



















Preview text:
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
1. Khái niệm về đối ngoại và hội nhập quốc tế: Đối ngoại:
- Đối ngoại là hoạt động mà một quốc gia hoặc tổ chức tiến hành để thiết lập, duy trì
và phát triển mối quan hệ với các quốc gia, tổ chức quốc tế khác. Đối ngoại bao gồm
nhiều lĩnh vực như ngoại giao, kinh tế, văn hóa, an ninh và môi trường.
-Mục tiêu: là bảo vệ lợi ích quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế, duy trì hòa bình, ổn
định và hợp tác quốc tế. Đối ngoại thường được thực hiện thông qua các hoạt động
như ký kết hiệp định, tham gia các tổ chức quốc tế, tổ chức hội nghị, và thực hiện
các chính sách ngoại giao.
-Tầm quan trọng: Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, đối ngoại càng trở nên quan
trọng, vì nó không chỉ ảnh hưởng đến quan hệ giữa các quốc gia mà còn tác động
đến đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của người dân trong nước. Hội nhập:
- Hội nhập là quá trình mà các quốc gia, tổ chức hoặc cộng đồng hòa nhập vào một
hệ thống lớn hơn, thường là về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa hoặc xã hội. Hội nhập
có thể diễn ra ở nhiều cấp độ, từ khu vực đến toàn cầu.
- Trong bối cảnh kinh tế, hội nhập thường liên quan đến việc xóa bỏ rào cản thương
mại, tăng cường hợp tác đầu tư và tạo ra các khu vực thương mại tự do. Ví dụ như
Liên minh châu Âu (EU) hay Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ cho các Quốc
gia Thái Bình Dương (CPTPP).
-Mục tiêu: là thúc đẩy sự phát triển bền vững, nâng cao chất lượng đời sống và tăng
cường sự hiểu biết và hợp tác giữa các quốc gia, cộng đồng.
2. Lịch sử và quá trình phát triển của đối ngoại Việt Nam:
- Lịch sử ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh có thể chia làm 5 giai đoạn chính. Giai đoạn 1945-1946:
+Đây là thời kỳ cực kỳ khó khăn của của đất nước nói chung và ngoại giao Việt Nam nói riêng.
+ Dưới sự lãnh đạo của Đảng ngoại giao Việt Nam đã thực hiện những sách lược hết
sức đúng đắn, khôn khéo vừa kiên quyết vừa linh hoạt: lúc hoà với Tưởng, tập trung
sức chống Pháp xâm lược ở miền Nam, rồi hoà với Pháp với việc ký kết Hiệp định
sơ bộ ngày 6 tháng Ba 1946 để đuổi Tưởng về nước, góp phần giữ vững Nhà nước độc lập non trẻ.
Hiệp định Sơ Bộ ngày 06/03/1946 Giai đoạn 1947-1954:
+Ngoại giao phục vụ cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.
Ngoại giao đã phối hợp với chiến trường, đấu tranh chính trị chủ động triển khai
hoạt động quốc tế, tranh thủ đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới
Hình thành liên minh chiến đấu với Lào, Campuchia chống kẻ thù chung; xây
dựng quan hệ với Thái Lan, Miến Điện, Indonesia, Ấn Độ
Tranh thủ thuận lợi do thắng lợi của chiến dịch biên giới đưa lại, ngoại giao đã
thành công thúc đẩy thế giới công nhận và thiết lập quan hệ ngoại với Việt nam
+Đầu năm 1950 : lần đầu tiên chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Quốc, Liên Xô
+Phối hợp với mặt trận quân sự, Việt nam đã tham gia Hội nghị Genève 1954 về
Đông Dương, buộc các nước lớn công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân
Việt Nam, nhân dân Đông Dương,giải phóng được miền Bắc
Liên quân Việt - Lào trong kháng chiến chống thực dân Pháp
Hội nghị Giơnevơ Đông Dương Giai đoạn 1954-1975:
+Ngoại giao phục vụ hai nhiệm vụ chiến lược: Kháng chiến chống Mỹ cứu nước và
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
+Ngoại giao đã trở thành mặt trận, đánh vào hậu phương quốc tế của Mỹ, mở rộng
hậu phương quốc tế của Việt Nam, hình thành Mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn
+, ngoại giao đã phối hợp với chiến trường, đấu tranh chính trị, tiến hành đàm phán
và ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam (27/1/1973).
