống trong năm
Tử vong mẹ một trong những nguyên nhân chính làm giảm khoảng thời gian sống mạnh khoẻ
của phụ nữ tuổi sinh đẻ ở những nước đang phát triển.
Hơn một nửa số ca tử vong mẹ (254.000 ca) xảy ra tại vùng Hạ Sahara Châu Phi, theo sau là Nam
Á (196.000 ca). Hai ng này cộng lại đã chiếm tới 86% tổng số ca tử vong mẹ trên toàn thế giới trong
năm 2017.
mười một quốc gia “góp phần” tới 65 phần trăm số tử vong mẹ năm 2017. Nigiêria con số
cao nhất (917.000 ca), sau đó tới Afghanistan (638.000 ca, Cộng hòa Dân chủ Công gô (473.000 ca) và Ấn
Độ (122.000 ca).
Bảng 2.1. Tử vong mẹ các nước Đông và Nam châu Á 2017-2018
Nước
Tỷ số tử vong mẹ
(trên 100.000 trẻ đẻ ra sống)
Lào PPD
185
Đông Timor
142
Combodia
160
Myanma
250
Indonexia
177
Philipines
121
Việt Nam
43
Mongolia
45
Trung quốc
20
Thai lan
37
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Malaysia
25
Nguồn: WHO 2017
a
và UNFPA 2017- Theo www.Unfpa.org
2.3. Các chỉ số đo lường mức chết trẻ em:
2.3.1. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (IMR - Infant Mortality Rate):
R 1000
D
o
IM x
Bo
Trong đó:
- IMR : Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi
- D0 : Số trẻ em dưới 1 tuổi chết trong năm.
- B0 : Số trẻ sinh sống trong cùng năm.
Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi chỉ tiêu đặc biệt quan trọng, phân tích về chết của dân số bởi
vì nó là chỉ báo nhạy cảm nhất đánh giá mức độ ảnh hưởng của mc sống, y tế và phát triển đến mức chết.
đo mức độ chết trong bộ phận dân mức độ chết cao, ảnh hưởng rất lớn đến mức chết chung
tuổi thọ bình quân của người dân. Đồng thời nó mối quan hệ tác động qua lại rất chặt chẽ đối với mức
sinh.
Bảng 2.2.Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi trên thế giới từ 2012-2018
Năm
IMR (‰)
Tăng, giảm so với năm trước(‰)
2012
34,5
2013
33,4
-1,1
2014
32,4
-1,0
2015
31,4
-1,0
2016
30,6
-0,8
2017
29,7
-0,9
2018
28,9
-0,8
Nguồn: The World Bank Data
Tỷ suất chết của trẻ em của các nước phát triển thấp hơn hẳn các nước đang phát triển, năm 2018 tỷ
suất chết trẻ em toàn thế giới là: 28,9‰, trong đó các nước phát triển là 6‰, các nước đang phát triển là 50
‰ (2018 Population Reference Bureau- theo www. Prb.org)
Tỷ suất chết trẻ em của Việt Nam ln ln có xu hướng giảm: Theo số liệu tổng điu tra dân s2018
IMR của toàn quốc 14,2‰; năm 2013 tỷ lệ y 15,3‰; năm 2015 14,7năm 2017 14,4‰,
đây là thành công của các chương trình y tế quốc gia cũng như chương trình chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ
và trẻ em. Tuy nhiên, còn có sự khác nhau rất lớn giữa các vùng, Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà
năm 2018: Đông Nam Bộ 8,2‰, Đồng bằng sông Hồng 11,2‰ Đồng bằng sông Cửu Long
10,9‰, trong khi đó, ở Tây Nguyên còn đến 23,6‰, Trung du và miền núi phía Bắc là 21,4‰.
2.3.2. Tỷ suất chết chu sinh (PMR – Perinatal Mortality Rate):
Tỷ suất chết chu sinh số lượng chết chu sinh tính trên 1000 trẻ sinh sống trong một khoảng thời
gian nhất định (thường là một năm)
DF + DN
PMR = x 1000
B0
Trong đó
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
- DF : số chết thai nhi trong 3 tháng cuối thai kỳ cho đến lúc sinh (trong 1 năm).
- DN : số trẻ chết từ khi sinh ra sống cho đến 7 ngày tuổi (chết sơ sinh).
- B0 : số trẻ sinh sống trong năm.
Tỷ suất chết chu sinh phản ánh công tác chăm sóc và bảo vệ bà mẹ, trẻ em.
Tỉ lệ tử vong sơ sinh và tỉ lệ trẻ chết chu sinh cao nhất ở Châu Phi vùng cận Sahara, kế đó là Châu
Á Mỹ Latinh. Ở các nước tỉ lệ tử vong cao nhất, khoảng 10% trẻ không sống quá 1 tháng. Tử vong
sơ sinh nói chung thường do biến chứng trước sinh, ngạt hay chấn thương lúc sinh, nhiễm trùng, dị tật bẩm
sinh nặng, hoặc các nguyên nhân chu sinh đặc biệt khác. Tỉ lệ của những nguyên nhân cũng thay đổi:
những vùng có tử vong sơ sinh thấp, nguyên nhân trước sinh và dị tật gặp nhiều hơn. Ngược lại, ở vùng có
tử vong cao hơn, ngạt lúc sinh, uốn ván, và nhiễm trùng lại là những nguyên nhân chính. Sức khỏe và dinh
dưỡng của mẹ rất quan trọng đối với sức khỏe của trẻ sinh, nhiễm trùng mẹ thể gây ra những
hậu quả rất xấu ở trẻ.
2.3.3. Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi (U5MR – Under 5 Mortality Rate):
D
0-5
U5MR = x 1000
B
0
Trong đó:
- D
0-5
: số trẻ em dưới 5 tuổi chết trong năm
- B
0
: số trẻ em sinh sống trong năm
Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi năm 2016 Viêt Nam là 22 ‰.
Cũng như tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi, tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi ảnh hưởng rất lớn đến triển
vọng sống trung bình của dân số. Các nguyên nhân chết của trẻ em ới 5 tuổi Việt Nam hiện nay vẫn
chủ yếu các nguyên nhân giống như các nước đang phát triển khác như: Tiêu chảy, viêm phế quản, suy
dinh dưỡng. Đây những nguyên nhân chúng ta thể khắc phục được không cần đầu nguồn
lực quá lớn. Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi trong một chừng mực nhất định phản ánh trình độ phát triển
của kinh tế, hệ thống y tế giáo dục tính ưu việt của chính sách an sinh hội, đặc biệt chính sách
chăm sóc và bảo vệ bà mẹ và trẻ em.
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức chết
Chết hiện tượng t nhiên, điều không thể tránh khỏi đối với mỗi thể sống. thể phân các
yếu tố ảnh hưng thành 4 nhóm chủ yếu sau đây:
- Mức sống của dân cư: Mức sống càng được nâng cao, thể lực càng được tăng cường, con người
càng khả năng chống đỡ các loại bệnh tật, mức chết càng thấp. Như vậy mức sống của dân tỷ l
nghịch với mức chết. Mức sống có liên quan chặt chẽ với trình độ phát triển kinh tế xã hội, đến mng lưới
phục vụ công cộng...
- Trình độ phát triển y học, mạng lưới y tế, vệ sinh phòng bệnh
Ngày nay y học khả năng dập tắt nhiều dịch bệnh nguy hiểm, gây chết người hàng loạt. Trình độ
y học đã đạt được một nước không chỉ tác động đến nước đó, còn được phổ biến rộng rãi, nhanh
chóng trên phạm vi thế giới. Vì vậy, nhiều nước tuy còn lạc hậu, nhưng được sự giúp đỡ của các nước tiên
tiến đã giảm nhanh chóng mức chết.
Mạng lưới y tế phát triển từ trung ương đến địa phương, thực hiện tốt công tác vệ sinh phòng bệnh,
đảm bảo môi trường sống trong lành, chăm sóc sức khỏe, vệ sinh cá nhân tốt...cũng là những nguyên nhân
làm gim nguy cơ tử vong.
- Môi trường sống: Con người sống trong môi trường tự nhiên, nên nó có tác động trực tiếp đến sức
khoẻ của họ. Môi trường trong sạch tuổi thọ được nâng cao. Môi trường ô nhiễm sẽ gây ra nhiều bệnh tật,
ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân, làm tăng mức chết.
Ngày nay công nghiệp phát triển, đô thị được mở rộng, những điểm dân sống đông đúc ngày
càng tăng. Nếu không quy hoạch các nhà máy, khu công nghiệp, điểm dân cư hợp lý, nếu không có các hệ
thống thải lọc tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưng đến sức khoẻ của nhân dân.
