
















Preview text:
LỜI MỞ ĐẦU
Nhiều nước trên thế giới đang cải cách hoặc đổi mới nền kinh tế của mình theo mô hình nền
kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, nhưng cũng còn có sự khác nhau ở mức độ điều
tiết. Sự khác nhau đó do chế độ chính trị, kinh tế xã hội và đặc điểm kinh tế của mỗi nước quyết định.
Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển theo hướng vừa coi trọng vai trò khách quan của các hoạt
động kinh tế vi mô trên thị trường, vừa phát huy vai trò quan trọng của Chính phủ. Nói cách
khác nền kinh tế Việt Nam được xây dựng theo mô hình kinh tế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là mô hình kinh tế tối ưu ở Việt Nam hiện nay,
phát huy ưu điểm và khắc phục được nhược điểm của nền kinh tế thị trường. Đảm bảo dân
giàu , nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng , văn minh
Kinh tế học là một môn khoa học, nghiên cứu và lựa chọn cách sử dụng hợp lý các nguồn lực
khan hiếm để sản xuất các hàng hóa cần thiết và phân phối chúng cho các thành viên trong xã
hội. Theo phạm vi nghiên cứu chia ra làm 2 loại: kinh tế học vi mô và kinh tế vĩ mô. Kinh tế
học vi mô là một môn khoa học quan tâm đến việc nghiên cứu, phân tích, lựa chọn các vấn đề
kinh tế cụ thể của tế bào trong nền kinh tế
Để phát triển kinh tế thì các nhà kinh tế học phải nắm bắt được cấu trúc của thị trường mới có
thể đưa ra các quyết định, dự đoán trong tương lai cho các ngành nói riêng cũng như nền kinh tế nói chung.
Trong nền kinh tế có một loại thị trường đặc biệt mang tính chất riêng-THỊ TRƯỜNG ĐỘC
QUYỀN. thông qua bài tập lớn này chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu rõ hơn về thị trường này
và ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế. 2 MỤC LỤC
Câu 1..............................................................................................................................................4
I.Vài nét về độc quyền................................................................................................................4
II. Nội dung................................................................................................................................4
1 Khái niệm.............................................................................................................................4
2 nguyên nhân dẫn đến độc quyền..........................................................................................4
3 Tổn thất phúc lợi do độc quyền gây ra.................................................................................5
III Quan điểm.............................................................................................................................6
1 Những ưu điểm của thị trường độc quyền............................................................................6
2.Những hạn chế của thị trường độc quyền.............................................................................7
3. Các cách điều chỉnh độc quyền...........................................................................................8
Câu 2..............................................................................................................................................9
I Cầu...........................................................................................................................................9
1 Khái niệm................................................................................................................................9
2 Các yếu tố xác định cầu...........................................................................................................9
II. Thị trường xăng dầu...............................................................................................................9
1 Tổng quan về thị trường.......................................................................................................9
2 Cầu thị trường.....................................................................................................................10
3 Những nhân tố ảnh hưởng cầu thị trường..........................................................................11 3 Đề 1
Câu 1: Trên thị trường độc quyền, do chỉ có 1 nhà cung cấp nên hàng hóa sẽ thiếu tính
cạnh tranh. Điều này dẫn tới sự kém chất lượng hàng hóa, dịch vụ đồng thời người tiêu
dùng phải trả mức giá cao hơn mức giá thị trường cạnh tranh. Chính vì thế có ý kiến cho
rằng nên xóa bỏ độc quyền, Nêu quan điểm anh (chị) về vấn đề này ?
I.Vài nét về độc quyền
Độc quyền trong kinh doanh đa phần gây ra những hậu quả không tốt cho thị
trường. Độc quyền trong kinh doanh dẫn đến việc giá cả bị đẩy lên cao, gây lũng đoạn thị
trường, ảnh hưởng lớn đến lợi ích của người tiêu dùng. Hầu hết các nước đều tồn tại các
loại độc quyền tự nhiên và độc quyền nhà nước . Ở nước ta với xuất phát điểm thấp và
một số đặc điểm đặc trưng của nền kinh tế xã hội nên vẫn còn tồn tại khá nhiều ngành
độc quyền. tuy nhiên nhà nước cũng đang cố gắng hoàn thiện bộ máy pháp luật nhằm
kiểm soát, hạn chế những tác hại mà độc quyền gây ra. Đồng thời cũng đưa ra các biện
pháp nhằm thay đổi, khắc phục các vấn đề trên.Tuy nhiên trong quá trình thực hiện thì lại
không tuân thủ điều đó. Nhà nước và các chủ thể khác tạo ra nhiều ưu thế, đặc quyền,
đặc lợi cho một phận doanh nghiệp trong một vài lĩnh vực, ngoài ra còn sử dụng uy
quyền của mình để ngăn các doanh nghiệp khác tham gia kinh doanh. Từ đó nảy sinh ra
vấn đề độc quyền hiện nay. II. Nội dung 1. Khái niệm
Thị trường độc quyền là thị trường chỉ có 1 hãng sản xuất và cung cấp toàn bộ
hàng hóa và dịch vụ cụ thể . Trong thị trường không có sản phẩm tương tự có
khả năng thay thế, giá cả do người bán quyết định.
Độc quyền thường là thị trương chỉ có duy nhất người bán và sản xuất ra sản
phẩm, không có loại hàng hóa nào thay thế gần gũi
Độc quyền tự nhiên là tình trạng trong đó các yếu tố hàm chứa trong quy trình
sản xuất đã cho phép có thể điều chỉnh chi phí sản xuất khi quy mô được mở
rộng do vậy đã dẫn đến cách tổ chức sản xuất hiệu quả nhất là chỉ thông qua một hãng duy nhất
-Các hàng rào của sự gia nhập xuất phát từ 3 nguồn chính:
Độc quyền do chính phủ tạo ra ( do luật pháp, mục đích chính trị) 4
Duy nhất một doanh nghiệp sở hữu nguồn lực.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp trở lên có hiệu quả hơn so với nhà sản xuất
khác. Dạng độc quyền này được gọi là độc quyền tự nhiên.
2.Nguyên nhân dẫn đến độc quyền:
Quy định của Chính phủ. Một doanh nghiệp có thể trở thành độc quyền hợp
pháp nếu họ là người duy nhất được cấp giấy phép sản xuất kinh doanh 1 loại
sản phẩm.VD: Công ty điện lực, Bưu điện Việt Nam
Chi phí vận chuyển sản xuất : Thông thường, độc quyền xuất hiện trong những
ngành có tính kinh tế nhờ quy mô. Trong những ngành này, đường chi phí
trung bình (AC) giảm dần khi sản lượng cao hơn. Những doanh nghiệp có quy
mô lớn thường là những doanh nghiệp sản xuất với chi phí thấp hơn những
doanh nghiệp khác nhờ vào kinh nghiệm, tính kinh tế quy mô, … Do đó, những
doanh nghiệp lớn có khả năng loại trừ những doanh nghiệp khác ra khỏi ngành
bằng cách cắt giảm giá (vẫn thu được lợi nhuận), từ đó tạo ra thế độc quyền cho
mình.Những doanh nghiệp mới ở mức sản lượng thấp phải chịu chi phí mức
trung bình cao sẽ dễ dàng bị nhà độc quyền loại khỏi thị trường bằng cách giảm
giá .Sự độc quyền được hình thành từ con đường cạnh tranh bằng chi phí như
vậy là độc quyền tự nhiên
Chế độ sở hữu đối với phát minh, sáng chế và sở hữu trí tuệ: một mặt chế độ
này làm cho những phát minh, sáng chế tăng theo một thời gian nhất định
nhưng mặt khác nó tạo cho người nắm giữ bản quyền có thể giữ được vị trí độc
tôn trong thời hạn được giữ bản quyền theo quy định do những văn bản do nhà nước ban hành.
Kiểm soát yếu tố đầu vào sản xuất.Doanh nghiệp có thể chiếm được vị trí độc
quyền bán nhờ quyền sở hữu 1 loại đầu vào( nguyên liệu) để sản xuất ra một loại sản phẩm nào đó.
3.Tổn thất phúc lợi do độc quyền gây ra Sức mạnh độc quyền
Sự khác nhau cơ bản giữa doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo và doanh nghiệp
độc quyền bán là doanh nghiệp độc quyền bán có sức mạnh thị trường. Doanh
nghiệp cạnh tranh hoàn hảo phải đặt P=MC còn doanh nghiệp độc quyền bán được
đo bằng chỉ số Lerner, gọi là mức độ của sức mạnh độc quyền của Lerner( do
Abba Lerner đưa vào năm 1934) L= với 0≤ L≤1 P−MC P
Mất không từ sức mạnh độc quyền:
Vì sức mạnh độc quyền tạo ra giá cao hơn và sản lượng sản xuất ra thấp hơn so
với cạnh hoàn hảo nên người tiêu dùng bị thiệt hại còn người sản xuất thì được lợi. 5
Nếu coi phúc lợi của người tiêu dùng và người sản xuất như nhau thì cả người tiêu
dùng và người sản xuất tính thành 1 tổng thể (NSB=CS+PS) sẽ không được lợi
bằng thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
Như vậy so với thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì thị trường độc quyền bán tạo ra
phúc lợi ít hơn một phần thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất bị mất. Phần
phúc lợi bị mất gọi là mất không=Diện tích tam giác ABC
4. Một số vấn đề mở rộng về độc quyền
4.1 Lợi nhuận độc quyền :
Lợi nhuận độc quyền có thể được xem như là phần trả công cho các nhân tố hình
thành nên sự độc quyền như: phát minh, sáng chế, vị trí thuận lợi hay sự năng động của
nhà độc quyền. Vì vậy, một số doanh nghiệp khác sẽ sẵn sàng trả một số tiền để sang
nhượng bản quyền các phát minh, sáng chế,... nhằm kiếm được lợi nhuận tiềm năng của
vị thế độc quyền. Một khi quyền độc quyền được sang nhượng thấp hơn giá trị thị trường
thực tế, người được sang nhượng sẽ được hưởng lợi. Tuy nhiên, vị thế độc quyền không
đảm bảo cho doanh nghiệp chắc chắn thu được lợi nhuận. Điều này còn phụ thuộc vào
mối quan hệ giữa chi phí trung bình và đường cầu đối với sản phẩm của nhà độc quyền.
4.2 Không có đường cung trong độc quyền
Mức cung của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào đường cầu, doanh thu biên. Với
một số đường cầu cố định, “đường cung” độc quyền chỉ là một điểm, điểm kết hợp giữa
giá và sản lượng tại đó. Nếu đường cầu dịch chuyển, MR sẽ dịch chuyển theo và một
mức sản lượng tối đa hóa lợi nhuận mới sẽ được chọn. Tuy nhiên, nối các điểm cân bằng
này để hình thành một “đường cung” sẽ không có ý nghĩa. Hình dạng đường này sẽ rất
kỳ lạ, phụ thuộc vào độ co giãn của đường cầu thị trường khi nó dịch chuyển. Như vậy,
doanh nghiệp độc quyền không có một “đường cung” xác định. 6
4.3 Độc quyền và vấn đề phân biệt giá cả
Khác với thị trường cạnh tranh, một nhà độc quyền có khả năng ẩn định các mức giá
khác nhau đối với nhiều người tiêu dùng khác nhau. Trường hợp này là phân biệt giá. Sự
phân biệt giá có thể làm tăng lợi nhuận của nhà độc quyền so với việc định một mức giá
duy nhất cho tất cả sản phẩm của mình.
a) Chính sách phân biệt giá hoàn toàn:
Là chính sách mà trong đó nhà độc quyền ấn định cho mỗi (nhóm) khách hàng một
mức giá tối đa mà người đó có thể trả. Mức giá đó gọi là giá sẵn sàng trả hay giá đặt
trước của người tiêu dùng.
Nếu nhà độc quyền có thể xác định rõ nhu cầu của từng khách hàng hay từng nhóm
khách hàng của mình, họ có thể định giá cao nhất mà (nhóm) khách hàng của mình có
thể trả. Với cách định giá này nhà độc quyền sẽ “bòn rút” hết thặng dư tiêu dùng của
người tiêu dùng vì nhà độc quyền cho mỗi khách hàng mức giá tối đa mà họ có thể trả.
b) Chính sách phân biệt giá đối với hai thị trường riêng biệt.
Nhà độc quyền sẽ định giá cao hơn ở thị trường có hệ số co giãn thấp hơn.
4.4 Chính sách hạn chế độc quyền:
Là việc làm cần thiết vì độc quyền gây ra thiệt hại đối với nền kinh tế. Hạn chế độc
quyền là một trong những vấn đề quan trọng trong kinh tế học ứng dụng. Các ngành công
nghiệp phục vụ tiện ích như điện lực, viễn thông,… thường bị khống chế bằng luật pháp
để nhằm buộc các ngành này hoạt động trong phương thức có lợi nhất về phương diện xã
hội, để hạn chế thiệt hại do độc quyền. 4.5 Điều tiết giá
Do xã hội bị tổn thất, các quốc gia phải sử dụng một phương cách để hạn chế sức
mạnh độc quyền, trong đó có phương thức điều tiết giá. Chính phủ ấn định một mức giá
trần nào đó thấp hơn mức giá độc quyền. Chính sách này có thể làm giảm được tổn thất
do sức mạnh độc quyền.
4.6 Điều tiết trong thực tế
Những quy định về độc quyền thường dựa trên tỷ lệ lãi thu được từ vốn. Cơ quan
điều tiết cho phép nhà độc quyền định một mức giá nhất định để đạt được một mức lãi
sao cho mức lãi theo nghĩa nào đó là “cạnh tranh” hay “công bằng”. Phương pháp này
được gọi là điều tiết theo lợi tức. Mức giá cao nhất được phép dựa trên mức lãi đầu tư kỳ
vọng mà doanh nghiệp sẽ thu được.
4.7 Luật chống độc quyền
Một biện pháp đơn giản và hữu hiệu để chống độc quyền là ban hành các quy định,
luật lệ nhằm ngăn chặn ngay từ đầu các doanh nghiệp trong việc giành được sức
mạnh thị trường quá mức. 7 III. Quan điểm.
Dù thế nào đi nữa thì thị trường độc quyền cũng đã gây một phần thiệt hại lớn cho xã hội
hay nền kinh tế. Ở mặt khác , nó mang đến khoản doanh thu lợi nhuận rất lớn cho các
doanh nghiệp độc quyền, là động lực cho họ không ngừng nâng cao sản xuất , cải tiến
máy móc kỹ thuật, mở rộng quy mô. Vậy nên chúng ta nên bỏ hoàn toàn thị trường độc quyền ?
1.Những ưu điểm của thị trường độc quyền
oThu hút các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài vì đem lại doanh thu và lợi nhuận rất cao.
oLà người sản xuất duy nhất với một loại sản phẩm, nhà độc quyền bán có vị trí độc
tôn duy nhất trên thị trường, tự chủ động và có kiểm soát toàn diện với số lượng sản phẩm đầu ra.
oBảo vệ tính cá nhân cao thúc đẩy các phát minh và nghiên cứu phát triển trong đời
sống để sáng tạo ra sản phẩm mới.
oCó nguồn vốn đầu tư lớn và sự hỗ trợ rất nhiều của nhà nước đối vs độc quyền nhà nước.
oCó thể tập trung phát triển một cách thuận lợi, tập trung sử dụng nguồn lực có hiệu quả và triệt để hơn.
2.Những hạn chế của thị trường độc quyền
Do nguồn cung câp khan hiếm , không đa dạng về thể loại ở thị trường độc quyền so vs
cạnh tranh hoàn hảo nên dẫn đến việc không có tính cạnh tranh. Thị trường cạnh tranh
hoàn hảo có khả năng thu hút rất nhiều tiêu dùng, người kinh doanh nhưng độ ảnh hưởng
của nó tới thị trường thì rất hạn chế, sản phẩm đồng nhất người bán hoạt động độc lập
với nhau và việc họ muốn tham gia hay rút khỏi thị trường là hoàn toàn tự do. 8
Bên cạnh đó, thị trường độc quyền có xu hướng trái ngược hoàn toàn với thị trường cạnh
tranh .Độc quyền là một dạng thất bại của thị trường.Do thị trường có kiểm soát với số
lượng sản phẩm đầu ra nên sẽ có những mức giá để có mục đích tối đa hóa lợi nhuận.
Không có sự cạnh tranh cân bằng là nguyên nhân khiến người tiêu dùng phải trả cho
những sản phẩm có mức giá cao.Lúc này thì đường cầu thị trường cũng chính là đường
doanh thu bình quân của doanh nghiệp, dốc xuống về phía bên phải .
Tuy thiếu tính cạnh tranh nhưng chất lượng của các loại hàng độc quyền sẽ bị kém đi vì
doanh nghiệp độc quyền luôn muốn thu về thật nhiều doanh thu và lợi nhuận và còn có
sự quản lý của Nhà nước.Nhưng có một điều là trong những năm gần đây, chất lượng của
sản phẩm đó đang bị giảm xuống,gây ảnh hưởng không nhỏ đến với người tiêu dùng.Ví
dụ ở đây là mặt hàng xăng dầu, trước đây chỉ có một đại diện là Tổng công ty xăng dầu
Pertrolimex có 100% là vốn đầu tư của nhà nước .Và trong thời điểm đó mức giá của các
mặt hàng xăng dầu bị áp đặt khá cao, đồng thời lại luôn có sự thay đổi theo chiều hướng
tăng lên. Đây là một mặt hàng rất cần thiết phục vụ cho sự đi lại hay sản xuất của người
tiêu dùng nên họ phải chấp nhận mức giá cao. Nhưng hiện tại ngành này đã được mở
rộng hơn thành độc quyền tập đoàn nhưng Pertrolimex vẫn chiếm tới gần 60% và lúc đó
mặc dù giá cả của xăng dầu không mấy thay đổi nhưng người tiêu dùng đã được hưởng
giá ưu đãi hơn. Ngoài ra có thể kể tới đó chính là độc quyền nước, mặt hàng vô cùng cần
thiết trong đời sống của người dân. Trong khi chất lượng và khối lượng nguồn nước cung
cấp cho người dân còn chưa được đảm bảo thì giá của mặt hàng này liên tục tăng. Với
thông báo của CTCP Đầu tư và kinh doanh nước sạch ( VIWACO) thì từ ngày 1/10 tới
đây, giá nước sinh hoạt sẽ tăng trên 20% so với biểu giá cũ. Tức là lên gần 6000 đồng
/m3 cho 10m3 khối nước đầu tiên. Tuy nhiên nhiều người tỏ ra băn khoăn liệu việc tăng
giá nước có đi cùng với chất lượng và đảm bảo nguồn cung cấp khi người dân ở các
thành phố lớn như HCM hay Hà Nội luôn phải đối mặt với tình trạng thiếu nước và mất nước?
Nói tới những thị trường độc quyền không thể không nhắc tới những hãng nổi tiếng như
WILSON hay BABOLAT… về thể thao , CHANEL. D&G, KEVIN….về thời trang.Đến
với họ người tiêu dung không phải lo về giá cả hay chất lượng sản phẩm vì giá tiền họ bỏ
ra hoàn toàn xứng đáng với sản phẩm. . Nếu tìm hiểu kĩ hơn, chúng ta có thể thấy rằng 9
các nhãn hiệu độc quyền này không sử dụng chính sách áp đặt giá mà sử dụng chính sách
phân biệt giá.Ban đầu họ đưa mức giá cao để dành cho những người có mức thu nhập tốt,
những tầng lớp giàu có , sau đó giá thành sản phẩm hạ xuống nhưng vẫn giữ được chất
lượng sản phẩm dề dành cho tầng lớp thấp hơn.Với chiến lược đó họ có thể tối đa hóa lợi nhuận
Từ những điều trên , tôi cho rằng chúng ta nên xóa bỏ độc quyền nhưng không nên loại
bỏ hoàn toàn bởi vẫn còn có những ngành cần đến sự can thiêp của chính phủ như in tiền,
vũ khí,điện hạt nhân……. Bên cạnh đó loại bỏ độc quyền thì chưa chắc người tiêu dùng
đã được hưởng mức giá tốt nhất.
3.Cách điều chỉnh độc quyền bán và phương hướng giải quyết :
Tạo cơ hội bình đẳng, không phân biệt đối xử, các doanh nghiệp được tự do cạnh
tranh trong khuôn khổ pháp luật.
Nhà nước bảo vệ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh.
Ngăn chặn hành vi phi cạnh tranh, hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh.
Nên kiểm soát chặt chẽ việc định giá đối với một số sản phẩm dịch vụ hiện nay
còn độc quyền (điện, vận tải, viễn thông, hàng không,…) để giá giảm xuống ngang
mức trung bình cùng loại của các nước khu vực.
Để tăng tính cạnh tranh, hạn chế, từng bước xóa bỏ độc quyền kinh doanh, tạo điều
kiện thành lập các doanh nghiệp mới tham gia kinh doanh trong các lĩnh vực điện,
vận tải, viễn thông, hàng không. Tiến hành kiểm toán định kỳ đối với doanh
nghiệp nhà nước còn độc quyền.
Giảm dần những đơn vị hoạt động không hiệu quả, không có khả năng phát triển
nhất là doanh nghiệp nhà nước, mà trước nay được bao cấp dưới nhiều hình thức
như xóa nợ, cho vay ưu đãi,… thực hiện bán, khoán, cho thuê, giải thể,… o 10
II. Thị trường xăng dầu
1. Tổng quan về thị trường xăng dầu
Xăng dầu luôn được coi là loại sản phẩm đặc biệt quan trọng trong các lĩnh vực sản xuất
và đời sống xã hội.Trên phương diện kinh tế,giá trị của mọi sản phẩm hàng hóa dịch vụ ít
nhiều đều chứa đựng giá trị xăng dầu. Biến động về xăng dầu có tác động lớn tới hầu hết
các ngành nghề và người dân trong xã hội ,trong đó trực tiếp là các nghành giao thông
vận tải, khải mỏ , sản xuất điện.Thị trường xăng dầu ỏ Việt Nam được điều tiết bởi cơ
chế quản lý của nhà nước do vậy nên Nhà nước được quyền can thiệp rất sâu vào thị
trường bằng cách bù lỗ cho các doanh nghiệp và chỉ cho phép các doanh nghiệp có đủ
điều kiện mới được kinh doanh xăng dầu.
Do xăng dầu là loại hàng có tính chất đặc thù nên ngoài việc tuân thủ các quy luật của thị
trường như các loại hàng hóa khác thì thị trường xăng dầu còn có những đặc điểm:
Thị trường xăng dầu chịu tác động lớn từ những quan hệ chính trị trong và ngoài
nước vì vậy thị trường xăng dầu phải được đặt trong tổng thể các mối quan hệ
quốc tế và chú trọng đối ngoại quốc gia.
Khi kinh doanh xăng dầu cần đòi hỏi việc đảm bảo tuyệt đối an toàn, công tác
phòng chống cháy nổ là hoạt động rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng vs doanh
nghiệp và tính mạng con người.
Thị trường xăng dầu phụ thuộc rất nhiều vào kinh tế quốc tế và mỗi nước.
Thị trường xăng dầu ở nước ta không chỉ là thị trường hàng hóa, dịch vụ thông
thường mà còn là vật tư nhiên liệu thiết yếu cho sản xuất, dịch vụ với những cơ chế đặc thù riêng
Các doanh nghiệp tham gia vào thị trường xăng dầu có 3 nhóm chính : Các doanh nghiệp
kinh doanh xăng dầu đầu mối lớn nhập khẩu,, các đầu mối doanh nghiệp phân phối, các
cửa hàng đại lý bán lẻ
Hiện nay , có một số doanh nghiệp Việt Nam dưới đây là đầu mối nhập khẩu xăng dầu:
Tổng công ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex)
Tổng công ty dầu việt nam
Công ty thương mai kỹ thuật và đầu tư
Công ty cổ phần dầu khí Mê Kong
Công ty TNHH MTV thành phố HCM
Công ty thương mại dầu khí Đồng Tháp
Tổng công ty xăng dầu quân đội
Công ty xăng dầu Hàng hải Việt Nam
Công ty xăng dầu hàng không
Công ty thương mai xuất nhập khẩu Thành Lễ 11
Công ty THNN điện lực hiệp phước
2. Cầu thị trường xăng dầu
Cầu xăng dầu là số lượng xăng dầu mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở
các mức giá khác nhau . Tổng hợp các nhu cầu của khách hàng tạo nên cầu hàng hóa
Cầu xăng dầu luôn tỷ lệ nghịch với giá xăng dầu. Khi giá mặt hàng tăng lên cao thì nhu
cầu mua vào của người tiêu dùng giảm xuống , sử dụng một cách tiết kiệm để cắt giảm
chi phí và ngược lại. Tuy vậy xăng dầu là một loại mặt hàng vô cùng cần thiết nên nhiều
lúc giá có tăng hoặc giảm mạnh thì người tiêu dùng vẫn bắt buộc mua bán và sử dụng
một lượng xăng dầu phù hợp chứ không thể thay thế bằng loại mặt hàng khác .
Bên cạnh sự tác động của giá cả, xăng dầu còn chịu tác động của các nhân tố như thu
nhập , nguồn cung xăng dầu, quy mô thị trường , giá cả của hàng hóa liên quan và
nguyện vọng của người tiêu dùng.
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường xăng dầu. Giá nhập khẩu:
Giá nhập khẩu ở nước ta trong thời gian quá 100% phụ thuộc và giá xăng dầu của thị
trường khu vực và quốc tế. Bên cạnh đó, sự biến động của giá sản phẩm xăng dầu lại có
mối liên hệ với sự biến động của giá dầu thô , tình hình kinh tế và môi trường kinh doanh
của mỗi loại sản phẩm.
Giá nhập khẩu trong những năm gần đây liên tục thay đổi theo chiều hướng gia tăng với
tốc độ cao của giá của dầu thô khu vực và thế giới, theo như thống kê của EIA, từ năm
2004 đến nay giá FOB dầu thô và các sản phẩm xăng dầu liên tục tăng lên cao, trung
bình từ mức 28-35% mỗi năm và đạt kỷ lục ở năm 2008 khi tăng khoảng 60 % so với năm 2007
Qua các số liệu trên t có thể thấy được trong suốt giai đoạn vừa qua, mặc dù có sự điều
chỉnh của Nhà nước, nhưng sự vận động giá xăng dầu trong nước vẫn có xu hướng vận
động cùng với giá dầu thô trên thị trường thế giới nhưng tốc độ tăng có phần hạn chế hơn
Do tác động bởi cơ thế bù giá bán xăng dầu trong nước khi giá thế giới tăng cao và Nhà
nước điều tiết giá bằng thuế nhập khẩu nên sự biến động giá bán trong nước không giống
như thị trường quốc tế , đó là giá nhập khẩu. Khi giá nhập khẩu tăng cao thì giá bán trong
nước không thay đổi nhiều , thậm chí phải bù đắp phần chi ra để bù lỗ của giai đoạn
trước bằng cách tăng nhẹ giá bán trong nước khi giá nhập khẩu giảm.
-Ví dụ : năm 2014, thị trường xăng dầu thế giới giảm mạnh và ở xu thế “ tụt dốc không
phanh ” kể từ đầu tháng 7 đến nay . Mặc dù có độ trễ so với thị trường thế giới, giá xăng
dầu trong nước cũng lùi bước đáng kể. tính từ đầu năm , các mặt hàng xăng dầu có
khoảng 20 đợt điều chỉnh giá , riêng mặt hàng xăng đã có 17 lần điều chỉnh. Từ đầu năm 12
đến ngày 7/7, mặt hàng này có 5 đợt tăng giá liên tục. Sau đó , 12 đợt giảm liên tục với
tổng mức giảm lên tới 7.760 đồng/ lít. Tương tự , mặt hàng dầu diesel có 23 đợt điều
chỉnh . Đặc biệt , từ ngày 7/7 , mặt hàng này có 5 đợt tăng giá liên tục. Sau đó cũng giảm
giá liên tiếp với tổng mức giảm lên đến 5.830 đồng/ lít.
Kết quả là, trong năm 2014, mặt hàng xăng đã chịu mức giảm lên đến 6.330 đồng/lít và
tổng mức giảm của dầu diesel là 5.970 đồng/ lít.Tuy nhiên , mức giảm này còn thấp hơn
so với thị trường thế giới, trong khí giá cước vận tải, vận chuyển và các mặt hàng có
quan hệ vs xăng dầu cũng giảm chậm. (Nguồn : VnEconomy)
Thu nhập của người tiêu dùng:
Mức thu nhập của người tiêu dùng đóng một vai trò khá quan trọng , là một trong những
yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến cầu của người tiêu dùng. Mặc dù xăng dầu là một mặt hàng
thiết yếu nên dù giá có thay đổi theo chiều hướng tăng hay giảm thì người tiêu dùng, các
doanh nghiệp sản xuất vẫn phải sử dụng và không thể thay thế bằng các mặt hàng khác.
Nhưng mặt khác , nó vẫn có thể bị ảnh hưởng là khi giá xăng dầu tăng lên thì người tiêu
dùng sẽ sử dụng ít đi , tiết kiệm hơn và ngược lại.
Giá cả của các hàng hóa liên quan :
Do xăng dầu là một loại mặt hàng đặc biết nên không có hàng hóa thay thể hay hàng hóa
bổ sung, Vi thế yếu tố này không ảnh hưởng nhiều hay gần như là không ảnh hưởng đến
cầu của người tiêu dùng. Dân số :
Dân số ngày càng tăng lên thì số lượng cầu càng tăng do nhu cầu tăng cao . Nói cách
khác , càng nhiều người thì sẽ có nhiều phương tiện , máy móc được sử dụng , nhu cầu
sản xuất sẽ tăng theo nên việc sử dụng xăng dầu cũng theo đó mà thay đổi mạnh.
Các kỳ vọng,mong muốn của người tiêu dùng :
Theo như chúng ta biết , tương tự như thu nhập thì đây cũng là một yếu tố ảnh hưởng rất
nhiều đến cầu xăng dầu . người mua luôn luôn kỳ vọng giá xăng dầu trong tương tai sẽ
giảm xuống , điều này đồng nghĩa với việc cầu hiện tại của họ sẽ giảm xuống hay nếu khi
cầu hiện tại của họ tăng lên thì sự yêu cầu của người mua với xăng dầu trong tương lai cũng phải tăng lên.
Sự biến động của giá xăng dầu từ trước đến nay luôn là một vấn đề hết sức nhạy cảm và
luôn là vấn đề đáng được quan tâm trên toàn xã hội kể cả trong và ngoài nước. Giá xăng
dầu tăng lên hay giảm xuống phụ thuộc và giá nhập khẩu,…. Và 1 điển hình trong số đó 13
chính là Thuế nhà nước ( thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt
….).Tuy nhiên nếu tăng giá mà chất lượng sản phẩm cũng tăng lên thì không có gì phải
nói đến song điều này lại không xảy ra khiến cho người tiêu dùng có những ý kiến phải
đối bất bình vô cùng gay gắt. Thứ nhất , người ta đã tìm ra , trong năm 2015 , riêng với
xăng dầu nhập từ ASEAN , thuế áp dụng với các mặt hàng đầu tư chỉ còn là 5%, từ đầu
năm 2016 mới về 0%, nhưng riêng thuế nhập với xăng vẫn giữ ở mức 20 %. Theo Thông
tư số 78 của Liên bộ Tài chính- Công thương ban hành vào tháng 5/2015, giá cơ sở của
xăng dầu – là căn cứ để tính giá bán lẻ được tính dựa trên thuế nhập khẩu 20% với xăng ,
10% với dầu diesel. Điều này là nguyên nhân tạo ra chênh lệch lên tới 5 -10% tiền thuế
với dầu diesel và 10% với xăng giữa đầu vào ( doanh nghiệp phải nộp cho ngân sách) và
đầu ra ( người tiêu dùng phải trả cho doanh nghiệp ). Đó cũng là lý do mà các nhà doanh
nghiệp được kinh doanh xăng dầu đầu mối đã được hưởng lợi ích rất lớn.Từ đầu năm đến
nay, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đã được hưởng lợi từ Hiệp định thương mại
tự do đã ký kết giữaViệt Nam – Hàn Quốc, khi thuế suất thuế nhập khẩu xăng từ Hàn
Quốc chỉ còn 10%. Như vậy nếu các doanh nghiệp chuyển hướng nhập xăng từ Hàn
Quốc thay cho nhập từ Singapore hay Malasia , thì họ được hưởng lợi rất lớn mà giá
xăng dầu bán tới tay người tiêu dùng cho dù được giảm , cũng không được bao nhiêu
theo công thức tính cũ của liên bộ: Tài chính – Công thương . Đã có người được lợi thì
phải có người chịu thiệt hại. Người thiệt lớn nhất ở đây không ai khác vẫn chính là
những người tiêu dùng, khi mức giảm giá xăng dầu mà Liên bộ : Công thương-Tài chính
không biết có “ hữu ý” không mà đã không tính toán đến khoản lợi nhuận bất thường từ
năm 2015 đến nay mà các doanh nghiệp được hưởng do tranh thủ khai thác mức chênh
lệch về thuế như đã nhắc tới ở trên đem lại.Giá xăng dầu thay đổi theo chiều hướng tăng
như vậy và người tiêu dùng luôn phải chịu những mức giá đó mà chỉ có biết một vài
thông tin đơn lẻ , thiếu chính khác . Chính điều này đã làm cho người dân dần cắt giảm
cũng như sử dụng xăng dầu một cách tiết kiệm, hợp lý, khiến cho lượng cầu giảm mạnh,
dẫn đến việc các doanh nghiệp kinh doanh mất đi một phần lợi nhuận. Nếu Nhà nước
không có những chính sách nhầm điều chỉnh giá xăng dầu một cách ổn định và kiểm soát
chặt chẽ việc này thì trong tương lai vấn đề này sẽ ngày càng nan giải , khó có cách giải quyết. (Nguồn : Báo Dân Trí ) 14 15 16 17