lOMoARcPSD| 61236129
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN
Đề 3.
Lý luận về hàng hóa sức lao động. Vai trò của hàng hóa sức lao
nghiệp),
hãy cho biết trách nhiệm của mình đối với doanh nghiệp và đối
với bản thân?
Họ và tên:
Phạm Hà Thu
Khóa:
65
Lớp:
Tài chính tiên tiến A
Mã sinh viên:
11234498
Hà Nội, 2024
0
lOMoARcPSD| 61236129
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
B. NỘI DUNG .......................................................................................................... 2
I. Lý luận về hàng hóa sức lao động ...................................................................... 2
1. Khái niệm hàng hóa sức lao động .................................................................. 2
2. Sức lao động và hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa ............... 2
3. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động ..................................................... 2
II. Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh
nghiệp ..................................................................................................................... 4
1. Thực trạng ở Việt Nam ................................................................................... 4
2. Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh
nghiệp ................................................................................................................. 5
III. Trách nhiệm của sinh viên đối với doanh nghiệp đối với bản thân dưới
cách là một người lao động .................................................................................... 6
C. KẾT LUẬN .......................................................................................................... 7
A. MỞ ĐẦU
Sức lao động một tài sản cùng quý glà vấn đề quan trọng quyết
định mạng sống của mỗi quốc gia đất nước, đặt biệt trong bối cảnh phát triển toàn
cầu như hiện nay. Hàng hóa sức lao động vừa là tiền đề vừa là động lực của nền sản
xuất.
Theo C.Mác, lưu thông không tạo ra giá trị thặng dư, nhưng chính nhờ q
trình lưu thông tư bản được tăng thêm giá trị. Nhlưu thông mà tư bản mới mua
được thứ hàng hóa đặc biệt mà quá trình tiêu dùng nó cũng là quá trình tạo ra giá trị
và giá trị thặng dư. Hàng hóa đặc biệt đó chính là hàng hóa sức lao động. Hàng hóa
sức lao động đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị thặng dư, tạo ra lợi
nhuận doanh nghiệp, đồng thời cho phát triển nền kinh tế của đất nước.
Việt Nam hiện nay, nền kinh tế của đất nước đang trong quá trình hội nhập
và phát triển, rất nhiều doanh nghiệp được thành lập. Các doanh nghiệp cần hiểu rõ
vai trò của sức lao động để tạo ra lợi nhuận. một sinh viên đại học, chuẩn bị tham
gia vào thị trường lao động với vai trò người lao động, việc hiểu những tính
chất cơ bản của hàng hóa sức lao động và trách nhiệm của đối với doanh nghiệp và
bản thân là một điều cần thiết. Vì vậy, để làm rõ vấn đề này, trên cơ sở nghiên cứu
luận về hàng hóa sức lao động, bài tập lớn xin trình bày về vấn đề: “Lý luận về
hàng hóa sức lao động. Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận
cho chủ doanh nghiệp. Với tư cách là một người lao động (người bán sức lao động
cho chủ doanh nghiệp), hãy cho biết trách nhiệm của mình đối với doanh nghiệp và
đối với bản thân?”.
lOMoARcPSD| 61236129
Tuy nhiên, do hiểu biết còn hạn chế, em chỉ xin đóng góp một phần nhỏ suy
nghĩ của mình về chủ đề này. Bài viết còn có nhiều sai sót, kính mong thầy cô giúp
đỡ và góp ý để bải viết được cải thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
B. NỘI DUNG
I. Lý luận về hàng hóa sức lao động
1. Khái niệm hàng hóa sức lao động
Để m hiểu về một vấn đề cụ thể nào đó, trước hết ta phải hiểu khái niệm của
nó. Vậy “Hàng hóa sức lao động” là gì?
Sự biến đổi giá trị của stiền cần phải chuyển hóa thành bản không thể xảy
ra trong bản thân số tiền ấy, chỉ thể xảy ra từ hàng hóa mua vào (T – H). Hàng
hóa đó không thể là một hàng hóa thông thường, mà phải là một hàng hóa đặc biệt,
hàng hóa giá trị sử dụng của đặc tính là nguồn gốc sinh ra gtrị. Thứ hàng
hóa đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường.
2. Sức lao động và hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất.
Nhưng không phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hóa. Sức
lao động chỉ có thể trở thành hàng hóa trong những điều kiện lịch sử nhất định sau
đây:
Thứ nhất, người sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được
sức lao động của mình và có quyền bán sức lao đng của mình như mt hàng hóa.
Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất, để
tồn tạo buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống.
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động trở thành
hàng hóa. Sức lao động biến thành hàng hóa điều kiện quyết định để tiền biến
thành bản . Tuy nhiên để tiền biến thành bản thì lưu thông hàng hóa lưu
thông tiền tệ phải phát triển đến một mức độ nhất định. Trong các hình thái hội
trước chủ nghĩa tư bản chỉ sản phẩm của lao động mới là hàng hóa. Chỉ đến khi
sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định nào đó, các hình thái sản
xuất xã hội cũ (sản xuất nhỏ, phường hội, phong kiến) bị phá vỡ, thì mới xuất hiện
những điều kiện để cho sức lao động trở thành hàng hóa, chính sxuất hiện của
hàng hóa sức lao động làm cho sản xuất hàng hóa tính chất phổ biến đã báo
hiệu cho sự ra đời của một thời đại mới trong lịch sử xã hội – thời đại của chủ nghĩa
tư bản.
3. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao đng cũng có hai thuộc
tính: giá tr và giá trị sử dng.
3.1. Giá trị hàng hóa sức lao động
lOMoARcPSD| 61236129
Giá trị hàng hóa sức lao động cũng do thời gian lao động hội cần thiết để
sản xuất tái sản xuất sức lao động quyết định. Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như
năng lực sống của con người. Muốn tái sản xuất ra năng lực đó, người công nhân
phải tiêu ng một lượng liệu sinh hoạt nhất định về ăn, mặc, , học nghề,... Ngoài
ra, người lao động còn phải thỏa mãn những nhu cầu của gia đình và con cái anh ta
nữ. Chỉ có như vậy thì sức lao động mới được sản xuất và tái sản xuất một cách liên
tục.
Vậy thời gian lao động hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được
quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt
ấy; hay nói cách khác, giá trị hàng hóa sức lao động được đo gián tiếp bằng giá trị
của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân và gia đình anh
ta.
Là hàng hóa đặc biêt, giá trị hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông
thường chỗ còn bao hàm cả yếu ttinh thần lịch sử. Điều đó nghĩa
ngoài những nhu cầu về vật chất, người công nhân còn nhu cầu tinh thần, văn
hóa... Những nhu cầu đó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước trong từng
thời kỳ, đồng thời nó còn phụ thuộc cả vào điều kiện địa lý, khí hậu của nước đó.
Tuy giá trị hàng hóa sức lao động bao hàm yếu tố tinh thần và lịch sử, nhưng
đối với một nước nhất định trong một thời kỳ nhất định, thì quy những tư liệu
sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định, do đó có thể xác
định được lượng giá trọ hàng hóa sức lao động do những bộ phận sau đây hợp thành:
Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái
sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân.
Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân.
Ba là, giá trị những liệu sinh hoạt vật chất tinh thần cần thiết cho con cái
người công nhân.
3.2. Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
Hàng hóa sức lao động không chỉ gtrị, mà còn có giá trị sử dụng như bất
kỳ hàng hóa thông thường nào. Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng ch
thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức quá trình lao động của
người công nhân.
Tuy nhiên, quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa sức lao động khác với
quá trình tiêu dùng hàng hóa thông thường chỗ: hàng hóa thông thường sau quá
trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá tr lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất
theo thời gian. Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại quá trình sản
xuất ra một hàng hóa nào đó, đồng thời quá trình sáng tạo ra giá trị mới. Mục đích
của nhà bản muốn giá trị mới được sáng tạo ra phải lớn hơn giá trị sức lao động
thực tế việc nhà tue bản tiêu dùng sức lao động (thông qua hoạt động lao động
của người công nhân) đã hàm chứa khả năng này. Phần lớn hơn đó chính giá trị
thặng nbản sẽ chiếm đoạt. Nhu vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức
lao động có tính chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị tức là nó có thể tạo ra
giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó. Đó là chìa khóa để giải thích mâu thuẫn
lOMoARcPSD| 61236129
của công thức chung của tư bản (TH T’). Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất
hiện của hàng hóa sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển hóa thành tư
bản.
II. Vai trò của hàng hóa sức lao đng trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ
doanh nghiệp
1. Thực trạng ở Việt Nam
1.1. Cung lao động
nước ta, lực lượng lao động rất dồi dào. Theo Tổng cục Thống kê, dân số
cả nước năm 2012 khoảng 88.780.000 người, tăng 1,06% so với năm 2011, gồm:
dân số nam 43.920.000 triệu người, tăng 1,09%; dân số nữ 44.860.000 người, tăng
1,04%.Việt Nam đang tiếp tục được hưởng lợi từ thời kỳ "dân số vàng". Tốc độ tăng
dân số giảm dần, từ 1,16% trong năm 2002 xuống 1,03% trong năm 2012. Bên cạnh
đó, lực lượng lao động tăng nhanh hơn, góp phần làm cho nguồn cung lao động dồi
dào, với tỷ lệ tăng trung bình 2,6%/năm, tương đương với 1.200.000 lao động/năm.
Đây là con số “mơ ước” để thúc đẩy lực lượng lao động phát triển nền tảng
cho phát triển kinh tế trong tương lai. Cụ thể, số người trong độ tuổi lao động (từ 15
- 60 tuổi) đã tăng từ 39.394.000 người năm 1999 lên tới
53.098.000 người năm 2012, trong đó lao động nam chiếm 51,4%; lao động nữ
chiếm 48,6%. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2012 là 52.114.000
người.
1.2. Cầu lao động
Tuy nhiên, số người trong độ tuổi lao động đông không có nghĩa là thị trường
lao động Việt Nam đáp ứng đủ nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp. Bởi số lao
động tay nghề, chất lượng của nước ta đang còn rất hạn chế. Trong tổng số
51,4 triệu lao động chỉ gần 7,8 triệu người đã được đào tạo, chiếm 15,4%. Sự
chênh lệch về chất lương nguồn lao động được thể hiện nhất khu vực nông
thôn thành thị. thành thị lao động đã được đào tạo chiếm 30,9%, trong khi
nông thôn chỉ 9%. Sự chênh lệch này quá lớn, ảnh hưởng không nhỏ tới sự
phát triển kinh tế chung của nước. Trong khi đó, lượng lao động tnông thôn đến
thành thị tìm việc rất lớn.Nhưng mục đích chính của những lao động này lên thành
phố không phải để học nghề, học việc tham gia vào các công việc mang tính chất
thời vụ, buôn bán hoặc làm những công việc không đòi hỏi kinh nghiệm, tay nghề.
Nguồn lao động dồi dào, tlệ thất nghiệp nước ta trong những năm gần đây
liên tục tăng, nhưng các doanh nghiệp vẫn kêu thiếu lao động. Nguyên nhân do
lao động Việt Nam chỉ mới đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chứ chưa đáp ứng
được nhu cầu về chất lượng. Điều này không chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp
còn khiến cho người lao động tự làm mất hội việc làm cho bản thân. Đây cũng
nguyên nhân gây ra sự chện lệch cung cầu về lao động tại thị trường lao động
hiện nay.
lOMoARcPSD| 61236129
2. Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho
chủ doanh nghiệp
Vai tcủa hàng hóa sức lao động cùng quan trọng trong việc tạo ra lợi
nhuận cho chủ doanh nghiệp. Bởi đây phương tiện để bản tạo ra thặng dư.
Để phân tích vai trò này, cần làm rõ quá trình sản xuất thặng dư.
Quá trình sản xuất giá trị thặng sự thống nhất của quá trình tạo ra và làm
tăng giá trị. Để được giá trị thặng dư, người lao động phải làm việc nhiều hơn
phần thời gian lao động mà có thể bù đắp được giá trị hàng hóa sức lao động, và sản
phẩm làm ra thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, thời gian đó là thời gian lao động
thặng dư. Như vậy, giá trị thặng chính là giá trị do người lao động tạo ra ngoài
hao phí lao động tất yếu. Nguồn gốc của giá trị thặng dư là do hao phí sức lao động
ra. Tiếp đến cần phân tích vai trò của liệu sản xuất trong mối quan hệ với
người lao động trong quá trình làm tăng giá trị, hãy phân tích về tư bản bất biến và
tư bản khả biến.
Thứ nhất, theo C.Mác, tư bản bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái
tư liệu sản xuất mà giá trị được lao động cụ thể của công nhân làm thuê bảo tồn và
chuyển nguyên vẹn vào giá trị sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi quá trình sản
xuất. Tư bản bất biến không tạo ra giá trị thặng nhưng điều kiện cần thiết đề
quá trình tạo ra giá trị thặng được diễn ra. Ví dụ như nguyên vật liệu máy móc
là cần thiết có trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó mới có quá trình sản xuất
giá trị thặng dư. Bên cạnh đó, khi ứng dụng công nghệ cao vào máy móc thiết bị,
năng suất lao động sẽ được nâng cao, vậy nên, máy móc thiết bị hiện đại là cần thiết
trong quá trình làm tăng giá trị.
Thứ hai, tư bản khả biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái sức lao động
không tái hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân mà tăng lên,
tức là biến đổi về số lượng trong quá trình sản xuất. Trong quá trình sản xuất, công
nhân làm thuê bằng lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới với lượng lớn hơn giá trị
sức lao động. Tư bản khả biến bộ phận cần thiết giúp tạo ra gtrị thặng cho
doanh nghiệp. Như vậy, để tiến hành sản xuất giá trị thặng dư hay tạo ra lợi nhuận,
chú doanh nghiệp phải mua tư liệu sản xuất và sức lao động.
Người lao động tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp bằng các cung cấp
hàng hoa sức lao động đê đôi lây tiên công. Tiền công giá cả của hàng hóa sức lao
động, do chính hao psức lao động của người lao động làm thuê tạo ra. C.Mác
cho rằng lợi nhuận do lao động của người lao động tạo ra. Người lao động cung cấp
sức lao động của mình cho quá trình sản xuất, họ không được trả công bằng toàn bộ
giá trị sức lao động của mình. Sự khác biệt giữa tiền lương được trả giá trị sức
lao động là thứ mang lại lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp.
Như vậy, hàng hóa sức lao động đóng mt vai trò quan trọng trong việc tạo ra
lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp. Với những hàng hóa này, sức lao động có thể được
tái sản xuất và mở rộng trong xã hội tư bản. Chúng không chỉ được sử dụng để tăng
sản lượng hàng a còn để tạo ra thị trường mới ổn định khách hàng thông
qua quảng cáo và tiếp thị. Do đó, để tạo ra lợi nhuận, chủ doanh nghiệp phải đầu tư
vào máy móc thiết bị mua sức lao động, đồng thời phải trả một số lượng tiền công
lOMoARcPSD| 61236129
tương ứng cho người lao động đê họ sử dụng sức lao động của mình trong việc sản
xuất và tạo lợi nhuận cho các doanh nghiệp.
III. Trách nhiệm của sinh viên đối với doanh nghiệp và đối với bản thân
dưới tư cách là một người lao động
Với cách là một người lao động, chúng ta phải trách nhiệm với doanh
nghiệp và đặc biệt phải có trách nhiệm đối với bản thân mình.
1. Làm việc chăm chỉ và hiệu quả: Người lao động cần phải thực hiện côngviệc
của mình một ch chăm chỉ hiệu quả. Sự nlực này không chỉ giúp doanh
nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh mà còn tạo ra môi trường làm việc tích
cực.
2. Tuân thủ quy định quy trình công việc: Người lao động phải tuân thủ
cácquy định quy trình công việc được đề ra bởi doanh nghiệp. Điều này
giúp bảo đảm an toàn và hiệu quả trong quá trình làm việc.
3. Bảo vệ tài sản lợi ích của doanh nghiệp: Người lao động cần phải bảo vệtài
sản của doanh nghiệp và không gây tổn hại hoặc lợi dng tài sản của công ty
cho mục đích cá nhân.
4. Tham gia vào việc cải thiện quy trình chất lượng công việc: Người laođộng
thể đóng góp ý kiến ý tưởng để cải thiện quy trình làm việc chất
lượng sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp.
5. Thực hiện trách nhiệm hội: Ngoài trách nhiệm làm việc, người lao
độngcũng trách nhiệm thực hiện các hoạt động xã hội doanh nghiệp
tham gia, như các chương trình cộng đồng hoặc các hoạt động bảo vệ môi
trường.
6. Thực hiện an toàn lao động: Đảm bảo an toàn cho bản thân đồng
nghiệptrong quá trình làm việc, bằng cách tuân thủ các quy định về an toàn
lao động và sử dụng trang thiết bị bảo hộ.
7. Giữ gìn uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp: Người lao động cũng chịutrách
nhiệm trong việc duy trì nâng cao uy tín hình ảnh của doanh nghiệp
thông qua hành vi và hành động của mình.
Tóm lại, trách nhiệm của người lao động đối với doanh nghiệp không chỉ
làm việc chăm chỉ mà còn việc tuân thủ các quy định, bảo vệ lợi ích tài sản của
doanh nghiệp, đóng góp vào sự phát triển và cải thiện của công việc, đồng thời thực
hiện các trách nhiệm xã hội và đảm bảo an toàn trong quá trình làm việc.
Không chi trách nhiệm với doanh nghiệp đã thuê, mà chúng ta cũng cần
trách nhiệm với chính bản thân. Trước hết, chúng ta phải hiểu rằng doanh nghiệp chỉ
thuê những người lao động thể tạo ra giá trị lợi nhuận cho họ, vậy nên
chúng ta phải biết tự tạo ra gtrị cho chính bản thân mình cũng thể hiện rằng
mình có khả năng giúp doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận. Để tạo giá trị cho bản thân ta
cần phải nâng cao kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc, trao đổi kiến thức chuyên
môn và những kiên thức có ích khác, học hỏi từ mọi nguồn kiên thức. Bên cạnh đó,
hãy nâng cao các kỹ năng mềm khác cần thiết cho công việc cho các hoạt động
khác trong cuộc sống. Đồng thời, tạo cho mình một thái độ tích cực nghiêm túc
lOMoARcPSD| 61236129
trong công việc, đặt được cho mình mục tiêu ràng và lên kế hoạch cụ thể để đạt
mục tiêu đó, cũng cần phải biết quản thời gian hợp lý, rèn luyện tác phong
đúng thời hạn, đúng giờ, cân bằng các ưu tiên một cách thông minh, tìm cơ hội cho
sự phát triên cá nhân và nghề nghiệp. Tạo được giá trị cho bản thân không chỉ giúp
ích cho chúng ta trong công việc, trong cuộc sống còn góp phần tạo nên giá trị
cho doanh nghiệp nơi chúng ta làm việc.
C. KẾT LUẬN
Qua bài tiêu luận trên, ta thể thấy tầm quan trọng của hàng hóa sức lao
động. Hàng hóa sức lao động một hàng hóa đặc biệt, đóng vai trò chủ đạo trong
việc sản xuất giá trị gia tăng hay tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp. Doanh
nghiệp không thtiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, không thể phát triển
hay tồn tại nếu thiếu đi hàng hóa sức lao động.
Chính vì lẽ đó, mỗi chúng ta, đặc biệt là những sinh viên chúng em khi nhận
thức được vai trò của hàng hóa sức lao động này, chúng em sẽ những việc làm
thiết thực, đó tích cực học tập, rèn luyện đê đủ trí thức, đạo đức, bản lĩnh
sức khỏe để bán thân phát triển và ngày càng hoàn thiện, từ đó góp phân tạo giá trị
cho công ty, doanh nghiệp mình làm việc sau này và góp công sức xây dựng và bảo
vệ T Quốc.
Em xin chân thành cảm ơn cô đã đọc bài nghiên cứu này. Kính mong cô góp
ý và nhận xét để em có thể hoàn thiện bài nghiên cứu tốt hơn!

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61236129
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN
Đề 3. Lý luận về hàng hóa sức lao động. Vai trò của hàng hóa sức lao
động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp. Với tư cách là
một người lao động (người bán sức lao động cho chủ doanh
nghiệp), hãy cho biết trách nhiệm của mình đối với doanh nghiệp và đối với bản thân?
Họ và tên: Phạm Hà Thu Khóa: 65
Lớp: Tài chính tiên tiến A
Mã sinh viên: 11234498 Hà Nội, 2024 0 lOMoAR cPSD| 61236129 MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
B. NỘI DUNG .......................................................................................................... 2
I. Lý luận về hàng hóa sức lao động ...................................................................... 2
1. Khái niệm hàng hóa sức lao động .................................................................. 2
2. Sức lao động và hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa ............... 2
3. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động ..................................................... 2
II. Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh
nghiệp ..................................................................................................................... 4
1. Thực trạng ở Việt Nam ................................................................................... 4
2. Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh
nghiệp ................................................................................................................. 5
III. Trách nhiệm của sinh viên đối với doanh nghiệp và đối với bản thân dưới tư
cách là một người lao động .................................................................................... 6
C. KẾT LUẬN .......................................................................................................... 7 A. MỞ ĐẦU
Sức lao động là một tài sản vô cùng quý giá và là vấn đề quan trọng quyết
định mạng sống của mỗi quốc gia đất nước, đặt biệt trong bối cảnh phát triển toàn
cầu như hiện nay. Hàng hóa sức lao động vừa là tiền đề vừa là động lực của nền sản xuất.
Theo C.Mác, lưu thông không tạo ra giá trị thặng dư, nhưng chính nhờ quá
trình lưu thông mà tư bản được tăng thêm giá trị. Nhờ lưu thông mà tư bản mới mua
được thứ hàng hóa đặc biệt mà quá trình tiêu dùng nó cũng là quá trình tạo ra giá trị
và giá trị thặng dư. Hàng hóa đặc biệt đó chính là hàng hóa sức lao động. Hàng hóa
sức lao động đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị thặng dư, tạo ra lợi
nhuận doanh nghiệp, đồng thời cho phát triển nền kinh tế của đất nước.
Ở Việt Nam hiện nay, nền kinh tế của đất nước đang trong quá trình hội nhập
và phát triển, rất nhiều doanh nghiệp được thành lập. Các doanh nghiệp cần hiểu rõ
vai trò của sức lao động để tạo ra lợi nhuận. Là một sinh viên đại học, chuẩn bị tham
gia vào thị trường lao động với vai trò là người lao động, việc hiểu rõ những tính
chất cơ bản của hàng hóa sức lao động và trách nhiệm của đối với doanh nghiệp và
bản thân là một điều cần thiết. Vì vậy, để làm rõ vấn đề này, trên cơ sở nghiên cứu
lý luận về hàng hóa sức lao động, bài tập lớn xin trình bày về vấn đề: “Lý luận về
hàng hóa sức lao động. Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận
cho chủ doanh nghiệp. Với tư cách là một người lao động (người bán sức lao động
cho chủ doanh nghiệp), hãy cho biết trách nhiệm của mình đối với doanh nghiệp và đối với bản thân?”. lOMoAR cPSD| 61236129
Tuy nhiên, do hiểu biết còn hạn chế, em chỉ xin đóng góp một phần nhỏ suy
nghĩ của mình về chủ đề này. Bài viết còn có nhiều sai sót, kính mong thầy cô giúp
đỡ và góp ý để bải viết được cải thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn! B. NỘI DUNG
I. Lý luận về hàng hóa sức lao động
1. Khái niệm hàng hóa sức lao động
Để tìm hiểu về một vấn đề cụ thể nào đó, trước hết ta phải hiểu khái niệm của
nó. Vậy “Hàng hóa sức lao động” là gì?
Sự biến đổi giá trị của số tiền cần phải chuyển hóa thành tư bản không thể xảy
ra trong bản thân số tiền ấy, mà chỉ có thể xảy ra từ hàng hóa mua vào (T – H). Hàng
hóa đó không thể là một hàng hóa thông thường, mà phải là một hàng hóa đặc biệt,
hàng hóa mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị. Thứ hàng
hóa đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường.
2. Sức lao động và hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất.
Nhưng không phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hóa. Sức
lao động chỉ có thể trở thành hàng hóa trong những điều kiện lịch sử nhất định sau đây:
Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được
sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa.
Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất, để
tồn tạo buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống.
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động trở thành
hàng hóa. Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định để tiền biến
thành tư bản . Tuy nhiên để tiền biến thành tư bản thì lưu thông hàng hóa và lưu
thông tiền tệ phải phát triển đến một mức độ nhất định. Trong các hình thái xã hội
trước chủ nghĩa tư bản chỉ có sản phẩm của lao động mới là hàng hóa. Chỉ đến khi
sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định nào đó, các hình thái sản
xuất xã hội cũ (sản xuất nhỏ, phường hội, phong kiến) bị phá vỡ, thì mới xuất hiện
những điều kiện để cho sức lao động trở thành hàng hóa, chính sự xuất hiện của
hàng hóa sức lao động làm cho sản xuất hàng hóa có tính chất phổ biến và đã báo
hiệu cho sự ra đời của một thời đại mới trong lịch sử xã hội – thời đại của chủ nghĩa tư bản.
3. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc
tính: giá trị và giá trị sử dụng.
3.1. Giá trị hàng hóa sức lao động lOMoAR cPSD| 61236129
Giá trị hàng hóa sức lao động cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để
sản xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định. Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như
năng lực sống của con người. Muốn tái sản xuất ra năng lực đó, người công nhân
phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định về ăn, mặc, ở, học nghề,... Ngoài
ra, người lao động còn phải thỏa mãn những nhu cầu của gia đình và con cái anh ta
nữ. Chỉ có như vậy thì sức lao động mới được sản xuất và tái sản xuất một cách liên tục.
Vậy thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được
quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt
ấy; hay nói cách khác, giá trị hàng hóa sức lao động được đo gián tiếp bằng giá trị
của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân và gia đình anh ta.
Là hàng hóa đặc biêt, giá trị hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông
thường ở chỗ nó còn bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử. Điều đó có nghĩa là
ngoài những nhu cầu về vật chất, người công nhân còn có nhu cầu tinh thần, văn
hóa... Những nhu cầu đó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước trong từng
thời kỳ, đồng thời nó còn phụ thuộc cả vào điều kiện địa lý, khí hậu của nước đó.
Tuy giá trị hàng hóa sức lao động bao hàm yếu tố tinh thần và lịch sử, nhưng
đối với một nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định, thì quy mô những tư liệu
sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định, do đó có thể xác
định được lượng giá trọ hàng hóa sức lao động do những bộ phận sau đây hợp thành:
Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái
sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân.
Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân.
Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái người công nhân.
3.2. Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
Hàng hóa sức lao động không chỉ có giá trị, mà còn có giá trị sử dụng như bất
kỳ hàng hóa thông thường nào. Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng chỉ
thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động của người công nhân.
Tuy nhiên, quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa sức lao động khác với
quá trình tiêu dùng hàng hóa thông thường ở chỗ: hàng hóa thông thường sau quá
trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất
theo thời gian. Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là quá trình sản
xuất ra một hàng hóa nào đó, đồng thời là quá trình sáng tạo ra giá trị mới. Mục đích
của nhà tư bản là muốn giá trị mới được sáng tạo ra phải lớn hơn giá trị sức lao động
và thực tế việc nhà tue bản tiêu dùng sức lao động (thông qua hoạt động lao động
của người công nhân) đã hàm chứa khả năng này. Phần lớn hơn đó chính là giá trị
thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt. Nhu vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức
lao động có tính chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị tức là nó có thể tạo ra
giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó. Đó là chìa khóa để giải thích mâu thuẫn lOMoAR cPSD| 61236129
của công thức chung của tư bản (T – H – T’). Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất
hiện của hàng hóa sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển hóa thành tư bản.
II. Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp
1. Thực trạng ở Việt Nam 1.1. Cung lao động
Ở nước ta, lực lượng lao động rất dồi dào. Theo Tổng cục Thống kê, dân số
cả nước năm 2012 khoảng 88.780.000 người, tăng 1,06% so với năm 2011, gồm:
dân số nam 43.920.000 triệu người, tăng 1,09%; dân số nữ 44.860.000 người, tăng
1,04%.Việt Nam đang tiếp tục được hưởng lợi từ thời kỳ "dân số vàng". Tốc độ tăng
dân số giảm dần, từ 1,16% trong năm 2002 xuống 1,03% trong năm 2012. Bên cạnh
đó, lực lượng lao động tăng nhanh hơn, góp phần làm cho nguồn cung lao động dồi
dào, với tỷ lệ tăng trung bình 2,6%/năm, tương đương với 1.200.000 lao động/năm.
Đây là con số “mơ ước” để thúc đẩy lực lượng lao động phát triển và là nền tảng
cho phát triển kinh tế trong tương lai. Cụ thể, số người trong độ tuổi lao động (từ 15
- 60 tuổi) đã tăng từ 39.394.000 người năm 1999 lên tới
53.098.000 người năm 2012, trong đó lao động nam chiếm 51,4%; lao động nữ
chiếm 48,6%. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2012 là 52.114.000 người. 1.2. Cầu lao động
Tuy nhiên, số người trong độ tuổi lao động đông không có nghĩa là thị trường
lao động Việt Nam đáp ứng đủ nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp. Bởi số lao
động có tay nghề, có chất lượng của nước ta đang còn rất hạn chế. Trong tổng số
51,4 triệu lao động chỉ có gần 7,8 triệu người đã được đào tạo, chiếm 15,4%. Sự
chênh lệch về chất lương nguồn lao động được thể hiện rõ nhất là ở khu vực nông
thôn và thành thị. Ở thành thị lao động đã được đào tạo chiếm 30,9%, trong khi ở
nông thôn chỉ có 9%. Sự chênh lệch này là quá lớn, ảnh hưởng không nhỏ tới sự
phát triển kinh tế chung của nước. Trong khi đó, lượng lao động từ nông thôn đến
thành thị tìm việc là rất lớn.Nhưng mục đích chính của những lao động này lên thành
phố không phải để học nghề, học việc mà tham gia vào các công việc mang tính chất
thời vụ, buôn bán hoặc làm những công việc không đòi hỏi kinh nghiệm, tay nghề.
Nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây
liên tục tăng, nhưng các doanh nghiệp vẫn kêu thiếu lao động. Nguyên nhân là do
lao động Việt Nam chỉ mới đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chứ chưa đáp ứng
được nhu cầu về chất lượng. Điều này không chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp
và còn khiến cho người lao động tự làm mất cơ hội việc làm cho bản thân. Đây cũng
là nguyên nhân gây ra sự chện lệch cung – cầu về lao động tại thị trường lao động hiện nay. lOMoAR cPSD| 61236129
2. Vai trò của hàng hóa sức lao động trong việc tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp
Vai trò của hàng hóa sức lao động vô cùng quan trọng trong việc tạo ra lợi
nhuận cho chủ doanh nghiệp. Bởi vì đây là phương tiện để tư bản tạo ra thặng dư.
Để phân tích vai trò này, cần làm rõ quá trình sản xuất thặng dư.
Quá trình sản xuất giá trị thặng dư là sự thống nhất của quá trình tạo ra và làm
tăng giá trị. Để có được giá trị thặng dư, người lao động phải làm việc nhiều hơn
phần thời gian lao động mà có thể bù đắp được giá trị hàng hóa sức lao động, và sản
phẩm làm ra thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, thời gian đó là thời gian lao động
thặng dư. Như vậy, giá trị thặng dư chính là giá trị do người lao động tạo ra ngoài
hao phí lao động tất yếu. Nguồn gốc của giá trị thặng dư là do hao phí sức lao động
mà ra. Tiếp đến cần phân tích vai trò của tư liệu sản xuất trong mối quan hệ với
người lao động trong quá trình làm tăng giá trị, hãy phân tích về tư bản bất biến và tư bản khả biến.
Thứ nhất, theo C.Mác, tư bản bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái
tư liệu sản xuất mà giá trị được lao động cụ thể của công nhân làm thuê bảo tồn và
chuyển nguyên vẹn vào giá trị sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi quá trình sản
xuất. Tư bản bất biến không tạo ra giá trị thặng dư nhưng là điều kiện cần thiết đề
quá trình tạo ra giá trị thặng dư được diễn ra. Ví dụ như nguyên vật liệu và máy móc
là cần thiết có trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó mới có quá trình sản xuất
giá trị thặng dư. Bên cạnh đó, khi ứng dụng công nghệ cao vào máy móc thiết bị,
năng suất lao động sẽ được nâng cao, vậy nên, máy móc thiết bị hiện đại là cần thiết
trong quá trình làm tăng giá trị.
Thứ hai, tư bản khả biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái sức lao động
không tái hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân mà tăng lên,
tức là biến đổi về số lượng trong quá trình sản xuất. Trong quá trình sản xuất, công
nhân làm thuê bằng lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới với lượng lớn hơn giá trị
sức lao động. Tư bản khả biến là bộ phận cần thiết giúp tạo ra giá trị thặng dư cho
doanh nghiệp. Như vậy, để tiến hành sản xuất giá trị thặng dư hay tạo ra lợi nhuận,
chú doanh nghiệp phải mua tư liệu sản xuất và sức lao động.
Người lao động tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp bằng các cung cấp
hàng hoa sức lao động đê đôi lây tiên công. Tiền công là giá cả của hàng hóa sức lao
động, là do chính hao phí sức lao động của người lao động làm thuê tạo ra. C.Mác
cho rằng lợi nhuận do lao động của người lao động tạo ra. Người lao động cung cấp
sức lao động của mình cho quá trình sản xuất, họ không được trả công bằng toàn bộ
giá trị sức lao động của mình. Sự khác biệt giữa tiền lương được trả và giá trị sức
lao động là thứ mang lại lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp.
Như vậy, hàng hóa sức lao động đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra
lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp. Với những hàng hóa này, sức lao động có thể được
tái sản xuất và mở rộng trong xã hội tư bản. Chúng không chỉ được sử dụng để tăng
sản lượng hàng hóa mà còn để tạo ra thị trường mới và ổn định khách hàng thông
qua quảng cáo và tiếp thị. Do đó, để tạo ra lợi nhuận, chủ doanh nghiệp phải đầu tư
vào máy móc thiết bị và mua sức lao động, đồng thời phải trả một số lượng tiền công lOMoAR cPSD| 61236129
tương ứng cho người lao động đê họ sử dụng sức lao động của mình trong việc sản
xuất và tạo lợi nhuận cho các doanh nghiệp.
III. Trách nhiệm của sinh viên đối với doanh nghiệp và đối với bản thân
dưới tư cách là một người lao động
Với tư cách là một người lao động, chúng ta phải có trách nhiệm với doanh
nghiệp và đặc biệt phải có trách nhiệm đối với bản thân mình.
1. Làm việc chăm chỉ và hiệu quả: Người lao động cần phải thực hiện côngviệc
của mình một cách chăm chỉ và hiệu quả. Sự nỗ lực này không chỉ giúp doanh
nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh mà còn tạo ra môi trường làm việc tích cực.
2. Tuân thủ quy định và quy trình công việc: Người lao động phải tuân thủ
cácquy định và quy trình công việc được đề ra bởi doanh nghiệp. Điều này
giúp bảo đảm an toàn và hiệu quả trong quá trình làm việc.
3. Bảo vệ tài sản và lợi ích của doanh nghiệp: Người lao động cần phải bảo vệtài
sản của doanh nghiệp và không gây tổn hại hoặc lợi dụng tài sản của công ty cho mục đích cá nhân.
4. Tham gia vào việc cải thiện quy trình và chất lượng công việc: Người laođộng
có thể đóng góp ý kiến và ý tưởng để cải thiện quy trình làm việc và chất
lượng sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp.
5. Thực hiện trách nhiệm xã hội: Ngoài trách nhiệm làm việc, người lao
độngcũng có trách nhiệm thực hiện các hoạt động xã hội mà doanh nghiệp
tham gia, như các chương trình cộng đồng hoặc các hoạt động bảo vệ môi trường.
6. Thực hiện an toàn lao động: Đảm bảo an toàn cho bản thân và đồng
nghiệptrong quá trình làm việc, bằng cách tuân thủ các quy định về an toàn
lao động và sử dụng trang thiết bị bảo hộ.
7. Giữ gìn uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp: Người lao động cũng chịutrách
nhiệm trong việc duy trì và nâng cao uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp
thông qua hành vi và hành động của mình.
Tóm lại, trách nhiệm của người lao động đối với doanh nghiệp không chỉ là
làm việc chăm chỉ mà còn là việc tuân thủ các quy định, bảo vệ lợi ích và tài sản của
doanh nghiệp, đóng góp vào sự phát triển và cải thiện của công việc, đồng thời thực
hiện các trách nhiệm xã hội và đảm bảo an toàn trong quá trình làm việc.
Không chi có trách nhiệm với doanh nghiệp đã thuê, mà chúng ta cũng cần có
trách nhiệm với chính bản thân. Trước hết, chúng ta phải hiểu rằng doanh nghiệp chỉ
thuê những người lao động mà có thể tạo ra giá trị và lợi nhuận cho họ, vậy nên
chúng ta phải biết tự tạo ra giá trị cho chính bản thân mình và cũng thể hiện rằng
mình có khả năng giúp doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận. Để tạo giá trị cho bản thân ta
cần phải nâng cao kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc, trao đổi kiến thức chuyên
môn và những kiên thức có ích khác, học hỏi từ mọi nguồn kiên thức. Bên cạnh đó,
hãy nâng cao các kỹ năng mềm khác cần thiết cho công việc và cho các hoạt động
khác trong cuộc sống. Đồng thời, tạo cho mình một thái độ tích cực và nghiêm túc lOMoAR cPSD| 61236129
trong công việc, đặt được cho mình mục tiêu rõ ràng và lên kế hoạch cụ thể để đạt
mục tiêu đó, và cũng cần phải biết quản lý thời gian hợp lý, rèn luyện tác phong
đúng thời hạn, đúng giờ, cân bằng các ưu tiên một cách thông minh, tìm cơ hội cho
sự phát triên cá nhân và nghề nghiệp. Tạo được giá trị cho bản thân không chỉ giúp
ích cho chúng ta trong công việc, trong cuộc sống mà còn góp phần tạo nên giá trị
cho doanh nghiệp nơi chúng ta làm việc. C. KẾT LUẬN
Qua bài tiêu luận trên, ta có thể thấy tầm quan trọng của hàng hóa sức lao
động. Hàng hóa sức lao động là một hàng hóa đặc biệt, đóng vai trò chủ đạo trong
việc sản xuất giá trị gia tăng hay tạo ra lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp. Doanh
nghiệp không thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, không thể phát triển
hay tồn tại nếu thiếu đi hàng hóa sức lao động.
Chính vì lẽ đó, mỗi chúng ta, đặc biệt là những sinh viên chúng em khi nhận
thức được vai trò của hàng hóa sức lao động này, chúng em sẽ có những việc làm
thiết thực, đó là tích cực học tập, rèn luyện đê có đủ trí thức, đạo đức, bản lĩnh và
sức khỏe để bán thân phát triển và ngày càng hoàn thiện, từ đó góp phân tạo giá trị
cho công ty, doanh nghiệp mình làm việc sau này và góp công sức xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.
Em xin chân thành cảm ơn cô đã đọc bài nghiên cứu này. Kính mong cô góp
ý và nhận xét để em có thể hoàn thiện bài nghiên cứu tốt hơn!