



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI
KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
------------- ------------- BÀ I GIẢNG TIỀN
LƯƠNG KHU VỰC CÔNG
Chủ biên: TS. Vũ Hồng Phong Hà Nội, tháng 5 - 2019 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG KHU VỰC CÔNG . 2
1.1. Khái niệm, vai trò của tiền lương khu vực công .......................................... 2
1.1.1. Các khái niệm ............................................................................................... 2
1.1.2. Vai trò của tiền lương trong khu vực công ................................................. 4
1.2. Đặc điểm khu vực công ảnh hưởng đến tiền lương ..................................... 5
1.3. Mối quan hệ của tiền lương khu vực công với các yếu tố kinh tế - xã hội 6
1.3.1. Mối quan hệ của tiền lương khu vực công với Ngân sách nhà nước ....... 6
1.3.2. Mối quan hệ của tiền lương khu vực công với lạm phát .......................... 11
1.3.3. Mối quan hệ của tiền lương khu vực công với duy trì và phát triền nguồn
nhân lực trong khu vực công .................................................................................. 14
1.3.4. Mối quan hệ của tiền lương khu vực công với chất lượng dịch vụ công 16
1.4. Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu môn tiền lương trong khu
vực công ................................................................................................................... 20
1.4.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 20
1.4.2. Nội dung nghiên cứu .................................................................................. 21
1.4.3. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 21
CHƯƠNG 2. TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU .......................................................... 26
2.1. Khái niệm, vai trò của tiền lương tối thiểu ................................................... 26
2.1.1.Các khái niệm ................................................................................................. 26
2.1.2. Vai trò của tiền lương tối thiểu .................................................................... 28
2.2. Các yêu cầu của tiền lương tối thiểu trong khu vực công ........................... 29
2.3. Phương pháp xác định tiền lương tối thiểu .................................................. 31
2.3.1. Xác định tiền lương tối thiểu theo hệ thống nhu cầu và mức sống tối thiểu
.................................................................................................................................. 31
2.3.2. Xác định tiền lương tối thiểu theo mức tiền lương thấp nhất trên thị
trường ....................................................................................................................... 38
2.3.3. Phương pháp xác định tiền lương tối thiểu bằng cách điều chỉnh hệ số
trượt giá. .................................................................................................................. 39
2.3.4. Xác định mức tiền lương tối thiểu từ khả năng của nền kinh tế (GDP) .... 40
2.4. Tiền lương tối thiểu Việt nam ........................................................................ 42
2.4.1. Tiền lương tối thiểu giai đoạn trước đổi mới (1986) ................................... 42
2.4.2. Tiền lương tối thiểu từ khi đổi mới nền kinh tế cho đến nay ..................... 46
Giai đoạn từ năm 2004 đến nay ............................................................................... 48
CHƯƠNG 3: BẢNG LƯƠNG VÀ PHỤ CẤP LƯƠNG TRONG KHU VỰC
CÔNG ...................................................................................................................... 52
3.1. Bảng lương khu vực công ............................................................................... 52
3.1.1. Khái niệm, vai trò của bảng lương ............................................................... 52
3.1.2. Kết cấu bảng lương khu vực công ................................................................ 55
3.1.3. Phân loại bảng lương .................................................................................... 56
3.1.4. Quy định của Nhà nước về bảng lương khu vực công ............................... 57
3.2. Phụ cấp lương .................................................................................................. 68
3.2.1. Khái niệm, vai trò của phụ cấp lương .......................................................... 68
3.2.2. Xây dựng phụ cấp lương trong khu vực công ............................................. 74
3.2.3. Các chế độ phụ cấp lương đối với khu vực công ......................................... 83
CHƯƠNG 4: TRẢ LƯƠNG TRONG KHU VỰC CÔNG ............................... 117
4.1. Mô hình công vụ và trả lương trong khu vực công ................................... 117
4.1.1. Một số khái niệm .......................................................................................... 117
4.2. Cơ sở trả lương trong khu vực công ............................................................ 134
4.2.1. Ngân sách Nhà nước .................................................................................. 134
4.2.2. Quy mô và chất lượng đội ngũ công chức trong khu vực công ................ 136
4.2.3. Quan điểm của Nhà nước về trả lương ...................................................... 137
4.3. Các phương pháp trả lương trong khu vực công ....................................... 140
