NHÓM 2 CHỦ NGHĨA KHOA HỌC HỘI:Vấn đề Dân Ch
I. DÂN CH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DÂN CH
I.1. Quan niệm vền chủ:
- Từ việc nghiên cứu các chế độ n chủ trong lịch sử thực tiễn lãnh đạo
cách mạng chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, dân chủ
sản phẩm, thành quả của quá trình đấu tranh giai cấp cho những giá trị tiến bộ của
nhân loại, một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, một trong
những nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - nin:
Về phương diện quyền lực: Dân chủ quyền lực thuộc về nhân dân, nhân
dân là chủ nhân của nhà nước. Dân chủ là quyền lợi của nhân dân, là quyền lực nhà
nước thuộc sở hữu của nhân dân, hội; bộ máy nhà nước phải nhân dân,
hội mà phục vụ.
Trên phương diện chế độ hội trong lĩnh vực chính trị: Dân chủ một
hình thức hay hình thái nhà nước, là chính thể dân chủ hay chế độ dân chủ.
Trên phương diện tổ chức quản hội: Dân chủ một nguyên tắc
quản lý xã hội - nguyên tắc dân chủ.
- Xét với những tư cách nêu trên, dân chủ phải được coi mục tiêu, tiền đề,
cũng như phương tiện để vươn tới tự do, giải phóng con người, giải phóng giai
cấp và giải phóng xã hội.
- Xét dân chủ với tư cách là một chế độ nhà nước, thì đó sự tổng hợp những
hình thức phương thức tổ chức quyền lực nhà nước, dân chủ luôn gắn liền với
phương thức phân phối lợi ích trong hội, dân chủ không chỉ là nhu cầu khát
vọng nhân với cách cái riêng, dân chủ trở thành khát vọng chung, cái
chung phù hợp với hình thức tổ chức quyền lực chính trị văn hoá cầm quyền, văn
hoá chính trị thực thi quyền lực Nhà nước. Do đó, dân chủ phạm trù lịch sử,
hình thành, phát triển và mất đi cùng với Nhà nước.
- Xét về hội học, thì n chủ một phạm trù vĩnh viễn, nhu cầu bên
trong, sự phản ánh phương thức, nhu cầu sống của con người, quyền tự do,
quyền tquyết của con người, hình thành phát triển cùng với sự hình thành
và phát triển của xã hội loài người.
- Xét trong quan hệ xã hội, dân chủ nói lên sự tôn trọng ý kiến, chính kiến, lợi
ích của người đối thoại, của đối tác. Dân chủ phản ánh trạng thái tinh thần của
xã hội, đặc điểm các quan hệ xã hội và cao hơn dân chủ phản ánh trình độ nhân văn
của một xã hội nhất định.
Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ:
- Trên cơ sở của chủ nghĩa Mac – Lênin và điều kiện cụ thể ở Việt Nam, Ch
tịch Hồ Chí Minh đã phát triển dân chủ theo hướng:
n chủ là một giá trị nhân loại chung: Dân chủ dân chủ dân làm
chủ.
n chủ một thể chính trị, một chế độ hội: Chính quyền dân chủ
chính quyền do dân làm chủ, Chính phủ người đầy tớ trung thành của nhân
dân.
- Hồ Chí Minh với sự mẫn cảm sâu sắc về chính trị, đồng thời đại biểu tiêu
biểu cho thân phận dân tộc lầm than, với skế thừa của văn hóa Đông Tây luôn
đề cao nhân dân và cõi nhân dân là người sáng tạo nên lịch sử dân tộc mình. Dân là
gốc phạm trù trung tâm trong toàn bộ nhận thức, tưởng hành động của Hồ
Chí Minh. Theo Hồ Chí Minh, trong nhà nước dân chủ, quyền lực nhà nước do
dân ủy thác có, nhân dân cử ra Chính phủ trao quyền cho Chính phủ bảo vệ
đất nước nhưng quyền vẫn thuộc về dân. Nếu Chính phủ không làm tròn nhiệm vụ
với dân thì dân bãi miễn Chính phủ bất cứ lúc nào.
- Dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh là dân chủ thực sự, quan niệm dân chủ
Hồ Chí Minh dân chủ triệt để, dân chủ thực sự dựa trên nhận thức phải thân
dân, gần dân, yêu dân, kính trọng dân, học dân mới thể tạo nên sức mạnh thực
sự của cách mạng, tạo ra động lực mạnh mẽ để phát triển đất nước, đặc biệt
trong thời kỳ đổi mới.
Từ những cách tiếp cận trên, dân chủ thể hiểu: Dân chủ một giá trị hội
phản ánh những quyền cơ bản của con người, là phạm trù chính trị gắn với các hình
thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền; một phạm trù lịch sử gắn với quá
trình ra đời, phát triển của lịch sử xã hội nhân loại.
1.2. Sự ra đời, phát triển của dân chủ:
Với cách một hình thái nhà nước, một chế độ chính trị thì, theo trình tự thời
gian, trong lịch sử nhân loại, tính đến nay có 3 nền dân chủ:
- Nền dân chủ chủ nô chế độ chiếm hữu lệ
- Nền dân chủ tư sản chế độ tư bản chủ nghĩa
- Nền dân chủ XHCN chế độ xã hội chủ nghĩa (dân chủ vô sản)
Câu hỏi: Giữa chế độ chiếm hữu lệ chế độ bản chủ nghĩa chế độ nào?
Tại sao nó lại không được nhắc đến ở đây?
Câu hỏi gợi ý: Người đứng đầu ai? (vua) Họ quyền quyết định những gì?
(nắm toàn quyền) Điều gì sẽ xảy ra với những phần từ chống đối?
Trả lời: Chế độ độc tài chuyên chế phong kiến. do: trong thời kì này, ý thức về
dân chủ đấu tranh để thực hiện quyền làm chcủa người dân đã không bước
tiến đáng kể nào do họ xem việc tuân theo ý chí của giai cấp thống trị bổn phận
của mình trước sức mạnh của đấng tối cao.
a) “Dân chủ nguyên thuỷ”/ “Dân chủ quân sự”
Với cách một hình thái nhà nước, tính đến nay 3 nền dân chủ, nhưng nhu
cầu vdân chủ đã xuất hiện từ rất sớm trong hội tự quản của cộng đồng thị tộc,
bộ lạc. Trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ đã xuất hiện hình thức manh nha của
dân chủ mà Ph.Ăngghen gọi là “dân chủ nguyên thuỷ”/ “dân chủ quân sự”
Đặc trưng: bầu ra thủ lĩnh quân sự thông qua “đại hội nhân n”.
Trong “Đại hội nhân dân”, mọi người đều quyền phát biểu tham gia quyết
định bằng cách giơ tay hoặc hoan hô, đó “Đại hội nhân dân” nhân dân
quyền lực thật s(nghĩa dân chủ), mặc trình độ sản xuất còn kém phát
triển.
b) “Dân chủ chủ
Nguyên nhân: trình độ lực lượng sản xuất phát triển => sư ra đời của chế độ tư hữu/
giai cấp => nền “dân chủ chủ nô” ra đời.
Đặc trưng: Dân tham gia bầu ra Nhà nước
Mục đích: (theo quy định của giai cấp cầm quyền) giai cấp chủ phần nào các
công dân tự do (tăng lữ, thương gia, một số trí thức) >< đa số còn lại là “nô lệ”
không được tham gia vào công việc nhà nước.
Bản chất: mang bản chất của giai cấp chủ nô, thực hiện dân chủ cho thiểu số, quyển
lực của dân đã bó hẹp nhằm duy trì, bảo vệ, thực hiện lợi ích của “dân”.
c) “Dân chủ tư sn”
Nguyên nhân: Giai cấp tư sản với những tưởng tiến bộ về tự do, công bằng, dân
chủ
Đặc trưng: nhiều đảng chính trị của giai cấp sản các đảng lớn (hoặc liên
minh một đảng lớn với một hay một số đảng khác) thay nhau nắm quyền lực thông
qua bầu cử.
