NHÓM 2 CHỦ NGHĨA KHOA HỌC XÃ HỘI:Vấn đề Dân Chủ
DÂN CHỦ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DÂN CH
Quan niệm về dân ch:
Từ việc nghiên cứu các chế độ dân chủ trong lịch sử thực tiễn lãnh
đạo cách mạng chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng,
dân chủ sản phẩm, thành quả của quá trình đấu tranh giai cấp cho những
giá trị tiến bộ của nhân loại, là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp
cầm quyền, một trong những nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính
trị - xã hội.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin:
Về phương diện quyền lực: Dân chủ quyền lực thuộc về nhân dân, nhân
dân là chủ nhân của nhà nước. Dân chủ là quyền lợi của nhân dân, quyền
lực nhà nước thuộc sở hữu của nhân dân, hội; bộ máy nhà nước phải
nhân dân, vì xã hội mà phục vụ.
Trên phương diện chế độ hội trong lĩnh vực chính trị: Dân chủ
là một hình thức hay hình thái nhà nước, là chính thể dân chủ hay chế độ dân
chủ.
Trên phương diện tổ chức quản hội: Dân chủ một
nguyên tắc
quản lý xã hội - nguyên tắc dân chủ.
Xét với những tư cách nêu trên, dân chủ phải được coi mục tiêu,
tiền đề, cũng như phương tiện để vươn tới tự do, giải phóng con người,
giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội.
Xét dân chủ với cách một chế độ nhà nước, thì đó là sự tổng hợp
những hình thức phương thức tchức quyền lực nhà nước, dân chủ luôn
gắn liền với phương thức phân phối lợi ích trong hội, dân chủ không chỉ
nhu cầu khát vọng nhân với cách cái riêng, dân chủ trở thành
khát vọng chung, cái chung phù hợp với hình thức tổ chức quyền lực chính
trị văn hoá cầm quyền, văn hoá chính trị thực thi quyền lực Nhà nước. Do
đó, dân chủ phạm tlịch sử, hình thành, phát triển mất đi cùng với
Nhà nước.
Xét về hội học, thì dân chủ một phạm trù vĩnh viễn, nhu cầu
bên trong, sự phản ánh phương thức, nhu cầu sống của con người,
quyền tự do, quyền tự quyết của con người, nó hình thành và phát triển cùng
với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người.
Xét trong quan hệ hội, dân chủ nói lên sự tôn trọng ý kiến, chính
kiến, lợi ích của người đối thoại, của đối tác. Dân chủ phản ánh trạng thái
tinh thần của hội, đặc điểm các quan hệ hội cao hơn dân chủ phản
ánh trình độ nhân văn của mt xã hội nhất định.
Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ:
Trên sở của chủ nghĩa Mac Lênin điều kiện cụ thể Việt
Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển dân chủ theo hướng:
Dân chủ một giá trị nhân loại chung: Dân chủ dân chủ
dân m
chủ.
Dân chủ là một thể chính trị, một chế độ hội: Chính quyền dân chủ
chính quyền do dân làm chủ, Chính phủ người đầy tớ trung thành
của nhân dân.
Hồ Chí Minh với sự mẫn cảm sâu sắc về chính trị, đồng thời đại
biểu tiêu biểu cho thân phận dân tộc lầm than, với skế thừa của văn hóa
Đông – Tây luôn đề cao nhân dân và cõi nhân dân là người sáng tạo nên lịch
sử dân tộc mình. Dân gốc phạm trù trung tâm trong toàn bộ nhận thức,
tưởng hành động của Hồ Chí Minh. Theo Hồ Chí Minh, trong nhà
nước dân chủ, quyền lực nhà nước do dân ủy thác có, nhân dân cử ra
Chính phủ trao quyền cho Chính phủ bảo vệ đất nước nhưng quyền vẫn
thuộc về dân. Nếu Chính phủ không làm tròn nhiệm vụ với dân thì dân bãi
miễn Chính phủ bất cứ lúc nào.
Dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh dân chủ thực sự, quan niệm
dân chủ Hồ Chí Minh dân chủ triệt để, dân chủ thực sự dựa trên nhận
thức phải thân dân, gần dân, yêu dân, kính trọng dân, học dân mới có thể to
nên sức mạnh thực sự của cách mạng, tạo ra động lực mạnh mẽ để phát triển
đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới.
Từ những cách tiếp cận trên, dân chủ thể hiểu: Dân chủ là một giá
trị hội phản ánh những quyền bản của con người, là phạm trù chính trị
gắn với các hình thức tổ chức n nước của giai cấp cầm quyền; một
phạm trù lịch sử gắn với quá trình ra đời, phát triển của lịch sử hội nhân
loại.
1.2. Sự ra đời, phát triển của dân chủ:
Với cách một hình thái nhà nước, một chế độ chính trị thì, theo
trình tự thời gian, trong lịch sử nhân loại, tính đến nay có 3 nền dân chủ:
Nền dân chủ chủ nô – chế độ chiếm hữulệ
Nền dân chủ tư sản – chế độ tư bản chủ nghĩa
Nền dân chủ XHCN chế độ hội chủ nghĩa (dân chủ sản)u
hỏi: Giữa chế độ chiếm hữu lệ chế độ bản chủ nghĩa chế độ nào?
Tại sao nó lại không được nhắc đến ở đây?
Câu hỏi gợi ý: Người đứng đầu ai? (vua) Họ quyền quyết định
những gì? (nắm toàn quyền) Điều gì sẽ xảy ra với những phần từ chống đối?
Trả lời: Chế độ độc tài chuyên chế phong kiến. do: trong thời
này, ý thức về dân chủ đấu tranh để thực hiện quyền làm chủ của người
dân đã không bước tiến đáng kể nào do họ xem việc tuân theo ý chí của
giai cấp thống trị là bổn phận của mình trước sức mạnh của đấng tối cao.
“Dân chủ nguyên thuỷ”/ “Dân chủ quân sự
Với cách một hình thái nhà nước, tính đến nay 3 nền dân chủ,
nhưng nhu cầu về dân chủ đã xuất hiện từ rất sớm trong hội tự quản của
cộng đồng thị tộc, bộ lạc. Trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ đã xuất hiện
hình thức manh nha của dân chủ Ph.Ăngghen gọi “dân chủ nguyên
thuỷ”/ “dân chủ quân sự”
Đặc trưng: bầu ra thủ lĩnh quân sự thông qua “đại hội nhân n”.
Trong “Đại hội nhân dân”, mọi người đều có quyền phát biểu và tham
gia quyết định bằng cách giơ tay hoặc hoan hô, đó “Đại hội nhân dân”
nhân dân quyền lực thật sự (nghĩa dân chủ), mặc trình độ sản
xuất còn kém phát triển.
“Dân chủ chủ nô
Nguyên nhân: trình độ lực lượng sản xuất phát triển => ra đời của
chế độ tư hữu/ giai cấp => nền “dân chủ chủ nô” ra đời.
Đặc trưng: Dân tham gia bầu ra Nhà nước
Mục đích: (theo quy định của giai cấp cầm quyền) giai cấp chủ
phần nào các công dân tự do (tăng lữ, thương gia, một số trí thức) >< đa số
còn lại là “nô lệ” – không được tham gia vào công việc nhà nước.
Bản chất: mang bản chất của giai cấp ch nô, thực hiện dân chủ cho
thiểu số, quyển lực của dân đã bó hẹp nhằm duy trì, bảo vệ, thực hiện lợi ích
của “dân”.
“Dân chủ tư sản”
Nguyên nhân: Giai cấp sản với những tưởng tiến bộ về tự do,
công bằng, dân chủ
Đặc trưng: có nhiều đảng chính trị của giai cấp tư sản mà các đảng lớn
(hoặc liên minh một đảng lớn với một hay một số đảng khác) thay nhau nắm
quyền lực thông qua bầu cử.
Mục đích: những người nắm giữ tư liệu sản xuất thiểu số so với đại
đa số nhân dân lao động
Bản chất: mang bản chất của giai cấp sản, lợi ích của giai cấp
sản đối lập với lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Cơ sở kinh tế: chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
“Dân chủ xã hội chủ nghĩa”
Nguyên nhân: Cách mạng T10 Nga thắng lợi => thời đại mới: thời đại
quá độ từ chủ nghĩa bản lên chủ nghĩa hội, nhân dân lao động nhiều
quốc gia giành được quyền làm chủ nhà nước hội, thiết lập Nhà nước
công nông
Đặc trưng: thực hiện quyền lực của nhân dân xây dựng nhà nước dân chủ
thực sự, dân làm chủ nhà nước hội, bảo vệ quyền lợi cho đại đa số
nhân dân
Mục đích: đại đa số nhân dân lao động
Bản chất: mang bản chất của giai cấp công nhân, phục vụ lợi ích cho đại đa
số Cơ sở kinh tế: công hữu hoá các tư liệu sản xuất chyếu.
DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGA
QUÁ TRÌNH RA ĐỜI CỦA NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Đấu tranh dân chủ quá trình lâu dài, phức tạp giá trị của nền dân
chủ tư sản chưa phải hoàn thiện nhất => xuất hiện nền dân chủ mới, cao hơn
dân chủ tư sản: dân chủ vô sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa.
DCXHCN được phôi thai từ đấu tranh giai cấp Pháp Công
Pari 1871, tuy nhiên ch đến khi Cách mạng tháng 10 Nga thành công
+ sự ra đời của nhà nước hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới
(1917), dân chủ xã hội chủ nghĩa mới chính thức xác lập.
Đánh dấu bước phát triển mới về chất của dân ch
Theo Mác Lênin: Giai cấp vô sản không thể hoàn thành cuộc Cách
mạng hội chủ nghĩa nếu họ không được chuẩn bị để tiến tới cuộc Cách
mạng đó thông qua cuộc đấu tranh dân chủ => chủ nghĩa hội không thể
duy trì và thắng lợi nếu không thực hiện đầy đủ.
Quá trình phát triển: từ thấp đến cao, chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, được
kế thừa những giá trị của nền dân chủ trước đó ( dân chủ sản), đồng thời
còn được bổ sung và làm u sắc thêm những giá trị của nền dân chủ mới.
Nguyên tắc: không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ giải
phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc
quản nhà nước, quản hội. Nhưng càng hoàn thiện bao nhiêu, nền
DCXHCN lại càng tự tiêu vong bấy nhiêu => do tính chính trị của dân chủ
sẽ mất đi , tạo điều kiện để nhân dân tham gia ngày càng đông đảo và ngày
càng có ý nghĩa quyết định vào sự quản lý của nhà nước, quản lý xã hội.
Dân chủ trở thành 1 thói quen, 1 tập quán trong sinh hoạt xã hội
và không còn tồn tại như 1 thể chế nhà nước, 1 chế độ mất đi tính chính trị
Tuy nhiên, đây quá trình lâu dài, khi hội đạt trình độ phát
triển rất cao, hội không còn phân chia giai cấp => xã hội cộng sản chủ
nghĩa đạt tới mức độ hoàn thiện => DCXHCN với cách 1 chế độ nhà
nước cũng tiêu vong, không còn nữa.
Ta hiểu: DC XHCN nền dân chủ cao hơn về chất so với nền dân
chủ trong lịch sử nhân loại, nền dân chủ đó, mọi quyền lực thuộc
về nhân dân, dân chủ dân làm chủ; dân chủ pháp luật nằm trong sự
thống nhất biện chứng; được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền hội
chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Lưu ý:
Sự ra đời của nền DCXHCN mới chỉ trong 1 thời gian ngắn: Nước
xuất phát điểm kinh tế, hội thấp: thường xuyên bị kẻ thù tấn công, gây
chiến tranh => mức độ dân chủ còn nhiều hạn chếSự ra đời của nền dân chủ
sản thời gian cả mấy trăm năm lại hầu hết các nước phát triển (do
điều kiện khách quan, chủ quan)
Chủ nghĩa bản đã nhiều lần điều chỉnh về hội để tồn tại
thích nghi: quyền con người đã được quan tâm 1 mức độ nhất định ( tuy
nhiên bản chất vẫn không thay đổi)
Nền dân chủ sản nhiều tiến bộ, song vẫn bị hạn chế bởi bản
chất của chủ nghĩa tư bản
Để chế độ DCXHCN thực sự quyền lực thuộc về nhân n,
ngoài yếu tố giai cấp ng nhân lãnh đạo thông qua Đảng Cộng sản (yếu t
quan trọng nhất), còn cần nhiều yếu tố như trình độ dân trí, xã hội công dân,
việc tạo dựng cơ chế pháp luật đảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền làm chủ
nhà nước quyền tham gia vào các quyết sách của nhà nước, điều kiện vật
chất để thực thi dân chủ.
BẢN CHẤT CỦA NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Bản chất chính tr
-Mang bản chất của giai cấp công nhân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng Sản
Tại sao lại phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng? bởi vì Đảng đề xuất
đường lối chủ trương cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó
vấn đề dân chủ.Vì thế việc thực thi dân chủ cần được sự lãnh đạo của
Đảng để đảm bảo nền dân chủ được thực hiện đúng định hướng mang lại
hiệu quả cao
- Thực hiện quyền lực thuộc về nhân dân, thể hiện tính nhân dân rộng
rãi tính dân tộc sâu sắc: Mặc nền DCXHCN được hình thành dựa vào
giai cấp tiên phong lãnh đạo toàn bộ hội chính giai cấp công nhân,
Đảng tiên phong của giai cấp công nhân chính Đảng Cộng Sản. Nhưng
đây ĐCS không chỉ thực hiện dân chủ đối với giai cấp công nhân, đối với
giai cấp của mình, bảo vệ lợi ích của giai cấp của mình; Đảng của
những người công nhân khi thực hiện mục tiêu xây dựng nền dân chủ
XHCN còn mong muốn thực hiện quyền làm chủ và phát huy quyền làm chủ
cao nhất cho tất cả mọi người dân trong hội, đặc biệt không chỉ gccn,
còn tất cả c tầng lớp nhân dân lao động khác, đảm bảo đem lại quyền
bình đẳng cho số đông trong xã hội. Biểu hiện quyền làm chủ trong chính trị
đây, thể nhìn thấy sự tương tác của công dân Nhà Nước thông qua
hai nh thức- dân chủ trực tiếp dân chủ gián tiếp. Một số hành động
được biểu hiện cụ thể trong lĩnh vực chính trị thông qua hoạt động bầu cử,
ứng cử của công dân, thông qua việc công dân sẽ tham gia vào quản các
hoạt động của Nhà Nước, tham gia vào việc bãi miễn các đại biểu do
nhân dân cử ra, thậm chí cuối cùng nhân dân tham gia vào việc giám sát
các hoạt động khiếu nại, tố cáo phê phán, lên án những sai trái Nhà
nước đã gây ra.
Do vậy, nền dân chủ XHCN khác (về chất) so với nền dân chủ sản
Bản chất kinh tế
-Giữ vai trò chủ đạo trong nền dân chủ XHCN là chế độ công hữu về liệu
sản xuất. Trong đó, toàn bộ các yếu tố vật chất của XH sẽ do đại diện Nhà
Nước XHCN quản lí, thành phần kinh tế chủ đạo vẫn kinh tế Nhà
Nước và kinh tế tập thể. Điều đó đã đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của
lực lượng sản xuất dựa trên sở khoa học -công nghệ hiện đại nhằm thỏa
mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất tinh thần của toàn thể nhân
dân lao động.
-Dân chủ XHCN được biểu hiện chế độ phân phối lợi ích theo kết
quả lao động chủ yếu, đó được hiểu là sự đảm bảo về lợi ích kinh tế, phải
coi lợi ích kinh tế của người lao động là động lực cơ bản nhất. Lao động việc
làm phân phối tương ứng với kết quả lao động nội dung kinh tế của
dân chủ, đây cũng nội dung quyền dân chủ được thể hiện một cách
rộng rãi, trực tiếp. Nhà nước sẽ cố gắng để các công dân, cá thể trong xã hội
thể tự do lựa chọn ngành nghề phát triển của mình, có thể phát huy quyền
làm chủ của mình đối với liệu sản xuất chủ yếu của XH, quyền tự
do hơn nữa bình đẳng với nhau trong việc tiếp cận của cải các liệu
sản xuất chủ đạo của XH, hưởng bình đẳng trong phân phối các của cải này.
Bản chất tư tưởng - văn hóa - xã hội
Bản chất văn hóa- tư tưởng
Nền dân chủ XHCN lấy hệ tư tưởng Mác-Lê Nin -hệ tư tưởng của giai
cấp công nhân làm kim chỉ nam đối với mọi hình thái ý thức hội khác
trong xã hội mới
Ngoài ra, chúng ta còn kế thừa những giá trị tiến bộ của văn hóa nhân
loại cũng như kế thừa những giá trị truyền thống của văn hóa Việt Nam từ
đó để tạo nên quyền làm chủ của người dân trong lĩnh vực VHTT. Nhân dân
chính chủ thể sáng tạo ra các giá trị văn hóa của người Việt hiện nay
cũng chính nhân dân là người thụ hưởng những giá trị đó. Cụ thể hơn nữa là
nhân dân quyền được lựa chọn các tôn giáo tín ngưỡng mình theo
hoặc không theo, nhân dân quyền được sáng tạo văn hóa nghệ thuật theo
mong muốn ý muốn của mình; nhân dân quyền biểu đạt quyền tự do
ngôn luận. tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, tự do báo chí. Đấy những
quyền cơ bản của công dân trên lĩnh vực VHTT
Bản chất xã hội:
Kết hợp hài hòa về lợi ích giữa cá nhân , tập thể và lợi ích của tàn xã hội
Nền dân chủ XHCN động viên, thu hút mọi tiềm năng sáng tạo, tính tích cực
xã hội của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới
KẾT LUẬN: Nền dân chủ XHCN rộng nhất các nền dân chủ
khác như dân chủ chủ nô, dân chủ sản,..chỉ phục tùng ý chí quyền lợi
của giai cấp thống trị thông qua việc thực thi những thiết chế lợi cho giai
cấp cầm quyền. Ngược lại, nền dân chủ XHCN khẳng định đảm bảo
quyền làm chủ cho tất cả mọi công dân.
SO SÁNH DÂN CHỦ HỘI CHỦ NGHĨA DÂN CH
TƯ SẢN:
1/ Dân chủ XHCN nền dân chủ mang bản chất của giai cấp công
nhân, là nền dân chủ cho đại đa số và của đại đa số nhân dân lao động.
Để tiến tới một hội không còn khác biệt vgiai cấp Chủ tịch HCM nói
rằng: Dân chủ XHCN VN phải là: tất cả mọi quyền lực của nhân dân,
tất cả mọi sức mạnh đều nơi dân, tất cả lợi ích đều nhân dân.” vậy,
dân chủ XHCN vừa mang bản chất giai cấp công nhân, vừa tính n tộc
sâu sắc và tính nhân dân rộng rãi.
Còn dân chủ tư sản nền dân chủ mang bản chất của giai cấp tư sản, nền
dân chủ cho thiểu số của giai cấp bóc lột.
2/ Dân chủ XHCN nền dân chủ do ĐCS lãnh đạo, nhất nguyên
về chính trị, ĐCS chính người đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân,
của nhân dân lao động của cả dân tộc. Đảng đó được trang bị bởi luận
Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Còn dân chủ tư sản là nền dân chủ đa đảng.
3/ Dân chủ XHCN được thực hiện bằng hệ thống tổ chức phức tạp của
nhiều yếu tố nhưng trước hết được thực hiện chủ yếu bằng Nhà ớc
thông qua Nhà nước. Chức năng của Nhà nước là thể chế hoá đường lối, chủ
trương, Nghị quyết, Văn kiện của Đảng thành pháp luật, chính sách của Nhà
nước. Nhà nước phải đảm bảo cho tất cả mọi người dân bình đẳng về quyền
lợi và nghĩa vụ trước pháp luật.
Dân chủ tư sản cũng thực hiện bằng nhà nước nhưng Nhà nước ở đây không
phải là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
4/ Quy luật bản của sự phát triển dân chủ XHCN không ngừng
mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ giải phóng cho những người lao động,
thu hút họ tham gia tự giác vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.
Điều này ở nền dân chủ tư sản hoàn toàn không .
5/ Dân chủ XHCN nền dân chủ của đa số đa số. Còn nền dân
chủ tư sản nền dân chủ của thiểu số và cho thiểu số bóc lột, có đặc quyền,
đặc lợi và muốn dành thêm đặc quyền đặc lợi.
6/ Dân chủ XHCN dân chủ toàn diện-dân chủ trên tất cả các lĩnh
vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,…
Về kinh tế: nhân dân lao động thực sự TLSX chủ yếu, quyền
tham gia vào quá trình sx và phân phối sản phẩm.
Về chính trị: Nhân dân quyền tham gia làm chủ Nhà nước,
quyền giới thiệu đại biểu vào chính quyền các cấp, đóng góp ý kiến xd pháp
luật…
Về văn hóa: Nhân dân tất cả những điều kiện để phát triển toàn
diện cá nhân
Về hội: Đảm bảo lợi ích chung của quốc gia, quan hệ giữa các
g/c,
các dân tộc theo ng tắc bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
Tóm lại, qua các đặc điểm khác biệt của dân chủ XHCN với dân chủ tư sản
chúng ta nhận thấy rằng dân chủ XHCN khác về “chất” so với dân chủ
sản
LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM:
Khác với các nên dân chủ đã tồn tại trước đó trong lịch sử, nên dân chủ
hội chủ nghĩa không thể ra đời, phát triển một cách tự phát. Nó không thể tự
nhiên xuất hiện hoàn thiện ngay sau sự kiện giai cấp công nhân nhân
dân lao động giành được chính quyền. Xây dựng nên dân chủ xã hội chủ
nghĩa nhiệm vụ lịch sử mới mẻ, chưa tiền lệ. Những thăng trầm của
chủ nghĩa hội hiện thực các nước trên thế giới trong gần 100 năm qua
đã cho thấy tính dích dắc, phức tạp của tiến trình xây dựng nền dân chủ
hội chủ nghĩa. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, sức sống thực tế của dân chủ
hội chủ nghĩa trước hết phụ thuộc nhận thức hành động của đảng
cộng sản cầm quyền.
Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, mọi quốc gia, dân tộc nhất định sẽ
đi tới chủ nghĩa hội chủ nghĩa cộng sản. Cách mạng Tháng Mười Nga
thành công, giai cấp công nhân nhân dân lao động giành chính quyền đã
đánh dâu sra đời của nền dân chủ hội chủ nghĩa. Chế độ dân chủ nhân
dân nước ta được xác lập sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đây
nền dân chủ con người thành viên trong hội với cách công dân,
cách của người làm chủ. Quyền làm chủ của nhân dân đã được chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định: Nước ta nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều
dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của n. Công cuộc đổi mới, xây dựng
trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc công việc của
dân.Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ
Trung ương đến do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành lực
lượng đều ở dân”
Đến năm 1976, tên ớc được đổi thành Cộng hòa hội chủ nghĩa
Việt Nam, nhưng trong các Văn kiện Đảng hầu như chưa sdụng cụm từ
“dân chủ hội chủ nghĩa” thường nêu quan điểm xây dựng chế độ
làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa” gắn với “ nắm vững chuyên chính vô sản”.
Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa dân chủ xã hội chủ
nghĩa và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cũng chưa được xác định rõ
ràng. Việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đặc biệt thực hiệnn
chủ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội Việt Nam như thế nào cho
phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa, đạo đức của xã hội Việt Nam,
gắn với hoàn thiện hệ thống pháp luật, kỷ cương cũng chưa được đặt ra một
cách cụ thể, thiết thực. Nhiều lĩnh vực liên quan mật thiết đến dân chủ xã hội
chủ nghĩa chưa được đặt đúng vị trí giải quyết đúng để thúc đẩy việc xây
dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
nước ta, từ năm 1986, bằng việc khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi
mới, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục thể hiện ttuệ, bản lĩnh trách
nhiệm của mình trước những vấn đề hệ trọng của Tổ quốc, nhân dân. Việc
xây dựng nền dân chủ hội chủ nghĩa trở thành một trong những mối quan
tâm thưởng trực trong nhận thức hành động của Đảng. Theo đó, dân chủ
hóa các lĩnh vực đời sống xã hội luôn được Đảng ta khẳng định là một trong
những mục tiêu, nhiệm vụ bản, trọng tâm của công cuộc đổi mới.
duy, nhận thức mới của Đảng ta về dân ch hội chủ nghĩa chđạo quá
trình dân chủ hóa đời sống hội, thực tiễn dân chủ hóa lại căn cứ,
sở để kiểm nghiệm, bổ sung nhân thức về dân chủ hội chủ nghĩa nhận
thức về xây dựng nền dân chủ hội chủ nghĩa. Trong đại hội Đảng lần thứ
VI (1986) đã nêu lên bốn bài học lớn, trong đó bài học: Trong toàn bộ
hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tưởng lấy dân làm gốc”, xây
dựng phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”. Văn kiện nhấn
mạnh xóa bỏ nhận thức sai lầm coi công tác quần chúng chỉ biện pháp
để tổ chức, động viên nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách. Đối
với những chủ trương quan hệ trực tiếp tới đời sống nhân dân trên phạm
vi cả nước cũng như các địa phương phải trưng cầu ý kiến của nhân dân
trước khi quyết định”.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời quá độ lên chủ nghĩa
hội của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra những nội dung khái quát liên
quan đến nhà nước pháp quyền: Đcao vai trò tối thượng của Hiến pháp
pháp luật; đề cao quyền lợi nghĩa vụ của công dân, đảm bảo quyền con
người; tổ chức bộ máy vừa đảm bảo tập trung, thống nhất, vừa sự phân
công giữa các nhánh quyền lực, phân cấp quyền hạn và trách nhiệm giữa các
cấp chính quyền nhằm đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân, tránh lạm
quyền. Bên cạnh đó, về việc phát huy dân chủ trong Đảng, Cương lĩnh cũng
đã xác định: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và
tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh
đạo snghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa nước ta, Đảng phải thường
xuyên tự đổi mới, tchỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực
lãnh đạo.
Từ thực tiễn nhận thức xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ
nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ ở
nước ta có một số đặc điểm sau:
-Xây dựng nhà nước do nhân dân lao động làm củ, đó Nhà nước
của dân, do dân, vì dân.
-Nhà nước được tổ chức dựa trên cơ sở của Hiến pháp và pháp luật.
-Quyền lực nhà nước thống nhất, sự phân công ràng, phối
hợp và kiểm soát giữa các cơ quan: lập – hành và tư pháp
-Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
-Nhà nước tôn trọng quyền con người, coi con người là chủ thể, trung
tâm của sự phát triển.-Bộ máy nnước được tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc tập trung dân chủ, phối hợp kiểm qoát lẫn nhau nhưng vẫn
bảo đảm quyền lực là thống nhất.
Như vậy, những đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam vừa thể hiện được tinh thần bản của một nhà nước pháp
quyền nói chung, vừa thể hiện sự riêng biệt với các nhà nước pháp quyền
khác mang bản chất của giai cấp công nhân, phục vụ lợi ích cho nhân dân;
nhà nước là công cụ chủ yếu để Đảng định hướng đi lên chủ nghĩa xã hi.
Chúng ta có thể thấy được việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
-Xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng hỗi
chủ nghĩa tạo ra sở kinh tế vững chắc cho xây dựng dân chủ hội chủ
nghĩa
-Xây dựng Đảng trong sạch, vũng mạnh với tu cách điều kiện tiên
quyết để xây dựng nên xã hội chủ nghĩa Việt Nam
-Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh với
cách điều kiện để thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa
-Nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị - hội trong y dựng
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
-Xây dựng từng bước hoàn thiện các hệ thống giám sát, phản biện
xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Vậy tiếp tục xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền chủ nghĩa
hội ở Việt Nam như thế nào?
-Xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa dưới sự lãnh
đạo của Đảng
-Cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà ớc
-Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức về bản lĩnh chính trị, phẩm
chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, điều hành quản đất nước. Phải chính
sách đãi ngộ những cán bộ tốt đồng thời cũng phải xây dựng được chế
loại bỏ, miễn nhiễm người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỉ luật.
-Đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm.

Preview text:

NHÓM 2 CHỦ NGHĨA KHOA HỌC XÃ HỘI:Vấn đề Dân Chủ
DÂN CHỦ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DÂN CHỦ Quan niệm về dân chủ:
Từ việc nghiên cứu các chế độ dân chủ trong lịch sử và thực tiễn lãnh
đạo cách mạng chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng,
dân chủ là sản phẩm, thành quả của quá trình đấu tranh giai cấp cho những
giá trị tiến bộ của nhân loại, là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp
cầm quyền, là một trong những nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội. 
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin:
Về phương diện quyền lực: Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân
dân là chủ nhân của nhà nước. Dân chủ là quyền lợi của nhân dân, là quyền
lực nhà nước thuộc sở hữu của nhân dân, xã hội; bộ máy nhà nước phải vì
nhân dân, vì xã hội mà phục vụ.
Trên phương diện chế độ xã hội và trong lĩnh vực chính trị: Dân chủ
là một hình thức hay hình thái nhà nước, là chính thể dân chủ hay chế độ dân chủ.
Trên phương diện tổ chức và quản lý xã hội: Dân chủ là một nguyên tắc
quản lý xã hội - nguyên tắc dân chủ.
Xét với những tư cách nêu trên, dân chủ phải được coi là mục tiêu,
tiền đề, cũng như là phương tiện để vươn tới tự do, giải phóng con người,
giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội.
Xét dân chủ với tư cách là một chế độ nhà nước, thì đó là sự tổng hợp
những hình thức và phương thức tổ chức quyền lực nhà nước, dân chủ luôn
gắn liền với phương thức phân phối lợi ích trong xã hội, dân chủ không chỉ
là nhu cầu khát vọng cá nhân với tư cách là cái riêng, mà dân chủ trở thành
khát vọng chung, cái chung phù hợp với hình thức tổ chức quyền lực chính
trị văn hoá cầm quyền, văn hoá chính trị và thực thi quyền lực Nhà nước. Do
đó, dân chủ là phạm trù lịch sử, hình thành, phát triển và mất đi cùng với Nhà nước.
Xét về xã hội học, thì dân chủ là một phạm trù vĩnh viễn, là nhu cầu
bên trong, là sự phản ánh phương thức, nhu cầu sống của con người, là
quyền tự do, quyền tự quyết của con người, nó hình thành và phát triển cùng
với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người.
Xét trong quan hệ xã hội, dân chủ nói lên sự tôn trọng ý kiến, chính
kiến, lợi ích của người đối thoại, của đối tác. Dân chủ phản ánh trạng thái
tinh thần của xã hội, đặc điểm các quan hệ xã hội và cao hơn dân chủ phản
ánh trình độ nhân văn của một xã hội nhất định. 
Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ:
Trên cơ sở của chủ nghĩa Mac – Lênin và điều kiện cụ thể ở Việt
Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển dân chủ theo hướng:
Dân chủ là một giá trị nhân loại chung: Dân chủ là dân là chủ và là dân làm chủ.
Dân chủ là một thể chính trị, một chế độ xã hội: Chính quyền dân chủ
là chính quyền do dân làm chủ, mà Chính phủ là người đầy tớ trung thành của nhân dân.
Hồ Chí Minh với sự mẫn cảm sâu sắc về chính trị, đồng thời là đại
biểu tiêu biểu cho thân phận dân tộc lầm than, với sự kế thừa của văn hóa
Đông – Tây luôn đề cao nhân dân và cõi nhân dân là người sáng tạo nên lịch
sử dân tộc mình. Dân là gốc là phạm trù trung tâm trong toàn bộ nhận thức,
tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh. Theo Hồ Chí Minh, trong nhà
nước dân chủ, quyền lực nhà nước là do dân ủy thác mà có, nhân dân cử ra
Chính phủ và trao quyền cho Chính phủ bảo vệ đất nước nhưng quyền vẫn
thuộc về dân. Nếu Chính phủ không làm tròn nhiệm vụ với dân thì dân bãi
miễn Chính phủ bất cứ lúc nào.
Dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh là dân chủ thực sự, quan niệm
dân chủ ở Hồ Chí Minh là dân chủ triệt để, dân chủ thực sự dựa trên nhận
thức phải thân dân, gần dân, yêu dân, kính trọng dân, học dân mới có thể tạo
nên sức mạnh thực sự của cách mạng, tạo ra động lực mạnh mẽ để phát triển
đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới. 
Từ những cách tiếp cận trên, dân chủ có thể hiểu: Dân chủ là một giá
trị xã hội phản ánh những quyền cơ bản của con người, là phạm trù chính trị
gắn với các hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền; là một
phạm trù lịch sử gắn với quá trình ra đời, phát triển của lịch sử xã hội nhân loại.
1.2. Sự ra đời, phát triển của dân chủ:
Với tư cách là một hình thái nhà nước, một chế độ chính trị thì, theo
trình tự thời gian, trong lịch sử nhân loại, tính đến nay có 3 nền dân chủ:
Nền dân chủ chủ nô – chế độ chiếm hữu nô lệ
Nền dân chủ tư sản – chế độ tư bản chủ nghĩa
Nền dân chủ XHCN – chế độ xã hội chủ nghĩa (dân chủ vô sản)Câu
hỏi: Giữa chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ tư bản chủ nghĩa là chế độ nào?
Tại sao nó lại không được nhắc đến ở đây?
Câu hỏi gợi ý: Người đứng đầu là ai? (vua) Họ có quyền quyết định
những gì? (nắm toàn quyền) Điều gì sẽ xảy ra với những phần từ chống đối?
Trả lời: Chế độ độc tài chuyên chế phong kiến. Lí do: trong thời kì
này, ý thức về dân chủ và đấu tranh để thực hiện quyền làm chủ của người
dân đã không có bước tiến đáng kể nào do họ xem việc tuân theo ý chí của
giai cấp thống trị là bổn phận của mình trước sức mạnh của đấng tối cao.
“Dân chủ nguyên thuỷ”/ “Dân chủ quân sự”
Với tư cách là một hình thái nhà nước, tính đến nay có 3 nền dân chủ,
nhưng nhu cầu về dân chủ đã xuất hiện từ rất sớm trong xã hội tự quản của
cộng đồng thị tộc, bộ lạc. Trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ đã xuất hiện
hình thức manh nha của dân chủ mà Ph.Ăngghen gọi là “dân chủ nguyên
thuỷ”/ “dân chủ quân sự”
Đặc trưng: bầu ra thủ lĩnh quân sự thông qua “đại hội nhân dân”.
Trong “Đại hội nhân dân”, mọi người đều có quyền phát biểu và tham
gia quyết định bằng cách giơ tay hoặc hoan hô, ở đó “Đại hội nhân dân” và
nhân dân có quyền lực thật sự (nghĩa là có dân chủ), mặc dù trình độ sản
xuất còn kém phát triển. “Dân chủ chủ nô”
Nguyên nhân: trình độ lực lượng sản xuất phát triển => sư ra đời của
chế độ tư hữu/ giai cấp => nền “dân chủ chủ nô” ra đời.
Đặc trưng: Dân tham gia bầu ra Nhà nước
Mục đích: (theo quy định của giai cấp cầm quyền) giai cấp chủ nô và
phần nào các công dân tự do (tăng lữ, thương gia, một số trí thức) >< đa số
còn lại là “nô lệ” – không được tham gia vào công việc nhà nước.
Bản chất: mang bản chất của giai cấp chủ nô, thực hiện dân chủ cho
thiểu số, quyển lực của dân đã bó hẹp nhằm duy trì, bảo vệ, thực hiện lợi ích của “dân”. “Dân chủ tư sản”
Nguyên nhân: Giai cấp tư sản với những tư tưởng tiến bộ về tự do, công bằng, dân chủ
Đặc trưng: có nhiều đảng chính trị của giai cấp tư sản mà các đảng lớn
(hoặc liên minh một đảng lớn với một hay một số đảng khác) thay nhau nắm
quyền lực thông qua bầu cử.
Mục đích: những người nắm giữ tư liệu sản xuất – thiểu số so với đại
đa số nhân dân lao động
Bản chất: mang bản chất của giai cấp tư sản, lợi ích của giai cấp tư
sản đối lập với lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Cơ sở kinh tế: chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
“Dân chủ xã hội chủ nghĩa”
Nguyên nhân: Cách mạng T10 Nga thắng lợi => thời đại mới: thời đại
quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân lao động ở nhiều
quốc gia giành được quyền làm chủ nhà nước và xã hội, thiết lập Nhà nước công – nông
Đặc trưng: thực hiện quyền lực của nhân dân – xây dựng nhà nước dân chủ
thực sự, dân làm chủ nhà nước và xã hội, bảo vệ quyền lợi cho đại đa số nhân dân
Mục đích: đại đa số nhân dân lao động
Bản chất: mang bản chất của giai cấp công nhân, phục vụ lợi ích cho đại đa
số Cơ sở kinh tế: công hữu hoá các tư liệu sản xuất chủ yếu.
DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
QUÁ TRÌNH RA ĐỜI CỦA NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Đấu tranh dân chủ là quá trình lâu dài, phức tạp và giá trị của nền dân
chủ tư sản chưa phải hoàn thiện nhất => xuất hiện nền dân chủ mới, cao hơn
dân chủ tư sản: dân chủ vô sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa.
DCXHCN được phôi thai từ đấu tranh giai cấp ở Pháp và Công xã
Pari 1871, tuy nhiên chỉ đến khi Cách mạng tháng 10 Nga thành công
+ sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới
(1917), dân chủ xã hội chủ nghĩa mới chính thức xác lập.
 Đánh dấu bước phát triển mới về chất của dân chủ
Theo Mác – Lênin: Giai cấp vô sản không thể hoàn thành cuộc Cách
mạng xã hội chủ nghĩa nếu họ không được chuẩn bị để tiến tới cuộc Cách
mạng đó thông qua cuộc đấu tranh dân chủ => chủ nghĩa xã hội không thể
duy trì và thắng lợi nếu không thực hiện đầy đủ.
Quá trình phát triển: từ thấp đến cao, chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, được
kế thừa những giá trị của nền dân chủ trước đó ( dân chủ tư sản), đồng thời
còn được bổ sung và làm sâu sắc thêm những giá trị của nền dân chủ mới.
Nguyên tắc: không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ giải
phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc
quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Nhưng càng hoàn thiện bao nhiêu, nền
DCXHCN lại càng tự tiêu vong bấy nhiêu => do tính chính trị của dân chủ
sẽ mất đi , tạo điều kiện để nhân dân tham gia ngày càng đông đảo và ngày
càng có ý nghĩa quyết định vào sự quản lý của nhà nước, quản lý xã hội.
 Dân chủ trở thành 1 thói quen, 1 tập quán trong sinh hoạt xã hội
và không còn tồn tại như 1 thể chế nhà nước, 1 chế độ mất đi tính chính trị
Tuy nhiên, đây là quá trình lâu dài, khi xã hội đạt trình độ phát
triển rất cao, xã hội không còn phân chia giai cấp => xã hội cộng sản chủ
nghĩa đạt tới mức độ hoàn thiện => DCXHCN với tư cách là 1 chế độ nhà
nước cũng tiêu vong, không còn nữa.
Ta hiểu: DC XHCN là nền dân chủ cao hơn về chất so với nền dân
chủ có trong lịch sử nhân loại, là nền dân chủ mà ở đó, mọi quyền lực thuộc
về nhân dân, dân là chủ và dân làm chủ; dân chủ và pháp luật nằm trong sự
thống nhất biện chứng; được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Lưu ý:
Sự ra đời của nền DCXHCN mới chỉ trong 1 thời gian ngắn: Nước có
xuất phát điểm kinh tế, xã hội thấp: thường xuyên bị kẻ thù tấn công, gây
chiến tranh => mức độ dân chủ còn nhiều hạn chếSự ra đời của nền dân chủ
tư sản có thời gian cả mấy trăm năm lại ở hầu hết các nước phát triển (do
điều kiện khách quan, chủ quan)
Chủ nghĩa tư bản đã có nhiều lần điều chỉnh về xã hội để tồn tại và
thích nghi: quyền con người đã được quan tâm ở 1 mức độ nhất định ( tuy
nhiên bản chất vẫn không thay đổi)
 Nền dân chủ tư sản có nhiều tiến bộ, song nó vẫn bị hạn chế bởi bản
chất của chủ nghĩa tư bản
Để chế độ DCXHCN thực sự quyền lực thuộc về nhân dân,
ngoài yếu tố giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua Đảng Cộng sản (yếu tố
quan trọng nhất), còn cần nhiều yếu tố như trình độ dân trí, xã hội công dân,
việc tạo dựng cơ chế pháp luật đảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền làm chủ
nhà nước và quyền tham gia vào các quyết sách của nhà nước, điều kiện vật
chất để thực thi dân chủ.
BẢN CHẤT CỦA NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Bản chất chính trị
-Mang bản chất của giai cấp công nhân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản
Tại sao lại phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng? bởi vì Đảng đề xuất
đường lối và chủ trương cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó
có vấn đề dân chủ.Vì thế việc thực thi dân chủ cần được sự lãnh đạo của
Đảng để đảm bảo nền dân chủ được thực hiện đúng định hướng mang lại hiệu quả cao -
Thực hiện quyền lực thuộc về nhân dân, thể hiện tính nhân dân rộng
rãi và tính dân tộc sâu sắc: Mặc dù nền DCXHCN được hình thành dựa vào
giai cấp tiên phong lãnh đạo toàn bộ xã hội chính là giai cấp công nhân, mà
Đảng tiên phong của giai cấp công nhân chính là Đảng Cộng Sản. Nhưng ở
đây ĐCS không chỉ thực hiện dân chủ đối với giai cấp công nhân, đối với
giai cấp của mình, bảo vệ lợi ích của giai cấp của mình; mà Đảng của
những người công nhân khi thực hiện mục tiêu xây dựng nền dân chủ
XHCN còn mong muốn thực hiện quyền làm chủ và phát huy quyền làm chủ
cao nhất cho tất cả mọi người dân trong xã hội, đặc biệt không chỉ gccn, mà
còn tất cả các tầng lớp nhân dân lao động khác, đảm bảo đem lại quyền
bình đẳng cho số đông trong xã hội. Biểu hiện quyền làm chủ trong chính trị
ở đây, có thể nhìn thấy sự tương tác của công dân và Nhà Nước thông qua
hai hình thức- dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp. Một số hành động
được biểu hiện cụ thể trong lĩnh vực chính trị thông qua hoạt động bầu cử,
ứng cử của công dân, thông qua việc công dân sẽ tham gia vào quản lí các
hoạt động của Nhà Nước, tham gia vào việc bãi miễn các đại biểu mà do
nhân dân cử ra, thậm chí cuối cùng là nhân dân tham gia vào việc giám sát
các hoạt động khiếu nại, tố cáo và phê phán, lên án những sai trái mà Nhà nước đã gây ra.
☞ Do vậy, nền dân chủ XHCN khác (về chất) so với nền dân chủ tư sản Bản chất kinh tế
-Giữ vai trò chủ đạo trong nền dân chủ XHCN là chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất. Trong đó, toàn bộ các yếu tố vật chất của XH sẽ do đại diện Nhà
Nước XHCN quản lí, và thành phần kinh tế chủ đạo vẫn là kinh tế Nhà
Nước và kinh tế tập thể. Điều đó đã đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của
lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học -công nghệ hiện đại nhằm thỏa
mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động.
-Dân chủ XHCN được biểu hiện là chế độ phân phối lợi ích theo kết
quả lao động là chủ yếu, đó được hiểu là sự đảm bảo về lợi ích kinh tế, phải
coi lợi ích kinh tế của người lao động là động lực cơ bản nhất. Lao động việc
làm và phân phối tương ứng với kết quả lao động là nội dung kinh tế của
dân chủ, đây cũng là nội dung mà quyền dân chủ được thể hiện một cách
rộng rãi, trực tiếp. Nhà nước sẽ cố gắng để các công dân, cá thể trong xã hội
có thể tự do lựa chọn ngành nghề phát triển của mình, có thể phát huy quyền
làm chủ của mình đối với tư liệu sản xuất chủ yếu của XH, và có quyền tự
do hơn nữa và bình đẳng với nhau trong việc tiếp cận của cải và các tư liệu
sản xuất chủ đạo của XH, hưởng bình đẳng trong phân phối các của cải này.
Bản chất tư tưởng - văn hóa - xã hội
Bản chất văn hóa- tư tưởng
Nền dân chủ XHCN lấy hệ tư tưởng Mác-Lê Nin -hệ tư tưởng của giai
cấp công nhân làm kim chỉ nam đối với mọi hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới
Ngoài ra, chúng ta còn kế thừa những giá trị tiến bộ của văn hóa nhân
loại cũng như kế thừa những giá trị truyền thống của văn hóa Việt Nam từ
đó để tạo nên quyền làm chủ của người dân trong lĩnh vực VHTT. Nhân dân
chính là chủ thể sáng tạo ra các giá trị văn hóa của người Việt hiện nay và
cũng chính nhân dân là người thụ hưởng những giá trị đó. Cụ thể hơn nữa là
nhân dân có quyền được lựa chọn các tôn giáo tín ngưỡng mà mình theo
hoặc không theo, nhân dân có quyền được sáng tạo văn hóa nghệ thuật theo
mong muốn và ý muốn của mình; nhân dân có quyền biểu đạt quyền tự do
ngôn luận. tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, tự do báo chí. Đấy là những
quyền cơ bản của công dân trên lĩnh vực VHTT Bản chất xã hội:
Kết hợp hài hòa về lợi ích giữa cá nhân , tập thể và lợi ích của tàn xã hội
Nền dân chủ XHCN động viên, thu hút mọi tiềm năng sáng tạo, tính tích cực
xã hội của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới
KẾT LUẬN: Nền dân chủ XHCN là rộng nhất vì các nền dân chủ
khác như dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản,..chỉ phục tùng ý chí và quyền lợi
của giai cấp thống trị thông qua việc thực thi những thiết chế có lợi cho giai
cấp cầm quyền. Ngược lại, nền dân chủ XHCN khẳng định và đảm bảo
quyền làm chủ cho tất cả mọi công dân.
SO SÁNH DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ DÂN CHỦ TƯ SẢN:
1/ Dân chủ XHCN là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp công
nhân, là nền dân chủ cho đại đa số và của đại đa số nhân dân lao động.
Để tiến tới một xã hội không còn khác biệt về giai cấp Chủ tịch HCM nói
rằng: “ Dân chủ XHCN ở VN phải là: tất cả mọi quyền lực là của nhân dân,
tất cả mọi sức mạnh đều ở nơi dân, tất cả lợi ích đều vì nhân dân.” Vì vậy,
dân chủ XHCN vừa mang bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính dân tộc
sâu sắc và tính nhân dân rộng rãi.
Còn dân chủ tư sản là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp tư sản, là nền
dân chủ cho thiểu số của giai cấp bóc lột.
2/ Dân chủ XHCN là nền dân chủ do ĐCS lãnh đạo, nhất nguyên
về chính trị, ĐCS chính là người đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân,
của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng đó được trang bị bởi lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Còn dân chủ tư sản là nền dân chủ đa đảng.
3/ Dân chủ XHCN được thực hiện bằng hệ thống tổ chức phức tạp của
nhiều yếu tố nhưng trước hết được thực hiện chủ yếu là bằng Nhà nướcvà
thông qua Nhà nước. Chức năng của Nhà nước là thể chế hoá đường lối, chủ
trương, Nghị quyết, Văn kiện của Đảng thành pháp luật, chính sách của Nhà
nước. Nhà nước phải đảm bảo cho tất cả mọi người dân bình đẳng về quyền
lợi và nghĩa vụ trước pháp luật.
Dân chủ tư sản cũng thực hiện bằng nhà nước nhưng Nhà nước ở đây không
phải là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
4/ Quy luật cơ bản của sự phát triển dân chủ XHCN là không ngừng
mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ giải phóng cho những người lao động,
thu hút họ tham gia tự giác vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.
Điều này ở nền dân chủ tư sản hoàn toàn không có.
5/ Dân chủ XHCN là nền dân chủ của đa số và vì đa số. Còn nền dân
chủ tư sản là nền dân chủ của thiểu số và cho thiểu số bóc lột, có đặc quyền,
đặc lợi và muốn dành thêm đặc quyền đặc lợi.
6/ Dân chủ XHCN là dân chủ toàn diện-dân chủ trên tất cả các lĩnh
vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,…
Về kinh tế: nhân dân lao động thực sự có TLSX chủ yếu, có quyền
tham gia vào quá trình sx và phân phối sản phẩm.
Về chính trị: Nhân dân có quyền tham gia và làm chủ Nhà nước, có
quyền giới thiệu đại biểu vào chính quyền các cấp, đóng góp ý kiến xd pháp luật…
Về văn hóa: Nhân dân có tất cả những điều kiện để phát triển toàn diện cá nhân
Về xã hội: Đảm bảo lợi ích chung của quốc gia, quan hệ giữa các g/c,
các dân tộc theo ng tắc bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
Tóm lại, qua các đặc điểm khác biệt của dân chủ XHCN với dân chủ tư sản
chúng ta nhận thấy rằng dân chủ XHCN khác về “chất” so với dân chủ tư sản LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM:
Khác với các nên dân chủ đã tồn tại trước đó trong lịch sử, nên dân chủ xã
hội chủ nghĩa không thể ra đời, phát triển một cách tự phát. Nó không thể tự
nhiên xuất hiện và hoàn thiện ngay sau sự kiện giai cấp công nhân và nhân
dân lao động giành được chính quyền. Xây dựng nên dân chủ xã hội chủ
nghĩa là nhiệm vụ lịch sử mới mẻ, chưa có tiền lệ. Những thăng trầm của
chủ nghĩa xã hội hiện thực ở các nước trên thế giới trong gần 100 năm qua
đã cho thấy tính dích dắc, phức tạp của tiến trình xây dựng nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, sức sống thực tế của dân chủ
xã hội chủ nghĩa trước hết phụ thuộc và nhận thức và hành động của đảng cộng sản cầm quyền.
Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, mọi quốc gia, dân tộc nhất định sẽ
đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Cách mạng Tháng Mười Nga
thành công, giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành chính quyền đã
đánh dâu sự ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chế độ dân chủ nhân
dân ở nước ta được xác lập sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đây là
nền dân chủ mà con người là thành viên trong xã hội với tư cách công dân,
tư cách của người làm chủ. Quyền làm chủ của nhân dân đã được chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định: Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì
dân. Bao nhiêu quyền hạn đều là của dân. Công cuộc đổi mới, xây dựng là
trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của
dân.Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ
Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở dân”
Đến năm 1976, tên nước được đổi thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, nhưng trong các Văn kiện Đảng hầu như chưa sử dụng cụm từ
“dân chủ xã hội chủ nghĩa” mà thường nêu quan điểm “ xây dựng chế độ
làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa” gắn với “ nắm vững chuyên chính vô sản”.
Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa dân chủ xã hội chủ
nghĩa và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cũng chưa được xác định rõ
ràng. Việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là thực hiện dân
chủ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như thế nào cho
phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa, đạo đức của xã hội Việt Nam,
gắn với hoàn thiện hệ thống pháp luật, kỷ cương cũng chưa được đặt ra một
cách cụ thể, thiết thực. Nhiều lĩnh vực liên quan mật thiết đến dân chủ xã hội
chủ nghĩa chưa được đặt đúng vị trí và giải quyết đúng để thúc đẩy việc xây
dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Ở nước ta, từ năm 1986, bằng việc khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi
mới, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục thể hiện rõ trí tuệ, bản lĩnh và trách
nhiệm của mình trước những vấn đề hệ trọng của Tổ quốc, nhân dân. Việc
xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trở thành một trong những mối quan
tâm thưởng trực trong nhận thức và hành động của Đảng. Theo đó, dân chủ
hóa các lĩnh vực đời sống xã hội luôn được Đảng ta khẳng định là một trong
những mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản, trọng tâm của công cuộc đổi mới. Tư
duy, nhận thức mới của Đảng ta về dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ đạo quá
trình dân chủ hóa đời sống xã hội, và thực tiễn dân chủ hóa lại là căn cứ, cơ
sở để kiểm nghiệm, bổ sung nhân thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhận
thức về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong đại hội Đảng lần thứ
VI (1986) đã nêu lên bốn bài học lớn, trong đó có bài học: “ Trong toàn bộ
hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “ lấy dân làm gốc”, xây
dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”. Văn kiện nhấn
mạnh “ xóa bỏ nhận thức sai lầm coi công tác quần chúng chỉ là biện pháp
để tổ chức, động viên nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách. Đối
với những chủ trương có quan hệ trực tiếp tới đời sống nhân dân trên phạm
vi cả nước cũng như ở các địa phương phải trưng cầu ý kiến của nhân dân
trước khi quyết định”.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã
hội của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra những nội dung khái quát liên
quan đến nhà nước pháp quyền: Đề cao vai trò tối thượng của Hiến pháp và
pháp luật; đề cao quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, đảm bảo quyền con
người; tổ chức bộ máy vừa đảm bảo tập trung, thống nhất, vừa có sự phân
công giữa các nhánh quyền lực, phân cấp quyền hạn và trách nhiệm giữa các
cấp chính quyền nhằm đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân, tránh lạm
quyền. Bên cạnh đó, về việc phát huy dân chủ trong Đảng, Cương lĩnh cũng
đã xác định: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và
tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh
đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Đảng phải thường
xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo.
Từ thực tiễn nhận thức và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ ở
nước ta có một số đặc điểm sau:
-Xây dựng nhà nước do nhân dân lao động làm củ, đó là Nhà nước
của dân, do dân, vì dân.
-Nhà nước được tổ chức dựa trên cơ sở của Hiến pháp và pháp luật.
-Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rõ ràng, phối
hợp và kiểm soát giữa các cơ quan: lập – hành và tư pháp
-Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
-Nhà nước tôn trọng quyền con người, coi con người là chủ thể, trung
tâm của sự phát triển.-Bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc tập trung dân chủ, phối hợp và kiểm qoát lẫn nhau nhưng vẫn
bảo đảm quyền lực là thống nhất.
Như vậy, những đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam vừa thể hiện được tinh thần cơ bản của một nhà nước pháp
quyền nói chung, vừa thể hiện sự riêng biệt với các nhà nước pháp quyền
khác mang bản chất của giai cấp công nhân, phục vụ lợi ích cho nhân dân;
nhà nước là công cụ chủ yếu để Đảng định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Chúng ta có thể thấy được việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
-Xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hỗi
chủ nghĩa tạo ra cơ sở kinh tế vững chắc cho xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa
-Xây dựng Đảng trong sạch, vũng mạnh với tu cách điều kiện tiên
quyết để xây dựng nên xã hội chủ nghĩa Việt Nam
-Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh với tư
cách điều kiện để thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa
-Nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
-Xây dựng và từng bước hoàn thiện các hệ thống giám sát, phản biện
xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Vậy tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam như thế nào?
-Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng
-Cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước
-Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức về bản lĩnh chính trị, phẩm
chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, điều hành quản lí đất nước. Phải có chính
sách đãi ngộ những cán bộ tốt đồng thời cũng phải xây dựng được cơ chế
loại bỏ, miễn nhiễm người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỉ luật.
-Đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm.