








Preview text:
VIỆN KIỂM SÁT NHẢN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỐI SỐ: 28 /TB - VKSTC CAO
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 02 tháng 02 năm 202ỉ
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM
về công tác kiêm sát việc giải quyẻt các vụ án hành chính, vụ việc kinh
doanh, thưong mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp
luật thông qua công tác kiểm tra nghiệp vụ từ năm 2018 đến năm 2020 (Lưu hành nội bộ)
Thực hiện Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 31/12/2020 của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân Ilăm 2021, Kế hoạch số
01/KH-VKSTC ngày 05/01/2021 của Viện trưởng Viện ki sát nhân dân tối cao về công
tác trọng tâm của Viện kiểm sát nhân dân tối năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
ban hành thông báo rút kinh nghiệm về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành
chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp
luật thông qua công tác kiểm tra nghiệp vụ từ năm 2018 đến năm 2020 nhằm phát huy, nhân
rộng một số cách làm hay và kịp thời chấn chỉnh, khắc phục, rút kinh nghiệm chung trong
toàn Ngành đối với các vi phạm, tồn tại, hạn chế. Cụ thể như sau
I. MỘT SỐ CÁCH LÀM HAY TRONG CÔNG TÁC KIỂM SÁT 1. Chủ
động, tăng cường mối quan hệ phối họp công tác Nhìn chung, Viện kiểm sát các cấp đã
có nhiều nỗ lực, đổi mới phương pháp lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo, điều hành, lựa chọn khâu
công tác đột phá và đưa ra các giải pháp thực hiện sát với yêu cầu quản lý của Ngành. Một
trong những giải pháp được Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao ghi nhận và đánh
giá cao là sự chủ động, tích cực phối hợp công tác của một số VKSND địa phương trong
quá trình kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh, thương mại,
lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh việc chú trọng thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp công tác trong ngành
Kiểm sát nhân dân, giữa VKSND cấp trên và VKSND cấp dưới, giữa các VKSND cùng
cấp, một số đơn vị kiểm sát đã thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp công tác ngoài Ngành,
chủ động phối hợp chặt chẽ với Tòa án nhân dân (TAND) và các cơ quan hữu quan, nhất
là ửy ban nhân dân (ƯBND) cùng cấp với nhiều 2
hình thức phối hợp linh hoạt, hiệu quả trên cơ sở thực hiện đúng, đầy đủ chức năng, nhiệm
vụ của mỗi cơ quan, đơn vị, từ đó vừa góp phần đáp ứng tốt yêu cầu nghiệp vụ công tác
kiểm sát của Ngành vừa phục vụ hiệu quả nhiệm vụ chính trị tại địa phương1.
Một số đơn vị kiểm sát chủ động ký kết quy chế phối hợp công tác với TAND hoặc
quy chế phối hợp giữa VKSND, TAND và UBND cùng cấp trong việc giải quyết các vụ án
hành chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động. Theo đó, VKSND tham gia vào việc
giải quyết vụ án của Tòa án ngay từ giai đoạn đàu như tham gia hòa giải, đối thoại, xem xét
thẩm định tại chỗ...Ý kiến của Kiểm sát viên tại các phiên họp hòa giải, đối thoại được Tòa
án và các đương sự đánh giá cao. Qua hòa giải, đối thoại, các đương sự đã thỏa thuận, thống
nhất với nhau về việc giải quyết vụ án. Vì vậy, tỷ lệ đình chỉ giải quyết các vụ án hành
chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động do người khởi kiện (trong vụ án hành
chính), nguyên đơn (trong vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động) rút đơn khởi kiện cao.
Đặc biệt, đối với những vụ án phức tạp, dư luận xã hội quan tâm hoặc có yếu tố nước ngoài
có khả năng gây ra "điểm nóng" về tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa
phương, Lãnh đạo Viện kiểm sát chủ động trao đổi với Lãnh đạo Tòa án cùng cấp về quan
điếm giải quyết vụ án trên cơ sở chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật, góp phần
giải quyết vụ việc nhanh chóng, dứt điểm.
Ngoài ra, VKSND còn tích cực phối hợp với TAND, ƯBND tổ chức thành công các
buổi Hội thảo chuyên đề liên quan đến việc giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính,
hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai; hoặc cử công chức của
VKSND tham gia tổ tư vấn cho ƯBND khi giải quyết các khiếu nại đối với quyết định hành
chính, hành vi hành chính,... Qua đó, ƯBND các cấp đã tìm ra các giải pháp cụ thể, thiết
thực nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, được dư luận đồng
tình ủng hộ, người dân đồng thuận cao, làm giảm rõ rệt việc khiếu kiện vượt cấp, đông
người tại địa phương.
2. Chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, co* sỏ* vật chất
Bên cạnh việc tạo điều kiện cho công chức, Kiểm sát viên tham gia đầy đủ các lớp
học, khóa học đào tạo, bồi dường chuyên sâu về chính trị, nghiệp vụ kiểm sát thì một số đơn
vị kiểm sát đã chú trọng hơn về công tác đào tạo tại chỗ với nhiều hình thức sáng tạo. Trong
đó, việc tổ chức các cuộc thi cho công chức,
1 Bắc Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận, cần Thơ, Đà Năng, Quàng Nam 3
Kiểm sát viên tham dự đã đem lại nhiều kết quả, hiệu ứng tích cực góp phần đẩy mạnh
phong trào tự học tập, nghiên cứu quy định của pháp luật, quy định của ngành Kiểm sát
nhân dân và nảng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ kiểm sát, đáng kể là cuộc thi “Tìm
hiểu về pháp luật trong việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương
mại, ỉao động, phả sản và xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chỉnh sự,
tại Tòa án nhân dân “Xây dựng bài phát biêu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên
họp sơ thẩm vụ, việc dân hành chính”2... tin
Một số VKSND đã chú trọng ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông trong công 7 để
tác kiểm sát. Do thời hạn nghiên cứu hồ sơ vụ việc của VKSND tham gia phiên tòa,
phiên họp ngắn nên có VKSND đã chủ động trang bị máy Scan để scan nội dung đơn khởi
kiện, bản án sơ thẩm, phúc thẩm đưa vào trình, Báo cáo đề xuất của Kiềm sát viên, Kiểm tra
viên trong quá trình nghiên cứu hồ sơ trước khi tham gia phiên tòa, phiên họp hoặc tiến Sơ
hành số hóa hồ kiềm sát. Nhờ ứng dụng công nghệ thông tin, Kiểm sát viên, Kiểm tra có
viên nhiều thời gian tập trung nghiên cứu kỹ hơn về nội dung vụ việc để đưa ra qu an
điểm giải quyết có căn cứ và đúng pháp luật3.
3. Thiết lập và tuân thủ quy trình báo cáo án chặt chẽ Để đảm bảo chất Ạ.
lượng hoạt động nghiên cứu hồ sơ vụ án, tạo điều ki thuận lợi cho Kiểm sát viên khi ện
tham gia phiên tòa, phiên họp và thực hiện các quyền kiến nghị, kháng nghị, có đơn vị
kiểm sát đã xây dựng và tuân thủ chặt chẽ quy trình báo cáo án gồm 05 bước: (i) Chuyên
viên, Kiểm tra viên phô tô, lập sơ kiểm sát, xây dựng Tờ trình, Báo cáo đề xuất; (ii) Kiểm
sát viên nahiên cứu, có ý kiến đối với báo cáo đề xuất của Chuyên viên, Kiểm tra viên, đề ra
đường lối giải quyết vụ án; (iii) Phó Trưởng phòng duyệt đề xuất của Kiểm sát viên; (iv)
Trưởng phòng duyệt đề xuất của Kiểm sát viên sau khi có sự phê duyệt của p Trưởng phòng;
(v) Lãnh đạo Viện phụ trách có ý kiến chỉ đạo cuối cùng4. Việc tuân thủ chặt chẽ quy trình
báo cáo án nêu trên mà các Tờ trình, Báo cáo đề xuất của đơn vị luôn có quan điểm, đường
lối rõ ràng, nhiều vi phạm của Tòa án được phát hiện và kịp thời ban hành kiến nghị, kháng nghị.
II. MỘT SỐ VI PHẠM, TÒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN 1. Một số
vi phạm, tồn tại, hạn chế
2 VKSND tinh Bình Thuận, thành phố Đà Nằng
3 VKSND Thành phổ Hồ Chí Minh, cần Thơ, Quàng Ngãi
4 VKSND Thành phố Hồ Chí Minh 4
1.1. về việc thực hiện quyền kháng nghị
Việc thực hiện quyền kháng nghị tại một số VKSND vẫn còn hạn chế, chưa phát huy
hết chức năng, nhiệm vụ của Ngành. Trong quá trình kiểm sát việc giải quyết các vụ việc, có
VKSND đã cố gắng thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm ngang cấp nhưng căn cứ kháng
nghị không vững chác dẫn tới việc rút kháng nghị hoặc kháng nghị không được Tòa án chấp
nhận. Có VKSND không kịp thời phát hiện được các vi phạm nghiêm trọng của Tòa án là
căn cứ để thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm ngang cấp, không kịp thời phát hiện vi
phạm trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để gửi Thông báo về việc
phát hiện vi phạm cho VKSND cấp trên trực tiếp kháng nghị phúc thẩm hoặc VKSND cấp
có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Do vậy, số lượng và tỷ lệ
kháng nghị phúc thẩm được Tòa án chấp nhận thấp, nhất là kháng nghị phúc thẩm đối với
các bản án, quyết định giải quyết vụ án hành chính. Thậm chí, một số đơn vị kiểm sát, tỷ lệ
kháng nghị của VKSND so với số bản án, quyết định giải quyết vụ án hành chính bị TAND
cấp trên tuyên hủy, sửa là 0%, không hoàn thành chỉ tiêu của Ngành và của Quốc hội đề ra
(toàn bộ các bản án, quyết định giải quyết vụ án hành chính bị TAND cấp trên tuyên hủy,
sửa đều do đương sự kháng cáo mà không có kháng nghị của Viện kiểm sát).
Qua công tác kiểm tra, nhận thấy một số VKSND địa phương không phát hiện được
vi phạm của Tòa án làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự, của Nhà nước để thực hiện quyền kháng nghị, cụ thể là:
Một là, các vi phạm về tố tụng: (i) Tòa án xác định sai quan hệ pháp luật tranh chấp
(quan hệ pháp luật tranh chấp là dân sự, trong đó có yêu cầu hủy quyết định hành chính cá
biệt nhưng Tòa án lại xác định là quan hệ tranh chấp về khởi kiện quyết định hành chính nên
áp dụng Luật Tố tụng hành chính để giải quyết); (ii) Tòa án xác định sai phạm vi ủy quyền
của đương sự khi tham gia giải quyết vụ án; (iii) Tòa án xác định sai tư cách tham gia tố
tụng của đương sự; không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng;
(iv) Tòa án xác định căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án không đúng, vi phạm quy định tại Điều
143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án hành chính trong
trường họp người khởi kiện được triệu tập họp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt ở
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại).
Hai là, các vi phạm về nội dung: (i) Tòa án áp dụng quy định của pháp luật để giải
quyết vụ án chưa đúng, sai nội dung, sai căn cứ; (ii) Tòa án không thu thập, đánh giá chứng
cứ đầy đủ, toàn diện làm cơ sở giải quyết vụ án; (iii) Tòa án quyết định sai án phí, lệ phí giải
quyết vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động, vi phạm quy định tại
Nghị quyết số 326/2016/ƯBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, v.v... 5
1.2. về thực hiện quyền yêu cầu, quyền kiến nghị
Qua công tác kiếm tra, VKSND tối cao phát hiện có những vi phạm về tố
tụng, vi phạm về nội dung trong quá trình giải quyết vụ việc của Tòa án nhưng tại hồ sơ
kiểm sát của một số VKSND không có tài liệu thể hiện việc thực hiện quyền yêu cầu, quyền
kiến nghị đối với Tòa án để khác phục vi phạm. Một số dạng vi phạm điển hình là: (i) Một
số quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, Tòa án không ghi đầy đủ hậu quả pháp
lý của việc đình chỉ theo Điều 144 Luật TTHC năm 2015, Mầu số 14 ban hành kèm theo
Nghị quyết số 02/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối
cao, cụ thể là không ghi đương sự có quyền khởi kiện lại hay không (mà chỉ nêu việc xử lý
tiền tạm ứng án phí), làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự;
(ii) Thành phần Hội đồng xét xử không đúng, không thống nhất giữa quyết định đưa vụ án ra
xét xử và thành phần ghi trong bản án, quyết định, vi phạm Điều 154, 155 Luật TTHC năm
2015; (iii) Quyết định đưa vụ án ra xét xử không ghi đầy đủ thông tin về Hội thẩm nhân dân,
Kiểm sát viên; (iv) Một số vi phạm khác của Tòa án như chuyển hồ sơ vụ án, bản án, quyết
định cho VKSND chậm thời hạn; việc ban hành biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và đối thoại; quyết định hoãn phiên tòa không đúng quy định.
1.3. về hoạt động của Kiểm sát viên khi tham phiên tòa, phiên họp
Hoạt động phát biểu của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa, phiên họp tại một số
đơn vị kiểm sát mặc dù đã được chú trọng, nâng cao, song vẫn còn một số tồn tại, hạn chế
làm ảnh hưởng đến chất lượng bài phát biểu của Kiểm sát viên và việc thực hiện các quyền
của Viện kiểm sát, cụ thể như sau:
Một là, một số Tờ trình, Báo cáo đề xuất của Kiềm sát viên không có ý kiến chỉ đạo
của Lãnh đạo Phòng, Lãnh đạo Viện kiếm sát về đường lối giải quyết vụ án, vi phạm quy
định tại Điều 20 Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính ban hành
kèm theo Quyết định số 282/QĐ-VKSTC ngày 01/8/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao
(sau đây viết tắt là Quy chế số 282/2017), Điều 20 Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết
các vụ việc dân sự ban hành theo Quyết định số 364/QĐ-VKSTC ngày 02/10/2017 của Viện trưởng
VKSND tối cao (sau đây viết tất là Quy chế số 364/2017); khoản 5 Điều 14 Quy trình kiểm
sát việc giải quyết các vụ án hành chính ban hành kèm theo Quyết định số 286/QĐ-VKSTC
ngày 08/7/2019 của Viện trưởng VKSND tối cao (sau đây viết tắt là Quy trình số 286/2019).
Hai là, nhiều trường hợp Kiểm sát viên không xây dựng dự thảo đề cương hỏi sau khi
nghiên cứu hồ sơ vụ việc, vi phạm khoản 4 Điều 19 Quy chế số 282/2017 và Quy chế số
364/2017; khoản 1, khoản 2 Điều 15 Quy trình số 286/2019.
Ba là, tại phiên tòa, Kiểm sát viên không ghi chép diễn biến phiên tòa, phiên họp 6
hoặc có ghi chép nhưng sơ sài, không đầy đủ; không ghi chép nhận định, căn cứ pháp luật và
phần quyết định của bản án, quyết định làm cơ sở để kiểm sát bản án, quyết định, vi phạm
khoản 1, khoản 6 Điều 23 Quy chế số 282/2017; khoản 7 Điều 16 Quy trình số 286/2019.
Bốn /ờ, chất lượng phát biểu của Kiểm sát viên tại một số phiên tòa, phiên họp còn
chưa cao. Có một số vi phạm pháp luật về tố tụng, pháp luật về nội dung của Tòa án, Hội
đồng xét xử nhưng Kiểm sát viên không nhận định trong bài phát biểu và không kịp thời
thực hiện quyền yêu cầu, quyền kiến nghị tại phiên tòa, phiên họp: (i) Tòa án thu thập, tài
liệu chứng cứ chưa đầy đủ để giải quyết vụ việc;
(ii) Thành phần Hội đồng xét xử không đúng với quyết định đưa vụ án ra xét xử;
(iii) Căn cứ pháp luật để ban hành quyết định hoãn, tạm ngừng phiên tòa đối với một số vụ
án không đúng; (iv) Thẩm phán vi phạm về việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự, vi
phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.
Năm là, sau khi xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, một số Kiểm sát viên không lập phiếu
kiếm sát bản án, quyết định của Tòa án, không làm báo cáo kết quả xét xử, vi phạm quy định
tại các Điều 25, 26, 39 của Quy chế số 282/2017 và Quy chế số 364/2017.
Sáu /à, nhiều VKSND không sao gửi bản án, quyết định giải quyết vụ án hành chính,
vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kèm theo phiếu
kiểm sát bản án, quyết định cho VKSND cấp cao có thẩm quyền theo lãnh thồ, vi phạm
khoản 5 Điều 26 Quy chế số 282/2017 và Quy chế số 364/2017.
1.4. về việc sử dụng các biểu mẫu tố tụng, nghiệp vụ
Một số đơn vị chưa chấp hành nghiêm việc sử dụng các biểu mẫu tố tụng, nghiệp vụ
ban hành kèm theo Quyết định số 204/QĐ-VKSTC ngày 01/6/2017 của Viện trưởng
VKSND tối cao, cụ thể là: (i) Không lập phiếu kiểm sát đối với thông
báo thụ lý vụ án theo Mầu số 02/HC, thông báo trả lại đon khởi kiện theo Mầu sổ
16/HC, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính theo Mầu số 13/HC; (ii) Quyết định
phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp không tụân theo quy định tại Mầu số
03/HC; Mầu số 03/DS; (iii) Báo cáo kết quả xét xử vụ án hành chính không đúng theo Mầu
số 14/HC; (iv) Phiếu kiềm sát bản án, quyết định của Tòa án không có ý kiến của Lãnh đạo
phòng, Lãnh đạo Viện kiểm sát theo Mầu số 13/HC; Mầu số 14/DS. __ Ả
1.5. về hoạt động lập hồ SO’ kiểm sát và cập nhật thông tin vào nghiêp vụ sô các
Thông qua công tác kiểm tra nghiệp vụ, VKSND tối cao phát hiện VKSND là
đối tượng kiểm tra đều có vi phạm về việc lập hồ sơ kiểm sát theo quy định tại Hướng
dẫn số 28/HD-VKSTC ngày 19/10/2018 của VKSND tối cao. Nhiều hồ sơ kiểm sát vụ án
hành chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, động, phá sản, kiểm sát việc xem xét, quyết
định áp dụng các biện pháp xử hành chính tại TAND được lập chưa đúng, chưa đầy đủ tài
liệu, cụ thể là: (i) sơ kiểm sát chưa được sắp xếp theo đúng trình tự, không có thống kê mục
lục liệu, không đánh số bút lục; (ii) Không lập hồ sơ kiểm sát việc trả lại đơn kiện; (iii) Hồ
sơ kiểm sát không có đầy đủ tài liệu để đánh giá về quyết định giải quyết vụ việc của Tòa án
như không có quyết định hành chính bị khởi kiện; đi rút yêu cầu khởi kiện (hồ sơ kiểm sát
án đình chỉ); biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải; biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại;
biên bản tống đạt giấy triệu tập; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đơn
kháng cáo bản án, quyết định; đơn khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại TAND. Ẵ
Việc cập nhật các thông tin vào sổ thụ lý, sổ nghiệp vụ kiểm sát tại một sô
VKSND còn chưa đầy đủ, thiếu thông tin về quá trình giải quyết vụ việc của Tòa án, kết quả
công tác kiểm sát của VKSND, không tách riêng một số tiêu chí như thông báo trả lại đơn
khởi kiện, án tạm đình chỉ, đình chỉ,... gây khó khăn trong việc theo dõi, quản lý.
2. Nguyên nhân của vi phạm, tồn tại, hạn chế
Những vi phạm, tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là: 8
Một là, Lãnh đạo đơn vị, nhất là người đứng đầu ở một số đơn vị đôi lúc còn thiếu
sát sao, chưa thật sự quan tâm, chưa thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn, yêu cầu
công chức, Kiểm sát viên chấp hành nghiêm chỉnh, đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật,
quy định của ngành Kiểm sát nhân dân về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành
chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật.
Hai là, một số công chức, Kiểm sát viên bản lĩnh chính trị chưa vững vàng, còn có
tâm lý nể nang, ngại va chạm; trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, chưa đáp ứng
được yêu cầu, thiếu kinh nghiệm, kỹ năng kiểm sát, nhất là kỳ năng phát hiện vi phạm của
Tòa án để kịp thời thực hiện quyền yêu cầu, quyền kiến nghị, quyền kháng nghị.
Ba là, tại một số VKSND, Lãnh đạo đơn vị chưa có các giải pháp thiết thực để động
viên, khuyến khích công chức, Kiểm sát viên làm khâu công tác này; việc bố trí, phân công
công chức, Kiểm sát viên chưa đảm bảo tính kế thừa, chuyên sâu và ổn định.
ra. MỘT SỐ VẤN ĐÊ CẦN RỦT KINH NGHIỆM
Để kịp thời chấn chỉnh, khắc phục, rút kinh nghiệm chung trong toàn Ngành đối với
các vi phạm, tồn tại, hạn chế và nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ
án hành chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định
của pháp luật trong thời gian tới, VKSND tối cao yêu cầu Viện trưởng VKSND cấp cao,
Viện trưởng VKSND các địa phương thực hiện tốt một số nội dung sau:
1. Phát huy, vận dụng linh hoạt, phù hợp các cách làm hay và rút kinh nghiệm
nghiêm túc các vi phạm, tồn tại, hạn chế trong công tác kiểm sát như đã nêu trên tại đơn vị mình.
2. Quán triệt, triển khai và thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; chính sách,
pháp luật của Nhà nước; các chỉ thị, văn bản nghiệp vụ của Ngành, ý kiến chỉ đạo của Viện
trưởng VKSND tối cao về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc
kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật.
3. Đe cao trách nhiệm của Lãnh đạo đơn vị trong việc duyệt án, chỉ đạo quan điểm,
đường lối giải quyết vụ án. Phải thực hiện kịp thời thông báo rút kinh nghiệm đối với những
vụ án bị hủy, sửa có lỗi của Kiểm sát viên. Định kỳ kiểm tra 9
chất lượng báo cáo đề xuất, bài phát biểu của Kiểm sát viên và chất lượng xây dựng hồ sơ
kiểm sát, quản lý sổ sách nghiệp vụ theo quy định của Ngành.
4. Chú trọng công tác đào tạo tại chỗ, nâng cao kỹ năng phát hiện vi phạm của
Tòa án cho đội ngũ công chức, Kiếm sát viên nhàm thực hiện tốt các quyền của
VKSND, nâng cao số lượng và tỷ lệ kháng nghị phúc thẩm được Tòa án chấp nhận,
nhất là kháng nghị phúc thẩm các bản án, quyết định giải quyết vụ án hành chính.
5. Chỉ đạo công chức, Kiểm sát viên, nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tích cực
nghiên cứu, cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật. Phân công, bố sắp xếp công chức,
Kiểm sát viên đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng và tính ổn định, chuyên sâu, có bản
lĩnh chính trị vững vàng, đáp ứng được nhiệm vụ. cơ chế khuyến khích động viên kịp thời
những đơn vị, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ, ưu tiên xét cử công chức dự thi, bổ nhiệm chức
danh tư pháp, chức lãnh đạo, quản lý đối với công chức làm việc trong lĩnh vực công tác này
khi có điều kiện, tiêu chuẩn bố nhiệm như đối tượng khác theo chỉ đạo của Viện trưởng VKSND tối cao.
Thông báo rút kinh nghiệm này chỉ lưu hành nội bộ trong ngành Kiểm sát nhân
dân, không được đăng tải lên các phương tiện thông tin đại chúng, các trang mạng xã
hội hoặc bất cứ hình thức nào ra phạm vi ngoài Ngành./. Nơi nhận:
- Đ/c Viện trường VKSND tối cao (để b/c); TL. VIỆN TRƯỞNG
- Đ/c Nguyễn Duy Giảng - PVT VKSND VỤ TRƯỞNG toi cao (để b/c);
VỤ KI ÉM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN
- Viện trưởng các VKSND cấp cao;
HÀNH CHÍNH, vụ VIỆC KINH DOANH, THƯƠNG MẠI,
- Viện trường các VKSND cấp tinh;
LAO ĐỘNG VA NHỮNG VIỆC KHÁC 1ƯY ĐỊNH CỦA
- Vãn phòng VKSND tối cao (P.Tham PHÁP LUẬT mưu tổng hợp);
- Lãnh đạo, công chức Vụ 10; -Lưu: VT, V10. Phan Văn Tâm