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
- Yếu tố tự nhiên: có liên quan đến sự già cỗi của con người. Theo quy luật tự nhiên, con người chỉ
sống đến một giới hạn nhất định. Tuy nhiên giới hạn đó đối với các nước, các thời k khác nhau khác
nhau còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác (kinh tế, hội, y học, môi trường...). Nhưng nếu thuần tuý
về sinh thì cấu dân số (đặc biệt cấu về tuổi) ảnh hưởng đến việc nâng cao hay hạ thấp tỷ suất
chết. Điều đó giải thích sao Việt Nam, trong khi mức sống dân chưa cao, nhưng CDR lại thấp hơn
khá nhiều so với các nước phát triển (5,3‰ so vi 10‰)
Ngoài ra, các tệ nạn hội như ma tuý, rượu chè, mại dâm., tai nạn giao thông, bạo lực, tự tử, ngộ
độc, phong tục tập quán lạc hậu, văn hóa, lối sống... cũng ảnh hưởng đến mức độ chết. Trong khi các loại
bệnh dịch mang tính quốc gia và quốc tế ít nhiều đã kiểm soát được, thì các nguyên nhân này ngày càng có
xu hướng gia tăng. Ngày càng nhiều trường hợp chết do hậu quả tác động của các yếu tố thuộc về lối
sống một độ tuổi nhất định như thói quen hút thuốc, nghiện rượu bia, ít rèn luyện sức khỏe, do nghề
nghiệp, do sử dụng phương tiện giao thông tốc độ cao (máy bay, tàu thủy, ô tô...). các độ tuổi trẻ,
nguyên nhân chết phổ biến nhất vẫn do tai nạn. Đối với các nguyên nhân này, việc thay đổi văn hóa và
hoàn thiện lối sống sẽ có khả năng làm giảm đáng kể mức chết do chúng gây nên.
Tất cả các yếu tố trên đồng thời tác động theo những chiều hướng khác nhau, tuỳ thuộc vào điều
kiện cụ thể của từng nước, trong từng thời kỳ.
TỰ LƯỢNG GIÁ
Câu hỏi Đ/S
STT
Ni dung
Đ
S
1
T suất sinh thô CBR có nhưc đim là khó tính toán, cn nhiu
s liu chi tiết.
2
T sut sinh chung biu th s tr em sinh ra sng trong một năm
so vi 1000 ph n trong độ tuổi sinh đẻ.
3
Ch s ASFR đã loi tr được s khác bit v mc sinh ca tng
độ tui khác nhau.
4
Tng t sut sinh TFR chu ảnh hưởng ca cu trúc dân s theo
tui và giới tính nên ít được dùng đ đo lưng, so sánh mc sinh
giữa các địa phương.
5
Chính sách v dân s của nhà nước mt trong các yếu t nh
hưởng đến mc sinh
6
Chết s mất đi vĩnh viễn tt c các biu hin ca s sng,
mt thi điểm nào đó, sau khi có sự kin sinh sng xy ra
7
Chết thai nhi s kin chết thai nhi xy ra 3 tháng gia thai
kì cho đến lúc sinh
8
Chết sinh: sự kin chết xy ra trong khong thi gian t
khi con người được sinh ra sng đến trước khi tròn 28 ngày tui.
9
Chết mun sau sinh: s kin chết xy ra t 7 ngày tuổi đến
dưới 14 ngày tui sau khi sinh.
10
Chết tr em i 5 tui: s kin chết xy ra sau khi s
kin sinh sống cho đến khi tròn 60 tháng tui.
Câu hỏi ngỏ ngắn: Điền các từ/cụm từ còn thiếu vào dấu...
Câu 1. Chết sự mất đi....tất cả các biểu hiện của sự sống, một thời điểm nào đó, sau khi s
kiện....xảy ra (Chết là sự chấm dứt tất cả những.......mà không một khả năng nào khôi phục lại được).
Câu 2. Chết muộn sau sinh: Là sự kiện chết xảy ra từ...........đến.........sau khi sinh.
Câu 3. Công thức tính tỷ suất chết thô:
CDR=
D
P
x1000
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Trong đó: - CDR:.......
- D: .......
- P:....
Câu 4. Hạn chế lớn nhất của tỷ suất chết thô là....
CASE STUDY
Mục tiêu:
Sau khi giải quyết được bài tập tình huống này, sinh viên sẽ biết:
1. Cách tính toán các chỉ số cơ bản đo lường mức sinh, mức chết
2. Nhận định được giá trị của các chỉ số từ đó đưa ra được các khuyến cáo phù hợp
Số liệu của một địa phương X năm 2019 như sau:
Nhóm tuổi
(a)
Dân số trung bình
(nghìn người)
Dân số nữ
(nghìn người)
Trẻ mới sinh sống
(nghìn người)
0-14
1412
693
-
15-19
374
185
8
20-24
453
211
38
25-29
502
298
39
30-34
804
432
27
35-39
611
316
14
40-44
583
286
2
45-49
427
214
1
50
+
2147
1119
-
Tổng số
7313
3754
129
1. Hãy tính CBR, GFR, ASFRa, TFR ?
2. Cho biết: Xác suất sinh con gái θ = 0,488; Hệ số sống trung bình của số con gái mới sinh trong năm
sống được đến khi thay thế các mẹ là 0,9. Hãy tính GRR và NRR từ đó đưa ra nhận xét về chế độ
tái sản xuất dân số?
3. Từ các dữ kiện đã có, anh/chị hãy đưa ra các khuyến cáo vchính sách dân số nên được áp dụng đối
với địa phương trên.
4. Giả sử, tổng số người chết trong năm của địa phương trên là 79.711 ngưi, trong đó số trẻ em dưới 1
tuổi chết là 4734. Hãy tính tỷ suất tử vong thô và tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi năm 2019 của địa
phương trên? Nhận xét về các chỉ số này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Chí Liêm, Dân số học, Hà Nội, Nhà xuất bản Y học, 2009.
2. Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số nhà Trung ương, Kết quả tổng điều tra dân số nhà 2009,
Hà Nội, 2010.
3. Klaus Krickeberg, Trần Trọng Khuê, Nguyễn Đức Thanh, Sách song ngữ Việt Anh - Khoa học Dân
số và Y tế công cộng, Nhà xuất bản Y học, 2014.
4. Tổng cục thống kê, Kết quả chủ yếu điều tra biến động dân số kế hoạch hóa gia đình thời điểm
1/4/2018, Nhà xuất bản thống kê, 2019.

Preview text:

Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội Bài 3
MỨC SINH, MỨC CHẾT VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
Trịnh Thanh Xuân, Hoàng Thị Thuận MỤC TIÊU
Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:
1. Mô tả được các khái niệm cơ bản về mức sinh, mức chết (tử vong)
2. Phân tích được các chỉ số đo lường mức sinh, mức tái sinh sản và các chỉ số đo lường mức chết
3. Mô tả được các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh, mức chết của một cộng đồng dân cư.
4. Vận dụng được số liệu về mức sinh, mức tái sinh sản, mức chết để đưa ra các khuyến cáo phù
hợp cho một cộng đồng dân cư. NỘI DUNG
I. MỨC SINH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
1. Khái niệm cơ bản về mức sinh
- Mức sinh (fertility level): biểu thị sự sinh đẻ của một phụ nữ, liên quan đến số trẻ sinh sống mà
một người phụ nữ thực có trong suốt cuộc đời sinh sản của mình.
Trẻ sinh sống (live birth): Trẻ sinh sống là trẻ sau khi sinh ra khỏi cơ thể người mẹ có biểu hiện sự
sống, như đứa trẻ thở được, tim đập và các cơ co bóp tự ý.
- Thời gian sinh đẻ: là khoảng thời gian từ lúc người phụ nữ bắt đầu sinh đẻ cho đến khi kết thúc
thời kỳ sinh đẻ. Độ tuổi sinh đẻ của phụ nữ là từ 15 – 49 tuổi.
Như vậy, mức sinh phản ánh mức độ sinh sản của dân cư, nó biểu thị số trẻ em sinh sống mà một
phụ nữ có được trong suốt cuộc đời sinh sản của mình. Mức sinh không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh
sản của các cặp vợ chồng mà còn phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố khác như tuổi kết hôn, thời gian
chung sống của các cặp vợ chồng, số con mong muốn, trình độ phát triển kinh tế văn hóa xã hội, địa vị của
người phụ nữ, mức độ áp dụng các biện pháp tránh thai,…
Việc nghiên cứu mức sinh có tầm quan trọng trong phạm vi vi mô lẫn vĩ mô. Mức sinh của một
vùng, một quốc gia khu vực, thế giới đều có ảnh hưởng lớn tới quy mô, cơ cấu, tốc độ gia tăng dân số
cũng như quá trình phát triển kinh tế, xã hội của nơi đó. Cho nên, cần phải nghiên cứu mức sinh để tìm
cách điều tiết mức sinh, thông qua đó chúng ta có thể điều tiết quy mô, cơ cấu, tốc độ tăng dân số để thích
ứng giữa sự phát triển dân số với phát triển kinh tế xã hội.
2. Các chỉ số đo lường mức sinh theo thời kì:
2.1. Tỉ suất sinh thô (CBR-Crude Birth Rate):CBR
Tỉ suất sinh thô biểu thị số trẻ sinh ra sống trong một năm so với 1000 người dân B CBR = x 1000 P Trong đó:
B : số trẻ sinh sống trong năm của nơi nghiên cứu
P : dân số trung bình trong năm của nơi nghiên cứu (là dân số vào ngày 1/7 hoặc trung bình cộng
của dân số đầu năm và dân số cuối năm).
Đối với các vùng khác nhau, trong các thời kỳ khác nhau, tỷ suất sinh thô rất khác nhau, phụ thuộc
rất nhiều yếu tố. Ví dụ năm 2016 tỷ suất sinh thô bình quân trên thế giới là 18,6‰, trong đó các nước phát
triển 10,1‰, các nước đang phát triển 20,3‰. Ở Việt Nam năm 1976 khi đất nước mới được giải phóng
CBR là 39,5‰ đến năm 1990 là 30‰, năm 1999 là 19,9‰, năm 2009 là 17,6‰ và đến năm 2018 là 15,0‰.
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Hình 2.1. Tỷ suất sinh thô của các khu vực trên thế giới và Việt Nam năm 2018
Với cách tính toán nhanh, đơn giản, cần ít số liệu nên CBR thường được sử dụng khá rộng rãi. Tuy
vậy, chỉ số này có một số nhược điểm đó là: Không nhạy cảm với những thay đổi nhỏ của mức sinh. Do tỷ
suất sinh thô có mẫu số là toàn bộ dân số trong khi chỉ có một bộ phận dân số có khả năng sinh con, vì vậy
tỷ suất sinh thô chỉ ước tính sơ bộ được mức sinh trong một dân số. Thứ hai, CBR bị ảnh hưởng của cấu
trúc dân số: theo giới, tuổi, phân bố mức sinh ở các lứa tuổi, tình trạng hôn nhân…đặc biệt là cơ cấu tuổi
và giới của dân số. Do đó đôi khi tỷ suất sinh thô không phản ánh chính xác mức sinh. Chẳng hạn xã A có
tỷ suất sinh thô là 15‰, xã B có tỷ suất sinh thô là 13‰, ta cũng chưa có cơ sở để khẳng định mức sinh
của xã A cao hơn mức sinh của xã B, nếu chưa xem xét tỷ trọng dân số trong độ tuổi sinh đẻ của 2 xã này.
2.2. Tỉ suất sinh chung (GFR - General Fertility Rate):
Tỉ suất sinh chung biểu thị số trẻ em sinh ra sống trong một năm so với 1000 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. B GFR = x 1000 PW15-49 Trong đó:
B: tổng số trẻ em sinh ra sống trong năm P
: số phụ nữ trong độ tuổi 15 W15-49 -49 trung bình trong năm
Tỷ suất sinh chung không chỉ phụ thuộc vào mức sinh của phụ nữ mà còn phụ thuộc vào cơ cấu
tuổi trong nhóm phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ. Do số phụ nữ trong độ tuổi từ 15-49 chiếm 1/5-1/3 dân số nên
GFR cũng bằng 3-5 lần CBR.
Chỉ số này có ưu điểm là đã loại bỏ một phần ảnh hưởng của cơ cấu tuổi và giới đối với mức sinh.
Bên cạnh đó, chỉ số này còn phản ánh những biến đổi về hành vi sinh sản tốt hơn tỷ suất sinh thô. Nó cho
thấy mối quan hệ giữa những người có khả năng sinh đẻ (phụ nữ 15-49 tuổi) với số trẻ em sinh ra sống từ
đó chỉ ra rõ hơn mức sinh của một dân số hay một quốc gia. Chỉ số này cũng có ưu điểm là dễ tính toán.
Tuy vậy, chỉ số này vẫn chưa thật hoàn hảo để đo lường mức sinh. Xét trong điều kiện thực tế của
các nước đang phát triển thì rất khó mà thống kê đủ và chính xác số trẻ đẻ ra sống. Ngoài ra chỉ số này
cũng không phản ảnh được những mức độ sinh sản ở các nhóm tuổi khác nhau.
2.3. Tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFRx – Age Specific Fertility Rate):
Lả tỷ số giữa số sinh bởi phụ nữ trong cùng một nhóm tuổi trên 1000 phụ nữ thuộc nhóm tuổi đó trong năm Bwx ASFRx = x 1000 Pwx Trong đó:
ASFRx : tỷ suất sinh đặc trưng của tuổi x
Bwx : số trẻ sinh ra sống trong năm của những phụ nữ ở tuổi x
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Pwx : số phụ nữ trung bình của độ tuổi x trong năm
Chỉ số ASFRx phản ánh mức độ sinh đẻ của từng độ tuổi của người phụ nữ. Ở mỗi độ tuổi khác
nhau mức sinh của phụ nữ cũng khác nhau, do vậy khi tính toán được chỉ số ASFR ta sẽ biết nó đạt cao
nhất, thấp nhất ở độ tuổi nào để có hướng nghiên cứu và can thiệp hợp lý. Chẳng hạn, tỷ suất sinh đặc
trưng cao nhất ở lứa tuổi 20-24 hoặc 25-29 tùy từng dân số và từng giai đoạn. ASFRx là một trong những
chỉ tiêu phân tích mô hình sinh hiệu quả, nó còn được sử dụng hiệu quả trong các dự báo dân số.
Hình 2.2. Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR) chia theo thành thị và nông thôn
của Việt Nam năm 2018
Hình 2.2 mô tả tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR) của Việt Nam qua điều tra năm 2018 theo
hai khu vực thành thị và nông thôn. Mặc dù cùng có hình quả chuông như nhau, nhưng đường gấp khúc
lệch phải biểu thị dạng thức sinh của khu vực thành thị không những thấp hơn mà còn có độ „trễ“ so với
đường của khu vực nông thôn, nghĩa là phụ nữ thành thị sinh muộn và sinh ít con hơn khu vực nông thôn.
Ở khu vưc thành thị, mức sinh cao nhất thuộc về phụ nữ từ 25-29 tuổi, tương ứng 128 trẻ sinh sống/1000
phụ nữ. Ở khu vực nông thôn, mức sinh cao nhất thuộc về nhóm tuổi 20-24 với 148 trẻ sinh sống/1000 phụ
nữ. Nếu so với mức sinh của phụ nữ nhóm tuổi 20-24 ở khu vực thành thị thì con số này khu vực nông
thôn cao gấp đôi (148 trẻ sinh sống/1000 phụ nữ so với 75 trẻ sinh sống/1000 phụ nữ). Điều này có thể là
do phụ nữ nông thôn không có nhiều cơ hội để theo học trình độ cao hơn như phụ nữ thành thị nên họ
thường kết hôn và sinh con sớm hơn phụ nữ thành thị.
Khi sử dụng chỉ số ASFR ta loại trừ được sự khác biệt về mức sinh của từng độ tuổi khác nhau từ
đó đem lại nhiều thông tin về hành vi sinh sản hơn bất kỳ một chỉ tiêu đo lường nào khác. Chỉ số này phản
ánh chính xác mức độ sinh đẻ của phụ nữ ở từng độ tuổi, có thể dùng để so sánh trực tiếp mức sinh của
quốc gia (vùng) này với quốc gia (vùng) khác.
Tuy vậy, nhược điểm của chỉ số này là việc tính toán tương đối phức tạp, đòi hỏi số liệu chi tiết.
Trong khi hệ thống ghi chép ở các nước đang phát triển không phải lúc nào cũng có sẵn, đầy đủ và chính xác.
Thông thường người ta tính tỉ suất sinh đặc trưng cho từng nhóm tuổi phụ nữ. Toàn bộ số phụ nữ
trong độ tuổi sinh đẻ thường được chia làm 7 nhóm (15-19; 20-24; ...45-49). Trong nhiều nghiên cứu về
khả năng sinh đẻ của phụ nữ người ta chia ra làm 3 độ tuổi: 15 – 24; 25 - 35 và 36 – 49.
Ý nghĩa: Tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi cho ta biết được mức độ mắn đẻ (khả năng thụ thai) của
phụ nữ ở một độ tuổi nào đó ở một cộng đồng trong một năm.
2.4. Tổng tỉ suất sinh (TFR – Total Ferility Rate):
Tổng tỉ suất sinh (TFR) là tổng của tất cả các tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi đối với từng năm
riêng lẻ trong thời kì sinh sản.
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội 49 7  ASFR  x 5  ASFR  a  x 15 TFR  = a 1 1000 1000 Trong đó:
ASFRx : tỷ suất sinh đặc trưng cho từng độ tuổi (tính theo tỷ lệ ‰ )
ASFRa : tỷ suất sinh đặc trưng cho từng nhóm tuổi.
Về bản chất, tổng tỷ suất sinh là tổng số con mà một phụ nữ có thể có nếu người này có cùng mức
sinh ở mỗi độ tuổi như các phụ nữ khác ở các độ tuổi này cho đến 49 tuổi. Như vậy, đây chỉ là số trẻ em
bình quân cho một thế hệ bà mẹ giả định, chứ không phải của một thế hệ bà mẹ thực tế.
Hình 2.3. Tổng tỷ suất sinh Việt Nam thời kì 2009-2018
Hình 2.3 mô tả sự thay đổi TFR của Việt Nam qua các năm từ 2009 - 2018. TFR có sự biến động qua
từng năm, thấp nhất là 1,99 con/phụ nữ năm 2011 và cao nhất là 2,10 con/phụ nữ năm 2015. TFR ở những năm
1999 là 2,33 con/phụ nữ và đã giảm xuống 2,03 con/phụ nữ 10 năm sau đó. TFR giảm mạnh góp phần quan
trọng làm giảm mức độ gia tăng dân số giai đoạn từ năm 1999-2009 và là minh chứng rất rõ ràng về sự thành
công của chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình của Việt Nam.
Bảng 2.1. Tổng tỷ suất sinh Việt Nam theo vùng thời kì 2009-2018
Vùng kinh tế - xã hội 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 Cả nước 2,03 2,00 1,99 2,05 2,10 2,09 2,10 2,09 2,04 2,05 Thành thị 1,81 1,77 1,70 1,80 1,86 1,85 1,82 1,86 1,77 1,75 Nông thôn 2,14 2,11 2,12 2,17 2,21 2,21 2,25 2,21 2,19 2,22 Trung du và miền núi 2,24 2,22 2,21 2,31 2,18 2,56 2,69 2,63 2,53 2,48 phía Bắc ĐB sông Hồng 2,11 2,04 2,06 2,11 2,11 2,30 2,23 2,23 2,16 2,29 Bắc Trung Bộ và DH 2,21 2,21 2,21 2,32 2,37 2,31 2,34 2,37 2,31 2,30 miền Trung Tây Nguyên 2,65 2,63 2,58 2,43 2,49 2,30 2,26 2,37 2,29 2,32 Đông Nam bộ 1,69 1,68 1,59 1,57 1,83 1,56 1,63 1,46 1,55 1,50
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội ĐBS Cửu Long 1,84 1,80 1,80 1,92 1,92 1,84 1,76 1,84 1,74 1,74
Số liệu bảng 2.1 cho thấy, TFR ở khu vực nông thôn luôn luôn lớn hơn khu vực thành thị, gần đạt mức
sinh thay thế là 2,1 con/phụ nữ trong khi đó, TFR ở khu vực thành thị khá thấp và thay đổi không đáng kể xung
quanh mức 1,8 con/phụ nữ trong suốt giai đoạn từ 2009-2018. Số liệu bảng 2.1 cũng cho thấy trong 10 năm qua,
Tây Nguyên và Trung du, miền núi phía Bắc luôn là hai vùng có mức sinh cao nhất cả nước, đứng thứ hai là
Bắc Bộ và Duyên Hải miền Trung, hai vùng có mức sinh thấp nhất là Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu
Long với TFR tương ứng là 1,50 và 1,74 con/phụ nữ năm 2018.
TFR là thước đo mức sinh không phụ thuộc vào cấu trúc tuổi, hơn nữa lại chỉ phản ánh bằng một
con số tổng hợp cho nên có khả năng dự tính tốt nhất hiện nay một phụ nữ trung bình có bao nhiêu con. Có
thể dùng chỉ số này để so sánh giữa các quốc gia, các vùng khác nhau. Tuy vậy, nhược điểm của chỉ số này
cũng như chỉ số ASFR là cách tính toán tương đối phức tạp, cần số liệu đầy đủ, cụ thể và chi tiết.
3. Đo lường mức tái sinh sản
3.1. Khái niệm tái sinh sản:

Tái sinh sản là quá trình thay thế thế hệ dân số này bằng thế hệ dân số khác dựa vào yếu tố sinh và
chết. Tái sinh sản là yếu tố chủ yếu của quá trình tái sản xuất dân số. Trong tái sinh sản phụ nữ đóng vai
trò rất quan trọng. Do vậy để đánh giá quá trình tái sinh sản không chỉ dựa vào các tỷ suất sinh mà phải
phân tích đến mức độ tăng cũng như giảm của dân số nữ.
3.2. Các chỉ số đo lường mức tái sinh sản:
3.2.1. Tỷ suất tái sinh thô (GRR – Gross Reproduction Rate):

Tỷ suất tái sinh thô biểu thị số con gái trung bình mà một phụ nữ (hoặc một nhóm phụ nữ) có thể
sinh ra trong quãng đời sinh đẻ của mình với giả thiết người phụ nữ đó chỉ chết sau khi hết tuổi sinh đẻ.
Tỷ suất tái sinh thô được tính dựa vào tổng tỷ suất sinh và xác suất sinh con gái: 49
GRR = θ x TFR = θ x  ASFRx x 15  Trong đó: TFR : tổng tỷ suất sinh
ASFRx: tỷ suất sinh đặc trưng của tuổi x
θ : xác suất sinh con gái và được xác định bằng:
Số bé gái sinh ra trong năm θ =
Tổng số trẻ em sinh ra trong năm
Thông thường trong điều kiện không có tác động gì của con người đến việc xác định giới tính của
thai nhi thì θ = 0,488 hoặc 0,49 (xác suất sinh con trai là 0,51).
Tỷ số giới tính khi sinh (SRB - Sex Ratio at Birth) được xác định bằng số bé trai được sinh ra sống
trên 100 bé gái sinh sống của một thời kỳ (thường là một năm). Tỷ số này thông thường là 104-106/100 và
ổn định theo thời gian, bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào của tỷ số này chệch khỏi mức sinh học bình thường
đều phản ánh những can thiệp có chủ ý ở một mức độ nào đó và sẽ làm ảnh hưởng đến sự mất cân bằng tự
nhiên, đe dọa sự ổn định dân số.
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Hình 2.4. Tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam giai đoạn 2009-2018
Sự cân bằng giới tính bị phá vỡ sẽ tác động lên cơ cấu giới tính của dân số trong tương lai và sẽ dẫn
tới hiện tượng thừa nam giới. Thiếu phụ nữ sẽ gia tăng áp lực khiến họ phải lập gia đình sớm và có thể làm
tăng nhu cầu mại dâm và mạng lưới buôn bán phụ nữ và trẻ em gái. Mặt khác nó còn ảnh hưởng đến suy
giảm chất lượng dân số. Vì vậy cần có những biện pháp ngăn chặn hiện tượng lựa chọn giới tính dẫn đến
mất cân bằng giới tính, như một số nước ở Châu Á đang đối mặt (Trung Quốc, Ấn Độ…). Tỷ số giới tính
khi sinh của Việt Nam từ năm 2006 đến nay bắt đầu có dấu hiệu tăng đáng kể.
3.2.2. Tỷ suất tái sinh thực (NRR – Net Reproduction Rate).
Tỷ suất tái sinh thực (tinh, thuần túy) biểu thị số bé gái trung bình được sinh ra bởi một phụ nữ
(hoặc một nhóm phụ nữ) trong suốt thời kỳ sinh đẻ của họ và còn sống được đến khi thay thế người mẹ
thực hiện chức năng sinh đẻ.
Tỷ suất tái sinh thực tính cho một năm xác định nào đó theo công thức: NRR = GRR x Lw Trong đó:
NRR: tỷ suất tái sinh thực
GRR: tỷ suất tái sinh thô
Lw : hệ số sống của những người con gái từ khi sinh ra sống được (0 tuổi) cho đến khi
thay thế người mẹ thực hiện chức năng sinh sản.
Có thể dựa vào tỷ suất tái sinh thực (NRR) để đánh giá mức độ tái sinh sản của dân số:
• Nếu NRR > 1 là tái sinh sản mở rộng, nghĩa là thế hệ tiếp theo có quy mô lớn hơn thế hệ sinh ra họ.
• Nếu NRR = 1 là tái sinh sản giản đơn, nghĩa là thế hệ này được thay thế bởi thế hệ tiếp theo với
đúng số lượng hiện có.
• Nếu NRR < 1 là tái sinh sản thu hẹp, nghĩa là thế hệ tiếp theo có quy mô nhỏ hơn thế hệ sinh ra họ.
• Nếu NRR = 0 là không có sự tái sinh sản
Kết luận này chỉ đúng khi mức sinh của thế hệ thực tế phải phù hợp với mức sinh theo thời kỳ và
sau ít nhất một thế hệ bà mẹ.
3.2.3. Mức sinh thay thế:
Mức sinh thay thế: Là mức sinh mà một nhóm phụ nữ (hay 1 phụ nữ) có vừa đủ số con gái để thay
thế mình trong dân số, nghĩa là mỗi một bà mẹ sẽ sinh ra 1 người con gái đạt đến tuổi sinh đẻ để thay thế
mình. Mức sinh thay thế có thể được đánh giá dựa vào tỷ suất tái sinh sản thực (NRR) NRR =1 = θ x TFR x Lw
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Trên thực tế các nhà nghiên cứu thường sử dụng TFR để xem xét mức sinh thay thế: Nếu TFR =
2,0 và trung bình có 1 con gái, người con gái này lại sống đến hết tuổi sinh đẻ (thay thế mẹ trong vai trò
sinh sản) thì có thể xem TFR = 2,0 là mức sinh thay thế. Tuy nhiên trên thực tế, trên phạm vi quốc gia, tử
vong luôn xảy ra ở mọi lứa tuổi và ở cả 2 giới nam, nữ. Vì vậy, để có 2 con thay thế cha mẹ thường sử
dụng chỉ báo mức sinh thay thế TFR tương đương khoảng 2,1 đến 2,2 con.
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh
KINH TẾ-XÃ HỘI-CHÍNH TRỊ-VĂN HÓA XÃ HỘI GIA ĐÌNH CÁ NHÂN + Mức sống
+ Điều kiện kinh tế gia + Tuổi + Mạng lưới chăm sóc đình + Tình trạng hôn nhân SKSS, truyền thông. + Sức ép gia đình
+ Công việc: địa vị, áp lực + Các bệnh xã hội + Mô hình gia đình
công việc, ngành nghề… ……. + Các chính sách + Trình độ học vấn
+ Trình độ học vấn, nhận + Sức khỏe thức
+ Quan niệm về sắc đẹp + Phong tục tập quán + Chi phí cơ hội + ….. Tôn giáo + Truyền thông + Vùng lãnh thổ ……. SINH ĐẺ
Sơ đồ các yếu tố tác động tới hành vi sinh đẻ
Mức sinh không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh sản mà còn chịu ảnh hưởng bởi một loạt các yếu
tố khác như tuổi kết hôn, thời gian chung sống của các cặp vợ chồng, ý muốn về số con, trình độ phát triển
kinh tế - xã hội, địa vị của người phụ nữ, việc sử dụng các biện pháp phòng tránh thai ... Các yếu tố ảnh
hưởng đến mức sinh có thể chia thành nhóm như sau:
4.1. Những yếu tố tự nhiên sinh vật:
Sinh đẻ trước hết là hiện tượng sinh học, vì vậy nó phải chịu sự tác động của các yếu tố này. Khả
năng sinh sản chỉ có ở một nhóm tuổi nhất định (tuổi có khả năng sinh sản). Nơi nào có số phụ nữ trong
tuổi có khả năng sinh sản càng cao (đặc biệt độ tuổi từ 20 đến 30) thì mức sinh cao và ngược lại. Cơ cấu
giới tính càng phù hợp càng tạo điều kiện thuận lợi cho mức sinh.
Điều kiện tự nhiên môi trường sống cũng ảnh hưởng đến mức sinh. Nơi nào có điều kiện tự nhiên
thuận lợi cho sự phát triển sinh sản thì nơi đó dân số tăng nhanh. Dân tộc cũng là yếu tố ảnh hưởng đến
mức sinh. Dân tộc được xét đến nhiều khía cạnh khác nhau. Về mặt tự nhiên sinh vật, trước hết mỗi dân
tộc là một giống người và mỗi giống người đều có khả năng sinh đẻ khác nhau.
4.2. Phong tục tập quán và tâm lý xã hội:
Mỗi nước, mỗi thời kỳ, mỗi dân tộc, mỗi hình thái kinh tế-xã hội đều có các phong tục tập quán và
tâm lý xã hội khác nhau. Những tập quán và tâm lý này xuất hiện và tồn tại trên những cơ sở thực tế khách quan của nó.
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
Tập quán và tâm lý xã hội có tác động lớn đến mức sinh đẻ. Tập quán kết hôn sớm, muốn có nhiều
con, thích con trai, có nếp có tẻ... là tập quán và tâm lý chung của xã hội cũ những xã hội có trình độ kinh tế, văn hoá thấp kém.
Khi cơ sở kinh tế xã hội thay đổi, khoa học kỹ thuật phát triển, xuất hiện những phong tục tập quán
mới như kết hôn muộn, gia đình nhỏ, nam nữ bình đẳng ...dẫn đến mức sinh giảm.
Muốn thay đổi phong tục tập quán và tâm lý xã hội không chỉ chú trọng tuyên truyền giáo dục, làm
cho người dân tự nguyện tự giác thay đổi tập quán và tâm lý, mà phải thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển,
nâng cao mức sống của người dân vì tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội.
4.3. Yếu tố kinh tế:
Nhóm yếu tố này rất đa dạng và tác động theo nhiều hướng khác nhau. Có nhiều quan điểm khác
nhau về ảnh hưởng của nó đối với sự biến động mức sinh. Theo quan điểm của đa số các nhà nhân khẩu
học và bằng thực tế người ta xác minh rằng, đời sống thấp thì mức sinh đẻ cao và ngược lại. Ảnh hưởng
của trình độ phát triển kinh tế, mức sống tới mức sinh là đối tượng nghiên cứu của nhiều người. Người đầu
tiên nghiên cứu về mối quan hệ này là Adam Smith. Từ những nghiên cứu của mình, ông ta đã rút ra kết
luận nổi tiếng là: "Nghèo đói tạo khả năng cho sự sinh đẻ" .
Các Mác khi nghiên cứu mối quan hệ giữa thu nhập và sinh đẻ cũng đã xác định rằng, dưới chủ
nghĩa tư bản, số sinh đẻ tỷ lệ nghịch với quy mô của cải mà người công nhân có.
Dưới chủ nghĩa xã hội, nhiều nhà khoa học cũng nghiên cứu về mối quan hệ này và cho rằng, quy
luật được hình thành bởi Các Mác về sự phụ thuộc nghịch giữa mức sống và sinh đẻ tác động cả dưới chủ nghĩa xã hội.
Tất nhiên, mối quan hệ giữa trình độ phát triển kinh tế, mức sống và mức sinh trong các thời kỳ
khác nhau có khác nhau. Khi mức sống còn rất thấp, thu nhập không đảm bảo những nhu cầu tối thiểu thì
mối quan hệ đó là phụ thuộc thuận. Khi đời sống đã nâng cao đến mức độ nhất định, nhưng chưa thoả mãn
đầy đủ mọi nhu cầu cuộc sống thì mối quan hệ đó lại là nghịch. Khi đời sống đã đạt đến mức rất cao, có
thể thoả mãn đầy đủ mọi nhu cầu vật chất và tinh thần của người dân, mối quan hệ đó có thể là thuận. Tuy
nhiên chỉ giới hạn ở mức độ nhất định.
4.4. Các yếu tố kỹ thuật:
Trình độ phát triển kỹ thuật càng cao, đặc biệt những thành tựu về y học, càng tạo điều kiện cho loài
người chủ động điều tiết mức sinh. Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước trong từng thời kỳ hoặc
là khuyến khích hay hạn chế mức sinh, Nhà nước áp dụng các biện pháp kỹ thuật khác nhau. Đối với các
gia đình, các cặp vợ chồng không có khả năng sinh sản, y học đã có những biện pháp khắc phục vô sinh:
Thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm…
Cũng bằng các biện pháp kỹ thuật chuyên môn (triệt sản, đặt vòng, thuốc tránh thai, bao cao su….)
giúp các cặp vợ chồng có thể chủ động được việc mang thai và sinh đẻ.
Như vậy nhờ các yếu tố kỹ thuật đã giúp cho con người điều tiết trực tiếp mức sinh, làm cho loài
người chủ động sinh đẻ theo ý muốn của mình, điều tiết quy mô, cơ cấu dân số hợp lý cả về tuổi và giới.
4.5. Chính sách dân số:
Nhận thức được vai trò của dân số, mối quan hệ giữa dân số với phát triển kinh tế - xã hội, Nhà
nước với chức năng quản lý của mình đã đề ra những chủ trương, chính sách và biện pháp để điều tiết quá
trình vận động và phát triển dân số cho phù hợp với nhu cầu và khả năng phát triển của đất nước trong mỗi
thời kỳ. Chính sách dân số hiểu theo nghĩa rộng, đó là toàn bộ chủ trương, chính sách có liên quan đến dân
số. Theo nghĩa hẹp, là những chủ trương, biện pháp của Nhà nước điều tiết quá trình phát triển dân số. Nó
bao gồm các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, biện pháp kinh tế, hành chính và những biện pháp về kỹ
thuật chuyên môn. Đến nay, ở nhiều nước, chính sách dân số đã phát huy tác động to lớn trong việc điều
tiết các quá trình vận động dân số theo hướng cần thiết. Ở nước ta, nhờ chính sách dân số, trong những
năm gần đây tốc độ tăng dân số đã giảm đáng kể.
II. MỨC CHẾT VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
1. Khái niệm cơ bản về mức chết

Chết là một hiện tượng tự nhiên mà bất kỳ sinh vật nào cũng đều trải qua. Sống và chết là hai mặt
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
đối lập của mỗi sinh vật nói chung và từng con người nói riêng.
Khái niệm về chết được Liên hiệp quốc và Tổ chức Y tế thế giới thống nhất định nghĩa như sau:
"Chết là sự mất đi vĩnh viễn tất cả những biểu hiện của sự sống ở một thời điểm nào đó, sau khi có sự kiện
sinh sống xảy ra (chết là sự chấm dứt tất cả những biểu hiện của sự sống mà không một khả năng nào khôi phục lại được)"
Hiện tượng chết của con người chính là chết gắn liền với sự kiện sinh sống. Khái niệm này phân
biệt với chết bào thai, đó là hiện tượng chết trước khi được sinh ra, hay nói cách khác là chết trước khi có hiện tượng sống.
Khoảng thời gian kể từ khi sinh đến khi chết là độ dài cuộc sống, hay còn gọi là một đời người.
Có thể phân loại sự kiện chết thành nhiều loại:
- Chết thai nhi (fetal death): Là sự kiện chết thai nhi xảy ra ở 3 tháng cuối thai kỳ cho đến lúc sinh.
- (Neonatal death) Chết sơ sinh là sự kiện chết xảy ra trong khoảng thời gian từ khi con người được
sinh ra sống đến tròn 28 ngày tuổi.
+ Chết sớm sơ sinh: sự kiện chết xảy ra từ 0 đến tròn 7 ngày tuổi
+ Chết muộn sơ sinh: sự kiện chết xảy ra từ sau 7 ngày tuổi đến tròn 28 ngày tuổi
- Chết chu sinh (Perinatal death): Là sự kiện chết thai nhi ở 3 tháng cuối thai kỳ cho đến lúc sinh
và chết từ khi sinh cho đến trước khi tròn 7 ngày tuổi. Như vậy chết chu sinh bao gồm chết thai nhi và chết sớm sơ sinh.
- Chết sau sơ sinh (post-neonatal death): là sự kiện chết của trẻ sơ sinh xảy ra giữa 28 ngày tuổi
đến tròn 364 ngày tuổi.
- Chết trẻ em dưới 1 tuổi (infant death): Là sự kiện chết xảy ra trong khoảng thời gian từ khi có sự
kiện sinh sống cho đến khi tròn 12 tháng tuổi.
- - Chết trẻ em dưới 5 tuổi: Là sự kiện chết sảy ra sau khi có sự kiện sinh sống cho đến khi tròn 60 tháng tuổi.
Ý nghĩa: Sinh và chết là hai yếu tố của quá trình tái sản xuất dân số, có tác động qua lại lẫn nhau. Việc
nghiên cứu mức chết là tiền thân của nghiên cứu khoa học dân số.
Nghiên cứu mức chết là một trong những yếu tố để dự báo dân số, theo phương trình cân bằng dân số:
Pt = Po + (S – C) + (N – X)
Nghiên cứu nguyên nhân chết là một trong những phương pháp nghiên cứu bệnh tật, trên cơ sở đó
đề ra các biện pháp can thiệp nhằm giảm bệnh tật, giảm mức chết do các nguyên nhân.
Mức chết có ảnh hưởng lớn nhất đến quy mô và cơ cấu dân số. Thông tin về tử vong có thể giúp
tính toán tiềm năng dân số, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, y tế công cộng. Việc đánh giá mức
độ tử vong trong dân cư hay theo độ tuổi, để đánh giá trình độ phát triển kinh tế xã hội, phát triển của y
học và chăm sóc y tế. Như vậy, việc nghiên cứu mức chết không chỉ giúp cho nghiên cứu biến động dân số
mà còn liên quan nhiều đến việc hoạch định chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, phòng và
điều trị bệnh để giảm tỷ lệ chết và tăng tuổi thọ bình quân của mỗi quần thể dân cư.
2. Các chỉ tiêu đo lường mức chết
Có nhiều chỉ tiêu đánh giá mức độ chết. Mỗi chỉ tiêu phản ánh khía cạnh này hay khía cạnh khác
của sự chết và có những ưu, nhược điểm nhất định.
2.1. Các chỉ số đo lường mức chết chung:
2.1.1. Tỷ suất chết thô (CDR- Crude Death Rate):
Tỷ suất chết thô là số người chết tính trên 1000 dân số trung bình trong năm D CDR = x1000 P Trong đó:
- CDR: Tỷ suất chết thô.
- D : số người chết trong một năm của một nước hoặc một địa phương nào đó.
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
- P : Số dân bình quân trong năm của địa phương đó.
Tỷ suất chết thô trung bình trên thế giới năm 2018 vào khoảng 7,5‰ và không có sự khác biệt
nhiều giữa các nước phát triển và đang phát triển, đặc biệt từ những năm 80 trở lại đây. Ở Việt Nam, trong
giai đoạn 2008-2018, tỷ suất chết thô dao động không đáng kể (thấp là 5,3‰ năm 2008 và cao nhất là
7,1‰ năm 2013); như vậy CDR của nước ta khá thấp và tương đối ổn định trong những năm gần đây.
Biểu đồ 2.1. Tỷ suất chết thô, Việt Nam thời kỳ 2009-2018
Nguồn: Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4/2018
CDR tính toán khá đơn giản, nhanh và không cần nhiều số liệu. Tỷ suất chết thô tuy nghèo nàn
nhưng lại là một chỉ số hay dùng. Chỉ số này có thể dùng để đánh giá mức chết bao trùm của dân số. Người
ta thường dùng chỉ số này để so sánh mức chết qua các thời kì của một vùng hay một quốc gia.
Chỉ số CDR có nhược điểm là phụ thuộc vào cơ cấu dân số (đặc biệt cơ cấu tuổi) do đó khi so sánh
tỷ suất chết thô giữa các nước và các vùng khác nhau thì sẽ không phản ánh được đầy đủ, chính xác trình
độ phát triển kinh tế - xã hội, mức sống và những thành tựu y học tới mức chết. Tuy vậy CDR vẫn là chỉ
tiêu quan trọng đánh giá mức độ chết của dân cư và xác định tỷ suất tăng tự nhiên dân số.
2.2.2. Các tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi(Age Specific Death Rate – ASDR):
Đối với các nhóm dân cư khác nhau (tuổi, giới, nghề nghiệp, dân tộc) thì mức độ chết khác nhau.
Để phản ánh mức độ chết của các nhóm dân cư riêng biệt, người ta dùng các tỷ suất chết đặc thù, trong đó
đặc biệt quan tâm đến tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi. Dx ASDR  1000 x x Px Trong đó:
ASDRx: tỷ suất chết đặc trưng tính cho tuổi x.
Dx : số người chết ở tuổi x trong năm.
Px : dân số trung bình tuổi x trong năm.
Ưu điểm: Thước đo này đã loại trừ được sự khác biệt về mức chết của từng tuổi, phản ánh đúng
mức chết của từng độ tuổi và không bị ảnh hưởng bởi cơ cấu tuổi của dân số.
Nhược điểm: Cách tính toán tương đối phức tạp, đòi hỏi số liệu chi tiết về chết ở từng độ tuổi.
Trong thực tế khó xác định được mức độ chết cho từng độ tuổi, nên thường tính cho từng nhóm tuổi. Bên
cạnh đó nó cũng không phản ánh mức chết bao trùm của cả dân số.
Ý nghĩa: Chỉ số ASDR có ý nghĩa so sánh mức độ chết giữa các nước, giữa các thời kỳ.
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
2.2. Các chỉ số đo lường mức chết mẹ
2.2.1. Tỷ suất chết bà mẹ (MMRate – Maternal Mortality Rate):

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ chết của các bà mẹ do những nguyên nhân có liên quan đến thai sản,
sinh đẻ (bao gồm các bà mẹ chết trong khi có thai, trong khi đẻ và 6 tuần sau đẻ do tất cả các nguyên nhân
trừ nguyên nhân do tai nạn, chấn thương) trong một năm tính trên 1000 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15- 49). Công thức tính: Dw MMRate = x 1000 P15-49 Trong đó:
Dw : tổng số bà mẹ chết trong năm
P15-49 : tổng số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
2.2.2. Tỷ số chết bà mẹ (MMRatio – Maternal Mortality Ratio): Dw MMRatio = x 100.000 B0 Trong đó:
- Dw : tổng số bà mẹ chết trong năm
- B0 : tổng số trẻ sinh sống trong năm
Tử vong mẹ là một trong những nguyên nhân chính làm giảm khoảng thời gian sống mạnh khoẻ
của phụ nữ tuổi sinh đẻ ở những nước đang phát triển.
Hơn một nửa số ca tử vong mẹ (254.000 ca) xảy ra tại vùng Hạ Sahara Châu Phi, theo sau là Nam
Á (196.000 ca). Hai vùng này cộng lại đã chiếm tới 86% tổng số ca tử vong mẹ trên toàn thế giới trong năm 2017.
Có mười một quốc gia “góp phần” tới 65 phần trăm số tử vong mẹ năm 2017. Nigiêria có con số
cao nhất (917.000 ca), sau đó tới Afghanistan (638.000 ca, Cộng hòa Dân chủ Công gô (473.000 ca) và Ấn Độ (122.000 ca).
Bảng 2.1. Tử vong mẹ các nước Đông và Nam châu Á 2017-2018
Tỷ số tử vong mẹ Nước
(trên 100.000 trẻ đẻ ra sống) Lào PPD 185 Đông Timor 142 Combodia 160 Myanma 250 Indonexia 177 Philipines 121 Việt Nam 43 Mongolia 45 Trung quốc 20 Thai lan 37
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội Malaysia 25
Nguồn: WHO 2017a và UNFPA 2017- Theo www.Unfpa.org
2.3. Các chỉ số đo lường mức chết trẻ em:
2.3.1. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (IMR - Infant Mortality Rate): Do I R M  1 x 000 Bo Trong đó:
- IMR : Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi
- D0 : Số trẻ em dưới 1 tuổi chết trong năm.
- B0 : Số trẻ sinh sống trong cùng năm.
Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi là chỉ tiêu đặc biệt quan trọng, phân tích về chết của dân số bởi
vì nó là chỉ báo nhạy cảm nhất đánh giá mức độ ảnh hưởng của mức sống, y tế và phát triển đến mức chết.
Nó đo mức độ chết trong bộ phận dân cư có mức độ chết cao, ảnh hưởng rất lớn đến mức chết chung và
tuổi thọ bình quân của người dân. Đồng thời nó có mối quan hệ tác động qua lại rất chặt chẽ đối với mức sinh.
Bảng 2.2.Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi trên thế giới từ 2012-2018 Năm IMR (‰)
Tăng, giảm so với năm trước(‰) 2012 34,5 2013 33,4 -1,1 2014 32,4 -1,0 2015 31,4 -1,0 2016 30,6 -0,8 2017 29,7 -0,9 2018 28,9 -0,8
Nguồn: The World Bank Data
Tỷ suất chết của trẻ em của các nước phát triển thấp hơn hẳn các nước đang phát triển, năm 2018 tỷ
suất chết trẻ em toàn thế giới là: 28,9‰, trong đó các nước phát triển là 6‰, các nước đang phát triển là 50
‰ (2018 Population Reference Bureau- theo www. Prb.org)
Tỷ suất chết trẻ em của Việt Nam luôn luôn có xu hướng giảm: Theo số liệu tổng điều tra dân số 2018
IMR của toàn quốc là 14,2‰; năm 2013 tỷ lệ này là 15,3‰; năm 2015 là 14,7‰ và năm 2017 là 14,4‰,
đây là thành công của các chương trình y tế quốc gia cũng như chương trình chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ
và trẻ em. Tuy nhiên, còn có sự khác nhau rất lớn giữa các vùng, Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà
ở năm 2018: Đông Nam Bộ là 8,2‰, Đồng bằng sông Hồng là 11,2‰ và Đồng bằng sông Cửu Long là
10,9‰, trong khi đó, ở Tây Nguyên còn đến 23,6‰, Trung du và miền núi phía Bắc là 21,4‰.
2.3.2. Tỷ suất chết chu sinh (PMR – Perinatal Mortality Rate):
Tỷ suất chết chu sinh là số lượng chết chu sinh tính trên 1000 trẻ sinh sống trong một khoảng thời
gian nhất định (thường là một năm) DF + DN PMR = x 1000 B0 Trong đó
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
- DF : số chết thai nhi trong 3 tháng cuối thai kỳ cho đến lúc sinh (trong 1 năm).
- DN : số trẻ chết từ khi sinh ra sống cho đến 7 ngày tuổi (chết sơ sinh).
- B0 : số trẻ sinh sống trong năm.
Tỷ suất chết chu sinh phản ánh công tác chăm sóc và bảo vệ bà mẹ, trẻ em.
Tỉ lệ tử vong sơ sinh và tỉ lệ trẻ chết chu sinh cao nhất ở Châu Phi vùng cận Sahara, kế đó là Châu
Á và Mỹ Latinh. Ở các nước có tỉ lệ tử vong cao nhất, khoảng 10% trẻ không sống quá 1 tháng. Tử vong
sơ sinh nói chung thường do biến chứng trước sinh, ngạt hay chấn thương lúc sinh, nhiễm trùng, dị tật bẩm
sinh nặng, hoặc các nguyên nhân chu sinh đặc biệt khác. Tỉ lệ của những nguyên nhân cũng thay đổi: ở
những vùng có tử vong sơ sinh thấp, nguyên nhân trước sinh và dị tật gặp nhiều hơn. Ngược lại, ở vùng có
tử vong cao hơn, ngạt lúc sinh, uốn ván, và nhiễm trùng lại là những nguyên nhân chính. Sức khỏe và dinh
dưỡng của mẹ rất quan trọng đối với sức khỏe của trẻ sơ sinh, và nhiễm trùng ở mẹ có thể gây ra những
hậu quả rất xấu ở trẻ.
2.3.3. Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi (U5MR – Under 5 Mortality Rate): D0-5 U5MR = x 1000 B0 Trong đó:
- D0-5 : số trẻ em dưới 5 tuổi chết trong năm
- B0 : số trẻ em sinh sống trong năm
Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi năm 2016 Viêt Nam là 22 ‰.
Cũng như tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi, tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi ảnh hưởng rất lớn đến triển
vọng sống trung bình của dân số. Các nguyên nhân chết của trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam hiện nay vẫn
chủ yếu là các nguyên nhân giống như các nước đang phát triển khác như: Tiêu chảy, viêm phế quản, suy
dinh dưỡng. Đây là những nguyên nhân mà chúng ta có thể khắc phục được mà không cần đầu tư nguồn
lực quá lớn. Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi trong một chừng mực nhất định phản ánh trình độ phát triển
của kinh tế, hệ thống y tế giáo dục và tính ưu việt của chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là chính sách
chăm sóc và bảo vệ bà mẹ và trẻ em.
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức chết
Chết là hiện tượng tự nhiên, là điều không thể tránh khỏi đối với mỗi cơ thể sống. Có thể phân các
yếu tố ảnh hưởng thành 4 nhóm chủ yếu sau đây:
- Mức sống của dân cư: Mức sống càng được nâng cao, thể lực càng được tăng cường, con người
càng có khả năng chống đỡ các loại bệnh tật, mức chết càng thấp. Như vậy mức sống của dân cư tỷ lệ
nghịch với mức chết. Mức sống có liên quan chặt chẽ với trình độ phát triển kinh tế xã hội, đến mạng lưới phục vụ công cộng...
- Trình độ phát triển y học, mạng lưới y tế, vệ sinh phòng bệnh
Ngày nay y học có khả năng dập tắt nhiều dịch bệnh nguy hiểm, gây chết người hàng loạt. Trình độ
y học đã đạt được ở một nước không chỉ tác động đến nước đó, mà còn được phổ biến rộng rãi, nhanh
chóng trên phạm vi thế giới. Vì vậy, nhiều nước tuy còn lạc hậu, nhưng được sự giúp đỡ của các nước tiên
tiến đã giảm nhanh chóng mức chết.
Mạng lưới y tế phát triển từ trung ương đến địa phương, thực hiện tốt công tác vệ sinh phòng bệnh,
đảm bảo môi trường sống trong lành, chăm sóc sức khỏe, vệ sinh cá nhân tốt...cũng là những nguyên nhân
làm giảm nguy cơ tử vong.
- Môi trường sống: Con người sống trong môi trường tự nhiên, nên nó có tác động trực tiếp đến sức
khoẻ của họ. Môi trường trong sạch tuổi thọ được nâng cao. Môi trường ô nhiễm sẽ gây ra nhiều bệnh tật,
ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân, làm tăng mức chết.
Ngày nay công nghiệp phát triển, đô thị được mở rộng, những điểm dân cư sống đông đúc ngày
càng tăng. Nếu không quy hoạch các nhà máy, khu công nghiệp, điểm dân cư hợp lý, nếu không có các hệ
thống thải lọc tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân.
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội
- Yếu tố tự nhiên: có liên quan đến sự già cỗi của con người. Theo quy luật tự nhiên, con người chỉ
sống đến một giới hạn nhất định. Tuy nhiên giới hạn đó đối với các nước, các thời kỳ khác nhau có khác
nhau và còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác (kinh tế, xã hội, y học, môi trường...). Nhưng nếu thuần tuý
về sinh lý thì cơ cấu dân số (đặc biệt cơ cấu về tuổi) có ảnh hưởng đến việc nâng cao hay hạ thấp tỷ suất
chết. Điều đó giải thích vì sao ở Việt Nam, trong khi mức sống dân cư chưa cao, nhưng CDR lại thấp hơn
khá nhiều so với các nước phát triển (5,3‰ so với 10‰)
Ngoài ra, các tệ nạn xã hội như ma tuý, rượu chè, mại dâm., tai nạn giao thông, bạo lực, tự tử, ngộ
độc, phong tục tập quán lạc hậu, văn hóa, lối sống... cũng ảnh hưởng đến mức độ chết. Trong khi các loại
bệnh dịch mang tính quốc gia và quốc tế ít nhiều đã kiểm soát được, thì các nguyên nhân này ngày càng có
xu hướng gia tăng. Ngày càng có nhiều trường hợp chết do hậu quả tác động của các yếu tố thuộc về lối
sống ở một độ tuổi nhất định như thói quen hút thuốc, nghiện rượu bia, ít rèn luyện sức khỏe, do nghề
nghiệp, do sử dụng phương tiện giao thông tốc độ cao (máy bay, tàu thủy, ô tô...). Ở các độ tuổi trẻ,
nguyên nhân chết phổ biến nhất vẫn là do tai nạn. Đối với các nguyên nhân này, việc thay đổi văn hóa và
hoàn thiện lối sống sẽ có khả năng làm giảm đáng kể mức chết do chúng gây nên.
Tất cả các yếu tố trên đồng thời tác động theo những chiều hướng khác nhau, tuỳ thuộc vào điều
kiện cụ thể của từng nước, trong từng thời kỳ. TỰ LƯỢNG GIÁ Câu hỏi Đ/S STT Nội dung Đ S 1
Tỷ suất sinh thô CBR có nhược điểm là khó tính toán, cần nhiều số liệu chi tiết. 2
Tỉ suất sinh chung biểu thị số trẻ em sinh ra sống trong một năm
so với 1000 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. 3
Chỉ số ASFR đã loại trừ được sự khác biệt về mức sinh của từng độ tuổi khác nhau. 4
Tổng tỷ suất sinh TFR chịu ảnh hưởng của cấu trúc dân số theo
tuổi và giới tính nên ít được dùng để đo lường, so sánh mức sinh giữa các địa phương. 5
Chính sách về dân số của nhà nước là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh 6
Chết là sự mất đi vĩnh viễn tất cả các biểu hiện của sự sống, ở
một thời điểm nào đó, sau khi có sự kiện sinh sống xảy ra 7
Chết thai nhi là sự kiện chết thai nhi xảy ra ở 3 tháng giữa thai kì cho đến lúc sinh 8
Chết sơ sinh: Là sự kiện chết xảy ra trong khoảng thời gian từ
khi con người được sinh ra sống đến trước khi tròn 28 ngày tuổi. 9
Chết muộn sau sinh: Là sự kiện chết xảy ra từ 7 ngày tuổi đến
dưới 14 ngày tuổi sau khi sinh. 10
Chết trẻ em dưới 5 tuổi: Là sự kiện chết xảy ra sau khi có sự
kiện sinh sống cho đến khi tròn 60 tháng tuổi.
Câu hỏi ngỏ ngắn: Điền các từ/cụm từ còn thiếu vào dấu...
Câu 1. Chết là sự mất đi....tất cả các biểu hiện của sự sống, ở một thời điểm nào đó, sau khi có sự
kiện....xảy ra (Chết là sự chấm dứt tất cả những.......mà không một khả năng nào khôi phục lại được).
Câu 2. Chết muộn sau sinh: Là sự kiện chết xảy ra từ...........đến.........sau khi sinh.
Câu 3. Công thức tính tỷ suất chết thô: D CDR= x1000 P
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng
Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CTĐT Y khoa dựa trên năng lực
Module: Sức khỏe dân số Bộ môn: Y học xã hội Trong đó: - CDR:....... - D: ....... - P:....
Câu 4. Hạn chế lớn nhất của tỷ suất chết thô là.... CASE STUDY Mục tiêu:
Sau khi giải quyết được bài tập tình huống này, sinh viên sẽ biết:
1. Cách tính toán các chỉ số cơ bản đo lường mức sinh, mức chết
2. Nhận định được giá trị của các chỉ số từ đó đưa ra được các khuyến cáo phù hợp
Số liệu của một địa phương X năm 2019 như sau: Nhóm tuổi Dân số trung bình Dân số nữ
Trẻ mới sinh sống (a) (nghìn người) (nghìn người) (nghìn người) 0-14 1412 693 - 15-19 374 185 8 20-24 453 211 38 25-29 502 298 39 30-34 804 432 27 35-39 611 316 14 40-44 583 286 2 45-49 427 214 1 50+ 2147 1119 - Tổng số 7313 3754 129
1. Hãy tính CBR, GFR, ASFRa, TFR ?
2. Cho biết: Xác suất sinh con gái θ = 0,488; Hệ số sống trung bình của số con gái mới sinh trong năm
sống được đến khi thay thế các bà mẹ là 0,9. Hãy tính GRR và NRR từ đó đưa ra nhận xét về chế độ tái sản xuất dân số?
3. Từ các dữ kiện đã có, anh/chị hãy đưa ra các khuyến cáo về chính sách dân số nên được áp dụng đối với địa phương trên.
4. Giả sử, tổng số người chết trong năm của địa phương trên là 79.711 người, trong đó số trẻ em dưới 1
tuổi chết là 4734. Hãy tính tỷ suất tử vong thô và tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi năm 2019 của địa
phương trên? Nhận xét về các chỉ số này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Chí Liêm, Dân số học, Hà Nội, Nhà xuất bản Y học, 2009.
2. Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương, Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, Hà Nội, 2010.
3. Klaus Krickeberg, Trần Trọng Khuê, Nguyễn Đức Thanh, Sách song ngữ Việt Anh - Khoa học Dân
số và Y tế công cộng, Nhà xuất bản Y học, 2014.
4. Tổng cục thống kê, Kết quả chủ yếu điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm
1/4/2018, Nhà xuất bản thống kê, 2019.
Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng