









Preview text:
lOMoAR cPSD| 61256830
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ ----- ----- BÀI TẬP LỚN
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN
Đề 3: Lý luận về hàng hóa sức lao động. Vai trò của hàng hóa sức
lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp. Với tư
cách là một người lao động (người bán sức lao động cho chủ doanh
nghiệp), hãy cho biết trách nhiệm của mình đối với doanh nghiệp và
đối với bản thân? Họ và tên
: Đỗ Tố Như Lớp : EPMP 10B Khóa : 66 Chuyên ngành
: Quản lý công và chính sách Mã sinh viên : 11247728
Giảng viên hướng dẫn : Đào Thị Phương Liên
Hà Nội, tháng 4 năm 2025 lOMoAR cPSD| 61256830 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG
I, Lý luận về hàng hóa sức lao động
1. Khái niệm hàng hóa sức lao động
2. Những điều kiện biến sức lao động thành hàng hóa
3. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động a, Giá trị hàng hóa sức lao động b, Giá trị sử
dụng hàng hóa sức lao động
4. Hàng hóa sức lao động và quan hệ bóc lột trong chủ nghĩa tư bản
II, Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp
III, Thực tiễn tại Việt Nam
IV, Thái độ và trách nhiệm của sinh viên – người lao động tương lai PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO lOMoAR cPSD| 61256830 PHẦN MỞ ĐẦU
Trong xã hội hiện đại, đặc biệt là dưới chế độ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam, hàng hóa sức lao động trở thành một khái niệm then chốt không chỉ trong lý luận kinh tế chính
trị học Mác-Lênin mà còn trong thực tiễn vận hành và phát triển kinh tế - xã hội. Hàng hóa sức lao
động là một khái niệm mang tính bước ngoặt trong tư duy kinh tế của nhân loại, được C.Mác xây
dựng như một trụ cột để lý giải nguồn gốc của giá trị thặng dư trong xã hội tư bản.
Sự ra đời và phát triển của lý luận về hàng hóa sức lao động không những đóng vai trò quan trọng
trong việc vạch trần bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, mà còn góp phần làm sáng tỏ vai trò của
người lao động – những người trực tiếp tạo ra của cải vật chất và giá trị gia tăng cho xã hội. Lý luận
này không chỉ có ý nghĩa lý thuyết sâu sắc mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc giúp người
lao động hiện đại, đặc biệt là sinh viên – những người sẽ trực tiếp gia nhập thị trường lao động – hiểu
đúng và đầy đủ về giá trị lao động của mình, quyền lợi và trách nhiệm trong mối quan hệ với doanh
nghiệp và với chính bản thân mình.
Đề tài này sẽ đi sâu phân tích ba nội dung chính: lý luận về hàng hóa sức lao động; vai trò của hàng
hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp và trách nhiệm của người lao động,
cụ thể là sinh viên, đối với doanh nghiệp và chính bản thân mình. Qua đó, bài viết không chỉ củng cố
kiến thức lý luận về kinh tế chính trị Mác – Lênin, mà còn gắn kết chặt chẽ với thực tiễn phát triển
nguồn nhân lực tại Việt Nam hiện nay. lOMoAR cPSD| 61256830 PHẦN NỘI DUNG
I. Lý luận về hàng hóa sức lao động
1. Khái niệm hàng hóa sức lao động
Theo C.Mác, sức lao động là toàn bộ những năng lực (thể lực và trí lực) tồn tại trong một con người
và được người đó sử dụng vào sản xuất. Sức lao động là cái có trước, còn lao động chính là quá trình
sử dụng sức lao động.
Trong nền sản xuất hàng hóa giản đơn, lao động tạo ra hàng hóa và hàng hóa là sản phẩm được sản
xuất ra để bán. Tuy nhiên, trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, cái mà người lao động bán không phải
là lao động mà là sức lao động. Sức lao động trở thành hàng hóa đặc biệt, bởi nó có thể tạo ra giá trị
mới, trong khi các loại hàng hóa thông thường chỉ đơn thuần là vật phẩm tiêu dùng hoặc công cụ sản xuất.
2. Những điều kiện biến sức lao động thành hàng hóa:
Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng đều là yếu tố hàng đầu của quá trình lao động sản xuất.
Những không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hóa. Sức lao động chỉ biến thành hàng hóa khi có hai điều kiện sau:
Một là; người lao động phải được tự do về thân thể, do đó có khả năng chi phối sức lao động của
mình. Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hóa, nếu nó do con người có sức
lao động đưa ra bán. Muốn vậy, người có sức lao động phải có quyền sở hữu năng lực của mình. Việc
biến sức lao động thành hàng hóa đòi hỏi phải thủ tiêu chế độ chiếm hữu nô và chế độ phong kiến.
Hai là; người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất không thể tự tiến hành lao động sản xuất. Chỉ
trong điều kiện ấy, người lao động mới buộc phải bán sức lao động của mình, vì không còn cách nào khác để sinh sống.
Dưới chủ nghĩa tư bản, đã xuất hiện đầy đủ hai điều kiện đó. Một mặt, cách mạng tư sản đã giải
phóng người lao động khỏi sự lệ thuộc về thân thể vào chủ nô và chúa phong kiến. Mặt khác, do tác
động của quy luật giá trị và các biện pháp tích lũy nguyên thủy của tư bản đã làm phá sản những
người sản xuất nhỏ, biến họ trở thành vô sản.
→ Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu dẫn đến chỗ sức lao động biến thành hàng hóa.
Bên cạnh đó, sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện chủ yếu quyết định sự chuyển hóa tiền thành tư bản.
3. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng
a) Giá trị hàng hóa sức lao động lOMoAR cPSD| 61256830
Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng giống như các hàng hóa khác được quyết định bởi lượng lao
động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động ấy. Để sản xuất và tái sản xuất ra năng
lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một số lượng tư liệu sinh hoạt nhất định. Bao gồm: chi phí
sinh hoạt (ăn, ở, mặc); chi phí đào tạo nghề (giáo dục, huấn luyện) và chi phí tái sản xuất sức lao
động (duy trì nòi giống, nuôi dạy con cái…). Như vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
ra sức lao động sẽ quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy.
Khác với hàng hóa thông thường, giá trị hàng hóa sức lao động bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch
sử. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhu cầu của công nhân không chỉ có nhu cầu về vật chất mà còn gồm cả
những nhu cầu về tinh thần (giải trí, học hành,...). Nhu cầu đó, cả về khối lượng lẫn cơ cấu những tư
liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân không phải lúc nào và ở đâu cũng giống nhau. Nó tùy thuộc
vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, ngoài ra còn phụ thuộc vào tập quán, vào điều kiện địa lý và khí
hậu, vào điều kiện hình thành giai cấp công nhân. b) Giá trị sử dụng hàng hóa sức lao động
Giá trị sử dụng hàng hóa sức lao động cũng giống như các hàng hóa khác chỉ thể hiện ra trong quá
trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình người công nhân tiến hành lao động sản xuất. Khi sử
dụng sức lao động, nhà tư bản nhận được khả năng tạo ra giá trị mới, thậm chí lớn hơn giá trị bản
thân sức lao động. Chính điều này làm phát sinh giá trị thặng dư, và giá trị thặng dư chính là nguồn
gốc trực tiếp của lợi nhuận trong chủ nghĩa tư bản.
Những tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động được thể hiện đó là:
Thứ nhất, sự so với giá trị sử dụng của các hàng hóa khác là ở chỗ: khi tiêu dùng hàng hoá sức lao
động, nó tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của thân giá trị sức lao động. Phần lớn hơn đó chính là
giá trị thặng dư. Như vậy, hàng hóa sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị. Đó là đặc
điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động so với các hàng hóa khác. Nó là chìa
khóa để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản. Như vậy, tiền chỉ thành tư bản khi sức
lao động trở thành hàng hóa.