Mục đích: những người nắm giữ liệu sản xuất thiểu số so với đại đa số nhân
dân lao động
Bản chất: mang bản chất của giai cấp sản, lợi ích của giai cấp sản đối lập với
lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
sở kinh tế: chế độ chiếm hữu nhân về liệu sản xuất
d) “Dân chủ xã hội chủ nghĩa”
Nguyên nhân: Cách mạng T10 Nga thắng lợi => thời đại mới: thời đại quá độ từ
chủ nghĩa bản lên chủ nghĩa hội, nhân dân lao động nhiều quốc gia giành
được quyền làm chủ nhà nước hội, thiết lập Nhà ớc công nông
Đặc trưng: thực hiện quyền lực của nhân dân – xây dựng nhà nước dân chủ thực sự,
dân làm chủ nhà nước và xã hội, bảo vệ quyền lợi cho đại đa số nhân dân
Mục đích: đại đa số nhân dân lao động
Bản chất: mang bản chất của giai cấp công nhân, phục vụ lợi ích cho đại đa số
sở kinh tế: công hữu hcác tư liệu sản xuất chủ yếu.
II. DÂN CHỦ HỘI CHỦ NGHĨA
1. QUÁ TRÌNH RA ĐỜI CỦA NỀN DÂN CH HỘI CHỦ NGHĨA
- Đấu tranh dân chủ qtrình lâu dài, phức tạp giá trị của
nền dân chủ sản chưa phải hoàn thiện nhất => xuất hiện nền dân chủ mới, cao
hơn dân chủ tư sản: dân chủ vô sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa.
- DCXHCN được phôi thai từ đấu tranh giai cấp Pháp Công
Pari 1871, tuy nhiên chỉ đến khi Cách mạng tháng 10 Nga thành
công + sự ra đời của nhà nước hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới (1917), dân
chủ xã hội chủ nghĩa mới chính thức xác lập.
Đánh dấu bước phát triển mới về chất của dân chủ
- Theo Mác Lênin: Giai cấp sản không thể hoàn thành cuộc
Cách mạng hội chủ nghĩa nếu họ không được chuẩn bị để tiến tới cuộc Cách
mạng đó thông qua cuộc đấu tranh dân chủ => chủ nghĩa hội không thể duy trì
và thắng lợi nếu không thực hiện đầy đủ.
- Quá trình phát triển: từ thấp đến cao, chưa hoàn thiện đến hoàn
thiện, được kế thừa những giá trị của nền dân chủ trước đó ( dân chủ sản), đồng
thời còn được b sung và làm sâu sắc thêm những giá trị của nền dân chủ mới.
- Nguyên tắc: không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ
giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tgiác vào công việc
quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Nhưng càng hoàn thiện bao nhiêu, nền DCXHCN
lại càng tự tiêu vong bấy nhiêu => do tính chính trị của dân chủ sẽ mất đi , tạo điều
kiện để nhân dân tham gia ngày càng đông đảo và ngày càng ý nghĩa quyết định
vào sự quản lý của nhà nước, quản lý xã hội.
Dân chủ trở thành 1 thói quen, 1 tập quán trong sinh hoạt xã hộikhông còn
tồn tại như 1 thể chế nhà nước, 1 chế độ mất đi tính chính trị
- Tuy nhiên, đây quá trình lâu dài, khi hội đạt trình độ phát
triển rất cao, hội không còn phân chia giai cấp => hội cộng sản chủ nghĩa đạt
tới mức độ hoàn thiện => DCXHCN với cách 1 chế độ nhà nước cũng tiêu
vong, không còn nữa.
- Ta hiểu: DC XHCN nền dân chủ cao hơn về chất so với nền
dân chủ trong lịch sử nhân loại, nền dân chủ đó, mọi quyền lực thuộc về
nhân dân, dân là chủ và dân làm chủ; dân chủ và pháp luật nằm trong sự thống nhất
biện chứng; được thực hiện bằng nnước pháp quyền hội chủ nghĩa, đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
- Lưu ý:
Sự ra đời của nền DCXHCN mới chỉ trong 1 thời gian ngắn:
Nước xuất phát điểm kinh tế, hội thấp: thường xuyên bị kẻ thù tấn công, gây
chiến tranh => mức độ dân chủ còn nhiều hạn chế
Sự ra đời của nền dân chủ tư sản thời gian cả mấy trăm năm
lại ở hầu hết các nước phát triển (do điều kiện khách quan, chủ quan)
Ch nghĩa bản đã nhiều lần điều chỉnh về hội để tồn tại
và thích nghi: quyền con người đã được quan tâm ở 1 mức độ nhất định ( tuy nhiên
bản chất vẫn không thay đổi)
Nền dân chủ sản nhiều tiến bộ, song vẫn bị hạn chế bởi bản chất của
chủ nghĩa tư bản
- Để chế độ DCXHCN thực sự quyền lực thuộc về nhân dân,
ngoài yếu tố giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua Đảng Cộng sản (yếu tố quan
trọng nhất), còn cần nhiều yếu tnhư trình độ dân trí, hội công dân, việc tạo
dựng chế pháp luật đảm bảo quyền tự do nhân, quyền làm chnhà nước
quyền tham gia vào các quyết sách của nhà nước, điều kiện vật chất để thực thi dân
chủ.
2. BẢN CHẤT CỦA NỀN DÂN CHỦ HỘI CHỦ NGHĨA
A. Bản chất chính trị
- Mang bản chất của giai cấp công nhân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
Sản
Tại sao lại phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng? bởi Đảng đề xuất đường
lối và chủ trương cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có vấn đề dân
chủ.Vì thế việc thực thi dân chủ cần được sự lãnh đạo của Đảng để đảm bảo nền
dân chủ được thực hiện đúng định hướng mang lại hiệu quả cao
- Thực hiện quyền lực thuộc về nhân dân, thể hiện tính nhân dân rộng rãi
tính dân tộc sâu sắc: Mặc nền DCXHCN được hình thành dựa vào giai cấp tiên
phong lãnh đạo toàn bộ hội chính giai cấp công nhân, Đảng tiên phong của
giai cấp công nhân chính Đảng Cộng Sản. Nhưng đây ĐCS không chỉ thực
hiện dân chủ đối với giai cấp công nhân, đối với giai cấp của mình, bảo vệ lợi ích
của giai cấp của mình; mà Đảng của những người công nhân khi thực hiện mục tiêu
xây dựng nền dân chủ XHCN còn mong muốn thực hiện quyền làm chủ phát
huy quyền làm chủ cao nhất cho tất cả mọi người dân trong hội, đặc biệt không
chỉ gccn, còn tất cả các tầng lớp nhân dân lao động khác, đảm bảo đem lại
quyền bình đẳng cho số đông trong xã hội. Biểu hiện quyền làm chủ trong chính trị
đây, thể nhìn thấy sự tương tác của công dân Nhà Nước thông qua hai
hình
thức- dân chủ trực tiếp dân chủ gián tiếp. Một số hành động được biểu hiện cụ
thể trong lĩnh vực chính trị thông qua hoạt động bầu cử, ứng cử của công dân,
thông qua việc công dân sẽ tham gia vào quản các hoạt động của Nhà Nước, tham
gia vào việc bãi miễn các đại biểu do nhân dân cử ra, thậm chí cuối cùng
nhân dân tham gia vào việc giám sát các hoạt động khiếu nại, tố cáo phê phán,
lên án những sai trái mà Nhà nước đã gây ra.
