BÀI KIỂM TRA: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề: PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM CHẾ QUẢN KINH TẾ KẾ HOẠCH HÓA TẬP
TRUNG BAO CẤP THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI VIỆT NAM. HIỆN NAY
CHẾ ĐÓ ĐÃ ĐƯỢC XÓA BỎ TRIỆT ĐỂ CHƯA?
Bài làm
Khái niệm cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp:
chế quản kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp chế trong đó nền
kinh tế vận động dưới sự kiểm soát của Nhà nước về các yếu tố sản xuất cũng như phân phối
về thu nhập. Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động của nền kinh tế, không coi trọng các
quy luật thị trường.
Đặc điểm của cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp:
Thứ nhất, nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ
thống chỉ tiêu, pháp lệnh chi tiết áp dụng từ trên xuống dưới. Các doanh nghiệp hoạt động
trên sở các quyết định của quan Nhà nước thẩm quyền các chỉ tiêu pháp lệnh
được giao. Tất cả các phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ
chức bộ máy nhân sự, tiền lương,… đều do các cấp thẩm quyền quyết định. Nhà nước
giao chỉ tiêu kế hoạch cấp phát vốn, vật cho doanh nghiệp; doanh nghiệp tiến hành sản
xuất và giao nộp sản phẩm cho Nhà nước. Lỗ thì nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu.
Thứ hai, cácquan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh
của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp lý đối với các
quyết định của mình. Những thiệt hại vật chất do các quyết định không đúng gây ra thì ngân
sách nhà nước phải gánh chịu. Các doanh nghiệp không quyền tự chủ sản xuất kinh
doanh, cũng không bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh.
Thứ ba, quan hệ hàng hóa - tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ hình thức, quan hệ hiện vật chủ
yếu. Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát - giao nộp”, vì vậy rất nhiều hàng
hóa quan trọng như sức lao động, phát minh sáng chế, liệu sản xuất quan trọng không
được coi là hàng hóa về mặt pháp lý.
Thứ tư, bộ máy quản cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng động, vừa sinh
ra đội ngũ quản kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu nhưng lại được hưởng
quyền lợi cao hơn người lao động. Hệ thống thể chế chưa đồng bộ, còn chồng chéo, thiếu
thống nhất, thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp, trật tự, kỷ cương chưa nghiêm;
phương thức quản
hành chính vừa tập trung quan liêu, vừa phân tán chưa thông suốt. Trong khi đó, đội ngũ
cán bộ công chức còn nhiều điểm yếu về phẩm chất, tinh thần và trách nhiệm.
Qua những đặc điểm trên, thể thấy tính kế hoạch hóa tập trung của chế quản
kinh tế lúc đó được thể hiện việc Nhà nước trở thành một quan quyền lực kinh tế, tập
trung nắm trong tay mọi khâu của nền kinh tế, từ sản xuất cho đến phân phối, lưu thông,
hướng nền kinh tế vận hành theo kế hoạch Nhà nước vạch ra, không tuân theo những
quy luật thị trường khách quan
Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau:
Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn
nhiều lần so với giá trị thực với chúng trên thị trường. Do đó, hạch toán kinh tế chỉ hình
thức.
Bao cấp qua chế độ tem phiếu: Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng
cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu. Chế độ tem phiếu với
mức giá khác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ
tiêu động lực tích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động.
Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách, nhưng không chế tài ràng buộc
trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn. Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối
với ngân sách, vừa làm cho việc sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế "xin - cho".
Trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng thì chế này tác
dụng nhất định, nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế vào các mục tiêu chủ yếu
trong từng giai đoạn điều kiện cụ thể, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa theo
hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Nhưng lại thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến
bộ khoa học - công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, không kích thích
tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất, kinh doanh. Khi nền kinh tế thế giới
chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên sở áp dụng các thành tựu của
cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện tại thì cơ chế quản này càng bộc lộ những
khiếm khuyết của nó, làm cho kinh tế các nước hội chủ nghĩa trước đây; trong đó
nước ta, lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng.
Trước đổi mới, do chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, chúng ta xem
kế hoạch hóa đặc trưng quan trọng nhất của nền kinh tế hội chủ nghĩa, phân bổ mọi
nguồn lực theo kế hoạch chủ yếu; coi thị trường chỉ một công cụ thứ yếu bổ sung cho
kế hoạch. Không thừa nhận trên thực tế s tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần trong
thời kỳ quá độ, lấy kinh tế quốc doanh, và tập thể là chủ yếu, muốn nhanh chóng xóa sở hữu
tư nhân và kinh tế cá thể, tư nhân. Nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng.
Theo em, hiện nay cơ chế đó chưa được xóa bỏ triệt để, bởi vì:
Trên thực tế, về phương diện thể chế kinh tế, Việt Nam đã từng bước xóa bỏ phần lớn
các đặc trưng của cơ chế bao cấp. Các yếu tố như chế độ tem phiếu, Nhà nước can thiệp sâu
vào phân phối, sản xuất giá cả, cũng như việc phân bổ nguồn lực dựa trên chỉ tiêu hành
chính đã được thay thế bằng các chế thị trường. Khu vực kinh tế nhân được khuyến
khích phát triển, vai trò của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được điều chỉnh, thị trường
ngày càng đóng vai trò trung tâm trong phân phối hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, quá trình
chuyển đổi này vẫn chưa thực sự triệt để nhiều tàn của chế vẫn hiện diện trong
hệ thống hành chính, quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay.
Một trong những tồn tại rõ nét nhất chính là tư duy quản lý hành chính - bao cấp chưa bị
loại bỏ hoàn toàn. chế xin - cho” trong phân bổ nguồn lực vẫn chưa được xóa bỏ.
Doanh nghiệp muốn tiếp cận đất đai, tài nguyên, hoặc tham gia các dự án đầu công vẫn
phải trải qua nhiều vòng phê duyệt phức tạp, đôi khi phụ thuộc vào “quan hệ hơn năng
lực thực tế. Hệ thống thể chế kinh tế chưa hoàn thiện, bộ máy hành chính còn kém hiệu quả,
thủ tục hành chính thiếu minh bạch, dẫn đến chế trách nhiệm giải trình chưa ràng,
khiến môi trường kinh doanh thiếu thuận lợi, gây khó khăn cho sự phát triển của doanh
nghiệp nhân. Ngoài ra, nền hành chính nhà nước vẫn mang nặng dấu ấn của chế quản
lý tập trung, quan liêu, bao cấp. Chức năng, nhiệm vụ quảnnhà nước chưa được xác định
ràng, việc phân cấp, phân quyền giữa các bộ, ngành địa phương còn chồng chéo, thiếu
thống nhất. Thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực vẫn rườm rà, phức tạp, tạo điều kiện cho
tình trạng “nhũng nhiễu”, “hành chính” phát sinh. Tổ chức bộ máy hành chính còn cồng
kềnh, nhiều tầng nấc, trong khi đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu đổi
mới, còn tồn tại những yếu m về phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm, năng lực
chuyên môn, biểu hiện qua các hành vi quan liêu, tham nhũng, gây phiền cho người dân
và doanh nghiệp.
Đáng lo ngại hơn, bộ máy hành chính cơ sở địa phương trong nhiều trường hợp chưa
thực sự gắn với nhân dân, không nắm rõ tình hình thực tế tại địa bàn quản lý, dẫn đến bị
động khi xử các tình huống phức tạp. Trong các doanh nghiệp, nhất doanh nghiệp nhà
nước, vẫn tồn tại lối làm việc trì trệ, máy móc, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu sáng tạo và không
phát huy được tinh thần đổi mới.
Như vậy, thể thấy rằng Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc chuyển đổi
sang chế kinh tế thị trường, nhưng việc xóa bỏ hoàn toàn tàn của chế quản kế
hoạch hóa tập trung bao cấp vẫn chưa thực sự triệt để. Để tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế
hành chính phù hợp với u cầu phát triển bền vững, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới
duy quản lý, nâng cao năng lực cán bộ, cải cách bộ máy hành chính theo hướng tinh gọn -
hiệu lực - hiệu quả, tăng cường phân quyền, minh bạch hóa quy trình ra quyết định, đồng
thời thúc đẩy môi trường cạnh tranh công bằng giữa các thành phần kinh tế.

Preview text:

BÀI KIỂM TRA: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề: PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ KẾ HOẠCH HÓA TẬP
TRUNG BAO CẤP THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM. HIỆN NAY CƠ
CHẾ ĐÓ ĐÃ ĐƯỢC XÓA BỎ TRIỆT ĐỂ CHƯA?
Bài làm
Khái niệm cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp:
Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp là cơ chế trong đó nền
kinh tế vận động dưới sự kiểm soát của Nhà nước về các yếu tố sản xuất cũng như phân phối
về thu nhập. Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động của nền kinh tế, không coi trọng các quy luật thị trường.
Đặc điểm của cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp:
Thứ nhất, nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ
thống chỉ tiêu, pháp lệnh chi tiết áp dụng từ trên xuống dưới. Các doanh nghiệp hoạt động
trên cơ sở các quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh
được giao. Tất cả các phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ
chức bộ máy nhân sự, tiền lương,… đều do các cấp có thẩm quyền quyết định. Nhà nước
giao chỉ tiêu kế hoạch cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp; doanh nghiệp tiến hành sản
xuất và giao nộp sản phẩm cho Nhà nước. Lỗ thì nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu.
Thứ hai, các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh
của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp lý đối với các
quyết định của mình. Những thiệt hại vật chất do các quyết định không đúng gây ra thì ngân
sách nhà nước phải gánh chịu. Các doanh nghiệp không có quyền tự chủ sản xuất kinh
doanh, cũng không bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh.
Thứ ba, quan hệ hàng hóa - tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ
yếu. Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát - giao nộp”, vì vậy rất nhiều hàng
hóa quan trọng như sức lao động, phát minh sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng không
được coi là hàng hóa về mặt pháp lý.
Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng động, vừa sinh
ra đội ngũ quản lý kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu nhưng lại được hưởng
quyền lợi cao hơn người lao động. Hệ thống thể chế chưa đồng bộ, còn chồng chéo, thiếu
thống nhất, thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp, trật tự, kỷ cương chưa nghiêm; phương thức quản
lý hành chính vừa tập trung quan liêu, vừa phân tán chưa thông suốt. Trong khi đó, đội ngũ
cán bộ công chức còn nhiều điểm yếu về phẩm chất, tinh thần và trách nhiệm.
Qua những đặc điểm trên, có thể thấy tính kế hoạch hóa tập trung của cơ chế quản lý
kinh tế lúc đó được thể hiện ở việc Nhà nước trở thành một cơ quan quyền lực kinh tế, tập
trung nắm trong tay mọi khâu của nền kinh tế, từ sản xuất cho đến phân phối, lưu thông,
hướng nền kinh tế vận hành theo kế hoạch mà Nhà nước vạch ra, không tuân theo những
quy luật thị trường khách quan
Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau:
Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn
nhiều lần so với giá trị thực với chúng trên thị trường. Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức.
Bao cấp qua chế độ tem phiếu: Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng
cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu. Chế độ tem phiếu với
mức giá khác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ
tiêu động lực tích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động.
Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách, nhưng không có chế tài ràng buộc
trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn. Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối
với ngân sách, vừa làm cho việc sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế "xin - cho".
Trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng thì cơ chế này có tác
dụng nhất định, nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế vào các mục tiêu chủ yếu
trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa theo
hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Nhưng nó lại thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến
bộ khoa học - công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, không kích thích
tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất, kinh doanh. Khi nền kinh tế thế giới
chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở áp dụng các thành tựu của
cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện tại thì cơ chế quản lý này càng bộc lộ những
khiếm khuyết của nó, làm cho kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây; trong đó có
nước ta, lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng.
Trước đổi mới, do chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, chúng ta xem
kế hoạch hóa là đặc trưng quan trọng nhất của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, phân bổ mọi
nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu; coi thị trường chỉ là một công cụ thứ yếu bổ sung cho
kế hoạch. Không thừa nhận trên thực tế sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần trong
thời kỳ quá độ, lấy kinh tế quốc doanh, và tập thể là chủ yếu, muốn nhanh chóng xóa sở hữu
tư nhân và kinh tế cá thể, tư nhân. Nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng.
Theo em, hiện nay cơ chế đó chưa được xóa bỏ triệt để, bởi vì:
Trên thực tế, về phương diện thể chế kinh tế, Việt Nam đã từng bước xóa bỏ phần lớn
các đặc trưng của cơ chế bao cấp. Các yếu tố như chế độ tem phiếu, Nhà nước can thiệp sâu
vào phân phối, sản xuất và giá cả, cũng như việc phân bổ nguồn lực dựa trên chỉ tiêu hành
chính đã được thay thế bằng các cơ chế thị trường. Khu vực kinh tế tư nhân được khuyến
khích phát triển, vai trò của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được điều chỉnh, và thị trường
ngày càng đóng vai trò trung tâm trong phân phối hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, quá trình
chuyển đổi này vẫn chưa thực sự triệt để vì nhiều tàn dư của cơ chế cũ vẫn hiện diện trong
hệ thống hành chính, quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay.
Một trong những tồn tại rõ nét nhất chính là tư duy quản lý hành chính - bao cấp chưa bị
loại bỏ hoàn toàn. Cơ chế “xin - cho” trong phân bổ nguồn lực vẫn chưa được xóa bỏ.
Doanh nghiệp muốn tiếp cận đất đai, tài nguyên, hoặc tham gia các dự án đầu tư công vẫn
phải trải qua nhiều vòng phê duyệt phức tạp, đôi khi phụ thuộc vào “quan hệ” hơn là năng
lực thực tế. Hệ thống thể chế kinh tế chưa hoàn thiện, bộ máy hành chính còn kém hiệu quả,
thủ tục hành chính thiếu minh bạch, dẫn đến cơ chế trách nhiệm giải trình chưa rõ ràng,
khiến môi trường kinh doanh thiếu thuận lợi, gây khó khăn cho sự phát triển của doanh
nghiệp tư nhân. Ngoài ra, nền hành chính nhà nước vẫn mang nặng dấu ấn của cơ chế quản
lý tập trung, quan liêu, bao cấp. Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước chưa được xác định
rõ ràng, việc phân cấp, phân quyền giữa các bộ, ngành và địa phương còn chồng chéo, thiếu
thống nhất. Thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực vẫn rườm rà, phức tạp, tạo điều kiện cho
tình trạng “nhũng nhiễu”, “hành là chính” phát sinh. Tổ chức bộ máy hành chính còn cồng
kềnh, nhiều tầng nấc, trong khi đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu đổi
mới, còn tồn tại những yếu kém về phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm, năng lực
chuyên môn, biểu hiện qua các hành vi quan liêu, tham nhũng, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp.
Đáng lo ngại hơn, bộ máy hành chính cơ sở và địa phương trong nhiều trường hợp chưa
thực sự gắn bó với nhân dân, không nắm rõ tình hình thực tế tại địa bàn quản lý, dẫn đến bị
động khi xử lý các tình huống phức tạp. Trong các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà
nước, vẫn tồn tại lối làm việc trì trệ, máy móc, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu sáng tạo và không
phát huy được tinh thần đổi mới.
Như vậy, có thể thấy rằng Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc chuyển đổi
sang cơ chế kinh tế thị trường, nhưng việc xóa bỏ hoàn toàn tàn dư của cơ chế quản lý kế
hoạch hóa tập trung bao cấp vẫn chưa thực sự triệt để. Để tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế
và hành chính phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới tư
duy quản lý, nâng cao năng lực cán bộ, cải cách bộ máy hành chính theo hướng tinh gọn -
hiệu lực - hiệu quả, tăng cường phân quyền, minh bạch hóa quy trình ra quyết định, đồng
thời thúc đẩy môi trường cạnh tranh công bằng giữa các thành phần kinh tế.