Thứ hai, con người là chủ thể của hàng hóa sức lao động, vì vậy việc cung ứng sức lao động phụ
thuộc vào những đặc điểm về tâm lý, kinh tế, xã hội của người lao động. Đối với hầu hết các thị
trường khác thì cầu phụ thuộc vào con người với những đặc điểm của họ, những đối với thị trường
lao động thì con người lại có ảnh hưởng quyết định tới cung.
4. Hàng hóa sức lao động và quan hệ bóc lột trong chủ nghĩa tư bản
Chủ nghĩa tư bản phát triển dựa trên nền tảng bóc lột giá trị thặng dư từ người lao động. Chủ tư bản
chỉ trả lương tương ứng với giá trị sức lao động (thời gian lao động cần thiết), trong khi người lao
động phải làm việc nhiều hơn để tạo ra phần giá trị thặng dư (thời gian lao động thặng dư). Ví dụ:
nếu một công nhân làm việc 8 tiếng, thì có thể chỉ cần 4 tiếng để tạo ra giá trị tương đương tiền lương,
còn lại 4 tiếng là tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản. lOMoAR cPSD| 61256830
Điều này làm rõ bản chất hai mặt của lao động trong sản xuất hàng hóa: một mặt là lao động cụ thể
(tạo ra giá trị sử dụng), mặt kia là lao động trừu tượng (tạo ra giá trị thặng dư). Vì vậy, sức lao động
không chỉ là yếu tố kỹ thuật trong sản xuất, mà còn là vấn đề giai cấp và quyền lực trong xã hội tư bản.
II. Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp
Sức lao động không chỉ là yếu tố sản xuất mà còn là nguồn gốc trực tiếp của lợi nhuận. Trong nền
kinh tế thị trường, đặc biệt là nền kinh tế tư bản, lợi nhuận không sinh ra từ sự mua bán hàng hóa
thông thường mà chủ yếu đến từ việc khai thác sức lao động một cách tối đa để tạo ra giá trị thặng dư.
Khi một doanh nghiệp tuyển dụng lao động, chi phí mà họ bỏ ra để trả lương chỉ là một phần trong
tổng giá trị sản phẩm được tạo ra. Điều quan trọng là, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp thường
tìm cách kéo dài thời gian lao động, tăng cường cường độ làm việc hoặc rút ngắn thời gian lao động
cần thiết để tạo ra lượng giá trị ngang bằng với tiền công. Từ đó, phần còn lại của thời gian lao động
sẽ trở thành “lao động thặng dư” – là nguồn tạo ra giá trị thặng dư.
Tại Việt Nam, điều này thể hiện rõ qua việc nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài (FDI), tập trung vào các ngành thâm dụng lao động như dệt may, giày da, điện tử.
Những ngành này chủ yếu dựa vào sức lao động giá rẻ để sản xuất hàng hóa với chi phí thấp và bán
ra thị trường quốc tế với giá cao. Chính nhờ giá trị thặng dư mà người lao động tạo ra, các doanh
nghiệp có thể tồn tại, phát triển và thu lợi nhuận lớn.
Trong bất kỳ nền sản xuất nào, lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng mà các doanh nghiệp hướng tới. Tuy
nhiên, trong chủ nghĩa tư bản, lợi nhuận không đơn thuần xuất phát từ hoạt động trao đổi hay kinh
doanh, mà chủ yếu đến từ việc sử dụng hàng hóa sức lao động để sản xuất ra giá trị thặng dư.
Sự vận động của tư bản, như C.Mác phân tích, là một quá trình "T – H (sức lao động + tư liệu sản
xuất) – Sản xuất – H’ – T’". Trong quá trình này, điểm then chốt là sự biến đổi sức lao động thành
hoạt động sản xuất cụ thể, tạo ra hàng hóa mang giá trị lớn hơn tổng giá trị các yếu tố đầu vào. Sự
gia tăng giá trị đó – tức phần giá trị thặng dư – chính là lợi nhuận mà nhà tư bản chiếm đoạt.
Ngoài ra, các yếu tố như sự sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, khả năng đổi mới quy trình, cải tiến sản
phẩm từ phía người lao động cũng là những yếu tố then chốt làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
trong nền kinh tế tri thức hiện nay.
III. Thực tiễn tại Việt Nam
Thị trường lao động Việt Nam hiện nay đang trải qua quá trình chuyển biến mạnh mẽ với sự gia tăng
nhanh chóng của lực lượng lao động trẻ, trình độ học vấn ngày càng nâng cao và sự hội nhập sâu lOMoAR cPSD| 61256830
rộng vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, đi cùng với đó là những thách thức lớn về việc đảm
bảo công bằng và bền vững trong việc sử dụng sức lao động.
Theo số liệu từ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, mỗi năm có hàng trăm vụ tranh chấp lao động
và đình công xảy ra, chủ yếu liên quan đến tiền lương, thời gian làm việc, điều kiện lao động và chính
sách bảo hiểm. Các khu công nghiệp lớn như KCN Tân Tạo (TP.HCM), KCN VSIP (Bình Dương),
hay KCN Quế Võ (Bắc Ninh) thường xuyên chứng kiến các cuộc đình công đòi quyền lợi, cho thấy
người lao động ngày càng ý thức hơn về vai trò và giá trị của mình.
Một thực tế khác là nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực gia công, đang đối mặt với sự cạnh
tranh khốc liệt và sức ép cắt giảm chi phí từ các tập đoàn mẹ. Trong tình huống đó nhiều doanh
nghiệp cố gắng giữ mức lương tối thiểu, né tránh trả tiền làm thêm giờ đúng luật hoặc không ký hợp
đồng lao động chính thức để giảm đóng bảo hiểm xã hội. Đây là những biểu hiện của việc xem sức
lao động như một công cụ thuần túy thay vì là giá trị nhân văn cần được tôn trọng.
Tuy nhiên, cũng có những chuyển biến tích cực. Ngày càng nhiều doanh nghiệp trong nước nhận ra
rằng, đầu tư vào người lao động là đầu tư vào sự phát triển lâu dài. Một số doanh nghiệp Việt Nam
trong lĩnh vực công nghệ, phần mềm, dịch vụ đã chú trọng hơn đến việc xây dựng môi trường làm
việc sáng tạo, thân thiện, minh bạch và công bằng. Các tập đoàn như Viettel, FPT, VinGroup, TH
True Milk… đã đầu tư rất lớn vào đào tạo, phúc lợi, nâng cao năng suất lao động và gặt hái được
những thành công ấn tượng trong nước và quốc tế.
IV. Thái độ và trách nhiệm của sinh viên – người lao động tương lai
Trong bối cảnh thị trường lao động biến động mạnh mẽ, người lao động, đặc biệt là sinh viên – những
người chuẩn bị gia nhập lực lượng lao động, cần hình thành thái độ tích cực và trách nhiệm rõ ràng
đối với cả doanh nghiệp lẫn chính bản thân mình.
Với doanh nghiệp, người lao động cần có ý thức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.
Việc hoàn thành tốt công việc không chỉ thể hiện tính chuyên nghiệp mà còn là cách để người lao
động khẳng định năng lực cá nhân, tạo niềm tin với đồng nghiệp và cấp trên. Sinh viên mới ra trường
có thể chưa có nhiều kinh nghiệm, sự chủ động học hỏi, thái độ cầu tiến và tinh thần cộng tác chính
là những yếu tố được nhà tuyển dụng đánh giá cao.
Về phía bản thân, người lao động cần coi sức lao động của mình là một “tài sản” cần được đầu tư,
chăm sóc và phát triển. Việc trau dồi kỹ năng chuyên môn, cập nhật kiến thức mới, học thêm ngoại
ngữ, công nghệ, kỹ năng mềm... chính là cách để tăng giá trị hàng hóa sức lao động của mình. Trong
thị trường lao động hiện đại, người lao động không còn bị động chờ cơ hội mà cần chủ động định
hướng nghề nghiệp, sẵn sàng thích ứng với sự thay đổi.
Cuối cùng, sinh viên – với tư cách là lực lượng lao động trẻ - còn mang trong mình sứ mệnh của một
công dân hiện đại cần nhận thức rõ ràng sức lao động không chỉ là công cụ mưu sinh, mà còn là
phương tiện khẳng định giá trị bản thân và đóng góp cho xã hội. Trách nhiệm đối với doanh nghiệp lOMoAR cPSD| 61256830
là làm việc có trách nhiệm, chủ động học hỏi, tuân thủ quy định, đóng góp vào hiệu quả sản xuất.
Trách nhiệm đối với bản thân là không ngừng trau dồi kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức để phát
triển bền vững và tự chủ trong nghề nghiệp. Chỉ khi nhận thức đúng về vai trò của sức lao động, sinh
viên mới có thể trở thành người lao động có giá trị, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh
nghiệp và thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội. lOMoAR cPSD| 61256830 PHẦN KẾT LUẬN
Lý luận về hàng hóa sức lao động là một trong những đóng góp lớn nhất của C.Mác trong việc lý giải
bản chất vận hành của chủ nghĩa tư bản và nguồn gốc thực sự của lợi nhuận. Qua phân tích, ta thấy
rằng sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt, có khả năng tạo ra giá trị mới và giá trị thặng dư – nguồn
gốc trực tiếp của lợi nhuận trong sản xuất tư bản. Điều này khẳng định vai trò trung tâm của người
lao động trong nền kinh tế.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện nay tại Việt Nam, việc nâng cao chất lượng hàng hóa
sức lao động, đặc biệt là nâng cao trình độ và thái độ làm việc của người lao động, là chìa khóa để
doanh nghiệp phát triển bền vững. Đối với sinh viên, việc nhận thức rõ giá trị sức lao động và trách
nhiệm bản thân không chỉ là yêu cầu học thuật, mà còn là hành trang sống còn để bước vào thị trường
lao động đầy cạnh tranh.
Qua bài tiểu luận trên, ta có thể thấy được tầm quan trọng của hàng hóa sức lao động. Sự kết hợp hài
hòa giữa lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác với thực tiễn thị trường sức lao động ở Việt
Nam vừa là nhiệm vụ hàng đầu của nền kinh tế lại vừa là mục tiêu quan trọng nhằm phát triển nguồn
nhân lực, nâng cao dân trí, phát triển đội ngũ trí thức, đặc biệt là trí thức tinh hoa, có đủ năng lực để
thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đóng góp tích cực nhằm hình thành và
phát triển “nền kinh tế tri thức” của Việt Nam.
Trong quá trình làm bài, em nhận thấy vẫn còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý từ
phía cô giáo phụ trách bộ môn lớp EPMP 10B để em có thể hoàn thiện bài tốt hơn cả về lý luận lẫn
thực tiễn, đồng thời rút kinh nghiệm cho những bài làm tiếp theo. Qua đây, em xin chân thành cảm
ơn cô giáo Đào Thị Phương Liên đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện để chúng em có cơ hội nghiên
cứu, tìm hiểu sâu sắc hơn về những vấn đề lý luận quan trọng trong bộ môn Kinh tế chính trị Mác –
lênin; góp phần nâng cao nhận thức và tư duy học yaapj của bản thân. Em xin chân thành cảm ơn! lOMoAR cPSD| 61256830
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. C.Mác – Ph.Ăngghen (2005), Tư bản – Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật.
2. Bộ môn Kinh tế Chính trị, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2020), Giáo trình Kinh tế Chính
trị Mác – Lênin, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân.
3. Trần Văn Phác (2018), Kinh tế học Mác – Lênin hiện đại, Nxb Chính trị Quốc gia.
4. Nguyễn Văn Dân (2021), “Vai trò của người lao động trong nền kinh tế tri thức”, Tạp chí
Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN.
5. Cổng thông tin điện tử Chính phủ (2023), Chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam
đến năm 2030. Truy cập tại: https://chinhphu.vn
6. VCCI (2022), “Báo cáo năng suất lao động Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số”, Liên
đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
7. Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2002
8. Tạp chí Lý luận chính trị số 12-2002
9. Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2003
10. Giáo trình kinh tế chính trị