Đó là điều kiện vô cùng thuận lợi dẫn đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải
phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc.
Hiệp định Paris 1973 Giai đoạn 1975-1986:
+Những năm đầu sau chiến tranh, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hàng
chục nước, nhất là các nước tư bản chủ nghĩa
Tận dụng thời cơ đó nước ta đã nhanh chóng phục hồi nền kinh tế
+Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc (9/1977), tham gia Hội đồng tương trợ kinh tế
(6/1978), ký Hiệp ước hữu nghị và Hợp tác với Liên Xô (11/1978)
+Tuy nhiên năm không lâu sau chúng ta phải tham gia vào 2 cuộc chiến với polpot
và chiến tranh biên giới với Trung Quốc những năm 1975-1979
Điều này dẫn tới hệ lụy nước ta bị các nước ASEANvây cấm vận. Giai đoạn 1986 đến nay:
+Với Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (12/1986), Việt Nam đã khởi đầu
công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước
Lợi ích cao nhất của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn này là "giữ vững môi
trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế-xã hội"
+Đường lối ngoại giao của nước ta là: độc lập tự chủ, hoà bình , hợp tác và phát
triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ quốc tế
+Năm 1994:Việt Nam được bãi bỏ lệnh cấm vận đây là cột mốc vô cùng quan trọng
mang tới nhiều thay đổi trong tương lai
Ngay sau đó 1 năm Mỹ và Việt Nam thiết lập lại mối quan hệ
cho đến nay Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 172 nước, trong đó có tất cả các nước lớn
Và là thành viên của nhiều tổ chúc và diến đàn quốc tế như Liên hợp quốc (1977),
Phong trào Không liên kết (1976), Tổ chức Pháp ngữ (1986), ASEAN (1995)…
giải quyết ổn thoả nhiều tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo, giữ vững môi
trường hoà bình; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực , mở rộng thị trường
ngoài nước; tăng cường ngoại giao đa phương.
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cùng lãnh đạo các
nước tham dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm 30 năm quan hệ đối thoại ASEAN - Hàn
Quốc tổ chức tại Busan (Hàn Quốc), ngày 26-11-2019
CHƯƠNG 2: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
1.CƠ HỘI ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
1.Phát triển khoa học công nghệ:
Ở Việt Nam, sự phát triển của khoa học và công nghệ trong quá trình hội
nhập quốc tế đã và đang tác động mạnh mẽ:
-Sự phát triển khoa học và công nghệ tạo ra kết cấu hạ tầng thông tin ngày
một tốt hơn, như điện thoại, internet: Mạng lưới viễn thông có sự phát triển
nhanh chóng, rộng khắp trên phạm vi cả nước. Đến năm 2022, “tổng doanh
thu trong lịch vực viễn thông đạt 138,69 nghìn tỉ đồng tăng 2,12% so với năm
2021. Hạ tầng viễn thông có sự tăng trưởng mạnh so với năm 2021: mạng 5G
đã được triển khai thử nghiệm tại 40 tỉnh/thành phố, hạ tầng mạng 4G phủ sóng tới 99,8% dân số.
-Tạo môi trường, điều kiện để hình thành và phát triển xã hội học tập: Mở
rộng khả năng tiếp cận thông tin (Internet, mạng xã hội, thiết bị di động), Đa
dạng các công cụ học tập thông minh (ipad, laptop, máy chiếu, bảng thông
minh,...), Các cộng đồng, nền tảng học tập trực tuyến (Zoom, google meet, Microsoft team,...)
-Làm cho đời sống xã hội thay đổi theo hướng tích cực và dân chủ hơn: Dễ
dàng tìm kiếm thông tin qua Internet, Mạng xã hội, Qua E-Government có
thể dễ dàng tương tác với các cơ quan Nhà nước
-Làm xuất hiện nhiều ngành, nghề mới, nhiều loại kinh doanh mới hiệu quả và
hiện đại: Công nghệ thông tin, Thương mại điện tử, Công nghệ sinh học,...
2. Mở rộng thị trường xuất khẩu:
- Đối với hoạt động xuất, nhập khẩu: Kim ngạch xuất khẩu không ngừng được
tăng lên, đóng góp một phần quan trọng vào sự tăng trưởng GDP.
+ Năm 1986, tổng kim ngạch xuất khẩu mới đạt 789 triệu USD
+ Năm 2006 xuất khẩu đã đạt trên 39 tỷ USD
+ Sau khi gia nhập WTO từ 2007 , kim ngạch xuất khẩu không ngừng
tăng lên, đạt 175,9 tỷ USD
+ Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2023 ước đạt 355,5 tỷ USD
+ Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn 230 thị trường trên thế giới, trong đó
các thị trường lớn - Việt Nam đứng thứ 20 về kim ngạch xuất khẩu
hàng hóa, sau các quốc gia như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức,
Hàn Quốc,...Trong khu vực ASEAN: Việt Nam đứng thứ 2, chỉ sau Singapore.
+ Cán cân thương mại hàng hóa chuyển sang thặng dư từ năm 2004 và duy trì đến nay.
+ Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 17,94% - Về cơ cấu xuất khẩu
+ Mặt hàng xuất khẩu ngày càng phong phú, đa dạng, có nhiều nhóm
hàng “chủ lực” đạt kim ngạch lớn.
+ Nhiều mặt hàng xuất khẩu có khối lượng lớn, kim ngạch đứng thứ
hạng cao trên thế giới.
● Gạo đứng thứ 3 TG, đạt 4 tỉ USD xuất khẩu
● Thủy sản: thứ 3 thế giới đạt 8,27 tỷ USD
● Cafe đứng thứ 2 đạt 4,24 tỷ USD
● Giày dép đứng thứ 2 TG, 20,37 tỷ USD
● Linh kiện, điện thoại đứng thứ 2 TG , 53,19 tỷ USD ( số liệu năm 2023 )
+ Năm 1986 chúng ta chưa có mặt hàng nào xuất khẩu trên 200 triệu
USD thì hiện này đã có nhiều mặt hàng vượt kim ngạch 1 tỷ USD, 5 tỷ USD.
Tiếp cận nguồn vốn đầu tư nước ngoài:
Vốn FDI đã trở thành một trong những động lực chính cho phát triển kinh tế của
Việt Nam, đặc biệt kể từ sau khi VN gia nhập WTO.
● Về thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI), Việt Nam hiện đã trở
thành một trong những điểm đến đầu tư hấp dẫn nhất trên thế
giới. Ngay sau khi gia nhập WTO năm 2007, năm 2008 Việt
Nam đã đón một lượng vốn FDI đăng ký lên tới 64 tỷ USD, cao
gấp 3 lần so với năm 2007.
● Cùng với việc tham gia các FTA, Việt Nam tiếp tục thu hút đều
một lượng lớn FDI qua các năm. Đặc biệt năm 2020, Việt Nam
lọt vào top 20 quốc gia thu hút nhiều FDI nhất trên thế giới,
đứng vị trí thứ 19 - tăng 5 bậc so với năm 2019 (theo UNCTAD, 2021).
● Năm 1986, Việt Nam thu hút khoảng 0,04 triệu USD vốn FDI,
xếp thứ 121 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
● Đến năm 2022, Việt Nam nhảy vọt gần 100 bậc, lên vị trí thứ
23 khi thu hút được khoảng 17,9 tỷ USD vốn FDI. ● Quý 1/2024:
Tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ
phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài đạt hơn
6,17 tỷ USD, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó:
Thu hút đầu tư trong ngành:
Phát triển thị trường lao động và nguồn nhân lực:
Việt Nam đã tiếp thu được khoa học - công nghệ mới và cách quản lý tiên
tiến trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, kỹ thuật, văn hóa - xã hội… góp phần tăng
năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh…
+ VD: Sử dụng nấm men Saccharomyces cerevisia trong chế biến cà phê
giúp hạn chế quá trình phát triển của các loại nấm men, nấm mốc và
tăng chất lượng hạt cà phê
- Hội nhập quốc tế cũng đã góp phần đào tạo cho Việt Nam có được đội ngũ
nguồn nhân lực có trình độ và năng lực cả về chuyên môn lẫn quản lý.
+ VD: Các chương trình đào tạo liên kết quốc tế với nhiều trường đại
học top đầu trên thế giới
5. Củng cố và phát triển mối quan hệ đối tác chiến lược với các quốc gia lớn:
Tiếp tục mở rộng và làm sâu sắc thêm các mối quan hệ với những cường
quốc như Mỹ, Trung Quốc và Liên minh Châu Âu. Đảm bảo an ninh quốc
phòng, duy trì ổn định khu vực, và thúc đẩy thương mại, đầu tư.
Việc thiết lập các đối tác chiến lược giúp tiếp cận các nguồn lực quan trọng
về kinh tế và công nghệ, tạo ra sự cân bằng trong chính sách đối ngoại giữa các cường quốc.
6. Nâng cao vị thế và uy tín quốc gia:
Hội nhập quốc tế giúp Việt Nam có cơ hội đóng vai trò lớn hơn trong các tổ
chức và diễn đàn quốc tế như Liên Hợp Quốc, ASEAN, APEC, hay WTO.
Việt Nam có thể tham gia vào việc định hình chính sách toàn cầu về phát
triển kinh tế, an ninh khu vực, biến đổi khí hậu.
Việc Việt Nam chủ động và tích cực tham gia vào các sự kiện quốc tế lớn,
đóng vai trò cầu nối trong các vấn đề toàn cầu.
7. Tăng cường giao lưu văn hóa, thúc đẩy du lịch:
Cơ hội cho Việt Nam quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc và di sản thế giới ra
nước ngoài, từ đó thu hút du khách quốc tế; thúc đẩy các lĩnh vực như dịch
vụ, nhà hàng, khách sạn.
Học hỏi và tiếp nhận những giá trị mới, sáng tạo hơn, góp phần làm phong
phú đời sống tinh thần của người dân.
8. Học hỏi kinh nghiệm và mô hình phát triển từ các quốc gia tiên tiến:
Tiếp cận các thành tựu khoa học công nghệ, giáo dục và quản lý từ các
nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, và các nước Châu Âu. Điều
này góp phần thúc đẩy công cuộc hiện đại hóa đất nước, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Học hỏi các mô hình phát triển bền vững và các chính sách phát triển kinh
tế xã hội tiên tiến để áp dụng và điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện trong nước.
2. Thách thức đối ngoại của VN trong thời kì hội nhập
Cạnh tranh khốc liệt từ các doanh nghiệp nước ngoài
-Kinh tế Việt Nam phát triển chưa ổn định, bền vững. Nợ công, thâm hụt ngân sách
nhà nước cao, kéo dài. Doanh nghiệp trong nước 95-96% là doanh nghiệp nhỏ, trình độ công nghệ thấp.
- Các doanh nghiệp nước ngoài có những thương hiệu nổi tiếng, được khách hàng
tin dùng trên toàn cầu. Điều này tạo ra lợi thế lớn về mặt tiếp thị, xây dựng lòng tin
và thu hút khách hàng tại Việt Nam, đặc biệt là trong các lĩnh vực tiêu dùng, công nghệ và dịch vụ.
-Các hiệp định thương mại tự do như EVFTA (Hiệp định Thương mại Tự do giữa
Việt Nam và Liên minh Châu Âu), CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ
xuyên Thái Bình Dương),... mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp nước ngoài thâm
nhập vào thị trường Việt Nam với thuế suất ưu đãi. Điều này gia tăng sự cạnh tranh
với các doanh nghiệp trong nước vốn đã phải đối mặt với nhiều thách thức.
Vd: (10 hãng xe bán chạy top đầu thị trường việt nam)
- VinFast là một thương hiệu mới, ra đời vào năm 2017, trong khi các đối thủ
quốc tế như Toyota, hyundai,...đã có nhiều thập kỷ kinh nghiệm. Điều này
khiến VinFast gặp bất lợi trong việc xây dựng lòng tin của khách hàng trên
thị trường toàn cầu. Các thương hiệu quốc tế có sự nhận diện mạnh mẽ, mạng
lưới phân phối rộng lớn và uy tín được xây dựng qua nhiều năm.
Nguy cơ bị phụ thuộc vào các thị trường lớn
- Việc phụ thuộc vào các thị trường lớn, chẳng hạn như Hoa Kỳ, Trung Quốc,
và Liên minh Châu Âu (EU), là một trong những thách thức đáng kể đối với
Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam có thể gặp khó
khăn trong việc thích ứng, đặc biệt khi nền kinh tế phụ thuộc lớn vào xuất
khẩu sang các thị trường này.
- Việt Nam không phải là nước duy nhất tìm cách tận dụng cơ hội từ các thị
trường lớn. Các quốc gia khác, như Ấn Độ, Indonesia và Bangladesh, cũng
đang cạnh tranh gay gắt để giành thị phần trong các lĩnh vực xuất khẩu như
dệt may, điện tử, và nông sản. Điều này khiến Việt Nam phải đối mặt với áp
lực lớn hơn về chi phí sản xuất, hiệu quả và chất lượng để duy trì tính cạnh tranh.
Chênh lệch trình độ phát triển giữa các khu vực
- Chênh lệch phát triển giữa các vùng, đặc biệt là giữa các trung tâm kinh tế
lớn như Hà Nội, TP.HCM với các khu vực miền núi, nông thôn, hoặc vùng
sâu vùng xa, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong hội nhập
kinh tế. Các khu vực phát triển nhanh như Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông
Hồng có điều kiện tiếp cận công nghệ, nguồn lực, và thị trường tốt hơn, từ đó
thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) mạnh mẽ. Ngược lại, các vùng kém phát
triển lại gặp khó khăn trong việc thu hút đầu tư và phát triển kinh tế, khiến
Việt Nam không thể phát huy tối đa tiềm năng trong hội nhập quốc tế.
Ví dụ:Theo thống kê mới nhất năm 2024, thu nhập bình quân tháng của lao
động tại Hà Nội đạt khoảng 10,7 triệu đồng, trong khi mức này tại vùng
Trung du miền núi phía Bắc chỉ vào khoảng 5,6 triệu đồng. Điều này cho thấy
thu nhập ở Hà Nội cao gần gấp đôi so với khu vực miền núi, minh chứng rõ
ràng cho sự chênh lệch về mức sống và cơ hội kinh tế. Ngoài ra, thu nhập
trung bình ở các tỉnh nông thôn và vùng sâu vùng xa vẫn duy trì ở mức thấp,
làm hạn chế khả năng cạnh tranh của các khu vực này trong nền kinh tế chung của đất nước.
Xử lý các mối quan hệ phức tạp giữa các cường quốc
- Việc xử lý các mối quan hệ phức tạp với các cường quốc là một trong những
thách thức lớn nhất đối với chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ
hội nhập quốc tế. Việt Nam, với vị trí chiến lược quan trọng ở Đông Nam Á
và nền kinh tế ngày càng phát triển, đang phải cân bằng giữa các lợi ích kinh
tế và an ninh khi đối mặt với các yêu cầu, áp lực từ các cường quốc như Hoa
Kỳ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản và Liên minh Châu Âu
- VD: Mối quan hệ giữa Việt Nam, Trung Quốc và Hoa Kỳ là một trong những
thách thức đối ngoại phức tạp nhất. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn
nhất của Việt Nam, trong khi Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu quan trọng.
Căng thẳng giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, đặc biệt là trong các lĩnh vực
thương mại và chiến lược, đẩy Việt Nam vào thế phải lựa chọn hoặc cân bằng
giữa hai cường quốc này.
Vấn đề Biển Đông: Trung Quốc có yêu sách chủ quyền trên hầu hết Biển
Đông, nơi Việt Nam cũng khẳng định chủ quyền. Căng thẳng trong vấn đề
này khiến mối quan hệ giữa hai nước trở nên nhạy cảm. Trong khi đó, Hoa
Kỳ thường ủng hộ Việt Nam trong việc duy trì tự do hàng hải và chống lại sự
bành trướng của Trung Quốc, tạo ra cơ hội hợp tác an ninh với Washington.
Tuy nhiên, Việt Nam phải xử lý khéo léo để tránh gây ra xung đột quá mức
với Trung Quốc, đồng thời không làm mất lòng Hoa Kỳ.
Ảnh hưởng của các vấn đề địa chính trị đến đối ngoại
Việt Nam khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa, nhưng Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền trên phần lớn khu vực này
thông qua cái gọi là “Đường chín đoạn” (hay "đường lưỡi bò"), vốn không
được công nhận bởi cộng đồng quốc tế. Các hoạt động của Trung Quốc, như
bồi đắp, xây dựng đảo nhân tạo và quân sự hóa trên Biển Đông, đã gây ra
căng thẳng lớn với Việt Nam và các quốc gia khác trong khu vực.
Xung đột quân sự tiềm tàng: Tình hình Biển Đông có thể leo thang thành các
cuộc đối đầu quân sự nếu không được kiểm soát tốt. Việt Nam phải cân nhắc
kỹ lưỡng giữa việc bảo vệ chủ quyền và tránh xung đột quân sự trực tiếp với
Trung Quốc, đồng thời tìm kiếm sự hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế để duy trì
hoà bình và ổn định trong khu vực
https://video.vnexpress.net/embed/v_407034 ( bạn gắn video lên pp nhé) - Trung
Quốc hành hung ngư dân Việt Nam
-Thuyền trưởng tàu QNg 95739 TS, ông Nguyễn Thanh Biên, tường thuật cuộc tấn
công và hành hung của Trung Quốc đối với ông và các ngư dân khác trên tàu
- Ngư dân trên tàu QNg 95739 TS, ông Huỳnh Tiến Công bị đánh gãy tay (trái) và
ông Võ Văn Thi (phải) bị thương vì lao vào đỡ cho ông Côn
Thách thức trong việc giữ gìn văn hóa bản sắc dân tộc trước sự giao thoa văn hóa quốc tế
- Tại Hội nghị Văn hoá Toàn quốc năm 2021, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng nhấn mạnh “Văn hoá là hồn cốt dân tộc. Văn hoá còn thì dân tộc
còn. Văn hoá mất thì dân tộc mất…” đó như lời thức tỉnh chúng ta về
nguy cơ xói mòn, mai một giá trị bản sắc văn hoá dân tộc.
- Chưa bao giờ văn hoá nhân loại lại đứng trước một nghịch lý phức tạp như
trong kỷ nguyên toàn cầu hoá hiện nay: vừa có khả năng giao lưu rộng mở,
vừa có nguy cơ bị nghèo văn hoá rất nghiêm trọng.
Giải trí và truyền thông: Các sản phẩm văn hóa nước ngoài như phim ảnh, âm
nhạc, thời trang và các nền tảng mạng xã hội toàn cầu (Netflix, YouTube,
Instagram, TikTok) đã có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới trẻ Việt Nam. Sự
tiếp thu nhanh chóng này có thể dẫn đến việc giới trẻ ít quan tâm đến văn hóa
truyền thống hoặc không hiểu rõ về bản sắc dân tộc.
Phong cách sống và tiêu dùng: Văn hóa phương Tây với lối sống hiện đại, tự
do, và xu hướng tiêu dùng của các thương hiệu quốc tế đang dần chiếm lĩnh
thị trường Việt Nam, khiến nhiều giá trị truyền thống có nguy cơ bị lãng quên hoặc mờ nhạt.
Hình ảnh có phần kinh dị này xuất hiện lễ hội Halloween của một Trung tâm Anh ngữ ở Huế năm 2021
Những hình ảnh “rùng rợn” kiểu như thế này có phù hợp với thiếu nhi Việt Nam?
Đạo diễn Nguyễn Phi Tuấn (Huế), người đã và đang tổ chức nhiều chuyến lưu diễn
múa rối nước, rối cạn phục vụ trẻ thơ, bày tỏ quan điểm về lễ hội Halloween trên Facebook
Suy giảm giá trị gia đình và cộng đồng: Văn hóa phương Tây chú trọng đến
tính cá nhân và tự do cá nhân, trong khi văn hóa truyền thống Việt Nam lại
coi trọng gia đình, cộng đồng và các mối quan hệ xã hội. Việc tiếp nhận
những giá trị cá nhân có thể làm suy yếu các mối quan hệ gia đình và tình
làng nghĩa xóm trong xã hội Việt Nam.
Biến mất của các phong tục và nghi lễ: Các phong tục, lễ hội truyền thống
như Tết Nguyên Đán, lễ hội làng, nghi lễ gia đình (cưới hỏi, tang ma) có
nguy cơ mai một khi các giá trị hiện đại và toàn cầu thay thế. Nhiều người trẻ
không còn quan tâm nhiều đến việc gìn giữ các phong tục truyền thống, khiến
văn hóa dân tộc dần mất đi.
TỤC DỰNG CÂY NÊU NGÀY TẾT : Nhiều người lớn tuổi kể cây nêu có
sự tích rằng, thời xa xưa, con người sống ở trần gian thường bị quỷ dữ
làm hại. Theo lời dặn của Đức Phật, người trồng cây nêu trước nhà. Đức
Phật ra lệnh cho quỷ dữ, nơi nào có bóng cây nêu thì nơi đó là đất của
Phật, quỷ dữ không được lui tới. Trồng cây nêu ngày Tết là để trừ ma
quỷ, tránh điều không may mắn, tạo an lành.
Thông thường cây nêu được dựng vào ngày 23/12 Âm lịch và hạ vào ngày 7/1 Âm
lịch. Nhưng ngày nay phong tục dựng nêu ngày Tết dường như đã không còn phổ
biến ở nhiều vùng quê vào dịp Tết Nguyên Đán nữa.