Do vậy, nềnn chủ XHCN khác (về chất) so với nền dân chủ sản
B. Bản chất kinh tế
- Giữ vai trò chủ đạo trong nền dân chủ XHCN chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất. Trong đó, toàn bcác yếu tố vật chất của XH sẽ do đại diện Nhà Nước
XHCN quản lí, thành phần kinh tế chủ đạo vẫn kinh tế Nhà Nước kinh tế
tập thể. Điều đó đã đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa
trên sở khoa học -công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn ngày càng cao những nhu
cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động.
- Dân chủ XHCN được biểu hiện chế đphân phối lợi ích theo kết quả lao
động là chủ yếu, đó được hiểu là sự đảm bảo về lợi ích kinh tế, phải coi lợi ích kinh
tế của người lao động động lực bản nhất. Lao động việc làm phân phối
tương ứng với kết quả lao động nội dung kinh tế của dân chủ, đây cũng nội
dung quyền dân chủ được thể hiện một cách rộng rãi, trực tiếp. Nnước sẽ cố
gắng đcác công dân, thể trong hội thể tự do lựa chọn ngành nghề phát
triển của mình, thể phát huy quyền làm chủ của mình đối với liệu sản xuất
chủ yếu của XH, quyền tự do hơn nữa và bình đẳng với nhau trong việc tiếp
cận của cải các tư liệu sản xuất chủ đạo của XH, hưởng bình đẳng trong phân
phối các của cải này.
C. Bản chất tư tưởng - văn hóa - hội
a) Bản chất văn hóa- tưởng
Nền dân chủ XHCN lấy hệ tưởng Mác- Nin -hệ tưởng của giai
cấp công nhân làm kim chỉ nam đối với mọi hình thái ý thức hội khác trong
hội mới
Ngoài ra, chúng ta còn kế thừa những giá trị tiến bộ của văn hóa nhân
loại cũng như kế thừa những giá trị truyền thống của văn hóa Việt Nam từ đó để
tạo nên quyền làm chủ của người dân trong lĩnh vực VHTT. Nhân dân chính là chủ
thể sáng tạo ra các giá trị văn hóa của người Việt hiện nay cũng chính nhân dân
người thụ hưởng những giá trị đó. Cụ thể hơn nữa
nhân dân quyền được lựa chọn các tôn giáo tín ngưỡng mình theo hoặc
không theo, nhân dân có quyền được sáng tạo văn hóa nghệ thuật theo mong muốn
ý muốn của mình; nhân dân quyền biểu đạt quyền tự do ngôn luận. tự do tín
ngưỡng, tự do hội họp, tự do báo chí. Đấy là những quyền cơ bản của công dân trên
lĩnh vực VHTT
b) Bản chất xã hội:
Kết hợp hài hòa về lợi ích giữa cá nhân , tập thể và lợi ích của tàn xã
hội
Nền dân chủ XHCN động viên, thu hút mọi tiềm năng sáng tạo, tính
tích cực xã hội của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới
KẾT LUẬN: Nền dân chủ XHCN rộng nhất các nền dân chủ khác như dân
chủ chủ , dân chủ sản,..chỉ phục tùng ý chí quyền lợi của giai cấp thống trị
thông qua việc thực thi những thiết chế lợi cho giai cấp cầm quyền. Ngược lại,
nền dân chủ XHCN khẳng định đảm bảo quyền làm chủ cho tất cả mọi công
dân.
III. SO SÁNH DÂN CHỦ HỘI CHỦ NGHĨA DÂN CHỦ
SẢN:
1/ Dân chủ XHCN là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp công nhân, là nền
dân chủ cho đại đa số và của đại đa số nhân dân lao động.
Để tiến tới một hội không còn khác biệt về giai cấp Chủ tịch HCM nói rằng: “
Dân chủ XHCN ở VN phải là: tất cả mọi quyền lực là của nhân
dân, tất cả mọi sức
mạnh đều ở nơi dân, tất cả lợi ích đều vì nhân dân.” vậy, dân chủ XHCN vừa
mang bản chất giai cấp công nhân, vừa tính dân tộc sâu sắc và tính nhân dân
rộng rãi.
Còn dân chủ tư sản là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp tư sản, là nền dân
chủ cho thiểu số của giai cấp bóc lột.
2/ Dân chủ XHCN là nền dân chủ do ĐCS lãnh đạo, nhất nguyên về chính trị, ĐCS
chính người đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động
và của cả dân tộc. Đảng đó được trang bị bởi lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Còn dân chủ tư sản là nền n chủ đa đảng.
3/ Dân chủ XHCN được thực hiện bằng hệ thống tổ chức phức tạp của nhiều yếu tố
nhưng trước hết được thực hiện chủ yếu bằng Nhà ớc
thông qua Nhà nước. Chức năng của Nhà nước thể chế hoá đường lối, chủ
trương, Nghị quyết, Văn kiện của Đảng thành pháp luật, chính sách của Nhà nước.
Nhà nước phải đảm bảo cho tất cả mọi người dân bình đẳng về quyền lợi nghĩa
vụ trước pháp luật.
Dân chủ tư sản cũng thực hiện bằng nhà nước nhưng Nhà nước ở đây không phải là
Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
4/ Quy luật bản của sự phát triển dân chủ XHCN là không ngừng mở rộng dân
chủ, nâng cao mức độ giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự
giác vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.
Điều này ở nền dân chủ tư sản hoàn toàn không có.
5/ Dân chủ XHCN nền dân chủ của đa số đa số. Còn nền dân chủ sản
nền dân chủ của thiểu số cho thiểu số bóc lột, đặc quyền, đặc lợi muốn
dành thêm đặc quyền đặc lợi.
6/ Dân chủ XHCN dân chủ toàn diện-dân chủ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội,…
- Về kinh tế: nhân dân lao động thực sự TLSX chủ yếu, quyền tham
gia vào quá trình sx và phân phối sản phẩm.
- Về chính trị: Nhân dân quyền tham gia làm chủ Nhà nước,
quyền giới thiệu đại biểu vào chính quyền các cấp, đóng góp ý kiến xd pháp luật…
- Về văn hóa: Nhân dân tất cả những điều kiện đphát triển toàn diện
cá nhân
- Về hội: Đảm bảo lợi ích chung của quốc gia, quan hệ giữa các g/c,
các dân tộc theo ng tắc bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
Tóm lại, qua các đặc điểm khác biệt của dân chủ XHCN với dân chủ sản chúng
ta nhận thấy rằng dân chủ XHCN khác về “chất” so với dân chủ tư sản.
Trong tác phẩm Cách mạng vô sản và tên phản bội Cauxky, không dưới ba lần,
V.I.Lênin khẳng định nền dân chủ vô sản hơn gấp triệu lần nền dân chủ tư sản:
“Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn
gấp triệu lần, chính quyền xô viết, so với các cộng hòa tư sản dân chủ nhất, cũng
dân chủ hơn gấp triệu lần”(20).
Sau khi đánh đổ chế độ Nga hoàng, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã
xóa bỏ toàn bộ hệ thống chính quyền cũ, xây dựng hệ thống chính quyền mới gọi là
các “xô viết”, về thực chất, quyền lực này là do giai cấp công nhân và nhân dân lao
động quyết định. Trong khi đó ở các nước TBCN, kể cả các nước tư bản dân chủ
nhất thì cũng không bao giờ người dân có được quyền tự do. Lenin nói “Trong số
các nước tư bản dân chủ nhất, thử hỏi có lấy một nước nào trên thế giới mà trong
đó, người công nhân hạng trung, người công nhân thông thường, người cố nông
hạng trung, người cố nông thông thường, hay nói chung, người nửa sản nông
thôn (tức người đại biểu cho quần chúng bị áp bức, cho đại đa số dân cư) lại được
hưởng gần như là một quyền tự do rộng rãi như ở nước Nga xôviết để có thể tổ
chức các cuộc họp trong những tòa nhà tốt nhất, một quyền tự do rộng rãi như thế
để có thể sử dụng những nhà in lớn nhất và những kho giấy tốt nhất nhằm mục đích
diễn đạt tư tưởng của mình, bênh vực quyền lợi của mình...”(22).