4.3.1. Trả lương theo vị trí việc làm hay công việc .............................................. 140
4.3.2. Trả lương theo kết quả thực hiện công việc .............................................. 147
4.3.3. Trả lương theo năng lực của công chức .................................................... 154
4.3.4. Trả lương hỗn hợp ...................................................................................... 157
4.4. Trả lương trong khu vực công ở Việt Nam ................................................ 159
4.4.1. Thực trạng trả lương trong khu vực công ở Việt Nam ............................. 159
4.4.2. Đổi mới các tính trả lương cho khu vực công ở Việt Nam ....................... 163
4.4.3. Định hướng đổi mới chính sách tiền lương khu vực công của Việt Nam 165
CHƯƠNG 5. QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG TRONG KHU VỰC CÔNG .......... 175
5.1. Bản chất, vai trò của quản lý tiền lương trong khu vực công ................... 175
5.1.1. Các khái niệm .............................................................................................. 175
5.1.2. Vai trò của quản lý tiền lươngtrong khu vực công ................................... 177
5.2. Yêu cầu của quản lý tiền lương trong khu vực công ................................. 180
5.3. Quản lý tiền lươngtrong khu vực công ....................................................... 181
5.3.1. Nội dung quản lý tiền lươngtrong khu vực công ...................................... 181
5.3.2. Quy trình quản lý tiền lương trong khu vực công .................................... 183
5.4. Công cụ và phương pháp quản lý tiền lương trong khu vực công ........... 189
5.4.1. Công cụ quản lý tiền lương trong khu vực công ....................................... 189
5.4.2. Phương pháp quản lý tiền lương trong khu vực công .............................. 190
5.5. Bộ máy quản lý và chức năng nhiệm vụ của các cấp quản lý tiền lương
trong khu vực công ............................................................................................... 191
5.5.1. Các tổ chức công trong khu vực công ........................................................ 191
5.5.2. Bộ máy quản lý và chức năng nhiệm vụ của các cấpquản lý tiền lương
trong khu vực công ................................................................................................ 196
5.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tiền lương trong khu vực công ......... 198
5.6.1. Quan điểm, chủ trương của nhà nước về tiền lương trong khu vực công
................................................................................................................................ 198
5.6.2. Bộ máy hành chính, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong khu vực
công ........................................................................................................................ 199
5.6.3. Ngân sách nhà nước ................................................................................... 200
5.6.4. Xu thế tiền lương trong khu vực công trong khu vực và thế giới ............ 200
5.6.5. Biến động tiền lương trong khu vực tư ...................................................... 200
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 203
DANH MỤC HỘP, BẢNG
Hộp số 3.1: Trích bảng lương trong Nghị định 204/2004/NĐ-CP .......................... 61
Hộp số 3.2: Trích một số bảng lương trong Nghị quyết 730/2004/NQ-UBTVQH11
.................................................................................................................................. 65
Hộp 3.3: Trích Nghị định số 56/2011/NĐ-CP quy định phụ cấp ưu đãi nghề đối với
công chức viên chức công tác tại các cơ sở y tế công lập ...................................... 100
Hộp 3.4: Trích Quyết định số 244/2005/QĐ-TTg quy định phụ cấp ưu đãi nghề đối
với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập ............. 102
Sơ đồ 4.1: Mô hình công vụ chức nghiệp .............................................................. 124
Sơ đồ 4.2: Mô hình công vụ vị trí việc làm ........................................................... 126
Hộp 4.1: Mô hình công vụ làm việc ở Mỹ và Singapore ....................................... 127
Hộp 4.2: Mô hình công vụ Nhật Bản ...................................................................... 130
Bảng 4.1: Bảng xác định hệ số Ki với thang điểm đánh giá là 100 điểm. ............. 151
Hộp 4.3: Đánh giá công chức theo kết quả thực thi công việc ở Việt Nam hiện nay
................................................................................................................................ 152
Hộp 4.4: Mục tiêu cụ thể của chính sách tiền lương đến năm 2030 ...................... 165
Hộp 4.5: Nội dung đổi mới của chính sách tiền lương khu vực công ................... 166 LỜI MỞ ĐẦU
Khu vực công giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đóng
góp vào việc ổn định xã hội, phát triển kinh tế - xã hội, tạo hành lang pháp lý thuận
lợi để các cơ quan, doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. Để nâng cao hiệu quả hoạt động khu vực công.
Nhận thức được tầm quan trọng này, trường Đại học Lao động – Xã hỗi đã
đưa môn học Tiền lương khu vực công vào chương trình đào tạo đại học chuyên
ngành Quản trị nhân lực. Để phục vụ giảng dạy và học tập học phần tiền lương khu
vực công cho hệ đại học chuyên ngành quản trị nhân lực, nhóm tác giả đã biên soạn
giáo trình tiền lương khu vực công gồm 6 chương.
Giáo trình do TS. Vũ Hồng Phong chủ biên
Tham gia biên soạn gồm có:
ThS. Vũ Thị Ánh Tuyết biên soạn chương 1
ThS. Ngô Thị Hồng Nhung biên soạn chương 2
TS. Vũ Hồng Phong biên soạn chương 3
TS. Đỗ Thị Tươi biên soạn chương 4
TS. Đoàn Thị Yến biên soạn chương 5
Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã sử dụng tài liệu là sách chuyên khảo
và giáo trình của các nhà khoa học trong và ngoài nước để tham khảo. Trong quá
trình viết và hoàn thiện giáo trình, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm và giúp đỡ
cũng như những đóng góp cụ thể từ các nhà khoa học, nhà quản lý, đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn sự nhiệt tình đóng góp trong thời gian qua.
Dù rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu và biên soạn, song giáo trình
không tránh khỏi những khiếm khuyết và vẫn còn những vấn đề cần nghiên cứu
tiếp. Nhóm tác giả rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà nghiên
cứu, nhà quản lý, đồng nghiệp, sinh viên và bạn đọc để hoàn thiện giáo trình. CHỦ BIÊN TS. VŨ HỒNG PHONG 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG KHU VỰC CÔNG MỤC TIÊU CHƯƠNG
Mục tiêu đối với chương này là cung cấp cho người đọc những nội dung cơ bản
bản, chung nhất về tiền lương trong khu vực công:
- Khái niệm về khu vực công, tiền lương trong khu vực công
- Vai trò của tiền lương trong khu vực công
- Mối quan hệ của tiền lương khu vực công với các yếu tố kinh tế - xã hội. NỘI DUNG CHƯƠNG
1.1. Khái niệm, vai trò của tiền lương khu vực công
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm khu vực công
Thực tế các quốc gia luôn tồn tại song song hai khu vực cùng tham gia vào
việc cung cấp các loại hàng hoá, dịch vụ trên thị trường là khu vực công (hay khu
vực nhà nước) và khu vực tư (khu vực phi nhà nước hay khu vực thị trường).
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về thuật ngữ “khu vực công”. Thông
thường, khi nói đến khu vực công người ta thường hiểu đó là “khu vực Nhà nước”.
Theo đó, khu vực công là khu vực phản ánh hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội do Nhà nước quyết định.
Nếu tiếp cận theo góc độ sở hữu, thì khu vực công được hiểu là khu vực
thuộc sở hữu Nhà nước. Tuỳ thuộc vào việc phân chia quyền sở hữu ở các quốc gia
mà hoạt động của nền kinh tế cũng được chia thành khu vực công, khu vực tư hay
hỗn hợp giữa 2 khu vực. Chẳng hạn, ở Việt Nam đất đai là sở hữu của Nhà nước
nên hoạt động quản lý đất đai là quản lý Nhà nước hay quản lý công. Nhưng ở
nhiều quốc gia khác trên thế giới thì sở hữu đất đai không chỉ có sở hữu Nhà nước
mà còn có sở hữu tư nhân. Do đó, quản lý đất đai không phải chỉ là quản lý công. 2
Ngoài ra, theo nhà kinh tế học người Mỹ-giáo sư trường đại học Columbia-
Joseph E.Stiglitz thì khu vực công là khu vực hoạt động phi lợi nhuận, phục vụ cho
đại đa số lợi ích cộng đồng, các đơn vị trong khu vực công được giao một số quyền
hạn nhất định có tính chất bắt buộc, cưỡng chế mà các cơ quan tư nhân không thể
có được (VD: chính phủ có quyền bắt buộc công chúng phải nộp thuế, thực hiện nghĩa vụ quân sự…).
Một cách tiệp cận khác để phân biệt khu vực công và khu vực tư là căn cứ và
quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong khu vực đó. Khu vực
công là khu vực mà ở đó, cán bộ công chức, viên chức được sử dụng quyền lực
Nhà nước để thực thi chức trách, nhiệm vụ của mình. Ví dụ, cán bộ, công chức,
viên chức có thể sử dụng quyền lực Nhà nước để thu thuế, xử lý vi phạm hành
chính hay bắt giữ những người vi phạm pháp luật…
Tóm lại, có thể có thể hiểu “khu vực công” là khu vực hoạt động do Nhà
nước làm chủ sở hữu, phản ánh các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội do Nhà
nước quản lý và quyết định nhằm tạo ra các sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho nhu
cầu chung thiết yếu của xã hội.
1.1.1.2. Khái niệm tiền lương trong khu vực công
Khái niệm tiền lương khu vực công được đưa ra căn cứ dựa trên khái niệm
về tiền lương nói chung và đặc điểm của khu vực công được đề cập ở trên.
Theo đó, khái niệm tiền lương – tiền công là “giá cả sức lao động được
hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động
thông qua hợp đồng lao động (bằng văn bản hoặc bằng miệng), phù hợp với quan
hệ cung – cầu sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với các quy định
tiền lương của pháp luật lao động” (Nguyễn Tiệp-Lê Thanh Hà, 2007) 3
Căn cứ vào đối tượng làm việc trong khu vực công và nguồn tài chính cung
cấp cho khu vực công hoạt động thì Tiền lương trong khu vực công được hiểu là số
tiền Nhà nước trả cho cán bộ, công chức, viên chức, và người lao động làm việc
trong khu vực công căn cứ vào số lượng, chất lượng lao động, phù hợp khả năng
ngân sách quốc gia và các quy định của pháp luật.
1.1.2. Vai trò của tiền lương trong khu vực công
- Giúp thu hút và giữ chân được cán bộ công chức, viên chức và người lao
động có trình độ chuyên môn cao.
Tiền lương luôn là mối quan tâm hàng đầu của người lao động. Việc người
lao động có gắn bó với tổ chức hay không phụ thuộc rất nhiều vào chính sách quản
trị nhân lực nói chung và đặc biệt là chính sách tiền lương nói riêng. Trong nền
kinh tế cạnh tranh và ngày càng hội nhập sâu rộng như hiện nay thì việc thu hút và
giữ chân được lao động giỏi là một thách thức đối với cả khu vực công và khu vực
tư. Không những thế, khi nền kinh tế hội nhập mạnh mẽ thì còn có sự cạnh tranh
nhân lực chất lượng cao giữa các quốc gia. Do đó, đối với mỗi quốc gia, việc xây
dựng được một chính sách tiền lương khu vực công hợp lý và có tính cạnh tranh
cao sẽ giúp thu hút và giữ chân cán bộ, công chức, viên chức đặc biệt là cán bộ
công chức, viên chức có trình độ chuyên môn cao ở lại làm việc trong khu vực công.
- Bên cạnh đó, tiền lương còn được coi là đòn bẩy về mặt vật chất, có tác
động mạnh đến tinh thần, thái động cũng như động cơ làm việc của người lao động.
Một chính sách tiền lương hợp lý, gắn với kết quả thực hiện công việc của người
lao động sẽ khiến họ quan tâm hơn đến kết quả thực hiện công việc. Từ đó, góp
phần nâng cao năng suất và hiệu quả làm việc của người lao động.
Ví dụ, nếu trả lương cho cán bộ, công chức, viên chức theo thời gian làm
việc thì họ sẽ chỉ quan tâm đến việc đảm bảo ngày công làm việc mà không quan 4
tâm nhiều đến năng suất, hiệu quả làm việc. Nhưng nếu tiền lương của cán bộ, công
chức, viên chức gắn với kết quả thực hiện công việc và phù hợp với mức độ đóng
góp của họ sẽ có tác dụng khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức quan tâm đến
kết quả thực hiện công việc, từ đó thúc đây nâng cao năng suất và hiệu quả công việc.
- Mặt khác, nếu tiền lương trong khu vực công gắn với năng suất, hiệu quả
công việc sẽ giúp thay đổi thái độ, hành vi và mục tiêu của cán bộ, công chức viên
chức. Công chức, viên chức muốn nhận lương cao và giữ được vị trí làm việc của
mình sẽ phải quan tâm nâng cao chất lượng công việc. Điều này sẽ giúp nâng cao
chất lượng các dịch vụ công.
- Ngoài ra, Nhà nước có thể xây dựng chính sách tiền lương gắn với các
mục tiêu về kinh tế - chính trị - xã hội cũng như mục tiêu về an ninh quốc phòng.
Tiền lương là đòn bẩy tác động đến động cơ, thái độ làm việc của người lao động
nên việc xây dựng chính sách tiền lương gắn với các mục tiêu của Nhà nước sẽ
giúp thực hiện các mục tiêu đó tốt hơn, nhanh hơn.
1.2. Đặc điểm khu vực công ảnh hưởng đến tiền lương
Khu vực công có những đặc điểm khác biệt với khu vực sản xuất kinh doanh
nên tiền lương trong khu vực công cũng có những điểm khác biệt, cụ thể:
- Đa số việc làm trong khu vực công là việc làm phi nông nghiệp, yêu cầu
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Vì các hoạt động trong khu vực công chủ yếu là
hoạt động quản lý Nhà nước, các hoạt động sự nghiệp như y tế, giáo dục, nghiên
cứu… và lực lượng vũ trang nên đòi hỏi người lao động làm việc trong khu vực
này phải là những người có trình độ chuyên môn cao.
- Mức lương trả cho cán bộ công chức, viên chức và trong lượng lượng vũ
trang do Nhà nước quyết định. Khu vực công là khu vực hoạt động dưới sự chỉ huy
của Nhà nước nên mọi hoạt động của khu vực công đều do Nhà nước quyết định, 5
bao gồm cả chính sách tiền lương nói chung và mức lương cho cán bộ công chức, viên chức nói riêng.
- Hoạt động của khu vực công mục tiêu chính là hoạt động quản lý Nhà
nước và cung cấp các dịch vụ công cho xã hội nên không tạo ra lợi nhuận. Do đó
các tổ chức trong khu vực công không hầu hết có nguồn thu hay lợi nhuận tự hoạt
động của đơn vị (trừ các đơn vị sự nghiệp có thu). Vì vậy, để duy trì hoạt động của
các tổ chức này thì phải phụ thuộc hoàn toàn hoặc phần lớn vào Ngân sách nhà
nước. Tiền lương của cán bộ công chức, viên chức do Ngân sách Nhà nước chi trả
toàn bộ hoặc một phần (đối với các đơn vị sự nghiệp có thu).
1.3. Mối quan hệ của tiền lương khu vực công với các yếu tố kinh tế - xã hội
1.3.1. Mối quan hệ của tiền lương khu vực công với Ngân sách nhà nước
Theo khoản 14 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước 2015 thì “Ngân sách nhà
nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong
một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để
bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Theo đó, Ngân sách nhà nước gồm 2 loại đó là:
- Ngân sách địa phương: là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho
cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa
phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương.
- Ngân sách trung ương: là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho
cấp trung ương hưởng và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp trung ương.
Ngân sách nhà nước vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước vừa
là công cụ hữu ích để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế quốc dân và giải
quyết các vấn đề xã hội. Ngân sách nhà nước có một số đặc điểm sau: 6
- Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ Ngân sách nhà nước vừa luôn gắn
liền với quyền lực kinh tế – chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên
cơ sở những luật lệ nhất định. Ngân sách nhà nước vừa là một bộ luật tài chính đặc
biệt, bởi lẽ trong Ngân sách nhà nước vừa, các chủ thể của nó được thiết lập dựa
vào hệ thống các pháp luật có liên quan như hiến pháp, các luật thuế,… nhưng mặt
khác, bản thân Ngân sách nhà nước vừa cũng là một bộ luật do Quốc hội quyết
định và thông qua hằng năm, mang tính chất áp đặt và bắt buộc các chủ thể kinh tế
– xã hội có liên quan phải tuân thủ.
- Thứ hai, Ngân sách nhà nước vừa luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước và
luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng. Nhà nước là chủ thể duy nhất có
quyền quyết định đến các khoản thu – chi của Ngân sách nhà nước vừa và hoạt
động thu – chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nước giải quyết các quan hệ lợi ích
trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa
Nhà nước với các tổ chức kinh tế – xã hội, các tầng lớp dân cư…
- Thứ ba, Ngân sách nhà nước vừa là một bản dự toán thu chi. Các cơ quan,
đơn vị có trách nhiệm lập ngân sách nhà nước và đề ra các thông số quan trọng có
liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo.
Thu, chi Ngân sách nhà nước vừa là cơ sở để thực hiện các chính sách của Chính
phủ. Chính sách nào mà không được dự kiến trong Ngân sách nhà nước vừa thì sẽ
không được thực hiện. Chính vì như vậy mà, việc thông qua Ngân sách nhà nước
vừa là một sự kiện chính trị quan trọng, nó biểu hiện sự nhất trí trong Quốc hội về
chính sách của Nhà nước. Quốc hội mà không thông qua Ngân sách nhà nước vừa
thì điều đó thể hiện sự thất bại của Chính phủ trong việc đề xuất chính sách đó, và
có thể gây ra mâu thuẫn về chính trị.
- Thứ tư, Ngân sách nhà nước vừa là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài
chính quốc gia. Hệ thống tài chính quốc gia bao gồm: tài chính nhà nước, tài chính 7
doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình. Trong đó
tài chính nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia. Tài chính nhà
nước tác động đến sự hoạt động và phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Tài
chính nhà nước thực hiện huy động và tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính từ
các định chế tài chính khác chủ yếu qua thuế và các khoản thu mang tính chất thuế.
Trên cơ sở nguồn lực huy động được, Chính phủ sử dụng quỹ ngân sách để tiến
hành cấp phát kinh phí, tài trợ vốn cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị thuộc khu
vực công nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội.
- Thứ năm, đặc điểm của Ngân sách nhà nước luôn gắn liền với tính giai cấp.
Ngân sách được dự toán, được thảo luận và phê chuẩn bởi cơ quan pháp quyền,
quyền quyết định là của toàn dân được thực hiện thông qua Quốc hội. Ngân sách
nhà nước vừa được giới hạn thời gian sử dụng, được quy định nội dung thu - chi,
được kiểm soát bởi hệ thống thể chế, báo chí và nhân dân.
Vai trò của Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là khâu tài chính tập trung quan trọng nhất, là kế hoạch
tài chính cơ bản, tổng hợp của Nhà nước. Nó giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài
chính và có vai trò quyết định sự phát triển của nền kinh tế - xã hội. Vai trò của
Ngân sách nhà nước được xác lập trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó
trong từng giai đoạn cụ thể. Phát huy vai trò của Ngân sách nhà nước như thế nào
là thước đo đánh giá hiệu quả điều hành, lãnh đạo của Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện
nay, Ngân sách nhà nước có các vai trò chủ yếu sau:
- Thứ nhất, với chức năng phân phối, ngân sách có vai trò huy động nguồn
tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thực hiện sự cân đối thu chi
tài chính của Nhà nước. Đó là vai trò truyền thống của Ngân sách nhà nước trong
mọi mô hình kinh tế. Nó gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình 8
thực hiện nhiệm vụ của mình.
- Thứ hai, Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính của Nhà nước góp phần
thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, điều chỉnh kinh tế vĩ mô. Nhà nước sử
dụng Ngân sách nhà nước như là công cụ tài chính để kiềm chế lạm phát, ổn định
thị trường, giá cả cũng như giải quyết các nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn định kinh tế - xã hội.
Muốn thực hiện tốt vai trò này Ngân sách nhà nước phải có quy mô đủ lớn
để Nhà nước thực hiện các chính sách tài khóa phù hợp (nới lỏng hay thắt chặt)
kích thích sản xuất, kích cầu để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội.
- Thứ ba, Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính góp phần bù đắp những
khiếm khuyết của kinh tế thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường,
thúc đẩy phát triển bền vững.
Mặt trái của kinh tế thị trường là phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng trong
xã hội, tạo ra sự bất bình đằng trong phân phối thu nhập, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn
định xã hội. Bên cạnh đó, do mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên các chủ sở hữu
nguồn lực thường khai thác tối đa mọi nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bị
hủy hoại, nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mà xã hội cần nhưng khu vực tư nhân
không cung cấp như hàng hóa công cộng.
Do đó nếu để kinh tế thị trường tự điều chỉnh mà không có vai trò của Nhà
nước thì sẽ phát triển thiếu bền vững. Vì vậy Nhà nước sử dụng Ngân sách nhà
nước thông qua công cụ là chính sách thuế khóa và chi tiêu công để phân phối lại
thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, cung cấp hàng hóa dịch vụ công
cho xã hội, chú ý phát triển cân đối giữa các vùng, miền đảm bảo công bằng xã hội,
bảo vệ môi trường sinh thái. 9
Vai trò của ngân sách nhà nước vô cùng quan trọng trong việc điều tiết và
quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, cần phải có sự cân bằng trong thu chi ngân sách.
Các khoản thu Ngân sách Nhà nước bao gồm: từ thuế, phí, lệ phí, các khoản
thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, các khoản đóng góp của các tổ chức và cá
nhân, các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, các
khoản do Nhà nước vay để bù đắp bội chi, được đưa vào cân đối ngân sách Nhà
nước và bao gồm các khoản chi: chi phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng
an ninh, bảo đảm hoạt động bộ máy Nhà nước, chi trả của Nhà nước, chi viện trợ
và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Các khoản chi từ Ngân sách Nhà nước bao gồm: chi đầu tư phát triển, chi dự
trữ quốc gia, chi thường xuyên, chi trả lãi, phí và chi phí phát sinh khác từ các
khoản tiền do Chính phủ, chính quyền địa phương cấp tỉnh vay; chi viện trợ của
ngân sách trung ương cho các Chính phủ, tổ chức nước ngoài; chi cho vay theo quy
định của pháp luật; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính; chi chuyển nguồ từ ngân sách
năm trước sang ngân sách năm sau; chi bổ sung ngân sách, bổ sung có mục tiêu từ
ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. (điều 3, nghị định 163/2016/NĐ-CP)
Trong các khoản chi từ Ngân sách Nhà nước thì chi lương cho cán bộ, công
chức, viên chức trong khu vực công là một khoản chi thường xuyên. Do đó, tiền
lương trong khu vực công có mối quan hệ mật thiết với Ngân sách Nhà nước. Tiền
lương trong khu vực công cao hay thấp phụ thuộc vào khả năng Ngân sách Nhà
nước và có mối quan hệ tỉ lệ thuận với ngân sách Nhà nước. Nếu ngân sách Nhà
nước dồi dào, khả năng chi trả lớn thì phần chi thường xuyên, trong đó có chi
lương cho cán bộ công chức, viên chức sẽ được cải thiện. Ngược lại, nếu Ngân
sách Nhà nước hạn hẹp thì tiền lương của công chức sẽ thấp nếu số lượng biên chế
trong khu vực công không giảm. 10
Có thể dễ dàng nhìn thấy mối quan hệ này thông qua xem xét mức lương trả
cho các bộ công chức, viên chức ở các quốc gia có mức độ phát triển kinh tế khác
nhau. Các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Trung Quốc hoặc một số một
số quốc gia Đông nam Á như Singgapo hay Thái Lan, là những nước có nền kinh tế
phát triển hơn Việt Nam, khả năng Ngân sách dồi dào hơn nên tiền lương của cán
bộ công chức, viên chức trong khu vực công đều cao hơn so với Việt Nam.
Mặt khác, việc quy định tiền lương trong khu vực công cao hay thấp sẽ ảnh
hưởng đến khoản chi thường xuyên hàng năm của Ngân sách Nhà nước. Nếu tiền
lương khu vực công cao thì phần chi thường xuyên cho lương của cán bộ, công
chức, viên chức sẽ là gánh nặng cho Ngân sách nếu không tăng được các khoản thu ngân sách.
1.3.2. Mối quan hệ của tiền lương khu vực công với lạm phát
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung
của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay
giảm sức mua của đồng tiền.
Một định nghĩa nữa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại đưa ra và nó
được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường: “Lạm phát là sự tăng
lên của mức giá trung bình theo thời gian”.
Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số lạm phát. Trong thực tế nó được thay thế
bằng tỷ số giá tiêu dùng hoặc chỉ số giá bán buôn
Phân loại lạm phát
- Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới
10%/1 năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối. Trong thời kỳ
này, nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống của lao động ổn định. Sự ổn định
đó được biểu hiện: giá cả tăng lên chậm, lãi suất tiền gửi không cao, không xẩy ra 11
với tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn….
Có thể nói lạm phát vừa phải tạo nên tâm lý an tâm cho người lao động chỉ
trông chờ vào thu nhập. Trong thời gian này, các hãng kinh doanh có khoản thu
nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư cho sản xuất, kinh doanh.
- Lạm phát phi mã: lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với cả tỷ
lệ 2 hoặc 3 con số một năm ở mức phi mã. Lạm phát làm cho giá cả chung tăng lên
nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế, các hợp đồng được chỉ số hoá. Lúc này
người dân tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản và không bao giờ cho vay tiền
ở mức lãi suất bình thường. Loại này khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến
dạng kinh tế nghiêm trọng.
- Siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa
lạm phát phi mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng
nhanh, giá cả tăng nhanh không ổn định, tiền lương thực tế bị giảm mạnh, tiền tệ
mất giá nhanh chóng thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến
dạng và hoạt động kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn. Tuy nhiên, siêu lạm phát rất ít khi xảy ra.
Nguyên nhân gây ra lạm phát:
Lạm phát có thể giải thích theo 3 cách:
- Theo lý thuyết tiền tệ: lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừa mức cung
tiền. Tiền mặt được đưa vào lưu thông quá nhiều dẫn đến đồng tiền bị mất giá, giá
cả của các mặt hàng trở lên đắt đỏ dẫn đến lạm phát.
- Theo học thuyết Keynes (lạm phát do cầu kéo): lạm phát xẩy ra do thừa cầu
về hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế. Tăng cung tiền không phải là nguyên
nhân duy nhất dẫn đến tăng cầu về hàng hoá, dịch vụ. Tăng tiêu dùng, chi phí công
cộng và tăng dân số là những nhân tố phi tiền tệ, sẽ dẫn đến tăng cầu. Áp lực lạm 12
phát sẽ tăng sau 1 đến 3 năm.
Nếu cầu về hàng hoá vượt mức cung xong sản xuất vẫn không được mở rộng
hoặc do sử dụng máy móc với công suất tiến tới giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất
không đáp ứng được gia tăng của cầu. Sự mất cân đối đó sẽ được giá cả lấp đầy.
Lạm phát do cẩu tăng lên hay lạm phát do cầu kéo được ra đời từ đó.
- Theo học thuyết chi phí đẩy: lạm phát sinh ra do tăng về chi phí sản xuất.
Hình thức của lạm phát này phát sinh ra từ phía cung, do chi phí sản xuất cao hơn
đã được chuyển sang người tiêu dùng. Điều này chỉ có thể được trong giai đoạn
tăng trưởng kinh tế khi người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn.
Ví dụ: Nếu tiền lương chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất và dịch
vụ. Nếu tiền lương tăng nhanh hơn năng suất lao động thì tổng chi phí sản xuất sẽ
tăng lên. Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này cho người tiêu dùng
thì giá bán sẽ tăng lên, công nhân và các công đoàn sẽ yêu cầu tiền lương cao hơn
trước để phù hợp với chi phí sinh hoạt tăng lên, điều đó tạo vòng xoáy lương - giá.
Trên thực tế, lạm phát là kết quả của tổng thể 3 nguyên nhân trên, mỗi
nguyên nhân có vai trò khác nhau ở mỗi thời điểm khác nhau.
Mặt khác, làm phát còn có thể do các nguyên nhân khác như: do thâm hụt
ngân sách lớn khiến các Chính phủ in thêm tiền để trang trải, lượng tiền danh nghĩa
tăng lên là một nguyên nhân gây lên lạm phát. Ngoài ra, còn do các nguyên nhân
liên quan đến chính sách của nhà nước, chính sách thuế, chính sách cơ cấu kinh tế
không hợp lý. Các chủ thể kinh doanh làm tăng chi phí đầu vào, nguyên nhân do nước ngoài.
Khi lạm phát tăng, dẫn đến tiền lương thực tế của cán bộ công chức, viên
chức giảm thì Nhà nước thường điều chỉnh tiền lương của cán bộ công chức, viên
chức thông qua điều chỉnh tiền lương cơ sở. 13
Mặt khác, khi điều chỉnh tiền lương trong khu vực công không trên cơ sở
tăng năng suất lao động xã hội thì thường làm cho lạm phát tăng lên. Nhưng ngược
lại, nếu tiền lương được điều chỉnh trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội thì
không làm ảnh hưởng đến lạm phát.
1.3.3. Mối quan hệ của tiền lương khu vực công với duy trì và phát triền nguồn
nhân lực trong khu vực công
Trong thời đại hiện nay con người được coi là một “tài nguyên” đặc biệt, một
nguồn lực quan trọng của sự phát triển. Do đó phát triển con người chiếm vị trí
trung tâm trong phát triển nguồn lực. Việc đầu tư phát triển con người là đầu tư
chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững.
Mục tiêu chính của duy trì và phát triển nguồn nhân lực là nhằm sử dụng tối
đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua giúp
người lao động hiểu rõ hơn về công việc, trình độ tay nghề và chuyên môn nghiệp
vụ được nâng cao, thái độ làm việc độc lập tự giác, nâng cao khả năng thích ứng
của họ với công việc dự kiến trong tương lai. Do đó phát triển nguồn nhân lực
trong tổ chức hiện nay, nhất là các tổ chức trong khu vực công cần quan tâm đúng
mức hơn với hai lý do chủ yếu sau:
Thứ nhất, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và phát triển của người lao động.
Người lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao sẽ có cơ hội hơn trong việc
bố trí sắp xếp công việc, tiền lương và thu nhập cao hơn những người có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ và tay nghề thấp trong tổ chức. Từ đó giúp tạo ra sự gắn bó
của người lao động với tổ chức; tạo ra tính chuyên nghiệp của người lao động; giúp
người lao động thích ứng với công việc hiện tại hoặc công việc trong tương lai; đáp
ứng nhu cầu và nguyện vọng phát triển của người lao động cũng như tạo cho NLD
có những tư duy mới sáng tạo trong công việc.
Thứ hai, để đáp ứng nhu cầu phát triển của tổ chức thì phát triển nguồn nhân 14