










Preview text:
lOMoAR cPSD| 61256830
Câu 1: Làm rõ mối quan hệ giữa tuần hoàn và chu chuyển của
tư bản. Phân tích ý nghĩa của việc nghiên cứu chu chuyển của tư bản.
Trong hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa, tư bản là một khái niệm nền tảng và đóng vai
trò quan trọng trong việc phân tích các hoạt động kinh tế. Mối quan hệ giữa tuần hoàn
và chu chuyển của tư bản là một khía cạnh cốt yếu trong quá trình tái sản xuất tư bản,
tạo ra giá trị thặng dư và duy trì sự vận hành của nền kinh tế. Việc hiểu rõ mối quan hệ
này không chỉ giúp ta nắm bắt cách tư bản vận động để tạo ra lợi nhuận mà còn giúp
đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển kinh tế. Trong nội dung này,
chúng ta sẽ đi sâu phân tích mối quan hệ này, từ đó rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu chu chuyển của tư bản.
I. Khái niệm tuần hoàn và chu chuyển của tư bản
1. Tuần hoàn của tư bản
● Tuần hoàn của tư bản là quá trình vận động liên tục của tư bản qua các giai đoạn
khác nhau trong chu kỳ sản xuất và lưu thông của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Quá trình này bao gồm ba giai đoạn cơ bản: “giai đoạn chuẩn vị yếu tố sản xuất”,
“giai đoạn sản xuất”, và “giai đoạn lưu thông”.
● Mỗi giai đoạn tương ứng với một hình thái cụ thể của tư bản, thể hiện sự chuyển
hóa từ tư bản tiền tệ sang tư bản sản xuất, rồi đến tư bản hàng hóa và quay lại tư bản tiền tệ.
● Tuần hoàn của tư bản không chỉ phản ánh sự vận động vật chất của hàng hóa và
tiền tệ, mà còn thể hiện sự vận động của giá trị trong nền kinh tế, đặc biệt là quá
trình tạo ra và thực hiện giá trị thặng dư (giá trị mới dư ra ngoài giá trị ban đầu).
a. Giai đoạn : Chuẩn bị các yếu tố sản xuất
● Giai đoạn chuẩn bị yếu tố sản xuất là giai đoạn đầu tiên trong tuần hoàn của tư
bản, nơi mà tư bản tiền tệ được chuyển hóa thành tư bản sản xuất để tham gia
vào quá trình tạo ra hàng hóa.
- Tư bản sản xuất bao gồm hai yếu tố chính: +
Tư liệu sản xuất (nguyên liệu, máy móc, thiết bị)
+ Sức lao động (lao động sống của con người). lOMoAR cPSD| 61256830
Trong giai đoạn này, tư bản tiền tệ không còn tồn tại dưới dạng tiền mà được đầu tư
vào các yếu tố sản xuất nhằm tạo ra hàng hóa mới CÔNG THỨC:
b. Giai đoạn sản xuất
- Trong giai đoạn sản xuất, tư bản tồn tại dưới dạng hiện vật và tham gia vào quá
trình sản xuất. Dưới dưới tác động của lao động sống (công nhân), tư liệu sản
xuất được kết hợp với đối tượng lao động để tạo ra hàng hoá mới có giá trị sử
dụng và giá trị cao hơn so với trước đó. ● Mô hình:
- Quá trình lao động cụ thể: Tạo ra giá trị sử dụng cho sản phẩm. Công
nhân sử dụng TLSX để tác động lên nguyên liệu, tạo ra sản phẩm cụ thể.
- Quá trình lao động trừu tượng: Tạo ra giá trị mới cho sản phẩm. Lao
động của công nhân hao phí sức lao động cả về thể chất và tinh thần, tạo
ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động mà họ được trả. Giá trị mới
này bao gồm giá trị sức lao động và giá trị thặng dư.
=> Tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa ở điểm cuối của giai đoạn này.
c. Giai đoạn lưu thông
- Đây là giai đoạn mà hàng hóa được đưa ra thị trường để bán và
chuyển hóa trởlại thành tiền tệ. Hàng hóa lúc này mang trong mình
cả giá trị cũ (chi phí nguyên liệu, máy móc, sức lao động) và giá
trị thặng dư mà nó chứa đựng từ quá trình sản xuất. ● Mô hình:
- Quá trình lưu thông bao gồm hai hành động chính: “bán hàng hóa” và “thu tiền”.
Khi hàng hóa được bán, tư bản hàng hóa ( H’) chuyển hóa thành tư bản tiền tệ
(T’), và giá trị thặng dư được thực hiện thông qua quá trình trao đổi trên thị
trường. Giai đoạn này vừa là sự kết thúc của chu kỳ sản xuất trước đó, vừa là
tiền đề cho chu kỳ sản xuất tiếp theo, bởi chủ tư bản cần thu hồi tư bản tiền tệ để
tiếp tục đầu tư vào quá trình sản xuất mới. lOMoAR cPSD| 61256830
● Một yếu tố quan trọng trong giai đoạn lưu thông là “tốc độ lưu thông”. Nếu hàng
hóa được bán nhanh, tư bản sẽ quay trở lại hình thái tiền tệ một cách nhanh
chóng, cho phép chủ tư bản đầu tư vào chu kỳ sản xuất tiếp theo mà không gặp
trở ngại về vốn. Ngược lại, nếu hàng hóa không bán được hoặc bán chậm, quá
trình chu chuyển tư bản bị đình trệ, gây ra các vấn đề về dòng tiền và ảnh hưởng
đến toàn bộ nền kinh tế.
+ Ví dụ, sau khi sản xuất giày dép, doanh nghiệp sẽ bán sản phẩm trên thị trường.
Nếu bán được hết số giày dép với giá cao hơn tổng chi phí sản xuất, doanh nghiệp
sẽ thu về tư bản tiền tệ mới (T’), trong đó bao gồm cả giá trị thặng dư.
● Với mỗi chu kỳ tuần hoàn có thể bắt đầu lại khi tư bản tiền tệ được sử dụng để
mua tư liệu sản xuất và sức lao động, từ đó bắt đầu một chu kỳ sản xuất mới. Do
đó, vòng tuần hoàn của tư bản có thể được mô tả là cơ chế năng động thông qua
đó vốn được kích hoạt để tạo ra giá trị thặng dư (bởi bản chất không ngừng, lặp
đi lặp lạ của nó, xuất hiện theo chu kỳ và trải qua sự đổi mới liên tục )
2. Chu Chuyển Của Tư Bản a. Khái niệm
- Chu chuyển tư bản là sự vận động tuần hoàn của tư bản lặp đi lặp lại liên tục,
trong đó tư bản hoàn thành toàn bộ quá trình tuần hoàn và quay trở lại điểm xuất
phát. Nói cách khác, chu chuyển tư bản là sự lặp lại và tiếp nối của nhiều tuần
hoàn tư bản, không phải là một quá trình cô lập, riêng rẽ
- Nếu tuần hoàn tư bản phản ánh sự vận động của tư bản qua 3 giai đoạn và 3 hình
thái khác nhau thì chu chuyển tư bản lại thể hiện tính liên tục và lặp đi lặp lại
của quá trình tuần hoàn đó. Khi một tuần hoàn kết thúc, tư bản quay trở lại dạng
tiền tệ thì ngay lập tức một tuần hoàn mới lại bắt đầu. Cứ như vậy, tư bản không
ngừng vận động theo vòng tròn: Tiền tệ - Sản xuất - Hàng hoá - Tiền tệ Sản xuất
- Hàng hoá... tạo thành chu chuyển.
- Đo lường bằng: Thời gian chu chuyển của tư bản / Tốc độ chu chuyển của tư bản
b/ Thời gian chu chuyển của tư bản
- Là khoảng thời gian từ khi tư bản ứng ra dưới một hình thái nhất định đến khi
nó trở về hình thái ban đầu với một số lượng lớn hơn.
CÔNG THỨC TÍNH “Thời gian chu chuyển của tư bản” lOMoAR cPSD| 61256830
● Thời gian chu chuyển = thời gian sản xuất + thời gian lưu thông
- Thời gian sản xuất: Thời gian cần thiết để sản xuất ra hàng hóa, bao gồm thời
gian lao động trực tiếp và thời gian gián đoạn (ví dụ: thời gian máy móc ngừng hoạt động).
- Thời gian lưu thông: Thời gian cần thiết để bán hàng hóa và thu tiền về, bao
gồm thời gian vận chuyển, bảo quản, tìm kiếm khách hàng, giao dịch,...
● Thời gian sản xuất càng ngắn, thời gian lưu thông càng nhanh thì tốc độ chu
chuyển tư bản càng lớn. Ngược lại, nếu sản xuất và lưu thông diễn ra chậm chạp
thì chu chuyển tư bản cũng sẽ kéo dài.
c/ Tốc độ chu chuyển của tư bản.
- Tốc độ chu chuyển tư bản được đo bằng số vòng tuần hoàn mà tư bản thực hiện
trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Tốc độ chu chuyển
càng nhanh, hiệu quả sử dụng tư bản càng cao. Trong đó:
(n) là số vòng (hay lần) chu chuyển của tư bản;
(CH) là thời gian trong năm
(ch) là thời gian cho 1 vòng chu chuyển của tư bản
Chu chuyển của tư bản có thể chia thành hai loại chính:
“Chu chuyển tư bản cố định”
“Chu chuyển tư bản lưu động” lOMoAR cPSD| 61256830 -
Phần tư bản đầu tư vào tư liệu sản -
Phần tư bản đầu tư vào nguyên
xuất lâu dài, như máy móc, nhà xưởng, liệu, vậtliệu và sức lao động. thiết bị công nghiệp. -
Chu chuyển của tư bản lưu động -
Chu chuyển của tư bản cố định diễn ra nhanh hơn, vì phần tư bản này
diễn ra chậm hơn vì giá trị của nó được được tiêu dùng hoàn toàn trong một chu
chuyển dần vào sản phẩm qua nhiều chu kỳ sản xuất.
kỳ sản xuất cho tới khi nó chuyển hết giá -
Bộ phận tư bản này có thể hoàn lại
hoàn toàn cho nhà tư bản dưới hình thái
trị vào sản phẩm (sự mất giá thuần tuý) - tiền tệ sau khi đã bán hàng hóa.
Hao mòn Tư bản cố định:
+ Hữu hình: mất đi giá trị và giá trị sử
dụng ( do sử dụng và tác động tự nhiên gây ra )
+ Vô hình: sự mất giá thuần tuý
Do đó, tỷ lệ giữa tư bản cố định và tư bản lưu động sẽ quyết định tốc độ chu chuyển chung của tư bản.
Chu chuyển tư bản diễn ra nhanh hay chậm sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình tái sản
xuất và tích luỹ của tư bản. Chu chuyển càng nhanh thì số vòng tuần hoàn hoàn thành
trong một thời gian nhất định càng nhiều, khối lượng hàng hoá sản xuất ra càng lớn và
giá trị thặng dư thu được càng cao. Ngược lại, chu chuyển chậm sẽ kìm hãm sự phát
triển của sản xuất và làm giảm lợi nhuận.
II. Mối quan hệ giữa tuần hoàn và chu chuyển của tư bản
1. Sự tương đồng giữa tuần hoàn và chu chuyển
- Tuần hoàn và chu chuyển của tư bản đều phản ánh sự vận động liên tục của tư
bản trong nền kinh tế, từ giai đoạn sản xuất sang lưu thông và ngược lại. Cả hai
khái niệm này đều cho thấy tư bản không đứng yên mà luôn vận động, chuyển
hóa từ hình thái này sang hình thái khác (tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất, tư bản hàng hóa).
- Điểm tương đồng nổi bật: đều bao gồm quá trình vận động của tư bản qua ba
giai đoạn, với mục tiêu cuối cùng là tạo ra giá trị thặng dư. Quá trình này không
chỉ đảm bảo tư bản sinh lời mà còn thúc đẩy sự tái sản xuất mở rộng, từ đó duy
trì và phát triển nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. lOMoAR cPSD| 61256830
2. Khác biệt giữa tuần hoàn và chu chuyển
Mặc dù tuần hoàn và chu chuyển của tư bản có nhiều điểm tương đồng, nhưng chúng
khác nhau về mặt thời gian và tính chất của quá trình vận động: Nội Dung
Tuần hoàn của tư bản
Chu chuyển của tư bản Thời gian
- Diễn ra trong một chu kỳ - Đề cập đến quá trình lặp đi lặp
ngắn, tức là từ khi tư bản tiền lại của nhiều chu kỳ tuần hoàn, có
tệ đầu tư vào sản xuất đến khi thể kéo dài trong một khoảng thời
hàng hóa được bán ra và gian dài hơn.
chuyển hóa thành tiền tệ. Tính liên tục
- Tuần hoàn của tư bản chỉ đề -
Mang tính chất liên tục và
cập đến một chu kỳ đơn lẻ. không ngừng nghỉ. - Tư bản sau mỗi chu kỳ
tuần hoàn lại tiếp tục quay trở lại
quá trình sản xuất và lưu thông,
tạo nên một dòng vận động không dừng. Tốc độ
- Chỉ phản ánh một chu kỳ đơn -
Bao gồm cả tốc độ vận
lẻ và không đề cập trực tiếp động của tư bản qua từng chu kỳ đến tốc độ này.
tuần hoàn, từ đó ảnh hưởng đến
khả năng sinh lời và mở rộng sản xuất. -
(Tốc độ chu chuyển của tư
bản càng nhanh thì khả năng tích lũy tư bản càng lớn.)
3. Tác động qua lại giữa tuần hoàn và chu chuyển
- Tuần hoàn và chu chuyển của tư bản có mối quan hệ mật thiết với nhau.
- Sự vận động của tư bản trong từng chu kỳ tuần hoàn ảnh hưởng trực tiếp đến
quá trình chu chuyển của tư bản.
+ Nếu quá trình tuần hoàn diễn ra một cách suôn sẻ, tư bản có thể chuyển hóa
nhanh chóng từ hình thái này sang hình thái khác và từ đó làm tăng tốc độ chu
chuyển. Ngược lại, nếu tuần hoàn gặp trở ngại (ví dụ: hàng hóa không bán được,
hoặc sản xuất bị đình trệ), thì quá trình chu chuyển sẽ bị chậm lại, ảnh hưởng
đến toàn bộ nền kinh tế. lOMoAR cPSD| 61256830
Ví dụ: Một doanh nghiệp sản xuất ô tô có chu kỳ sản xuất kéo dài 6 tháng. Nếu thị
trường tiêu thụ ô tô gặp khó khăn, hàng hóa không được bán ra, thì tư bản tiền tệ không
thể thu hồi và đầu tư lại vào chu kỳ sản xuất tiếp theo. Điều này làm chậm quá trình chu
chuyển của tư bản và có thể gây ra khủng hoảng kinh tế nếu diễn ra trên diện rộng.
III. Ý nghĩa của việc nghiên cứu chu chuyển của tư bản
1. Hiểu về tốc độ chu chuyển và hiệu quả kinh tế
- Việc nghiên cứu chu chuyển của tư bản giúp xác định tốc độ vận động của tư
bản trong nền kinh tế, từ đó đánh giá hiệu quả của quá trình sản xuất và lưu
thông. Tốc độ chu chuyển càng nhanh, tư bản càng có khả năng tạo ra giá trị
thặng dư lớn hơn trong một khoảng thời gian ngắn. Điều này giúp tăng khả năng
tích lũy tư bản, mở rộng quy mô sản xuất và thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
- Ngoài ra, tốc độ chu chuyển còn ảnh hưởng đến việc sử dụng các nguồn lực
trong nền kinh tế. Nếu tư bản chu chuyển nhanh, các nguồn lực sẽ được sử dụng
một cách hiệu quả hơn, tránh lãng phí và tạo ra nhiều giá trị hơn cho xã hội.
2. Dự báo và quản lý khủng hoảng kinh tế
- Một trong những ý nghĩa quan trọng của việc nghiên cứu chu chuyển của tư bản
là khả năng dự báo và quản lý các cuộc khủng hoảng kinh tế. Nếu chu chuyển
của tư bản bị chậm lại, điều này có thể dẫn đến sự đình trệ trong sản xuất và lưu
thông hàng hóa, kéo theo những hệ lụy tiêu cực cho nền kinh tế. Ví dụ, khi tư
bản không chu chuyển kịp thời, hàng tồn kho tăng lên, doanh nghiệp không có
vốn để tiếp tục sản xuất, dẫn đến tình trạng thất nghiệp và suy giảm kinh tế.
- Việc hiểu rõ chu chuyển của tư bản giúp các nhà hoạch định chính sách kinh tế
có thể dự báo trước những nguy cơ tiềm ẩn và đưa ra các biện pháp phù hợp để
ngăn chặn hoặc giảm thiểu tác động của khủng hoảng.
3. Tác động đến chính sách kinh tế vĩ mô
- Chu chuyển của tư bản còn có tác động lớn đến các chính sách kinh tế vĩ mô,
bao gồm chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và chính sách thương mại. Tốc
độ chu chuyển của tư bản ảnh hưởng đến lạm phát, tăng trưởng kinh tế và cân
đối ngân sách. Chính phủ và các cơ quan quản lý kinh tế cần nắm bắt được quá
trình chu chuyển của tư bản để xây dựng các chính sách phù hợp nhằm duy trì sự ổn
Câu 2: Tóm tắt quá trình biểu hiện Giá Trị Thặng Dư trong Nền
Kinh tế Thị trường.
Giá trị thặng dư là cốt lõi của sản xuất tư bản chủ nghĩa,là một khái niệm chủ chốt trong
kinh tế chính trị học Mác-xít, phản ánh sự bóc lột lao động trong nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa. Nó biểu hiện sự chênh lệch giữa giá trị mà người lao động tạo ra và giá trị mà họ
nhận được dưới hình thức tiền lương. Sự bóc lột này là nguồn gốc cơ bản của lợi nhuận
trong nền kinh tế tư bản. lOMoAR cPSD| 61256830
Trong nền kinh tế thị trường, giá trị thặng dư biểu hiện qua nhiều hình thức khác nhau
như lợi nhuận, tiền lãi, địa tô, và cổ tức. Để hiểu rõ quá trình này, chúng ta cần phân
tích chi tiết về cơ chế sản xuất và phân phối giá trị thặng dư, bao gồm cả quá trình sản
xuất, lưu thông và tiêu dùng trong nền kinh tế tư bản.
I/Khái niệm và cơ sở lý thuyết
A. Khái niệm giá trị thặng dư ● Định nghĩa:
- Giá trị thặng dư được sản xuất khi người lao động làm việc nhiều hơn thời gian
cần thiết để tái sản xuất sức lao động của họ, tức là thời gian cần thiết để tạo ra
giá trị tương đương với tiền lương mà nhà tư bản trả cho họ. Phần thời gian lao
động vượt quá này được gọi là thời gian lao động thặng dư, và kết quả của nó là giá trị thặng dư.
- Giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường mang bản chất kinh tế - xã hội là quan hệ giai cấp.
* Công thức cơ bản: B. Cơ sở lý thuyết
● Lý thuyết giá trị thặng dư của Karl Marx: Marx cho rằng trong sản xuất tư bản
chủ nghĩa, giá trị thặng dư hình thành từ sự bóc lột lao động. Theo lý thuyết của
ông, giá trị hàng hóa gồm:
○ (C): Chi phí hao mòn của tư liệu sản xuất (như máy móc, nguyên vật liệu).
○ (v): Giá trị sức lao động (tiền lương của công nhân).
○ (m): Giá trị thặng dư (phần vượt qua chi phí lao động, do công nhân tạo
ra nhưng thuộc về người sử dụng lao động)
○ (G) : Giá trị hàng hóa bán được
*Công thức cơ bản về giá trị thặng dư theo Marx là: m= G - (c + v)
II. Quá trình sản xuất giá trị thặng dư:
Quá trình sản xuất giá trị thặng dư diễn ra trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, nơi
người lao động làm việc dưới sự sở hữu và kiểm soát của nhà tư bản. Nhà tư bản sở hữu
tư liệu sản xuất và mua sức lao động của người lao động như một hàng hóa. Trong quá
trình lao động, người lao động không chỉ tạo ra giá trị bù đắp giá trị sức lao động của
họ mà còn tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản.
Ví dụ: Một công nhân may mặc được trả lương 100.000 đồng/ngày (tương đương giá
trị sức lao động). Trong 8 giờ làm việc, anh ta sản xuất ra số áo có giá trị 200.000 đồng. lOMoAR cPSD| 61256830
Như vậy, 100.000 đồng đầu tiên bù đắp giá trị sức lao động, còn 100.000 đồng còn lại
là giá trị thặng dư bị nhà tư bản chiếm đoạt.
III. Quá trình biểu hiện giá trị thặng dư:
Giá trị thặng dư được tạo ra trong quá trình sản xuất nhưng lại biểu hiện trong quá trình
lưu thông. Nó không xuất hiện dưới dạng một khoản tiền riêng biệt mà ẩn mình trong
giá trị của hàng hóa. Quá trình này diễn ra như sau:
1. Giá trị hàng hóa (G) được phân chia thành: * c:
Giá trị tư liệu sản xuất hao mòn (hằng số tư bản).
* v: Giá trị sức lao động (tư bản khả biến). * m: Giá trị thặng dư.
Công thức: G = c + v + m
2. Tỷ suất giá trị thặng dư (m’):
- Thể hiện mức độ bóc lột sức lao động của nhà tư bản.
Công thức: m’ = m/v
* Ví dụ: Trong ví dụ công nhân may mặc ở trên: c = 50.000 (chi phí nguyên vật liệu,
máy móc...), v = 100.000, m = 100.000. Vậy m’ = 100.000/100.000 = 100%. Nghĩa là
nhà tư bản bóc lột 100% sức lao động của công nhân. 3. Lợi nhuận:
Lợi nhuận là hình thức thể hiện giá trị thặng dư được tạo ra trong quá trình lưu thông
hàng hóa. Nó là động lực thúc đẩy và mục tiêu cuối cùng của nhà tư bản. Lợi nhuận
không chỉ phụ thuộc vào tỷ suất giá trị thặng dư mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác,
bao gồm tốc độ lưu chuyển vốn, quy mô sản xuất, và cấu trúc chi phí. * Công thức:
Lợi nhuận(P) = Giá trị sản phẩm(G)- Chi phí tư bản không đổi(c)- Chi phí tư bản khả biến (v) = G - c - v * Trong đó:
G: Giá trị sản phẩm bán được. lOMoAR cPSD| 61256830
c: Chi phí tư bản không đổi (chi phí nguyên liệu, vật tư, máy móc, v.v.).
v: Chi phí tư bản khả biến (tiền lương trả cho người lao động).
a. Mối quan hệ với giá trị thặng dư (m):
- Lợi nhuận (P) chính là biểu hiện của giá trị thặng dư (m). Nghĩa là: P = m.
b. Tỷ suất lợi nhuận:
- Tỷ suất lợi nhuận (r) thể hiện mức độ hiệu quả của tư bản trong việc tạo ra lợi nhuận. - Công thức tính:
r = (m / (c + v)) * 100%
= (P / (c + v)) * 100%
= (Giá trị thặng dư / Tổng tư bản) * 100%
4. Các hình thức của lợi nhuận:
Lợi nhuận được phân chia thành nhiều hình thức khác nhau dựa trên lĩnh vực kinh tế, bao gồm:
Lợi nhuận công nghiệp: -
Lợi nhuận thu được từ quá trình sản xuất hàng hóa.
Lợi nhuận thương nghiệp -
Lợi nhuận thu được từ quá trình
mua bán hàng hóa trong lưu thông. Lợi nhuận ngân hàng -
Lợi nhuận thu được từ hoạt động
cho vay và các dịch vụ tài chính. Địa tô -
Lợi nhuận thu được từ việc sử
dụng đất đai, thường có liên quan
đến lợi nhuận công nghiệp trong nông nghiệp. Lợi nhuận khác -
Bao gồm các hình thức lợi nhuận
khác dựa trên các ngành nghề cụ thể. lOMoAR cPSD| 61256830
Mỗi hình thức lợi nhuận đều bắt nguồn từ giá trị thặng dư mà người lao động tạo ra
trong quá trình sản xuất. Sự phân phối lợi nhuận giữa các hình thức này phụ thuộc vào
các quan hệ sản xuất và cơ chế phân phối trong nền kinh tế.
IV. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị thặng dư:
1. Cường độ lao động: Cường độ lao động càng cao (ví dụ, tăng số giờ làm việc trong
cùng một đơn vị thời gian), giá trị thặng dư càng lớn. Điều này thể hiện sự tăng cường bóc lột sức lao động.
2.Năng suất lao động: Năng suất lao động tăng lên làm giảm thời gian lao động cần thiết
để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa. Điều này dẫn đến tăng thời gian lao động thặng dư
và giá trị thặng dư. (Quan trọng: Tăng năng suất lao động không tự động dẫn đến tăng
giá trị thặng dư nếu không có sự thay đổi về cường độ lao động hoặc thời gian lao động cần thiết).
3.Giá trị sức lao động: Giá trị sức lao động bao gồm chi phí duy trì sức lao động của
người lao động. Nếu giá trị sức lao động giảm, nhà tư bản có thể bóc lột sức lao động
nhiều hơn và giá trị thặng dư tăng. (Ví dụ, giảm mức lương hoặc giảm chi phí y tế, giáo
dục cho người lao động).
4. Thành phần hữu cơ của tư bản (c/v):
- Tỷ lệ giữa tư bản bất biến (c) và tư bản khả biến (v) ảnh hưởng quan trọng đến tỷ suất lợi nhuận.
- Tỷ lệ này càng cao, tức là tư bản cố định (máy móc, nhà xưởng) càng được đầu
tư nhiều hơn so với lao động. Điều này có thể dẫn đến sự thay đổi về tỷ suất lợi
nhuận, đòi hỏi nhà tư bản phải tìm cách giảm chi phí lao động hoặc tăng năng
suất để duy trì lợi nhuận.
V. Minh họa quá trình biểu hiện giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường:
● Một công ty sản xuất điện thoại di động:
* Chi phí tư bản không đổi (c): 1.000.000 đồng
* Chi phí tư bản khả biến (v): 500.000 đồng
* Tổng chi phí (c + v): 1.500.000 đồng
* Giá bán (G): 2.000.000 đồng
* Giá trị thặng dư (m): 2.000.000 - 1.500.000 = 500.000 đồng
* Tỷ suất giá trị thặng dư (m'): (500.000 / 500.000) * 100% = 100%* Lợi nhuận (P): 500.000 đồng NGHIỆP