Trong khi đó, dưới chính quyền xôviết, các quyền tự do, dân ch cơ bản của công
dân như tự do hội họp, tự do đi lại, tự do báo chí... được thực hiện trong thực tế cho
hầu hết nhân dân lao động: “quyền tự do xuất bản không còn là một cái gì giả dối
nữa, vì các nhà in giấy đã được tước đoạt khỏi tay giai cấp tư sản. Các lâu đài, các
dinh thự, các thất, các nhà tốt nhất... cũng thế. Chính quyền xô viết đã tước
ngay một lúc hàng nghìn những nhà cửa tốt nhất của bọn bóc lột, và chính như vậy
chính quyền xôviết đã làm cho quyền hội họp của quần chúng được gấp triệu lần
“dân chủ” hơn”(23).
IV. LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM:
Khác với các nên dân chủ đã tồn tại trước đó trong lịch sử, nên dân chủ hội chủ
nghĩa không thể ra đời, phát triển một cách tự phát. không thể tự nhiên xuất
hiện hoàn thiện ngay sau sự kiện giai cấp công nhân nhân dân lao động giành
được chính quyền. Xây dựng nên dân chủ hội chủ nghĩa nhiệm vụ lịch sử mới
mẻ, chưa tiền lệ. Những thăng trầm của chủ nghĩa hội hiện thực các nước
trên thế giới trong gần 100 năm qua đã cho thấy tính dích dắc, phức tạp của tiến
trình xây dựng nền dân chủ hội chủ nghĩa. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, sức
sống thực tế của dân chủ hội chủ nghĩa trước hết phụ thuộc và nhận thức
hành động của đảng cộng sản cầm quyền.
Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, mọi quốc gia, dân tộc nhất định sđi tới chủ
nghĩa hội chủ nghĩa cộng sản. Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, giai
cấp công nhân nhân dân lao động giành chính quyền đã đánh dâu sự ra đời của
nền dân chủ hội chủ nghĩa. Chế độ dân chủ nhân dân nước ta được xác lập sau
Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đây nền dân chủ con người thành viên
trong xã hội với tư cách công dân, tư cách của người làm chủ. Quyền làm chủ của
nhân dân đã được chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“ Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều n.
Bao nhiêu quyền hạn đều củan.
Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến
quốc công việc của dân.
Chính quyền từ đến Chính ph Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung
ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành lực lượng đều n”
Đến năm 1976, tên nước được đổi thành Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam,
nhưng trong các Văn kiện Đảng hầu như chưa sử dụng cụm từ “dân chủ xã hội chủ
nghĩa” thường nêu quan điểm xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ
nghĩa” gắn với nắm vững chuyên chính sản”. Bản chất của dân chủ hội chủ
nghĩa, mối quan hệ giữa dân chủ hội chủ nghĩa nhà nước pháp quyền hội
chủ nghĩa, cũng chưa được xác định rõ ràng. Việc xây dựng nền dân chủ xã hội ch
nghĩa, đặc biệt thực hiện dân chủ trong thời kỳ qđộ lên chủ nghĩa hội ở Việt
Nam như thế nào cho phù hợp với đặc điểm kinh tế, hội, văn hóa, đạo đức của
hội Việt Nam, gắn với hoàn thiện hệ thống pháp luật, kỷ cương cũng chưa được
đặt ra một cách cụ thể, thiết thực. Nhiều lĩnh vực liên quan mật thiết đến dân chủ xã
hội chủ nghĩa chưa được đặt đúng vị trí giải quyết đúng để thúc đẩy việc xây
dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
nước ta, từ năm 1986, bằng việc khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới,
Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục thể hiện trí tuệ, bản lĩnh trách nhiệm của
mình trước những vấn đề hệ trọng của Tổ quốc, nhân dân. Việc xây dựng nền dân
chủ hội chủ nghĩa trở thành một trong những mối quan tâm thưởng trực trong
nhận thức hành động của Đảng. Theo đó, dân chủ hóa các lĩnh vực đời sống
hội luôn được Đảng ta khẳng định một trong những mục tiêu, nhiệm vụ bản,
trọng tâm của công cuộc đổi mới. duy, nhận thức mới của Đảng ta về dân ch
hội chủ nghĩa chỉ đạo quá trình dân chủ hóa đời sống hội, thực tiễn dân
chủ hóa lại căn cứ, sở để kiểm nghiệm, bổ sung nhân thức về dân chủ hội
chủ nghĩa nhận thức về xây dựng nền dân chủ hội chủ nghĩa. Trong đại hội
Đảng lần thứ VI (1986) đã nêu lên bốn bài học lớn, trong đó bài học: Trong
toàn bhoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tưởng lấy dân làm gốc”, xây
dựng phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”. Văn kiện nhấn mạnh
xóa bỏ nhận thức sai lầm coi công tác quần chúng chỉ biện pháp để tổ chức,
động viên nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách. Đối với những chủ
trương quan hệ trực tiếp tới đời sống nhân dân trên phạm vi cả nước cũng như
các địa phương phải trưng cầu ý kiến của nhân dân trước khi quyết định”.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa hội của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã đưa ra những nội dung khái quát liên quan đến nhà nước
pháp quyền: Đề cao vai trò tối thượng của Hiến pháp và pháp luật; đề cao quyền
lợi nghĩa vcủa công dân, đảm bảo quyền con người; tổ chức bmáy vừa đảm
bảo tập trung, thống nhất, vừa sự phân công giữa các nhánh quyền lực, phân cấp
quyền hạn trách nhiệm giữa các cấp chính quyền nhằm đảm bảo quyền dân chủ
của nhân dân, tránh lạm quyền. Bên cạnh đó, về việc phát huy dân chủ trong Đảng,
Cương lĩnh cũng đã xác định: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị,
tưởng tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm
lãnh đạo s nghiệp cách mạng hội chủ nghĩa nước ta, Đảng phải thường
xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo.
Từ thực tiễn nhận thức xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới, Nhà nước pháp quyền hội chủ nước ta một số
đặc điểm sau:
- Xây dựng nhà nước do nhân dân lao động làm củ, đó là Nhà nước của dân,
do dân, vì dân.
- Nhà nước được tổ chức dựa trên sở của Hiến pháp và pháp luật.
- Quyền lực nhà nước thống nhất, sự phân công ràng, phối hợp
kiểm soát giữa các cơ quan: lập – hành và tư pháp
- Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đo
- Nhà nước tôn trọng quyền con người, coi con người chủ thể, trung tâm
của sự phát triển.
- Bộ máy nhà nước được tổ chức hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân
chủ, phối hợp và kiểm qoát lẫn nhau nhưng vẫn bảo đảm quyền lực là thống nhất.
Như vậy, những đặc điểm của nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa Việt Nam
vừa thể hiện được tinh thần bản của một nhà nước pháp quyền nói chung, vừa
thể hiện sự riêng biệt với các nhà nước pháp quyền khác mang bản chất của giai
cấp công nhân, phục vụ lợi ích cho nhân dân; nhà nước là công cụ chủ yếu để
Đảng định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Chúng ta thể thấy được việc phát huy dân chủ hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
- Xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng hỗi chủ nghĩa
tạo ra cơ sở kinh tế vững chắc cho xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa
- Xây dựng Đảng trong sạch, vũng mạnh với tu cách điều kiện tiên quyết để
xây dựng nên xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa vững mạnh với cách
điều kiện để thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa
- Nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa.
- Xây dựng và từng bước hoàn thiện các hệ thống giám sát, phản biện xã hội
để phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Vậy tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền chủ nghĩa hội ở Việt
Nam như thế nào?
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của
Đảng
- Cải cách thể chế phương thức hoạt động của Nhà nước
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo
đức, năng lực lãnh đạo, điều hành quản đất nước. Phải chính sách đãi ngộ
những cán bộ tốt đồng thời cũng phải xây dựng được chế loại bỏ, miễn nhiễm
người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỉ luật.
- Đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí thựcnh tiết kiệm.

Preview text:

NHÓM 2 CHỦ NGHĨA KHOA HỌC XÃ HỘI:Vấn đề Dân Chủ
I. DÂN CHỦ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DÂN CHỦ I.1. Quan niệm về dân chủ: -
Từ việc nghiên cứu các chế độ dân chủ trong lịch sử và thực tiễn lãnh đạo
cách mạng chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, dân chủ là
sản phẩm, thành quả của quá trình đấu tranh giai cấp cho những giá trị tiến bộ của
nhân loại, là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, là một trong
những nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội.
 Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: •
Về phương diện quyền lực: Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân
dân là chủ nhân của nhà nước. Dân chủ là quyền lợi của nhân dân, là quyền lực nhà
nước thuộc sở hữu của nhân dân, xã hội; bộ máy nhà nước phải vì nhân dân, vì xã hội mà phục vụ. •
Trên phương diện chế độ xã hội và trong lĩnh vực chính trị: Dân chủ là một
hình thức hay hình thái nhà nước, là chính thể dân chủ hay chế độ dân chủ. •
Trên phương diện tổ chức và quản lý xã hội: Dân chủ là một nguyên tắc
quản lý xã hội - nguyên tắc dân chủ. -
Xét với những tư cách nêu trên, dân chủ phải được coi là mục tiêu, tiền đề,
cũng như là phương tiện để vươn tới tự do, giải phóng con người, giải phóng giai
cấp và giải phóng xã hội. -
Xét dân chủ với tư cách là một chế độ nhà nước, thì đó là sự tổng hợp những
hình thức và phương thức tổ chức quyền lực nhà nước, dân chủ luôn gắn liền với
phương thức phân phối lợi ích trong xã hội, dân chủ không chỉ là nhu cầu khát
vọng cá nhân với tư cách là cái riêng, mà dân chủ trở thành khát vọng chung, cái
chung phù hợp với hình thức tổ chức quyền lực chính trị văn hoá cầm quyền, văn
hoá chính trị và thực thi quyền lực Nhà nước. Do đó, dân chủ là phạm trù lịch sử,
hình thành, phát triển và mất đi cùng với Nhà nước. -
Xét về xã hội học, thì dân chủ là một phạm trù vĩnh viễn, là nhu cầu bên
trong, là sự phản ánh phương thức, nhu cầu sống của con người, là quyền tự do,
quyền tự quyết của con người, nó hình thành và phát triển cùng với sự hình thành
và phát triển của xã hội loài người. -
Xét trong quan hệ xã hội, dân chủ nói lên sự tôn trọng ý kiến, chính kiến, lợi
ích của người đối thoại, của đối tác. Dân chủ phản ánh trạng thái tinh thần của
xã hội, đặc điểm các quan hệ xã hội và cao hơn dân chủ phản ánh trình độ nhân văn
của một xã hội nhất định.
 Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ: -
Trên cơ sở của chủ nghĩa Mac – Lênin và điều kiện cụ thể ở Việt Nam, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã phát triển dân chủ theo hướng: •
Dân chủ là một giá trị nhân loại chung: Dân chủ là dân là chủ và là dân làm chủ. •
Dân chủ là một thể chính trị, một chế độ xã hội: Chính quyền dân chủ là
chính quyền do dân làm chủ, mà Chính phủ là người đầy tớ trung thành của nhân dân. -
Hồ Chí Minh với sự mẫn cảm sâu sắc về chính trị, đồng thời là đại biểu tiêu
biểu cho thân phận dân tộc lầm than, với sự kế thừa của văn hóa Đông – Tây luôn
đề cao nhân dân và cõi nhân dân là người sáng tạo nên lịch sử dân tộc mình. Dân là
gốc là phạm trù trung tâm trong toàn bộ nhận thức, tư tưởng và hành động của Hồ
Chí Minh. Theo Hồ Chí Minh, trong nhà nước dân chủ, quyền lực nhà nước là do
dân ủy thác mà có, nhân dân cử ra Chính phủ và trao quyền cho Chính phủ bảo vệ
đất nước nhưng quyền vẫn thuộc về dân. Nếu Chính phủ không làm tròn nhiệm vụ
với dân thì dân bãi miễn Chính phủ bất cứ lúc nào. -
Dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh là dân chủ thực sự, quan niệm dân chủ
ở Hồ Chí Minh là dân chủ triệt để, dân chủ thực sự dựa trên nhận thức phải thân
dân, gần dân, yêu dân, kính trọng dân, học dân mới có thể tạo nên sức mạnh thực
sự của cách mạng, tạo ra động lực mạnh mẽ để phát triển đất nước, đặc biệt là
trong thời kỳ đổi mới.
 Từ những cách tiếp cận trên, dân chủ có thể hiểu: Dân chủ là một giá trị xã hội
phản ánh những quyền cơ bản của con người, là phạm trù chính trị gắn với các hình
thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền; là một phạm trù lịch sử gắn với quá
trình ra đời, phát triển của lịch sử xã hội nhân loại.
1.2. Sự ra đời, phát triển của dân chủ:
Với tư cách là một hình thái nhà nước, một chế độ chính trị thì, theo trình tự thời
gian, trong lịch sử nhân loại, tính đến nay có 3 nền dân chủ: -
Nền dân chủ chủ nô – chế độ chiếm hữu nô lệ -
Nền dân chủ tư sản – chế độ tư bản chủ nghĩa -
Nền dân chủ XHCN – chế độ xã hội chủ nghĩa (dân chủ vô sản)
Câu hỏi: Giữa chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ tư bản chủ nghĩa là chế độ nào?
Tại sao nó lại không được nhắc đến ở đây?
Câu hỏi gợi ý: Người đứng đầu là ai? (vua) Họ có quyền quyết định những gì?
(nắm toàn quyền) Điều gì sẽ xảy ra với những phần từ chống đối?
Trả lời: Chế độ độc tài chuyên chế phong kiến. Lí do: trong thời kì này, ý thức về
dân chủ và đấu tranh để thực hiện quyền làm chủ của người dân đã không có bước
tiến đáng kể nào do họ xem việc tuân theo ý chí của giai cấp thống trị là bổn phận
của mình trước sức mạnh của đấng tối cao. a)
“Dân chủ nguyên thuỷ”/ “Dân chủ quân sự”
Với tư cách là một hình thái nhà nước, tính đến nay có 3 nền dân chủ, nhưng nhu
cầu về dân chủ đã xuất hiện từ rất sớm trong xã hội tự quản của cộng đồng thị tộc,
bộ lạc. Trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ đã xuất hiện hình thức manh nha của
dân chủ mà Ph.Ăngghen gọi là “dân chủ nguyên thuỷ”/ “dân chủ quân sự”
Đặc trưng: bầu ra thủ lĩnh quân sự thông qua “đại hội nhân dân”.
Trong “Đại hội nhân dân”, mọi người đều có quyền phát biểu và tham gia quyết
định bằng cách giơ tay hoặc hoan hô, ở đó “Đại hội nhân dân” và nhân dân có
quyền lực thật sự (nghĩa là có dân chủ), mặc dù trình độ sản xuất còn kém phát triển. b) “Dân chủ chủ nô”
Nguyên nhân: trình độ lực lượng sản xuất phát triển => sư ra đời của chế độ tư hữu/
giai cấp => nền “dân chủ chủ nô” ra đời.
Đặc trưng: Dân tham gia bầu ra Nhà nước
Mục đích: (theo quy định của giai cấp cầm quyền) giai cấp chủ nô và phần nào các
công dân tự do (tăng lữ, thương gia, một số trí thức) >< đa số còn lại là “nô lệ” –
không được tham gia vào công việc nhà nước.
Bản chất: mang bản chất của giai cấp chủ nô, thực hiện dân chủ cho thiểu số, quyển
lực của dân đã bó hẹp nhằm duy trì, bảo vệ, thực hiện lợi ích của “dân”. c) “Dân chủ tư sản”
Nguyên nhân: Giai cấp tư sản với những tư tưởng tiến bộ về tự do, công bằng, dân chủ
Đặc trưng: có nhiều đảng chính trị của giai cấp tư sản mà các đảng lớn (hoặc liên
minh một đảng lớn với một hay một số đảng khác) thay nhau nắm quyền lực thông qua bầu cử.
Mục đích: những người nắm giữ tư liệu sản xuất – thiểu số so với đại đa số nhân dân lao động
Bản chất: mang bản chất của giai cấp tư sản, lợi ích của giai cấp tư sản đối lập với
lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Cơ sở kinh tế: chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất d)
“Dân chủ xã hội chủ nghĩa”
Nguyên nhân: Cách mạng T10 Nga thắng lợi => thời đại mới: thời đại quá độ từ
chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân lao động ở nhiều quốc gia giành
được quyền làm chủ nhà nước và xã hội, thiết lập Nhà nước công – nông
Đặc trưng: thực hiện quyền lực của nhân dân – xây dựng nhà nước dân chủ thực sự,
dân làm chủ nhà nước và xã hội, bảo vệ quyền lợi cho đại đa số nhân dân
Mục đích: đại đa số nhân dân lao động
Bản chất: mang bản chất của giai cấp công nhân, phục vụ lợi ích cho đại đa số
Cơ sở kinh tế: công hữu hoá các tư liệu sản xuất chủ yếu. II.
DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1.
QUÁ TRÌNH RA ĐỜI CỦA NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA -
Đấu tranh dân chủ là quá trình lâu dài, phức tạp và giá trị của
nền dân chủ tư sản chưa phải hoàn thiện nhất => xuất hiện nền dân chủ mới, cao
hơn dân chủ tư sản: dân chủ vô sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa. -
DCXHCN được phôi thai từ đấu tranh giai cấp ở Pháp và Công
xã Pari 1871, tuy nhiên chỉ đến khi Cách mạng tháng 10 Nga thành
công + sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới (1917), dân
chủ xã hội chủ nghĩa mới chính thức xác lập.
 Đánh dấu bước phát triển mới về chất của dân chủ -
Theo Mác – Lênin: Giai cấp vô sản không thể hoàn thành cuộc
Cách mạng xã hội chủ nghĩa nếu họ không được chuẩn bị để tiến tới cuộc Cách
mạng đó thông qua cuộc đấu tranh dân chủ => chủ nghĩa xã hội không thể duy trì
và thắng lợi nếu không thực hiện đầy đủ. -
Quá trình phát triển: từ thấp đến cao, chưa hoàn thiện đến hoàn
thiện, được kế thừa những giá trị của nền dân chủ trước đó ( dân chủ tư sản), đồng
thời còn được bổ sung và làm sâu sắc thêm những giá trị của nền dân chủ mới. -
Nguyên tắc: không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ
giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc
quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Nhưng càng hoàn thiện bao nhiêu, nền DCXHCN
lại càng tự tiêu vong bấy nhiêu => do tính chính trị của dân chủ sẽ mất đi , tạo điều
kiện để nhân dân tham gia ngày càng đông đảo và ngày càng có ý nghĩa quyết định
vào sự quản lý của nhà nước, quản lý xã hội.
 Dân chủ trở thành 1 thói quen, 1 tập quán trong sinh hoạt xã hội và không còn
tồn tại như 1 thể chế nhà nước, 1 chế độ mất đi tính chính trị -
Tuy nhiên, đây là quá trình lâu dài, khi xã hội đạt trình độ phát
triển rất cao, xã hội không còn phân chia giai cấp => xã hội cộng sản chủ nghĩa đạt
tới mức độ hoàn thiện => DCXHCN với tư cách là 1 chế độ nhà nước cũng tiêu vong, không còn nữa. -
Ta hiểu: DC XHCN là nền dân chủ cao hơn về chất so với nền
dân chủ có trong lịch sử nhân loại, là nền dân chủ mà ở đó, mọi quyền lực thuộc về
nhân dân, dân là chủ và dân làm chủ; dân chủ và pháp luật nằm trong sự thống nhất
biện chứng; được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. - Lưu ý: •
Sự ra đời của nền DCXHCN mới chỉ trong 1 thời gian ngắn:
Nước có xuất phát điểm kinh tế, xã hội thấp: thường xuyên bị kẻ thù tấn công, gây
chiến tranh => mức độ dân chủ còn nhiều hạn chế •
Sự ra đời của nền dân chủ tư sản có thời gian cả mấy trăm năm
lại ở hầu hết các nước phát triển (do điều kiện khách quan, chủ quan) •
Chủ nghĩa tư bản đã có nhiều lần điều chỉnh về xã hội để tồn tại
và thích nghi: quyền con người đã được quan tâm ở 1 mức độ nhất định ( tuy nhiên
bản chất vẫn không thay đổi)
 Nền dân chủ tư sản có nhiều tiến bộ, song nó vẫn bị hạn chế bởi bản chất của chủ nghĩa tư bản -
Để chế độ DCXHCN thực sự quyền lực thuộc về nhân dân,
ngoài yếu tố giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua Đảng Cộng sản (yếu tố quan
trọng nhất), còn cần nhiều yếu tố như trình độ dân trí, xã hội công dân, việc tạo
dựng cơ chế pháp luật đảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền làm chủ nhà nước và
quyền tham gia vào các quyết sách của nhà nước, điều kiện vật chất để thực thi dân chủ.
2. BẢN CHẤT CỦA NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA A. Bản chất chính trị -
Mang bản chất của giai cấp công nhân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản ●
Tại sao lại phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng? bởi vì Đảng đề xuất đường
lối và chủ trương cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có vấn đề dân
chủ.Vì thế việc thực thi dân chủ cần được sự lãnh đạo của Đảng để đảm bảo nền
dân chủ được thực hiện đúng định hướng mang lại hiệu quả cao -
Thực hiện quyền lực thuộc về nhân dân, thể hiện tính nhân dân rộng rãi và
tính dân tộc sâu sắc: Mặc dù nền DCXHCN được hình thành dựa vào giai cấp tiên
phong lãnh đạo toàn bộ xã hội chính là giai cấp công nhân, mà Đảng tiên phong của
giai cấp công nhân chính là Đảng Cộng Sản. Nhưng ở đây ĐCS không chỉ thực
hiện dân chủ đối với giai cấp công nhân, đối với giai cấp của mình, bảo vệ lợi ích
của giai cấp của mình; mà Đảng của những người công nhân khi thực hiện mục tiêu
xây dựng nền dân chủ XHCN còn mong muốn thực hiện quyền làm chủ và phát
huy quyền làm chủ cao nhất cho tất cả mọi người dân trong xã hội, đặc biệt không
chỉ gccn, mà còn tất cả các tầng lớp nhân dân lao động khác, đảm bảo đem lại
quyền bình đẳng cho số đông trong xã hội. Biểu hiện quyền làm chủ trong chính trị
ở đây, có thể nhìn thấy sự tương tác của công dân và Nhà Nước thông qua hai hình
thức- dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp. Một số hành động được biểu hiện cụ
thể trong lĩnh vực chính trị thông qua hoạt động bầu cử, ứng cử của công dân,
thông qua việc công dân sẽ tham gia vào quản lí các hoạt động của Nhà Nước, tham
gia vào việc bãi miễn các đại biểu mà do nhân dân cử ra, thậm chí cuối cùng là
nhân dân tham gia vào việc giám sát các hoạt động khiếu nại, tố cáo và phê phán,
lên án những sai trái mà Nhà nước đã gây ra.
☞ Do vậy, nền dân chủ XHCN khác (về chất) so với nền dân chủ tư sản B. Bản chất kinh tế -
Giữ vai trò chủ đạo trong nền dân chủ XHCN là chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất. Trong đó, toàn bộ các yếu tố vật chất của XH sẽ do đại diện Nhà Nước
XHCN quản lí, và thành phần kinh tế chủ đạo vẫn là kinh tế Nhà Nước và kinh tế
tập thể. Điều đó đã đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa
trên cơ sở khoa học -công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn ngày càng cao những nhu
cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động. -
Dân chủ XHCN được biểu hiện là chế độ phân phối lợi ích theo kết quả lao
động là chủ yếu, đó được hiểu là sự đảm bảo về lợi ích kinh tế, phải coi lợi ích kinh
tế của người lao động là động lực cơ bản nhất. Lao động việc làm và phân phối
tương ứng với kết quả lao động là nội dung kinh tế của dân chủ, đây cũng là nội
dung mà quyền dân chủ được thể hiện một cách rộng rãi, trực tiếp. Nhà nước sẽ cố
gắng để các công dân, cá thể trong xã hội có thể tự do lựa chọn ngành nghề phát
triển của mình, có thể phát huy quyền làm chủ của mình đối với tư liệu sản xuất
chủ yếu của XH, và có quyền tự do hơn nữa và bình đẳng với nhau trong việc tiếp
cận của cải và các tư liệu sản xuất chủ đạo của XH, hưởng bình đẳng trong phân phối các của cải này. C.
Bản chất tư tưởng - văn hóa - xã hội a)
Bản chất văn hóa- tư tưởng ●
Nền dân chủ XHCN lấy hệ tư tưởng Mác-Lê Nin -hệ tư tưởng của giai
cấp công nhân làm kim chỉ nam đối với mọi hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới ●
Ngoài ra, chúng ta còn kế thừa những giá trị tiến bộ của văn hóa nhân
loại cũng như kế thừa những giá trị truyền thống của văn hóa Việt Nam từ đó để
tạo nên quyền làm chủ của người dân trong lĩnh vực VHTT. Nhân dân chính là chủ
thể sáng tạo ra các giá trị văn hóa của người Việt hiện nay và cũng chính nhân dân
là người thụ hưởng những giá trị đó. Cụ thể hơn nữa là
nhân dân có quyền được lựa chọn các tôn giáo tín ngưỡng mà mình theo hoặc
không theo, nhân dân có quyền được sáng tạo văn hóa nghệ thuật theo mong muốn
và ý muốn của mình; nhân dân có quyền biểu đạt quyền tự do ngôn luận. tự do tín
ngưỡng, tự do hội họp, tự do báo chí. Đấy là những quyền cơ bản của công dân trên lĩnh vực VHTT b) Bản chất xã hội: ●
Kết hợp hài hòa về lợi ích giữa cá nhân , tập thể và lợi ích của tàn xã hội ●
Nền dân chủ XHCN động viên, thu hút mọi tiềm năng sáng tạo, tính
tích cực xã hội của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới
KẾT LUẬN: Nền dân chủ XHCN là rộng nhất vì các nền dân chủ khác như dân
chủ chủ nô, dân chủ tư sản,..chỉ phục tùng ý chí và quyền lợi của giai cấp thống trị
thông qua việc thực thi những thiết chế có lợi cho giai cấp cầm quyền. Ngược lại,
nền dân chủ XHCN khẳng định và đảm bảo quyền làm chủ cho tất cả mọi công dân. III.
SO SÁNH DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ DÂN CHỦ TƯ SẢN:
1/ Dân chủ XHCN là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp công nhân, là nền
dân chủ cho đại đa số và của đại đa số nhân dân lao động.
Để tiến tới một xã hội không còn khác biệt về giai cấp Chủ tịch HCM nói rằng: “
Dân chủ XHCN ở VN phải là: tất cả mọi quyền lực là của nhân dân, tất cả mọi sức
mạnh đều ở nơi dân, tất cả lợi ích đều vì nhân dân.” Vì vậy, dân chủ XHCN vừa
mang bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính dân tộc sâu sắc và tính nhân dân rộng rãi.
Còn dân chủ tư sản là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp tư sản, là nền dân
chủ cho thiểu số của giai cấp bóc lột.
2/ Dân chủ XHCN là nền dân chủ do ĐCS lãnh đạo, nhất nguyên về chính trị, ĐCS
chính là người đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động
và của cả dân tộc. Đảng đó được trang bị bởi lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Còn dân chủ tư sản là nền dân chủ đa đảng.
3/ Dân chủ XHCN được thực hiện bằng hệ thống tổ chức phức tạp của nhiều yếu tố
nhưng trước hết được thực hiện chủ yếu là bằng Nhà nước
và thông qua Nhà nước. Chức năng của Nhà nước là thể chế hoá đường lối, chủ
trương, Nghị quyết, Văn kiện của Đảng thành pháp luật, chính sách của Nhà nước.
Nhà nước phải đảm bảo cho tất cả mọi người dân bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật.
Dân chủ tư sản cũng thực hiện bằng nhà nước nhưng Nhà nước ở đây không phải là
Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
4/ Quy luật cơ bản của sự phát triển dân chủ XHCN là không ngừng mở rộng dân
chủ, nâng cao mức độ giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự
giác vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.
Điều này ở nền dân chủ tư sản hoàn toàn không có.
5/ Dân chủ XHCN là nền dân chủ của đa số và vì đa số. Còn nền dân chủ tư sản là
nền dân chủ của thiểu số và cho thiểu số bóc lột, có đặc quyền, đặc lợi và muốn
dành thêm đặc quyền đặc lợi.
6/ Dân chủ XHCN là dân chủ toàn diện-dân chủ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội,… -
Về kinh tế: nhân dân lao động thực sự có TLSX chủ yếu, có quyền tham
gia vào quá trình sx và phân phối sản phẩm. -
Về chính trị: Nhân dân có quyền tham gia và làm chủ Nhà nước, có
quyền giới thiệu đại biểu vào chính quyền các cấp, đóng góp ý kiến xd pháp luật… -
Về văn hóa: Nhân dân có tất cả những điều kiện để phát triển toàn diện cá nhân -
Về xã hội: Đảm bảo lợi ích chung của quốc gia, quan hệ giữa các g/c,
các dân tộc theo ng tắc bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
Tóm lại, qua các đặc điểm khác biệt của dân chủ XHCN với dân chủ tư sản chúng
ta nhận thấy rằng dân chủ XHCN khác về “chất” so với dân chủ tư sản.
Trong tác phẩm Cách mạng vô sản và tên phản bội Cauxky, không dưới ba lần,
V.I.Lênin khẳng định nền dân chủ vô sản hơn gấp triệu lần nền dân chủ tư sản:
“Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn
gấp triệu lần, chính quyền xô viết, so với các cộng hòa tư sản dân chủ nhất, cũng
dân chủ hơn gấp triệu lần”(20).
Sau khi đánh đổ chế độ Nga hoàng, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã
xóa bỏ toàn bộ hệ thống chính quyền cũ, xây dựng hệ thống chính quyền mới gọi là
các “xô viết”, về thực chất, quyền lực này là do giai cấp công nhân và nhân dân lao
động quyết định. Trong khi đó ở các nước TBCN, kể cả các nước tư bản dân chủ
nhất thì cũng không bao giờ người dân có được quyền tự do. Lenin nói “Trong số
các nước tư bản dân chủ nhất, thử hỏi có lấy một nước nào trên thế giới mà trong
đó, người công nhân hạng trung, người công nhân thông thường, người cố nông
hạng trung, người cố nông thông thường, hay nói chung, người nửa vô sản ở nông
thôn (tức người đại biểu cho quần chúng bị áp bức, cho đại đa số dân cư) lại được
hưởng gần như là một quyền tự do rộng rãi như ở nước Nga xôviết để có thể tổ
chức các cuộc họp trong những tòa nhà tốt nhất, một quyền tự do rộng rãi như thế
để có thể sử dụng những nhà in lớn nhất và những kho giấy tốt nhất nhằm mục đích
diễn đạt tư tưởng của mình, bênh vực quyền lợi của mình...”(22).
Trong khi đó, dưới chính quyền xôviết, các quyền tự do, dân chủ cơ bản của công
dân như tự do hội họp, tự do đi lại, tự do báo chí... được thực hiện trong thực tế cho
hầu hết nhân dân lao động: “quyền tự do xuất bản không còn là một cái gì giả dối
nữa, vì các nhà in giấy đã được tước đoạt khỏi tay giai cấp tư sản. Các lâu đài, các
dinh thự, các tư thất, các nhà ở tốt nhất... cũng thế. Chính quyền xô viết đã tước
ngay một lúc hàng nghìn những nhà cửa tốt nhất của bọn bóc lột, và chính như vậy
chính quyền xôviết đã làm cho quyền hội họp của quần chúng được gấp triệu lần “dân chủ” hơn”(23). IV.
LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM:
Khác với các nên dân chủ đã tồn tại trước đó trong lịch sử, nên dân chủ xã hội chủ
nghĩa không thể ra đời, phát triển một cách tự phát. Nó không thể tự nhiên xuất
hiện và hoàn thiện ngay sau sự kiện giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành
được chính quyền. Xây dựng nên dân chủ xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ lịch sử mới
mẻ, chưa có tiền lệ. Những thăng trầm của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở các nước
trên thế giới trong gần 100 năm qua đã cho thấy tính dích dắc, phức tạp của tiến
trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, sức
sống thực tế của dân chủ xã hội chủ nghĩa trước hết phụ thuộc và nhận thức và
hành động của đảng cộng sản cầm quyền.
Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, mọi quốc gia, dân tộc nhất định sẽ đi tới chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, giai
cấp công nhân và nhân dân lao động giành chính quyền đã đánh dâu sự ra đời của
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chế độ dân chủ nhân dân ở nước ta được xác lập sau
Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đây là nền dân chủ mà con người là thành viên
trong xã hội với tư cách công dân, tư cách của người làm chủ. Quyền làm chủ của
nhân dân đã được chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“ Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều là của dân.
Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến
quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung
ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở dân”
Đến năm 1976, tên nước được đổi thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
nhưng trong các Văn kiện Đảng hầu như chưa sử dụng cụm từ “dân chủ xã hội chủ
nghĩa” mà thường nêu quan điểm “ xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ
nghĩa” gắn với “ nắm vững chuyên chính vô sản”. Bản chất của dân chủ xã hội chủ
nghĩa, mối quan hệ giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, cũng chưa được xác định rõ ràng. Việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, đặc biệt là thực hiện dân chủ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam như thế nào cho phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa, đạo đức của
xã hội Việt Nam, gắn với hoàn thiện hệ thống pháp luật, kỷ cương cũng chưa được
đặt ra một cách cụ thể, thiết thực. Nhiều lĩnh vực liên quan mật thiết đến dân chủ xã
hội chủ nghĩa chưa được đặt đúng vị trí và giải quyết đúng để thúc đẩy việc xây
dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Ở nước ta, từ năm 1986, bằng việc khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới,
Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục thể hiện rõ trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm của
mình trước những vấn đề hệ trọng của Tổ quốc, nhân dân. Việc xây dựng nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa trở thành một trong những mối quan tâm thưởng trực trong
nhận thức và hành động của Đảng. Theo đó, dân chủ hóa các lĩnh vực đời sống xã
hội luôn được Đảng ta khẳng định là một trong những mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản,
trọng tâm của công cuộc đổi mới. Tư duy, nhận thức mới của Đảng ta về dân chủ
xã hội chủ nghĩa chỉ đạo quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, và thực tiễn dân
chủ hóa lại là căn cứ, cơ sở để kiểm nghiệm, bổ sung nhân thức về dân chủ xã hội
chủ nghĩa và nhận thức về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong đại hội
Đảng lần thứ VI (1986) đã nêu lên bốn bài học lớn, trong đó có bài học: “ Trong
toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “ lấy dân làm gốc”, xây
dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”. Văn kiện nhấn mạnh “
xóa bỏ nhận thức sai lầm coi công tác quần chúng chỉ là biện pháp để tổ chức,
động viên nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách. Đối với những chủ
trương có quan hệ trực tiếp tới đời sống nhân dân trên phạm vi cả nước cũng như ở
các địa phương phải trưng cầu ý kiến của nhân dân trước khi quyết định”.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã đưa ra những nội dung khái quát liên quan đến nhà nước
pháp quyền: Đề cao vai trò tối thượng của Hiến pháp và pháp luật; đề cao quyền
lợi và nghĩa vụ của công dân, đảm bảo quyền con người; tổ chức bộ máy vừa đảm
bảo tập trung, thống nhất, vừa có sự phân công giữa các nhánh quyền lực, phân cấp
quyền hạn và trách nhiệm giữa các cấp chính quyền nhằm đảm bảo quyền dân chủ
của nhân dân, tránh lạm quyền. Bên cạnh đó, về việc phát huy dân chủ trong Đảng,
Cương lĩnh cũng đã xác định: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị,
tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm
lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Đảng phải thường
xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo.
Từ thực tiễn nhận thức và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ ở nước ta có một số đặc điểm sau: -
Xây dựng nhà nước do nhân dân lao động làm củ, đó là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. -
Nhà nước được tổ chức dựa trên cơ sở của Hiến pháp và pháp luật. -
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rõ ràng, phối hợp và
kiểm soát giữa các cơ quan: lập – hành và tư pháp -
Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo -
Nhà nước tôn trọng quyền con người, coi con người là chủ thể, trung tâm của sự phát triển. -
Bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân
chủ, phối hợp và kiểm qoát lẫn nhau nhưng vẫn bảo đảm quyền lực là thống nhất.
Như vậy, những đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
vừa thể hiện được tinh thần cơ bản của một nhà nước pháp quyền nói chung, vừa
thể hiện sự riêng biệt với các nhà nước pháp quyền khác mang bản chất của giai
cấp công nhân, phục vụ lợi ích cho nhân dân; nhà nước là công cụ chủ yếu để
Đảng định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Chúng ta có thể thấy được việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay -
Xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hỗi chủ nghĩa
tạo ra cơ sở kinh tế vững chắc cho xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa -
Xây dựng Đảng trong sạch, vũng mạnh với tu cách điều kiện tiên quyết để
xây dựng nên xã hội chủ nghĩa Việt Nam -
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh với tư cách
điều kiện để thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa -
Nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. -
Xây dựng và từng bước hoàn thiện các hệ thống giám sát, phản biện xã hội
để phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Vậy tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như thế nào? -
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng -
Cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước -
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo
đức, năng lực lãnh đạo, điều hành quản lí đất nước. Phải có chính sách đãi ngộ
những cán bộ tốt đồng thời cũng phải xây dựng được cơ chế loại bỏ, miễn nhiễm
người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỉ luật. -
Đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm.